Bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, môi trường đầu tư ở nước ta không ngừng được cải thiện, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện đã tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau ra đời và phát triển mạnh mẽ. Không chỉ có các nhà đầu tư trong nước thực hiện đầu tư kinh doanh, Việt Nam đã và đang thu hút lượng lớn các nhà đầu tư nước ngoài vào nước ta. Tính đến ngày 20 tháng 12 năm 2015, cả nước có 2.013 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tưvới tổng vốn đăng ký là 15,578 tỷ USD, bằng 99,6% so với cùng kỳ năm 2014. Có814 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 7,18 tỷUSD, tăng 56,5% so với cùng kỳ năm 2014 [85]. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn chiếm tỷ trọng đáng kể trongtổng đầu tưxã hội, khoảng 25% trong bối cảnh Việt Nam đang rất thiếu nguồn lực để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa [107]. Số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNCVĐTNN) tăng nhanh, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và tăng trưởng kinh tếđất nước.Tính đến 6 tháng đầu năm 2014 sốlượng việc làm trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên trên hai triệu lao động trực tiếp và gần ba triệu lao động gián tiếp [32, tr.61,62].
Trong các doanh nghiệp nói chung và DNCVĐTNN nói riêng, quan hệlaođộng giữa người sửdụng lao động và người lao động là một trong những yếu tố giữvai trò quyết định đến sự phát triển của doanh nghiệp. Quan hệ lao động giữa người sửdụng lao động và người lao động hài hòa, ổn định sẽ tạo động lực cho người lao động, lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, hăng say lao động, tạo ra năng suất, chất lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng cao, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Ngược lại, quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động không tốt sẽ làm phát sinh mẫu thuẫn, tranh chấp xảy ra, gây tác động xấu đến hoạt động sảnxuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy, cùng với việc tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, Việt Nam ban hành nhiều chính sách, pháp luật nhằm xây dựng quan hệ laođộngtrong các doanh nghiệp hài hòa,ổn địnhvà tiến bộ, trongđóquyền và lợi ích của hai bên trong quanhệ lao động được bảo vệ, bảođảm. Tuy nhiên, trong quan hệ lao động, người lao động luôn ở vị thế yếu hơn, các
1
quyền và lợi ích chính đáng của họ dễ bị người sử dụng lao động xâm hại do họ phụ thuộc và chịu sự quản lý, điều hành củangười sửdụng lao động. Do vậy, phù hợp với Công ước quốc tế của Liên hợp quốc (UN) và Tổ chức lao động thế giới (ILO) về quyền con ngườitrong lĩnh vực lao động,pháp luậtnước ta quyđịnh chặt chẽ các nội dung bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động trong quan hệlao động. Điều này được thể hiện qua các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) vàHiến pháp năm 2013 đều ghi nhận các quyền công dân, quyền của người lao động. Điều 35 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. 2. Người làm công ăn lươngđược đảm bảo các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. 3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhâncông dưới độtuổi lao động tối thiểu”.Thể chế hóa các quyđịnh về quyền của người lao động trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam đã chuyển hóa các ghi nhận về quyền của người lao động trong Hiến pháp thành các quy định pháp luật cụ thể nhằm đảm bảo các quyền của người lao động được thực hiện đầy đủ trên thực tế.
Có thể nói,ở nước ta việc bảovệquyền và lợi ích chính đáng củangười laođộng ngày càng được chú trọng: phạm vibảo vệ ngày càng được mở rộng, mức độbảo vệ ngày càng cao, phương pháp bảo vệ ngày càng hợp lý hơn… Tuy nhiên, điều này cũng chưa thể khẳng định được rằng, quyền của người lao động đã được quan tâm một cách thực sự đúng mức. Sựthiếu hợp lý trong một số quy định, việc trốn tránh trách nhiệm của người sửdụng lao động trong quá trình thiết lập, duy trì vàchấm dứt quan hệ lao động, sự buông lỏng quản lý của một số cơ quan chức năng… dẫn đến quyền của người lao động chưa thực sự được bảo đảm xảy ra ở nhiều doanh nghiệp trên cả nước.
Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những mặt tích cực của khối các DNCVĐTNN, tình trạng vi phạm pháp luật về lao động vẫncòn xảyra tại một sốDNCVĐTNN như: hợp đồng lao động giao kết không đúng loại; không nộp bảo hiểm xã hội hoặc nộp chậm; không đăng ký nội quy lao động; thiếu hệ thống biển báo; chỉ dẫn về an toàn lao động cho người lao động; kéo dài thời gian làm thêm, thời gian thử việc; sửdụng lao động nước ngoài chưa có giấy phép lao động; chưa báo cáo định kỳ về tai nạn lao động, bảo hộ lao động với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội… Việc vi phạm pháp luậtvề laođộngtại một số DNCVĐTNN là một trong những nguyên
2
nhân dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, nhất là mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa người sửdụng laođộngvà người laođộnglàm cho quanhệlao động trong doanh nghiệp không còn giữđượcsựhài hòa, ổn định. Nhiều vụ việc tranh chấp lao động xảy ra, các cuộc đình công của người lao động mà nguyên nhân bắt nguồn từquan hệ lao động chưa tốt. Tình trạng đó làm thiệt hại kinh tế cho doanh nghiệp, quyền và lợiích hợp pháp của các bên, đặc biệt là của người lao động chưa được đảm bảo, tính nghiêm minh của pháp luật chưa được tôn trọng, ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình trật tự, an ninh xãhộivà môi trườngđầutưở Việt Nam, gâyảnhhưởng xấuđến hình ảnh của các nhà đầu tư nước ngoài.
Thực trạng trên cho thấy, việc bảo vệ quyền của người lao động tại DNCVĐTNN làvấnđề cần đượcquan tâm thỏa đáng nhiều hơn nữa của các cá nhân, tổ chức, cơ quan có thẩm quyền, việc hoàn thiện môi trường pháp luật là cần thiết nhằm vừa đảm bảo quyền và lợiích chính đáng của người lao động vừatiếp tục khuyến khích các DNCVĐTNN sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế đất nước.
Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện pháp luậtvềbảovệ quyền của ngườilao động làm việc tại DNCVĐTNN thực sự cần thiết trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Xuất phát từ nhận thức trên đây, tôi chọn đề tài “Bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành” làm Luận án Tiến sĩ Luật học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận án là kế thừa và tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN và pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN ởViệt Nam, từđó đềxuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN ở nước ta. Luận án góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tế cho việc điều chỉnh pháp luật vàhoàn thiện pháp luật Việt Namvềbảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
Luận án tập trung làm sáng tỏ các nhiệm vụ cơ bản như sau:
Thứ nhất, làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ quyền của người laođộng làm việc tạiDNCVĐTNN như: Khái niệm, đặcđiểmcủa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; khái niệm bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN; cơ chế bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN; khái niệm,đặcđiểm, nguyên tắc, nội dung,ýnghĩa củapháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
Thứ hai, làm rõ căn cứ thực tiễn của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN thông qua việc phân tích vàđánh giá thực trạng các quyđịnh pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả cũng như những vấn đề còn hạn chế, thiếu sót cần được tiếp tục hoàn thiện.
Thứ ba, luận giải sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện pháp luật về bảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
Thứ tư, đề xuất địnhhướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 3.1. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1.1. Phạm vi nội dung
Trong phạm vi nghiên cứu củađềtài, Luận án nghiên cứunhững vấn đềlýluận và thực tiễn vềbảo vệquyền của người lao động là công dân Việt Nam làm việc tại các DNCVĐTNN. Luận án không nghiên cứu quyền của người lao động làngười nước ngoài, lao động di trú, laođộngchưa thành niên tạicác doanh nghiệp này hoặc có đềcấpđến cũngchỉlàm rõ hơn vấn đềbảovệquyền của ngườilao động Việt Nam tại các doanh nghiệp này.
Người laođộnglàm việc tại các DNCVĐTNN là công dân Việt Nam, có đầy đủ các quyền công dân, quyền con người theo quy định của pháp luật. Trong phạm vi đềtài nghiên cứu, Luận ánchỉnghiên cứu, làm rõ việcbảovệ, bảo đảmcác quyền liên quan trực tiếp đến đời sống của người lao động trong quan hệ lao động với người sử dụnglao động, đó là: bảo vệ quyền việc làm; bảo vệ quyền được đảm bảo thu nhập và đời sống; bảo vệquyền nhân thân của người lao động; bảo vệquyền liên kết và tựdo công đoàn. Luận án không nghiên cứu những quyền công
dân, quyền con người khác củangườilao động, nếucóđềcập đếncác quyềnđócũng chỉ làm rõ hơn vấn đề mà Luận án nghiên cứu.
Do tính chất phức tạp và đa dạng của quyền con người trong lĩnh vực lao động nên cơ chếbảo vệ, bảo đảmquyền con người trong lĩnh vực lao động cũng rất phong phú và đa dạng. Nếu xét vềtính chất, cóthểphân thành cơ chếmang tính Nhà nước và cơ chế mang tính xã hội, còn nếu xét theo cấp độ thì có cơ chế quốc tế, cơ chế khu vực và cơ chế quốc gia. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, Luận án chỉtập trung nghiên cứu cơ chếquốc gia trong việc bảo vệquyền của người laođộng làm việc tại DNCVĐTNN. Trong cơ chế quốc gia có cơ chế bảo vệ trực tiếp quyền của người lao động như: cơ chế công đoàn, cơ chế thanh tra… có cơ chế bảo vệquyền của người lao động một cách gián tiếp thông qua việc phán ánh ý kiến, đóng góp ý kiến đối với hoạt động bảo vệquyền của người lao động của các cơ quan, tổ chức… như: cơ chế tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, cơ chế hội nghềnghiệp, hiệp hội kinh tế. Trong Luận án chỉ tập trung nghiên cứu, làm rõ các cơchếbảo vệ trực tiếp các quyền của người lao động làm việc tại các DNCVĐTNN, đó là: cơ chế bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN thông qua côngđoàn; cơ chế bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN thông qua thanh tra lao động; cơ chế bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN thông qua trọng tài; cơ chế bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN thông qua tòa án. Luận án không nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền của người lao động khác như: cơ chế quốc tế; cơ chế khu vực, cơ chế tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, cơ chế hội nghề nghiệp, hiệp hội kinh tế… nếu trong luận án có đềcập đến các cơ chếnày cũng chỉnhằm mục đích làm rõ hơn vấn đềnghiên cứu của Luận án.
3.1.2 Phạm vi không gian, thời gian
Luận án nghiên cứu chủyếu các sốliệu vềthực trạng việc bảo vệ, bảo đảm quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN trong phạm vi cảnước, thời gian từ năm 2005 (là nămLuật Đầu tưnăm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 được ban hành) đến thời điểmtháng 12.2015 (thời điểm Luật doanh nghiệp năm 2014 vàLuật đầu tưnăm 2014đãcó hiệu lực) để đánh giá những ưu điểm, hạn chếcủa các quy phạm pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN và thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật đó, từ đó rút ra các
5
kiến nghị khả thi nhằm phát huy hơn nữa những ưu điểm, khắc phục tối đa những hạn chế trong việc bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN, các quan điểm mang tính lý luận và thực tiễn bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN trên thế giới và ở Việt Nam. Trong pháp luật Việt Nam, Luận án tập trung nghiên cứu việc bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN theo quy định của pháp luật kinh tế, pháp luật lao động, trong đó tập trung vào Luật doanh nghiệp, Luật phá sản và đặc biệt là Bộ luật lao động.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nhằm làm rõ các vấn đề nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủnghĩa Mác-LêninvềNhànước và Pháp luật; tưtưởngHồChí MinhvềNhà nước và Pháp quyền; đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, về vấn đề bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN. Đây là phương pháp luận khoa học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ Luận án để đánh giá khách quan sự thể hiện của các quy định phápluật vềbảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
Ngoài phương pháp luận, trong quá trình nghiên cứu, tác giả cònsử dụngcác phương pháp sau:
– Phương pháp thu thập tài liệu và số liệu: Phương phápnày được sử dụng chủ yếu ở Chương 1 của Luận án để kế thừa tất cả thông tin, số liệu về vấn đề bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN. Dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật, các báo cáo về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại các DNCVĐTNN, các công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, các sách chuyên khảo, các tạpchí… đều đượcchọn lọc,chỉrõ nguồn trích dẫn giúp cho việc phân tích và xử lý số liệu trong Luận án.
– Phương pháp phân tích lý luận: Phương pháp nàyđược sửdụng chủyếu trong Chương 2 củaLuận án nhằm phân tích các quanđiểm,các cách hiểu khác nhau về vấn đề bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN để làm rõ lý luận về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN và pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN như: khái niệm,
đặc điểm DNCVĐTNN; khái niệm về bảo vệ quyền của người lao động và cơchếbảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN; khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung, ý nghĩa pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
– Phương pháp so sánh luật học: Phương pháp nàyđược sửdụng chủyếutại Chương 2 của Luận án để so sánh việc bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại các DNCVĐTNN theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm có thể áp dụng vào quá trình sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới các quy định của pháp luật Việt Nam nhằm bảo vệ, bảo đảm các quyền của người laođộng làm việc tại các DNCVĐTNN hiệu quả hơn.
– Phương pháp phân tích – tổng hợp: Trong Chương 3 của Luận án chủ yếu sửdụng phương pháp này để phân tích và tổng hợp các số liệu minh chứng cho tình hình bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN; phân tích nguyên nhân của những kết quả đạt được hay những tồn tại của quá trình thực hiện pháp luật bảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN, từ đó rút ra những kinh nghiệm của quá trình này và sử dụng các kinh nghiệm đó như là cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
– Phương pháp thống kê: Luận ánsửdụng phương pháp nàychủyếutrong Chương 3 để thống kê số lượng, qui mô thực trạng bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN theo pháp luật Việt Nam… qua đó khẳng định quyền của ngườilaođộng ởDNCVĐTNNcầnđượcbảovệnhưthếnào và việc bảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN ra sao.
– Phương pháp lôgic– lịchsử: Phương pháp nàyđượcsửdụngchủyếu trong Chương 4 của Luận án để làm rõ các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN. Từ đó đề ra định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN trong điều kiện đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, phù hợp với tiêu chuẩn lao động quốc tế và đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật nước ta.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng độc lập trong các chương của Luận án nhưđã nêu trên, tuy nhiên trong từng phần, hoặc từng chương của Luận án cóthể sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu của đề tài Luận án.
7
Là công trình chuyên khảo nghiên cứuvềbảo vệquyền của người lao động làm việc tạiDNCVĐTNN theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận án có nhữngđiểm mới chủ yếu như sau:
Thứnhất, Luận án tiếp tục phát triển và hoàn thiện thêm một bước cơ sởlý luận bảo vệquyền củangười lao động làm việc tại DNCVĐTNN. Trên cơ sởkết quảnghiên cứu của các công trình khoa học trước đâyvềbảo vệ, bảo đảmquyền của người lao động, Luận án tiếp tục làm rõ thêm các vấn đềnhư: khái niệm, đặc điểm của DNCVĐTNN, sự cần thiết bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN; khái niệm và đặc điểm, nguyên tắc, nội dung, ý nghĩa của pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
Thứhai, Luận án phân tích, đánh giá vềthực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN ởcác phương diện:Bảovệquyền việc làm;bảovệquyềnđược đảm bảo thu nhập và đời sống; bảo vệ quyền nhân thân của người lao động; bảo vệquyền liên kết và tự do công đoàn. Trong các công trình nghiên cứu trước đây, có một sốđánh giávềthực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, các công trình đó hoặc là đánh giá pháp luậtvềquyền con người nói chung mà ít đề cập đến quyền của người lao động hoặc là đánh giá việc bảo vệ quyền của người lao động trong pháp luật lao động mà không đánh giá các quyđịnh pháp luật khác cũng có nội dung bảo vệquyền của ngườilao động như: Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản. Tiếp thu kết quả của các công trình nghiên cứu đó, Luận án phân tích, đánh giá cả thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật; nêu ra những ưu điểmcủa pháp luật bảo vệquyền của ngườilao động tại DNCVĐTNN, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế, bất hợp lý trong các quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN, những hạn chếtrong các cơ chếbảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN. Trên cơsở đó,Luận án nêu ra những vấn đề cần tiếp tục sửa đổi,bổsung các quyđịnh pháp luật hiện hành đểnâng cao hiệu quảbảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
Thứ ba, Luận án nêu ra các định hướng và giải pháp sửa đổi, bổ sung một sốhạn chế trong các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN, có luận giải cụ thể, nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam
đảmbảovừa bảovệquyền và lợi ích chính đáng củangười lao động vừa khuyến khích, tạo điềukiện thuận lợicho các DNCVĐTNN hoạt động,mởrộngđầutư, phát triển kinh doanh và đóng góp nhiều hơn nữa vào nền kinh tế đất nước.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận cơ bản trong khoa học pháp lý về bảo vệ quyền của người lao động và pháp luật bảo vệquyền củangười lao động nói chung và bảo vệquyền của người laođộng làm việc tại DNCVĐTNN ở Việt Nam nói riêng.
Luận án cũng cóthể được sử dụng nhưmột tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạypháp luật kinh tế, pháp luật lao động ởcác trường chuyên luật hoặc các trường liên quan đến pháp luật. Ngoài ra, Luận án cóthểlà tài liệu tham khảo cho bất cứ ai quan tâm đến quyền con người, quyền của người lao động dưới góc độ pháp luật kinh tế, pháp luật lao động.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền của người lao động làm việc
tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và pháp luật về bảo vệquyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài.
Chương 3: Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về
bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệquyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề đã được nghiên cứu Con
1.1.1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.2.2. Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền của người lao động làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
19
1.1.2.3. Tình hình các công trình nghiên cứu về hướng hoàn thiện bảo vệquyền của ngườilao động làm việc trong doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài
23
1.1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Nhìn chung, đã có một sốcông trình và bài viết dưới nhiều khía cạnh khác nhau và mứcđộkhác nhau nghiên cứu vềpháp luật bảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN. Qua tìm hiểu vềtình hình nghiên cứu trong các công trình và bài viết mà nghiên cứu sinh tiếp cận được có thể thấy:
– Một số công trình đã nghiên cứu sâu sắc, làm rõ lý luận về bảo vệ quyền con người, quyền của người lao động, cơ chế và pháp luật bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của người lao động nói riêng. Mặc dù những công trình này không đềcập hoặc đềcập rấtít vềvấn đềbảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN, nhưng có thể khẳng định những công trình này là nguồn tài liệu quan trọng, cốt lõi của Luận án trong phần nghiên cứu về lý luận bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại các DNCVĐTNN.
– Một sốcông trình, bài viết vềthực trạng việc bảo vệquyền của người laođộng làm việc tại các DNCVĐTNN dưới góc độ pháp luật lao động. Các công trình này chưa nghiên cứu, đánh giá một cách tổng thể thực trạng pháp luật (Luật doanh nghiệp, Luật phá sản, Luật lao động) trong việc bảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN. Các kết luận, đánh giá của các công trình nàysẽlà nguồn tài liệu quan trọng cho phần nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệquyền củangườilao động làm việc tại DNCVĐTNN nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận liên quan đến bảo vệ người laođộnglàm việc tại DNCVĐTNN tại Việt Nam hiện nay.
– Trong số các công trình tác giả khảo cứu, có công trình đưa ra các giải pháp tổng thể về việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong việc bảo đảm, bảo vệ
quyền cơ bản của con người, có công trình đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động trong việc bảo vệquyền conngườitrong lĩnhvựclao động. Tuy nhiên, không có công trình nào đưa ra các giải pháp hoàn thiện tổng thể các quy định pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN dưới góc độ: Luật doanh nghiệp, Luật phá sản, Bộ luật lao động. Mặc dù vậy, những kết luận, đánh giácủa các công trình nàysẽlà nguồn tài liệu quan trọng của Luận án trong phần nghiên cứu, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hànhvề bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
24
Trên cơsởkếthừa các kết quảnghiên cứu những vấnđềlý luậnvềbảo vệquyền của người lao động và pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động, Luận án tiếp tục làm rõ và luận giải một cách cụ thể các nội dung sau đây:
– Khái niệm, đặc điểm của DNCVĐTNN và yêu cầu bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại các doanh nghiệp này. Khái niệm bảo vệ quyền của người laođộng; cơ chế bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN;
– Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung, ý nghĩa pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN;
– Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành vềbảo vệquyền của người lao động trong DNCVĐTNN.
– Định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
1.2. Cơ sở lý luận
Một số lý thuyết dự kiến sử dụng
Luận ánđược thực hiện trên cơ sở họcthuyếtchủnghĩa Mác-Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; quan điểm, đườnglối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta; về vấn đề bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
Luận án cũng được thực hiện dựa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc một số học thuyết: học thuyết về“quyền tự nhiên củacon người”vào thế kỷthứXVI, XVII của các tác giả tiêu biểu như Jonh locke, B. Spinoza, E.kant, S. Montesque, J.J.Rousseau; học thuyết về“Quyền pháp lý của con người”củaEmund Burke (1729-1797) và Jeremy Bentham (1748-1832); học thuyết về“Nhà nước pháp quyền”. Theo đó quyền của người laođộnglàm việc tại DNCVĐTNN chính làquyền con người trong lĩnh vực lao động cầnđược bảo đảmthực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau.
Câu hỏi nghiên cứu
Để đạtđượcmụctiêu nghiên cứu đề ra, trêncơ sởtình hình nghiên cứu đề tài, Luận án đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu trọng tâm sau:
Thứ nhất, bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN là gì? Thứ hai, pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại
DNCVĐTNN là gì? Ở nước ta hiện nay, bảo vệ quyền của người lao động làm việc
25
tại DNCVĐTNN đượcpháp luật quy định vàbảo đảmnhư thế nào? Các quyđịnh bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN đã đầy đủ chưa? Việc bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN đãtốt chưa? Còn vướng mắc, bất cập gì cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện?
Thứ ba, thực tiễn áp dụng phápluật bảo vệquyền của người laođộnglàm việc tại DNCVĐTNN ra sao?
Thứ tư, tại sao phải hoàn thiện pháp luật về bảo về quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN ở Việt Nam hiện nay?
Thứ năm, những định hướng đểviệc bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN được thực hiện đầyđủtrên thực tế trong điều kiện nước ta hiện nay?
Thứ sáu, giải pháp nào để việc bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN được thực thi hiệu quả trong điều kiện nước ta hiện nay?
Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở nền tảng các nghiên cứu về bảo vệ quyền của người lao động nói chung và quyền củangười laođộnglàm việc trong các DNCVĐTNN nói riêng, Nghiên cứu sinh xác định các giả thuyết nghiên cứu cho Luận án như sau:
Thứ nhất, hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về bảo vệ quyền con người trong đó có người lao động, những khái niệm này được nhìn nhận dưới nhiều lĩnh vực khác nhau như: kinh tế học, triết học… Tuy nhiên, ở phương diện pháp lý, khái niệm bảo vệ quyềncủangười lao động mới chỉ được đưa ra dưới góc độ pháp luật lao động chưa được xem xét trên giác độ pháp luật kinh tế và pháp luật lao động: Luật doanh nghiệp, Luật phá sản và Bộ luật lao động.
Thứ hai, các quy định của pháp luật Việt Nam về việc bảo vệ quyền của người lao động được được quy định trong các luật: Bộ luật lao động, Luật việc làm, Luật thất nghiệp, Luật bảo hiểm xã hội, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản… Việc quy định về việcbảovệquyềncủa ngườilaođộngtrong nhiềubộluật, luật khác nhauđãvàđang bộc lộ những hạn chế và bất cập khi áp dụng với điều kiện kinh tế – xã hội trong nước, ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo vệ quyền lợi của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
Thứ ba, việc bảo vệ các quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN phụ thuộc vào tính khả thi của các cơ chế bảo vệ quyền của người lao động, phụ thuộc năng lực thực thi của các cơ quan chức năng nhà nước, ý thức tuân thủ pháp
26
luật của người sửdụng lao động và chính bản thân người lao động. Vì thế, các quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN rất khó được thực hiện đầy đủdo nghĩa vụ, trách nhiệmđảmbảo quyền của người lao động được thực hiện trên thực tế của các chủ thể nêu trên chưa được thực thi nghiêm túc.
Thứ tư, hiện nay trong Bộ luật lao động, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản và một số luật khác có liên quan đến việc bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN còn mộtsố hạn chế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động làm việc tại các doanh nghiệp này.
Thứnăm,định hướng hoàn thiện pháp luật bảo vệquyền của ngườilao động làm việc tại DNCVĐTNN trên cơsở địnhhướng phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới; phù hợp với tiêu chuẩn lao động quốc tế và đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam vềbảo vệ quyền của người lao động.
Thứ sáu, muốn bảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN tốt hơn nữa thì cần phải có giải pháp mang tính toàn diện từ việc hoàn thiện các quy
định pháp luật, cơ chế pháp lý bảo vệ quyền của người lao động đến ý thức tuân thủ pháp luật của người sửdụng lao động và việc nâng cao nhận thức về quyền trong quan hệ lao động của chính bản thân người lao động.
1.3. Hướng tiếp cận của đề tài
Luận ánkếthừa (có chọn lọc, phân tích và bình luận) cáckếtquảnghiên cứuđã được công bố trước đề tài này trên cơ sở tập hợp, hệ thống ở mức đầy đủ nhất cóthể đối vớicác công trình khoa học có liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
Bên cạnh việc nghiên cứu lý luậnvề vấn đề bảo vệ quyềncủa người lao động làm việc tại DNCVĐTNN, Luận án sẽtập trung hướng nghiên cứu việc bảo vệ quyền của người lao động tại DNCVĐTNN dưới góc độ chuyên ngành Luật kinh tế (Luật doanh nghiệp, Luật phá sản, Bộ luật lao động) trong mối tương quan đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho DNCVĐTNN hoạt động, phát triển.
Luận án nghiên cứu, rút ra những đặc điểm chung về bảo vệ quyền của người lao độngở các nướctrên thế giới để từđóđưa ra những giải pháp tiếp thu có chọn
lọc những kinh nghiệm phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
27
1. Bảo vệquyền của ngườilao độngnói chung và quyền của ngườilao độnglàm việc tại DNCVĐTNN là mộttrong những vấn đềquan trọng trong quan hệ lao độngđược nhiều công trình đã nghiên cứu, khảo sát dưới các góc độ khác nhau. Những công trình đó, phụ thuộc vào mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, điều kiện hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội ở một giai đoạn nhất định, phục vụ cho ngành khoa học cụ thể, đã nghiên cứu, giải quyết một hoặc một số nội dung liên quanđến bảo vệ quyền lợi của người lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
2. Một sốcông trình nghiên cứu vềbảovệquyền của ngườilaođộng nói chung và quyềncủangười lao động làm việc tại DNCVĐTNN nói riêng,đã giải quyết sâu sắc một số vấn đề lý luận chung về bảo vệ quyền của người lao động, đềcập đến các khái niệm về bảo vệ người lao động, cơ chế bảo vệ quyền của người laođộng. Các công trình này đi sâu vào nghiên cứu quyền con người, quyền của người lao động theo công ước quốc tế,pháp luật một sốnước trên thếgiới và pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, do mục đích, đối tượng, phạm vi và thời điểmnghiên cứu khác nhau nên các công trình này không đề cập đến lý luận việc bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại các DNCVĐTNN. Có thể khẳng định rằng, đây là các công trình cốt lõi, là cơ sở Nghiên cứu sinh kế thừa, tiếp thu để giải quyết vấn đề lý luận, thực tiễn và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người laođộng làm việc tại DNCVĐTNN. Các kết quả của những công trình nghiên cứu này là những giá trị khoa học quan trọng để luận án kế thừa trong quá trình nghiên cứu về việc bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Hơn thế nữa, những kết quả nghiên cứu đó cũng sẽ gợi mở đểLuận án đánh giá sâu sắc hơn trên quan điểm cá nhân nhằm giải quyết một cách hệthống các nhiệm vụ đặt ra trong quá trình nghiên cứu.
3. Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, Luận án tiếp tục làm rõ và giải quyết những nội dung cơ bảnsau: khái niệm bảo vệquyền của người lao động dưới góc độ ngôn ngữ, pháp lý quốc tế; cơ chế bảo vệ quyền của người lao động; khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung, ý nghĩa pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN; thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại các DNCVĐTNN; định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệquyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN.
28
4. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, Luận án sửdụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp phấn tích lý luận, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic-lịch sử… Trong Luận án, phương pháp luật học so sánh được sửdụng để so sánh thực tiễn tình hình nghiên cứu trong nước và trên thếgiới vềbảovệquyền của người laođộngnhằm chỉ ra những ưu việt trong các quanđiểm, các kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tiếp thu và vận dụng một cách phù hợp vào việcbảovệquyềncủa ngườilaođộnglàm việctạicác DNCVĐTNN ở mức độcao hơn trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
29
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA
NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
2.1. Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và sự cần thiết phải bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại các doanh nghiệp này
Từ những năm 70 của thế kỷ 19, các nhà tư bản Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… đã thực hiện việc đầu tư vốn trực tiếp ra nước ngoài.Đến nay, các tập đoànđầu tư hàng đầu thếgiới từcác quốc gia này cùng với các nhà đầu tư từ các quốc gia khác như: Nhật, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc… đãvà đang đầu tư vốn trực tiếp tại khắp các châu lục trên thế giới.
Đầu tưtrực tiếp nước ngoài là một hình thức di chuyển vốn trên thị trường tài chính quốc tế, trong đó bên chủ sở hữu vốn (nhà đầu tư nước ngoài, mà thường làcác công ty đa quốc gia) tạo ra các doanh nghiệp, các chi nhánh ởnước khác; đểđầu tưmở rộng thị trường, thiết lập quyền sở hữu từng phần hoặc toàn bộ vốn đầu tư và giữ quyền quản lý trực tiếp, ra các quyết định kinh doanh, cùng với các đối tác nước sở tại chịu rủi ro và hưởng lợi nhuận.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế trong đó có ít nhất một bên là nhà đầu tư nước ngoài, bỏ vốn đầu tư trực tiếp đểtiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụhoặc các hoạt động nghiên cứu vì mục tiêu sinh lời phù hợp với các quy định nước sở tại và thông lệ quốc tế [33, tr.4,5].
Như vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ra đời nhằm thực hiện các hoạt động đầu tưtrực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài vào các nước sở tại, nó là hình thức mà nhà đầutư nước ngoài trực tiếp bỏ vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào khác để kinh doanh ở một nước khác.
Theo pháp luật Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh
30
doanh tại Việt Nam. Doanh nghiệp có vốnđầu tưnước ngoài (DNCVĐTNN) có thểthành lập dưới các hình thức như: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp doanh.
Nếu phân loại theo mức độvốn góp của nhà đầu tưnước ngoài trong doanh nghiệp thì có doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầutưnước ngoài.
Doanh nghiệp liên doanh được hình thành trên cởsởhợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủViệt Nam với Chính phủnước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập dưới nhiều loại hình khác nhau như: công ty hợp danh, công ty cổ phần có vốn góp của một hay nhiều bên nước ngoài với một hay nhiều bên Việt Nam. Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.
Doanh nghiệp 100%vốn đầu tưnước ngoài là doanh nghiệp do một hay nhiều cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia thànhlập và đầu tư100% vốn. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập dưới các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam hoặc doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.
Cũng như các doanh nghiệp khác, DNCVĐTNN có những đặc điểmchung của doanh nghiệp như: có tên riêng, có trụ sở, có tài sản, mục tiêu thành lập là hoạt động kinh doanh… Bên cạnh những đặc điểmchung đó, DNVCNN còn có một sốđặc điểm sau đây:
Về lĩnh vực kinh doanh: Mục tiêu đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài là lợi nhuận nên ngành nghề kinh doanh do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư kinh doanh ởcác nước sởtạithường phânbốkhông đều, các nhàđầu tưnước ngoài chỉtập trung vào những ngành có lợi nhuận cao, mức độrủi ro thấp, thu hồi vốn nhanh.Điều này dễ dẫn đến hiện tượng mất cân đối ngành nghề ở các địa phương nơi các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh. Ví dụ như, Việt Nam có thếmạnh vềngành nông nghiệp, nhưng tỷtrọng thu hút vốnđầu tưnước ngoài vào ngành nàyở nướcta còn khiêm tốn,chỉchiếm 1,4% trên tổngsố vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam…[107]
Vềsởhữu: Trong các DNCVĐTNN, tài sản thuộc một phần sởhữu của nhàđầu tưnước ngoài hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Tài
31
sản trong các DNCVĐTNN có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bấtđộngsản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính
(cổphần, cổphiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…). Trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tưnước ngoài, toàn bộ tài sản thuộc về một nhàđầu tưnước ngoài hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Một số DNCVĐTNN có sở hữu của nhàđầu tưthuộc nhiều quốc gia khác nhau, đó là trường hợp của các Tập đoàn đầu tư, các công ty đa quốc gia. Trong các doanh nghiệp liên doanh, các nhà đầu tưnước ngoài là chủsởhữu một phần tài sản của doanh nghiệp, còn lại thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước sở tại.
Về quản lý, điều hành doanh nghiệp: Quyền quản lý trong các DNCVĐTNN phụthuộc vào mức độđóng góp vốn của các bên trong doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tưnước ngoài, nhà đầu tưnước ngoài là chủsởhữu toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nên nắm toàn bộ quyền quản lý doanh nghiệp, chịu trách nhiệm về hoạt động cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Còn ởcác doanh nghiệp liên doanh, nếu tỷlệgóp vốn của nhà đầutưnước ngoài cao hơn so với bên góp vốn của nước sở tại thì nắm quyền quản lý và ra quyết định cao hơn; ngược lại tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài thấp hơn thì quyền quản lý và ra quyết định cao hơn thuộc về bên góp vốn của nước sở tại.
Về việc phân chia lợi nhuận, rủi ro: Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài trong DNCVĐTNN thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tưnước ngoài là chủ sở hữu toàn bộ tài sản doanh nghiệp, nắm toàn bộ quyền quản lý, tự chịu trách nhiệm về hoạt động cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên nhà đầu tưnước ngoàiđược hưởng toàn bộlợinhuận cũng như gánh chịu mọi rủi ro từhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiêp liên doanh, nhà đầu tưnước ngoài là một bên góp vốn trong doanh nghiệp nên họđược chia lãi và chịu trách nhiệmđối với các khoản lỗ, rủi ro theo theo tỷ lệ góp vốn trong DNCVĐTNN sau khi đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nước chủ nhà.
Về quan hệ lao động: Trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, người sửdụng lao động là cá nhân mang quốc tịch nước ngoài và người lao động phần lớn là người dân nước sở tại. Mối quan hệ lao động này thường nhạy cảm hơn mối quan hệlao động khác nhưng mang tính chất nội địa, giữa hai bên trong mối
32
quan hệ này luôn có khoảng cách do sự khác biệt về văn hóa thậm chỉ cả ngôn ngữgiữa người sửdụng lao động và người lao động. Ởcác doanh nghiêp liên doanh, nhà đầu tưnước ngoài có thểkhông trực tiếp đứng ra quản lý, điều hành doanh nghiệp mà thuê người thực hiện các công việc đó. Tuy là người được thuê để điều hành doanh nghiệp nhưng những người quản lý cũng có các quyền như người sửdụng laođộngchăng hạn như: được quyền ký kết hợp đồng laođộngvới người laođộng, quản lý, phân công lao động trong doanh nghiệp… Tuy nhiên, có thểnói, những người này có các quyền của người sử dụng lao động nhưng họ thực hiện các quyền này theo quy định của doanh nghiệp, quyết định của các bên góp vốn trong doanh nghiệp. Điều này cho thấy vài trò của người sử dụng lao động trong quan hệlao động ở trường hợp này có phần thụ động hơn so với những người sử dụng lao động khác, họ không có quyền tự quyết định những vấn đề phát sinh mới ngoài quyđịnh của doanh nghiệp khi chưa được sự đồng ý của nhà đầu tư nước ngoài hay các bên góp vốn trong doanh nghiệp.
Như vậy, có thể thấy rằng, DNCVĐTNN có các đặc điểm khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác từ vấn đề sở hữu tài sản, quyền quản lý doanh nghiệp, việc phân chia lợi nhuận đến quan hệgiữa người sửdụng lao động và người laođộng làm việc tại DNCVĐTNN. Những đặc điểm khác biệt này tác động khôngnhỏđến việc bảo vệ, bảođảmcác quyền của người lao động làm việc tại các doanh nghiệp này.
Trong các doanh nghiệp nói chung và DNCVĐTNN nói riêng, lao động quản lý, lao động có trình độ khoa học, kỹ thuật, công nhân có tay nghề cao thường được chủdoanh nghiệp có chếđộđãi ngộtốt và có chính sách giữngười lao động làm việc lâu dài cho họ. Đối với những lao động này, họ có khả năng nhận thức và thụhưởng các quyền con người trong lĩnh vực lao động, họ cũng có khả năng tự bảo vệvà yêu cầu cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích cho họ khi bị xâm phạm. Còn lại, phần lớn là lao động nước sở tại, có trình độ văn hóa không cao, làm các công việc phổ thông, khả năng nhận thức cũng như thụ hưởng và tự bảo vệ các quyền của họkhi bịxâm hại là rất hạn chế. ỞViệt Nam, người lao động đa sốxuất thân từnông thôn, họlà những nông dân, họcsinh tốt nghiệp cấp 2, cấp 3 không tiếp tục học nâng cao trình độ có nhu cầu việc làm để để có thu nhập trang trải cuộc sống. Trong thời gian qua, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tuy tốc độ phát triển khôngđều, nhưng lực lượng lao động làm việc trong khu vực này qua các năm đều tăng.
33
DNCVĐTNN là nơi tạo việc làm cho rất nhiều lao động, bên cạnh đó số ít lao động trình độchuyên môn cao, giữvịtrí then chốt trong doanh nghiệp thì phầnlớnlaođộng thu hút vào làm việc trong khu vực này là lao động chưa qua đào tạo và bộphận từkhu vực nông nghiệp, nông thôn (có thu nhập thấp)…[32, tr.54]. Theo sốliệu điều tra lao động và việc làm ở Việt Nam năm 2014 do Tổng cục thống kê thực hiện cho thấy: tỷ trọng lao động qua đào tạo ở nước ta vẫn còn thấp, trong 53,748 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của cả nước, chỉ có hơn 9,99 triệu người đã được đào tạo, chiếm 18,6% tổng lực lượng lao động. Ngược lại, hiện cả nước có hơn 43,76 triệu người (chiếm 81,4% lực lượng lao động) chưa được đào tạo để đạt một trình độ chuyên môn nào đó. Như vậy, tuy nguồn nhân lực của Việt Nam trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật thấp. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở Hà Nội (39,0%) và thấp nhất là đồng bằng Sông Cửu Long (10,4%). Tỷ trọng lao động có trình độ đại học trở lên khác nhau đáng kể giữa các vùng. Nơi có tỷtrọng cao nhất là Hà Nội (21,2%) và thành phốHồChí Minh (18,8%), đồng bằng Sông Cửu Long có tỷ trọng lực lượng lao động có trình độ đại học thấp nhất (4,5%) [45, tr.17,18]. Kết quảcho thấy, phần lớn laođộng làm việc tại DNCVĐTNN trên mới tốt nghiệp trung học phổthông chiếm 80%. Tỷlệlaođộng đã qua đào tạo rất thấp, trên 57% lao động chưa đào tạo [32, tr.54].
Do các DNCVĐTNN có các đặc điểmkhác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác, cùng vớithực trạng trình độchuyên môn, nghiệp vụcủa người lao động trong các doanh nghiệp nàydẫnđếnmối quanhệlao động trong các doanh nghiệp này thường nhạy cảm hơn so với các mối quan hệ lao động ở các loại hình doanh nghiệp khác. Người laođộnglàm việc tại các DNCVĐTNN cần được quan tâm hơn những người lao động khác vì các lý do như sau:
Thứnhất, trường hợpngười sửdụng laođộng trong DNCVĐTNN là người nước ngoài, giữa họ và người lao động có sự khác biệt về văn hóa, truyền thống vàthậm chí cả ngôn ngữ đã tạo ra khoảng cách giữa người sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp. Còn nếungười sửdụng lao động là người quản lý được thuê, họ được trao quyền như người sử dụng lao động nhưng họ không được toàn quyền quyết địnhnhững vấn đềphát sinh nằmngoài quyền hạn đã được chủdoanh nghiệp hoặc các bên trong doanh nghiệp trao cho họ. Do vậy, trongcảhai trường hợp trên, người lao động rất khó có cơ hội giao tiếp, trao đổi một cách trực tiếp vớichủdoanh nghiệp đểbàytỏýkiến, nguyện vọng, mong muốn của họvề
34
tiền lương, về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi… Chủ doanh nghiệp không kịp thời nắm bắtđược tâm tự, nguyên vọng của người lao động đểgiải quyết những khúc mắc cho người lao động. Tình trạng đó kéo dài sẽ tạo ra sự bất mãn, sự phản đối ngầm trong người lao động đối với người sử dụng lao động, chủ doanh nghiệp.Điều này sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường lao động trong doanh nghiệp. Hơn thế nữa, nhữngbất đồngvề văn hóa và ngôn ngữ cũng có thể gây ra tình trạng các mệnh lệnh, điều hành từngười sửdụng lao động không được người lao động hiểu đúng và thực hiện đầyđủ, nó sẽcó tácđộng xấu đến kết quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả, thua lỗ thìkhông chỉquyền lợi của chủdoanh nghiệpbịảnh hưởng mà các quyền và lợi ích của người lao động cũng sẽ không được đảm bảo.
Khi tiến hành đầu tư trực tiếp tại nước sở tại,để đảm bảo thuđược lợi nhuận tối đa, trong DNCVĐTNN thường áp dụng những cách thức quản lý chặt chẽhơn về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi… so với các loại hình doanh nghiệp khác.Điều nàysẽtạocảmgiác gò bó, tâm lý bất mãn, tuân thủcác quyđịnh một cách ngượng ép, chiếu lệ, đối phó của người lao động. Tình trạng này kéo dài sẽlàm giảm đi tính hiệu lực của các mệnh lệnh trong quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. Khoảng cách và bất động giữa người lao động và người sử dụng lao động ngày một lớn hơn, mâu thuẫn phát sinh, tranh chấp xảyra, các hoạt độngbình thường của doanh nghiệp bị cản trở, hiệu quả sản xuất, kinh doanh suy giảm sẽ gây tác động tiêu cực không chỉ quyền lợi của chủ doanh nghiệp mà còn ảnh hưởngđến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.
Thứ hai, người lao động nói chung và người lao động làm việc trong DNCVĐTNN nói riêng đều mong muốn cóđược công việc ổn định, đạt được những lợi ích kinh tế từ hoạt động lao động sản xuất. Thông qua hoạt động lao động cho DNCVĐTNN, người lao động được trả tiền lương, tiền thưởng, các khoản thu
từ các quỹ phúc lợi trợ cấp xứng đáng với hoạt động lao động của họ, môi trường làm việc an toàn, vệ sinh, đời sống tinh thần của họ được người sửdụng lao động quan tâm. Trong các DNCVĐTNN, nhất là các doanh nghiệp có chủđầu tưnước ngoài là người Mỹ, Anh, Nhật… để đảm bảo hàng hóa đạt chất lượng cao, đảm bảo sức khỏe, tính mạng cho người lao động, chủdoanh nghiệp thường đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, về môi trường vệ sinh lao động. Tuy nhiên, do thói quen trong sinh hoạt và lối sống từđịa phương của người lao động sinh sống
35
mà trong nhiều trường hợp họ đã không thực hiện hoặc thực hiện một cách chiếu lệ, đối phó các quyđịnh này. Bản thân người lao động đã không lường trước những nguy cơ từ những hànhđộngcủa mình và khibị mắc bệnhnghề nghiệp hoặc tai nạn lao động xảy ra họ phải gánh chịu thiệt hại cả về vật chất, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng của họ. Thiệt hại này không chỉ ảnh hưởng đến người lao động mà còn gây hệ
lụy cho gia đình của người lao động và cho cả doanh nghiệp. Bên cạnh đó, còn cótrường hợp, lợi dụng những hạn chếvềnhận thức của người lao động, chủđầu tưnước ngoài đã cốtình không thực hiện hoặc thực hiện không đầyđủnghĩa vụđối với người lao động như: trả tiền lương cho người lao động không đúng hạn, chậm nộp tiền bảo hiểm xã hội, thực hiện khôngđầyđủcác quyđịnhvềan toàn lao động… làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực thi các quyền của người lao động.
Thứ ba, trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh không chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp mà còn xảyra giữa những người lao động trong việc tìm kiếm việc làm. Nếu thịtrường sức lao động phát triển, nhu cầu sửdụng lao động cao thì tất yếu sẽ diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm thu hút được lượng lao động nhiều, có khả năng đáp ứng được công việc phức tạp và do vậyngười lao động sẽđược trảlương xứng đáng, thu nhập của người lao động sẽcao, cuộc sống của bản thân họ và gia đình họ được bảo đảm. Ngược lại khi nguồn cung lao động dồi dào, nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp ít sẽ dẫn đến mức độ cạnh tranh trong công việc sẽ cao hơn. Trong các DNCVĐTNN, người laođộng thường có mứcthu nhập và cácđiềukiện laođộngtốthơn sovớingườilaođộng làm việc ởmột sốloại hình doanh nghiệp khác vì thếđểcóđược công việc trong các doanh nghiệp nàyđòihỏi người lao động phải đáp ứng được nhữngyêu cầu của công việc khắt khe hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. Trong nhiều trường hợp, để có được công việc, người lao động sẵn sàng chấp nhận nhữngđề nghị về tiền lương, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi… mà không đòi hỏi cósự trao đổi, đàm phán trước khi ký kết hợp đồng lao động. Điều này làm cho người lao động khôngđược hưởng đầy đủ nhữnglợi ích mà đáng rahọ phải được hưởng
từ chính lao động của mình.
Từ sự phân tích trên cho thấy, các quyền của người lao động nước sở tại đặc biệt là lao động có trình độ văn hóa không cao, làm các công việc phổ thông trong các DNCVĐTNNdễbịxâmhạihơn so với những người lao độnglàmởcác loại hình doanh nghiệp khác. Vì vậy, yêu cầu bảo vệ quyền của người lao động làm việc
36
tại các DNCVĐTNN là cấp thiết đểphòng ngừa, bảo vệ, đảmbảo các quyền của người lao động được thực hiện trên thực tế, đồng thời để tránh xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xung đột giữa người lao động và người sửdụng lao động làm ảnh hưởng tiêu cực đến các DNCVĐTNN nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung.
2.1.2. Khái niệm và nội dung về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2 Bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành Bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành

