MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài luận án
Bảo đảmquyền con người của người bịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụán hình sự là nội dung quan trọng về thực tiễn và nghiên cứu khoa học, thế nhưng trong thời gian dài, đềtài này chưa được quan tâm nghiên cứu do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, thể hiện ở các mặt, phương diện như sau:
Về mặt lý luận: Ngoài các vấn đề lý luận được thừa nhận chung liên quan đến đề tài luận án như quyền con người của người bị buộc tội trong Bộ luật Tố tụng hình sựViệt Nam tương thích với Tuyên ngôn quốc tếvềquyền con người cũng như các Công ước quốc tế về quyền con người ở từng mức độ, trong đó cómột sốđề tàinghiên cứu việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người bằng hoạt động xétxử của Tòa án hoặc chỉnghiên cứu việc bảo đảm, bảo vệquyền con người qua thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát. Bên cạnh đó vẫn còn nhiều khái niệm có nội dung liên quan vẫn cònbỏ ngỏ về mặt lý luận hoặc có nghiên cứu nhưng chưa sâu, cụ thể như nội hàm của khái niệm hoạt động chứng minh buộc tội của chủthểbuộc tội (đặc biệt chủthểbuộc tội là Viện kiểm sát), nhất là việc bảo đảmquyền con người của người bịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong mối quan hệ với việc thực hiện quyền được suy đoán vô tội, quyền chứng minh vô tội, quyền không tựbuộc tội chính mình, quyền bào chữa, tranh tụng để xác định sự thật vụ án là chưa có công trình nào nghiên cứu .v.v..
Về phương diện luật thực định: Các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2003 qua thực tiễn áp dụng nhận thấy vẫn còn nhiều mâu thuẫn, bất cập, ảnh hưởng không nhỏ đến việc không bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội, cụ thể như tại Điều 79 về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam quy định rất chung chung mang tính nhận thức chủquan như: Đểkịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra,
truy tố, xét xửhoặc sẽtiếp tục phạmtội…cóthểáp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam… Việc ngầm thừa nhận “Quyền imlặng” của người bị buộc tội bằng quy định tại khoản 4 Điều 209: Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền
1
lợi của đương sựtiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quanđến vụán. Hiện nay,Bộluật Tốtụng hình sựnăm 2015 đã khắc phục bằng việc ghi nhận quyền không tự buộc tội của người bị buộc tội như: “Trình bày
lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” (điểm d khoản 1 Điều 58, điểm c khoản 2 Điều 59, điểm d khoản 2 Điều 60, điểm h khoản 2 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) và quyền này được thể hiện ở tất cả các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cũng cần được lý giải làm rõ về lý luận;
Về phương diện thực tiễn: Cơchếbảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội chưa khảthi, chưa thấy vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát vừa là cơquan Công tố, cơ quan buộc tội nhưng đồng thời là cơ quan chịu trách nhiệm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội xuyên suốt trong các giai đoạn tố tụng hình sự.
Thực tếtrong thời gian dài vẫn xảyra nhiều oan, sai do bức cung, nhục hình, nguyên nhân cơ bản là chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ quyền con người của người bịbuộc tội, vi phạm nguyên tắc kinh điển là nguyên tắc “Suy đoán vô tội”, chưa phân biệt các khái niệm: người bị tình nghi phạm tội, người có tội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người bịtruy cứu trách nhiệm hình sự, chưa phân biệt rành mạch các chức năng tố tụng hình sự..v.v…
Thực tiễn hoạt động chứng minhtộiphạm, người phạm tộinói chung và hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát nói riêng trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự thời gian qua (từ năm 2009-2018) vẫn còn
tồn tại nhiều vi phạm, thiếu sót, xâm phạm quyền con người như đánh giá tại các Nghị quyết của Đảngnhư: Nghị quyết số08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của BộChính trịvề“Một sốnhiệmvụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nêu: “..chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dânđối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp..”. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” cũngđã đánh giá: “..vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét
xử…”..
2
Tại báo cáosố870/BC-UBTVQH13 ngày 20/05/2015 của Ủyban thường
vụ Quốc hội về kết quả giám sát tình hình oan, sai, đã nêu rõ: “…tình trạng khởi tố, điều tra, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án do hành vi không cấu thành tội phạm, do miễn trách nhiệm hìnhsựcó dấu hiệu làm oan người vô tội. Các trường hợp làm oan đều là nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tài sản của người dân bịoan; có một sốvụđặc biệt nghiêm trọng gây bức xúc trong dưluận, gây mất lòng tin của nhân dân đối với công lý, giảm sút uy tín của cơ quan bảo vệ pháp luật. Nhiều trường hợp bắt, tạm giữ, tạm giam chưa chính xác sau đóphải chuyển xửlý hành chính;sốbịcanvềtội ít nghiêm trọngbịtạm giam còn nhiều, có biểu hiện lạm dụng.Để xảy ramột số vụ dùng nhục hình, có trường hợp
dẫn đến chết người gây bức xúc dư luận…Nguyên nhân chính dẫn đến các trường hợp oan, sai chủ yếu thuộc về lỗi chủ quan của một số người tiến hành tố tụng (trìnhđộ, năng lực yếu kém, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp hạn chế) và do quy định pháp luật còn nhiều bất cập nhưvềcăn cứbắt khẩn cấp, tạmgiữ, tạmgiam chưa chặt chẽ, có trường hợp do quá tin vào lờinhận tộicủa bịcan mà chưa chú trọng phát hiện, thu thập, củng cốchứng cứkhác ngaytừđầu (lấy lời khai người làm chứng, nhận dạng, đối chất…) nên khi bị can phản cung hoặc bị hại thay đổi lời khai thì lúng túng,bị động;quá trình điều tra lại gặp rất nhiều khó khăn, số vụ phải trảhồ sơ điều tra bổ sung còn nhiều, làm kéo dài việc giải quyết vụ án, đặc biệt là cònđể xảy ra một số trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền
con người, quyền công dân của người bị tình nghi thực hiện tội phạm… Chất lượng giámđịnh cũng bộc lộnhiều hạn chế, bất cập như không giámđịnh được dấu vết máu, lông, tóc tại hiện trường để truy nguyên cá biệt, xác lập chứng cứ xem đó là của ai (nạn nhân hay thủ phạm); nhiều trường hợp phải giám định nhiều lần và kết quả giám định rất khác nhau dẫn đến việc xử lý vụ án gặp khó khăn; kết luận giám
định trong một số trường hợp có biểu hiện không khách quan…
Tại Báo cáo số 11/VKSTC ngày 19/01/2015 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc tổng kết 10 năm thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự đã đánh giá: “ ..Tỷ lệngười bịbắt, tạm giữkhông đủcăn cứkhởitốhình sựtuyđã giảm nhưng vẫn ởmức cao; việc áp dụng biện pháp tạm giam còn biểu hiện lạm dụng, không kịp thời hủybỏbiện pháp tạm giam khi không còn cần thiết; đểxảyra một sốtrường hợp quá hạn tạm giữ, tạm giam mà không kịp thời có lệnh tạm giam hoặc gia hạn tạm
3
giam; các biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm ít được áp dụng, kém
phát huy hiệu quả trong thực tiễn…, chậm trễ trong việc giải quyết các yêu cầu, đềnghị của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa; một số vụ án gia hạn thời hạn điềutra, gia hạntạm giam chưa bảo đảm căn cứluật định. Còn có một sốtrường hợpcác Điều tra viên mớmcung, bứccung, nhục hình đốivới bịcan, làm cho việc điều tra thiếu khách quan và khôngđầyđủ,là mộttrong những nguyên nhân dẫn đến tại phiên tòa, bị cáo phản cung, không thừa nhận nội dung lời khai tại Cơ quan điềutra. Việc điều tra, thu thập, đánh giá chứng cứtrong một sốvụán chưa đầy đủ, kịp thời; vật chứng bị mất, hư hỏng không thể phục hồi hoặc thu giữtràn lan những vật không liên quan đến vụán, làm cho việc nhận định, đánh giákhác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến tình trạng chậm khởi tố vụán, khởi tố bị can hoặc khởi tố không đúng tội danh, để lọt tội phạm, gây bức xúc trong dư luận nhân dân. Viện kiểm sát có trách nhiệm phê chuẩn một số lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra nhưng thiếu các cơ chế pháp luật để Viện kiểm sát thực hiện tốt trách nhiệm này; Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệmvềnhững oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình. Tuy nhiên, Bộluật Tốtụng hình sựlại thiếu các biện pháp áp dụng trong trường hợp Cơ quan điều tra và Điều tra viên không thực hiện đầy đủ các yêu cầu của Viện
kiểm sát (Điều 114)…” nên Tác giả luận án nhất trí với việc đánh giá của Tiến sỹ
luật học Lê Hữu Thể cho rằng: “…tư duy trong giải quyết vụ án hình sự vẫn đặt sựquan tâm nhiều hơn ở nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mục tiêu đề cao công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân vẫn chưa giànhđược vị trí ưu tiên đúng như tầm quan trọng của nó..” [ 99, trang 133 ].
Nghiên cứu sinh nhận thấy: tất cả những tồn tại, thiếu sót, khó khăn, vướng mắc nêu trên chủ yếu là do chưa nhận thức đúng đắn việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội và chưa thấy rõ vai trò, trách nhiệm củaViện kiểm sát trong việc bảođảmquyền con người của người bịbuộc tội trong thời gian qua.
Thể chế hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo đảm quyền con người trong tình hình mới; Hiến pháp năm 2013 vàcác đạo luật mới vềtư pháp vừa ban hành thời gian gần đâyđã đềcao và tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người như: coi trọng quyềnđượcsuy đoán vô tội, không tựbuộc tội,
4
quyền bào chữa, tranh tụng dân chủ, công khai, phòng, chống tra tấn, bức cung, nhục hình, không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, người phạm tội nhằm đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm và những vi phạm pháp luật trong hoạt động tưpháp hình sự nên đã khắc phục những khoảng trống pháp lý ảnh hưởngđến việc không bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội và định hướng cho hoạt động của các cơ quan tư pháp không chỉ vì mục tiêu duy nhất là phát hiện,xử lýtội phạm, người phạm tộimà phải trên quan điểm vì con người, tôn trọng quyền con người của người bịbuộc tội, coi đó là nguyên tắc tốtụng quan trọng cao nhất khi tiến hành buộc tội, kết tội nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng nền tư pháp nước ta thật sự dân chủ, công bằng, nhân đạo, nghiêm minh, vì công lý, đề cao trách nhiệm trước nhân dân.
Hiện nay, tại khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và khoản 2 Điều 2 Luật tổchức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã xác định cho Viện kiểm sát có
nhiệm vụ: “…bảo vệ quyền conngười, quyền công dân, bảo vệ chếđộ xã hội chủnghĩa, bảo vệlợi ích của Nhà nước,quyền và lợi ích hợppháp của tổchức, cánhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
Trong lĩnh vực tốtụng hình sự, Viện kiểm sát giữquyền công tố,chứng minh tội phạm, người phạm tội; vậylàmthếnào đểViện kiểm sát trong quá trình chứng minh buộc tội vẫn thực hiện trách nhiệm bảo vệ, bảo đảm quyền con người nói chung và quyền con người của người bị buộc tội nói riêng. Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và đáp ứng yêu cầu thực tiễn cấp thiết nên Nghiên cứu sinh chọn đềtài: “Bảo đảmquyền con người của người bịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” làm luận án Tiến sỹ luật học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
*Mục đích của luận án: Làm rõ cơ sởlý luận và thực tiễn vềbảo đảm quyền con người và các quyền tố tụng của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, từ đó tạo ra nhận thức mới, đúng đắn, đầy đủ để các cơ quan tiến hành tốtụng và ngườitiến hành tốtụng hiểu và áp dụng thống nhất, tránh những hành vi xâm phạm quyền con người của người bị buộc tội; đồng thời tạo điều kiện tốt nhất cho người bịbuộc tộihiểu biết đểtựbảo vệmình. Nghiên cứu đềtài còn
5
nhằm mục đích tìm ra những hạn chế, thiếu sót, khó khăn, vướng mắc, bất cập, cùng những nguyên nhân, từđó đềxuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luậttốtụng hình sự cũng như hoàn thiện đầy đủ những văn bản hướng dẫn giải thích pháp luật, các văn bản chỉ đạo nghiệp vụ đơn ngành, liên ngành nhằm tăng cường hoạt động của Viện kiểm sát đảm bảo quyền con người của người bị buộc tội, góp phần ngăn ngừa, hạn chế tình trạng oan, sai; phòng, chống bỏ lọt tội phạm, người phạm tội.
*Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, luận án nghiên cứu một cách tổng quan tình hình đảm bảo quyền con người của người bị buộc tội ở trong nước và nước ngoài, không chỉ nhằm tránh sự trùng lặp, sao chép trong nghiên cứu khoa học mà còn là sự tiếp thu có chọn lọc những tư duy pháp lý tiến bộ để lập luận cho quan điểm mới của Nghiên cứu sinh,
từđó có thểrút ra những kinh nghiệm áp dụng cho các cơ quan tiến hành tốtụng nước ta, đặc biệt là Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian tới và những vấn đề liên quan đến đề tài luận án cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện dưới góc độ khoa học luật hình sự-tố tụng hình sự;
Thứhai, luận án nghiên cứu những vấn đềlý luận vềbảo đảmquyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát cùng với việc thực hiện quyền được suy đoán vô tội, quyền không tự buộc tội của người bị buộc tội, quyền chứng minh vô tội với trách nhiệm chứng minh buộc tội, kết tội của chủ thể tiến hành tố tụng trên cơ sở nguyên tắc suy đoán vô tội, bào chữa và tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, qua đó góp phần làm sáng tỏnhững vấn đềlý luậnvềkhái niệm, đặcđiểm,nội dung, ýnghĩa, cơ sở, yếu tốvàphương thức bảođảm quyền con người củangười bịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và những vấn đề lýluận liên quan phát sinh như: các yêu cầu bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong vụ án hình sự, các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quảbảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát;
Thứba, luận án nghiên cứu thực tiễn bảo đảm quyền con người và các quyền tố tụng của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong 10 năm qua (2009- 2018), làm rõ những mặt tích cực cùng với những khó khăn, hạn chế, vướng mắc,
6
bất cập và tìm những nguyên nhân để khắc phục; từ đó đúc rút ra vấn đề mang tính nguyên tắcmàChỉthị53-CT/TW ngày 21/03/2000 của BộChính trịđãchỉrõ: “Tăng cường trách nhiệm pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân đối với công tác bắt, giam, giữ, sai sót trong công tác bắt, giam, giữ ở địa phương nào thì Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương đó phải chịu trách nhiệm”;
Thứ tư, luận án xácđịnhcác quan điểm định hướng tiếp tục bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội, đề xuất giải pháp khả thi nhằm tăng cường bảo đảm quyền conngườicủangườibịbuộctộitrong hoạtđộngchứng minh buộctộicủa Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
*Đối tượng nghiên cứu: Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu ở ba phương diện: lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn thực hiện và áp dụng pháp luật.
Về lý luận: Đó là các học thuyết, lý thuyết triết học, luật học, xã hội học, nhân quyền học, khoa học điều tra tội phạm, tội phạm học, khoa học luật hình sựvàtốtụng hìnhsự,lý luậnvềchứngcứvà chứng minh… chứađựngcác tưtưởng, quan điểm về bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt độngchứng minh buộctộicủaViện kiểm sát nhất là nhữngnộidung liên quanđếnviệc thực hiện quyềnđượcsuy đoán vô tội, quyền khôngtựbuộctộicủa ngườibịbuộc tội, quyền chứng minh vôtộivớitrách nhiệm chứng minh buộc tội,kếttộicủa chủthểtiến hànhtốtụng trên cơsởnguyêntắcsuy đoán vô tội, bào chữa và tranh tụng trong quá trình giải quyếtvụán hìnhsựởViệt Nam vàcủa một số nước trên thế giới.
Vềphương diện luật thực định: Đó là những tư duy pháp lý mới thểhiện trong Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật mới về tư pháp vừa ban hành thời gian gần đây đã ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội, bảo vệ công lý (từ năm 2014 đến nay).
Về phương diện thực tiễn thực hiện và áp dụng pháp luật: Trong thời gian từnăm 2014 đến nay, tư duy lý luận vềbảo đảmquyền con người của người bịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát đã không ngừng phát triển và được thể hiện trong thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng hình sự nên cũng cần được sơ kết, tổng kết, nghiên cứu, đánh giá nâng lên ở tầm lý luận phục vụ
7
cho việc đào tạo, bồi dưỡng nhận thức và hoạt động thực tiễn cho các chức danh tưpháp nói riêng và nâng cao ý thức pháp luật trong xã hội nói chung.

*Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Luận án nghiên cứu hoạt động bảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội trong hoạt độngchứng minh buộc tội của chủthểbuộc tội (chủyếu là Viện kiểm sát các cấp) trong mối quan hệ với quyền được suy đoán vô tội, quyền không tự buộc tội của người bị buộc tội ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy
tố và xét xử vụ án hình sự (theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm là chủ yếu do hoạt động buộc tội kết thúc khi có Bản án kết tội có hiệu lực pháp luật) đối với các chủthể tiến hành tố tụng, chủ thể tham gia tố tụng có liên quan đến hoạt động của Viện kiểm sát. Riêng thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với Bản án kết tội, không kết tội có hiệu lực pháp luật thì người bịkết án có quyền được suy đoán vô tội hay không và có tồn tại hoạt động buộc tội hay không cũng cần được lý giải làm rõ một cách khoa học. Luận án không nghiên cứu đặc điểm riêng về nhân thân của người bịbuộc tội là người dưới 18 tuổi, là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số..v..v..
Vềphạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây (từ năm 2009đến năm 2018).
Vềphạm vi không gian: Luận án khảo sát thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội ở các địa bàn trên phạm vicả nước;trong đó chú trọng địa bàn trọng điểm là thành phố Hồ Chí Minh.
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án.
Luận án làm rõ những vấn đềlý luận vềbảo đảmquyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong mối quan hệ với quyền được suy đoán vô tội, quyền không tự buộc tội của người bị buộc tội để hạn chế, khắc phục oan, sai, đồng thời không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội.
Luận án phân tich, đánh giá thực tiễn bảo đảmquyền conngườivà các quyền tố tụng của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong thời gian qua, làm rõ những mặt hạn chế, khiếm khuyết của hoạt động này, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong thời gian tới.
8
Kết quả luận án có thể làm tài liệu tham khảo để xây dựng hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, các hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ, phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng nhận thức và nghiệp vụ cho các chức danh tư pháp trong hoạt động thực tiễn.
5. Những đóng góp mới của luận án.
Thứnhất, lần đầu tiên luận án đưa ra khái niệm, đặc điểm, nội dung, ýnghĩa, cơ sở, yếu tố, yêu cầu và phương thức bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
Thứ hai, phân tích làm sáng tỏ về mặt lý luận mối quan hệ của quyền không
tự buộc tội với trách nhiệm buộc tội, kết tội trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Khi các chủthểtiến hành tốtụng tiến hành các biện pháp điều tra thu thập chứng cứ, không được yêu cầu người bịbuộc tội thực hiện các hành vi tựbuộc tội (trực tiếp hoặc gián tiếp) khi họ thực hiện nghĩa vụ tố tụng theo luật định. Đồng thời xácđịnh đượctiêu chuẩn đánh gía hiệuquảbảođảmquyền con người của người bịbuộc tội làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn;
Thứ ba, đưa ra nhận thức mới về cơ chế bảo đảm bằng các biện pháp pháp lý khi thực hiện quyền năng của Viện kiểm sát như quyền yêu cầu, quyền kiến nghị, quyền kháng nghị, quyền khởi tố, yêu cầu khởi tốvà theo phương thức bảo đảm riêng có của Viện kiểm sát như: thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tưpháp (trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật) để phát hiện, xử lývà phòng ngừa vi phạm quyền con người của người bị buộc tội.
Thứtư, luận án nghiên cứu thực tiễn bảo đảmquyền con người và các quyền tố tụng của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong 10 năm qua (2009- 2018), làm rõ những mặt tích cực cùng với những khó khăn, hạn chế, vướng mắc, bất cập và tìm những nguyên nhân để khắc phục;
Thứ năm, xác định các quan điểm định hướng tiếp tục bảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội, đềxuất giải pháp khảthi nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ởcác giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xửvụán hình sựcủa nước ta trong thời gian tới.
9
6. Cơ sở lý luận, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, về dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủnghĩa của dân, do dân và vì dân;vềcải cách tưpháp, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, lý luận về quyền con người trong tư pháp hình sự, về mô hình và chức năng tố tụng hình sự, lý luận về chứng cứ và chứng minh, về quyền công tố, quyền buộc tội liên quan đến quyền được suy đoán vô tội, quyền chứng minh vô tội, quyền không tự buộc tội của người bị buộc tội, quyền bào chữa, tranh tụng, các lý thuyết vềnhận thức luận và xác định chân lý ởcác mô hình tố
tụng hình sự..v.v.
Câu hỏi nghiên cứu:
Thứ nhất, Viện kiểm sát có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ gì trong việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội, có phải khi Viện kiểm sát thực thi trách nhiệm thì quyền con người của người bị buộc tội mới được bảo đảm và ngược lại là không được bảo đảm;
Thứhai, Viện kiểm sát góp phần bảo đảmquyền con người của người bịbuộc tội bằng những phương thức nào, cách phát hiện và xửlý hành vi vi phạm trong hoạt động của Viện kiểm sát. Các cách thức nào được người bịbuộc tội sửdụng để bảo vệ mình trước những hành vi vi phạm;
Thứ ba, những yếu tố nào tácđộngđến công tác bảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội, cần có điều kiện gì cho việc bảo đảmquyền con người của người bị buộc tội của Viện kiểm sát; các yếu tố nào đang gây cản trở cho việc bảo đảm của Viện kiểm sát;
Thứ tư, xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả bảo đảmquyền con người của người bị buộc tội hiện nay như thế nào?;
Thứnăm,đểtăng cường bảo đảmquyền con người của người bịbuộc tội cần có những giải pháp khả thi nào?.
Trên cơ sởphương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng kết hợp các phương pháp khảo sát, hệ thống, quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, thống kê, lịch sử, so sánh pháp luật, lôgic
10
pháp lý,điều tra xã hội học, tổng kếtthực tiễn, phân tích thuần túy quy phạm đểnghiên cứu, tham khảo các công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài, khai thác thông tin tư liệu để chứng minh cho các luận điểm mà luận án đã đề cập.
Phương pháphệthống, quy nạp, diễn dịch, phân tích, so sánh, tổng hợpđược sử dụng ở chương 1 và chương 2 của luận án để làm rõ những luận điểm của Tác giả làm cơ sở cho việc chứng minh bằng thực tiễn ở chương 3 và đề xuất giải pháp tăng cường đảm bảo quyền con người của người bị buộc tội ở chương 4;
Phương pháp khảo sát, thống kê và so sánh, phân tíchđược sửdụng ởchương 3 luận án để thống kê, phân tích dữ liệu, số liệu và các báo cáo nghiệp vụcủa ngành Kiểm sát nhân dân ở từng thời điểm, từ đó khái quát hóa, chính xác hóa và tổng hợp rút ra ưu điểmcần phát huy và khuyết điểm,hạn chế, thiếu sót cùng nguyên nhân để khắc phục;
Phương pháp nghiên cứu điển hình được sử dụng để nghiên cứu, phân tích những ưu điểm và thiếu sót, tồn tại trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát qua một số vụ án rút kinh nghiệm nâng cao kỹ năng tranh luận, luận tội của
Kiểm sát viên tại phiên tòa, được sử dụng ở chương 3 luận án… Ngoài ra Tác giảluận án cònsửdụng phương phápđiều tra xã hội học; trao đổi tọa đàmvới các Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán, Luật sư, các nhà khoa họcluật, cánbộgiảng dạy có nhiều uy tín và kinh nghiệm để lập luận cho quan điểm của mình;
Phương pháp tiếp cận hệ thống để nghiên cứu, phân tích, đánh giá việc đảm bảo quyền con người của người bị buộc tội ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự trong tổng thể những yếu tố có liên quan tác động qua lại với nhau tạo ra một chỉnh thểthống nhất vềlý luận và thực tiễn khi nghiên cứu khoa học về quyền con người trong tố tụng hình sự;
Phương pháp tiếp cận liên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự cho chúng ta thấy luật tố tụng hình thức quy định cách thức, thể thức pháp lý để người bị buộc tội thực hiện quyền và bảo vệquyền, các chủthểtiến hành tốtụng có nghĩa vụ, trách nhiệm đảm bảo quyền con người của người bị buộc tội, vì họ được coi là chủthểcủa quan hệpháp luật tốtụng hình sựkhi đối vớingười đóđã có quyết định khởi tố bị can cho đến khi có Bản án, quyết định kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật (tức người đã thực hiện hành vi phạm tội) nên họ phải là chủ thể của quan hệpháp luật hình sự và tố tụng hình sự;
11
Tiếp cậnđa ngànhđòihỏi việc nghiên cứu còn phải dựa trên sựphối hợp của các ngành khoa học xã hội. Tiếp cận lịch sử đòi hỏi việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá đề tài luận án phải dựa trên quan điểm lịch sử cụ thể để đánh giá ưu điểm,
tồn tại, thiếu sót trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, tìm nguyên nhân, đề xuất biện pháp khắc phục trong giai đoạn kế tiếp.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có 04 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu;
Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát;
Chương 3: Thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát;
Chương 4: Quanđiểm định hướng vàgiải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội trong hoạtđộng chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
12
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.1.1.1. Nhóm các tác phẩm, các giáo trình, công trình nghiên cứu (luận án, luận văn, bài viết)vềcácvấnđềlý luận và pháp luậtvềquyền con người, các chức năng, nguyên tắc tố tụng, thiết chế bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội
1.1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứuvềvai trò, trách nhiệm của chủthểbuộc tội (đặc biệt là Viện kiểm sát) trong việc bảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội, việc giám sát tư pháp, giám sát xã hội đối với Viện kiểm sát; việc phòng, chống oan, sai; phòng, chống tra tấn, bức cung, nhục hình
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
32
1.3. Đánh giá chung vềtình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
1.3.1. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu:
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu tổng quan tình hình bảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội ở trong nước và nước ngoài có liên quan ít, nhiều đến một số khía cạnh của luận án cần tiếp thu có chọn lọc, Tác giả luận án rút ra một số nhận xét như sau:
Quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội theo chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự luôn là tâm điểm chú ý của các nền tư pháp hình sự văn minh, tiến bộ.
Các công trình nghiên cứu ởnước ngoài đềcập việc bảo đảmquyền con người của người bị buộc tội chủ yếu bằng hoạt động của Tòa án tại phiên tòa, việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội ở giai đoạn điều tra, truy tố chủ yếu qua hoạt động giám sát tư pháp do Viện Công tố thực hiện quyền phê chuẩn, không phê chuẩn việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam, chống tra tấn, bức cung, nhục hình; quan tâm bảo đảmthực hiện quyền được suy đoán vô tội, quyền không tự buộc tội (còn gọi là quyền im lặng) của người bị buộc tội. Việc xây dựng các khái niệm bằng cách dựa trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, dân sự, văn hóa-xã hội, liệt kê một số quyền quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Luận giải về nội dung một số quyền ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; Xácđịnh vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội, nhận diện các vi phạm và làm rõ nguy cơ vi phạm quyền con người của người bị buộc tội của các cơ quan tư pháp hình sự.
38
Các công trình nghiên cứu ởtrongnướcđềcập việc bảođảm quyền con người của người bịbuộc tội chủ yếu bằng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố
tụng như Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát; xây dựng các khái niệm bằng liệt kê, mô tảtheo quyđịnh của luật thực định. Nghiên cứu thực tiễn bảo đảm, đềxuất giải pháp bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội như bổ sung nguyên
tắc suy đoán vô tội, bào chữa, tranh tụng…
Ngoài những vấn đề lý luận truyền thống, Tác giả luận án phải kế thừa, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm, khái niệm mới về quyền con người vàcác quyền tố tụng của người bị buộc tội gắn với trách nhiệm chứng minh buộc tội, nguyên tắc suy đoán vô tội, bình đẳng, tranh tụng, chống oan, sai và chống bỏ lọt tội phạm, chống tra tấn, bức cung, nhục hình..v.v… của các nhà khoa học tố tụng hình sự ở Việt Nam và ở một số nước trên thế giới để lập luận cho quan điểm của mình.
Nghiên cứu sinh nhận thấy các công trình nghiên cứu nêu trên còn cónhững hạn chếnhất định như chưa phân tích làm sáng tỏvềmặt lý luận các khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa, cơ sở, yêu cầu và phương thức bảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội trong hoạtđộng chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; chưa nghiên cứu làm rõmối quan hệ của quyền không tự buộc tội với trách nhiệm buộc tội, kết tội trong quá trình giải quyết vụ án hình sự không được yêu cầu người bị buộc tội thực hiện các hành vi tự buộc tội (trực tiếp hoặc gián tiếp) khi họ thực hiện nghĩa vụ tố tụng theo luật định, chưa xác định được tiêu chuẩn đánh gía hiệu quảbảo đảmquyền con người củangười bịbuộc tội làm cơ sởcho hoạt độngthực tiễn; chưa đưa ra nhận thức mới về cơ chế bảo đảm bằng các biện pháp pháp lý khi thực hiện quyền năng của Viện kiểm sát như quyền yêu cầu, quyền kiến nghị, quyền kháng nghị, quyền khởi tố, yêu cầu khởi tố và theo phương thức bảo đảm riêng có của Viện kiểm sát như: thực hành quyền công tốvà kiểm sát hoạt độngtư pháp (trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật) để phát hiện, xử lý và phòng ngừa vi phạm quyền con người của người bịbuộc tội, cũng như chưa đưa ra được các giải pháp khảthi nào đểtăng cường bảođảmquyền con người của ngườibịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Tất cả những nội dung mới này đã được Nghiên cứu sinh quan tâm đề cập giải quyết rốt ráo trong chương 2, chương 3 và chương 4 của luận án.
39
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢMQUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH BUỘC TỘI CỦA VIỆN KIỂM SÁT
2.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát
2.1.1. Khái niệm quyền con người và bảođảmquyền con người của người bị buộc tội
Quyền con ngườitheo tiếng pháp là “droits de l’homme”; tiếng Anh là “human rights ” hay “The rights of man”; theo nghĩa Hán-Việt gọi là “Nhân quyền” cũng chính là quyền con người và theo Đại từ điển tiếng Việt thì “Nhân quyền” hay “Quyền con người” là đồng nghĩa nhau [122, trang 1.239 ].
Ở cấp độ quốc tế thì “Quyền con người được hiểu là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệcác cá nhân và các nhóm chống lại những hànhđộng hoặc sựbỏmặclàm tổnhạiđếnnhân phẩm của con người, những sựđược phép hoặc tựdo cơ bản củacon người”[25, trang 37].ỞViệt Nam,mặcdù có nhiều định nghĩa, khái niệm ởcác góc độnghiên cứukhác nhauvềquyền con người; nhưng Tác giả luận án tán thành khái niệm tại Giáo trình lý luận và pháp luật vềquyền con người, cho rằng: “Quyền con người là những giá trị, năng lực, nhu cầu, lợi ích tựnhiên vốn có và chỉcó ởcon người với tư cách là thành viên của cộng đồng loài người được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và thỏa thuận pháp lý quốc tế”.[25, trang 38].
Quyền con ngườitrong tốtụng hình sựlà quyền con người nói chung vàquyền của những người tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự (trong đó có người bịbuộc tội) do pháp luậttốtụng hìnhsựmỗi quốc gia quyđịnh trên cơ sởphù hợp với tiêu chí quyền con người trong pháp luật quốc tế nhằm bảo đảm quyền con người và các quyền tố tụng của họ khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Trên thực tế, có những quyền tuy chưa đượcthểchếhóa bằng những quyđịnh pháp luậttốtụng hình sựnhưng vẫn được tôn trọng như là những nguyên tắcbất thành văn, chẳng hạn như quyền được đối xử nhân đạothể hiện thành nguyên tắc không được làm xấu đi hoặc gây
40
bất lợi cho tình trạng của bị can, bị cáo; không được hồi tố, áp dụng quy định có lợi cho người bịbuộc tội. Như vậy, quyền con người là một giá trịvĩnh cửu của con người, được phát triển trong quá trình đấu tranh lâu dài của nhân loại và được chính thức ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948), Công ước quốc tếvềcác quyền dân sựvà chính trị(năm 1966) và Công ướcquốc tếvềcác quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (năm 1966) trong đó nhấn mạnh việc thực hiện các quyền cơ bản và quyền tự do của con người nhưng có thể bị giới hạn nhất định, do luật định nhằm mục đích bảo vệ, bảo đảm các quyền và tự do của người khác cũng như lợi ích công cộngđể đáp ứngcác yêu cầu về đạo đức, trật tự công cộng cũng như lợi ích chung trong một xã hội dân chủ, văn minh và tiến bộ.
Nghị quyết 48/NQTW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020 đã chỉ rõ: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật vềbảo đảm quyền con người, quyền tựdo dân chủcủa công dân. Củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi các luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Điều 14 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định: Ở nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Hiện nay, chưa có khái niệm thống nhất về người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. Theo quyđịnh tại điểmđkhoản 1 Điều 4 Bộluật Tốtụng hình sựnăm 2015 thì người bị buộc tội gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Người bịbắtlà người bịbắt trong trường hợp khẩn cấp và trong trường hợp phạm tội quảtang hoặc đangbịtruy nã, đầu thú hoặc tựthú nhưng chưa cóquyết định hoặc lệnh tạm giữ của cơ quan và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền luật định; còn người bịbắt theo lệnh bắt, tạmgiam là người đã bịkhởi tốbịcan (hoặc bị cáo) và có lệnh bắt để tạm giam của cơ quan và người tiến hành tố tụng có
41
thẩm quyền, dovậyngười bịbắtcó những quyền và nghĩa vụnhất định theo quyđịnh của pháp luật tố tụng hình sự.
Người bịtạm giữlà người bịgiữtrong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tựthú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định (hoặc lệnh tạm giữ) của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; họ có quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; họ là người chưa bị khởi tố về hình sự (trừ người bị bắt theo quyết định truy nã đã bị khởi tố về hình sự) được quy định tại Điều 59 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015.
Bị can là người (hoặc pháp nhân) đã bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này (Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Như vậy, một người đã bịkhởi tốvềhình sựtức là người đó đã thực hiện một tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự thì sẽ phải bị khởi tố bị can và
tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xác định: Khi có đủ căn cứ để xácđịnh một người (hoặc pháp nhân) đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, chỗ ở, nghề nghiệp của bị can; Bị can bịkhởi tốvềtội gì, theo điều, khoản nào của Bộluật Hình sự; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm. Trường hợp bịcan bịkhởi tốvềnhiều tội khác nhau thì quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tốbịcan, Cơ quanđiều tra phải gửi quyết định khởi tốvà tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngàykểtừngày nhận được quyết định khởi tốbịcan, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết địnhhủybỏquyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tốbị can và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can. Như vậy, việc phê chuẩn quyết định
42
khởi tố bị can của Viện kiểm sát để điều tra làm rõ tội danh đã bị khởi tố nên có thểbị áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc cưỡng chế tố tụng là bắt buộc và có hiệu lực pháp lý. Bị can bị buộc tội trước hết bởi quyết định khởi tố bị can. Riêng pháp nhân bị khởi tố là cá nhân nên có trách nhiệm thông báo cho cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền biết về họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, chỗ ở, nghề nghiệp của mình. Như vậy, để khởi tố bị can đúng phải xác địnhđúng nhân thân ngườiphạm tội hoặc lý lịch tư pháp của pháp nhân thương mại phạm tội (gọi chung làđối tượng bịkhởi tố), bởi những đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu xác địnhsai hoặc khôngđầyđủthông tin cần và đủvềđối tượng bịkhởi tốcó thểdẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sựkhông đúng, vừa bỏsót tiền án, vừa khởi tố, điều tra, truy tố, xét xửsai họtên đối tượng phạm tội, là căn cứđểkháng nghị hủy án theo thủ tục tái thẩm.
Bịcáo là người (hoặc pháp nhân) đã bịTòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quyđịnhcủa Bộ luật này. (Điều 59 Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015). Theo Thông tư 16/TT-TANDTC ngày 27/09/1974 của Tòaán nhân dân tối cao định nghĩa: “Bịcáo là người bịtruy cứu trách nhiệm hình sựtrước Tòa án nhân dân”.
Theo từ điển tiếng Việt thì “Quyền làđiều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [73, trang 1.031].
Tiếp cận dựa trên “Quyền”, chỉ ra chủ thể có “Quyền” và chủ thể có “Nghĩa vụ, trách nhiệm” đáp ứng các quyền ấy. Trong tốtụng hình sự, trước hết đó lànhững quyền, nghĩa vụdo BộluậtTốtụng hình sựquyđịnh cho các chủthểtiến hành tố tụng có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án) có nghĩa vụ, trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người và các quyền tố tụng của người bị buộc tội.
Quyền con người củangười bịbuộc tộibao hàmcảquyền công dân, bởi quyền công dân không thể bao hàm quyền con người nên bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội là thể hiện đầy đủ ý nghĩa nhân quyền, bởi Các Mác đã nói:
“Giải phóng chính trị sẽ là nguyên nhân để công dân trở thành con người và quyền
43
của nó trởthành nhân quyền” [14, trang 96]. Vậy, khái niệm quyền con người trong tố tụng hình sự được hiểu như thế nào?.
Tác giảluận án ủng hộquan điểmcủa Tiến sỹluật học Lê Hữu Thểcho rằng: “Quyền con người trong tốtụng hình sựlà những khảnăng mà các chủthểtham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự được làm, được yêu cầu đối với người, cơ quan có thẩm quyền để bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình; là một bộ phận hợp thành của quyền con người; được hình thành, phát triển cùng với lịch sử hình thành và phát triển quyền con người; được ghi nhận trong các Công ước quốc tế vềquyền con người và được đảm bảo thực hiện bằng hệ thống pháp luật thực định của từng quốc gia thành viên” [100, trang 05]. Như vậy, quyền conngười của người bịbuộc tộitrongtốtụng hình sựtạonên địa vịpháp lý của người bịbuộc tộitức là
tổng hợp các quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị buộc tội.
Vì vậy, Nghiên cứu sinh tán thành khái niệm quyền của ngườibịbuộc tội trong tốtụng hình sựđược Tiến sỹluật họcLê Hữu Thểnêu ra là:“Quyền của người bị buộc tội là những khả năng pháp luật quy định cho họ được làm, được yêu cầu, đềnghịđối với cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tốtụng có thẩm quyền. Quyền của người bịbuộc tộilàbộphận cấuthành, không thểtách rời với quyền con người; nói cách khác, quyền con người là cơ sở, nền tảng để hình thành quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự” [100, trang 03]. Khái niệm này chỉ rõ nội dung quyền, phạm vi, chủ thể của quyền và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện, phân biệt quyền con người với quyền của người bị buộc tội.
Hoạt động chứng minh là hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để làmsáng tỏ sự thật vụ án nên phải đảm bảochứng cứ đã thu thập cóđầy đủ thuộc tínhđể chứng cứ có giá trị chứng minh cao nhất làm căn cứ cho những nhận định, kết luận hoặc quyết định buộc tội, kết tội hoặc không buộc tội, không kết tội. Hoạt động này sẽ thật sự có ý nghĩa khi nó bảo đảm được các quyền tố tụng của người bị buộc tội và các chủ thể tham gia tố tụng khác, cụ thể như bảo đảm quyền chứng minh vô tội, quyền không tựbuộc tộicủa bịcan, bịcáo, quyền bào chữa, tranh tụng của họ. Sựphản bác, phản biện sựbuộc tội chính là yếu tốhạn chếsai
lầm, không làm oan người vô tội theo nguyên tắc suy đoán vô tội; đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho chủ thể buộc tội trong hoạt động buộc tội.
44
Trong tố tụng hình sự, buộc tội được hiểu như là một loại quyền năng hoặc được hiểu như là một chức năng tốtụng-đó là chức năng buộc tội hoặc được hiểu như là đối tượng chứng minh tội phạm hoặc được coi là “giả thuyết buộc tội”. Thực hiện quyền conngườitrong thựctếbao gồm cảviệcbảođảmvà bảovệnên Nhànước thiết lập nên cơ chế quốc gia để bảo vệ, bảo đảm quyền con người.
Thông thường khi nóivềkhái niệm cơ chếngười ta đềcậphai nội dung quan trọng là: thể chế và thiết chế.
Thểchếđượchiểu là các quyđịnh pháp luật, các quy tắc được ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủtục nhất định có tính ràng buộc đối với các chủthểtiến hành tố tụng để bảo đảm thực hiện quyền con người và các quyền tố tụng của người bị buộc tội trong thực tiễn.
Thiết chếlà các cơ quan tiến hành tốtụng được lập ra đểthực thi những chức năng, nhiệm vụ nhất định để bảo đảm quyền con người và các quyền tố tụng của người bị buộc tội trong thực tiễn .
Đểphân biệt các khái niệm“Bảo đảm”, “Bảo vệ” và “Bảo hộ” quyền con người, Tác giảluận án nhận thấy thuật ngữ“bảo đảm” và “đảmbảo” theo nghĩa tiếng Việt là đồng nghĩa nhau, còn “Bảo vệ”được hiểu là chống lại mọi sựxâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn. [73, trang 49]. Vì vậy, khái niệm “bảo vệquyền con người, quyền công dân” được hiểu là: việc xác định các biện pháp pháp lý, các biện pháp tổ chức, cơ chế để bảo vệ các quyền con người, quyền công dân khi bịxâm phạmtừphía cơ quan công quyền, haytừcác chủthểkhác nhằm khôi phục các quyền đãbị xâm phạm; Thuật ngữ “Bảo hộ” được hiểu là: “giữ gìn vàche chở không để bị hư hỏng, tổn thất” [73, trang 48]; còn “Bảo đảm” là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết, sự bảo đảm thực hiện hoặc giữ được” [73, trang 48]. Sự khác nhau giữa “Bảo vệ quyền con người” và “Bảo hộ quyền con người” là việc Nhà nước thông qua hoạt động của bộmáy Nhà nước, sử dụng pháp luật quy định những hành vi được thực hiện và những hành vi bịngăn cấmđểtránh gây tác hại hoặc ảnh hưởng tiêu cực tới quyền con người; còn “Bảo đảm pháp lý của quyền con người” có nghĩa là: từ những quy định đã có của pháp luật về việc bảo vệ và bảo hộ quyền con người, Nhà nước làm cho những quy định pháp luật đó trởthành hiện thực, bảo đảm quyền, lợi ích thực tếcủa con người được hưởng quyền.
45
Trong cơ chế bảo vệ, bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội, thìngoài hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Tòa án thì Viện kiểm sát là cơ quan giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xửvà mọi hoạt động của Viện kiểm sát suy cho cùng là nhằm bảo vệ, bảo đảm quyền con người và các quyền tố tụng của người bị buộc tội được thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ; mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật phải bị phát hiện, xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
Cơ chế bảo vệ, bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội bằng hoạt động của Viện kiểm sát chính là cách thức mà căn cứ vào quy định của phápluật đểbảo đảm, bảo vệvà xửlý các hành vi xâm phạmđến quyền con người được quyđịnh tại khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Điều 20 Bộluật Tố tụng hình sự năm 2015.
Từ lý lẽ phân tích, tác giả luận án cho rằng: Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát là việc Viện kiểm sát có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo đảmthực hiện đúng đắn, đầy đủnhững quy định của pháp luật tốtụng hình sựvềhệthống các nguyên tắc tố
tụng, về quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội, về trình tự, thủ tục tiến hành các biện pháp tốtụng đốivới người bịbuộc tội; thực hiện những quyền năng luật định của Viện kiểm sát khi chứng minh buộc tội, phát hiện và xử lý vi phạm đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Khái niệm này thỏa mãn nội hàm về nội dung, phạm vi, đối tượng, chủ thểcó trách nhiệm bảo đảm, phương thức bảo đảm, đó là: về nội dung bảo đảm là thực hiện đúng đắn những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hệ thống các nguyên
tắc tố tụng, về quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội, về trình tự, thủ tục tiến hành các biện pháp tố tụng đối với người bị buộc tội. Về phạm vibảo đảmlà hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Về đối tượngbảo đảm là người bị buộc tội. Về chủ thể có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo đảmlà Viện kiểm sát. Vềphương thức bảo đảmlà Viện kiểm sát thực hiện những quyền năng luậtđịnh (trực tiếp hoặc gián tiếp) khi tiến hành các biện pháp điều tra thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ chứng minh buộc tội và xửlý vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Khái niệm này giúp phân biệt khái niệm khác về bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội chỉ ở một khía
46
cạnh về quyền như một số cách diễn giải là bảo đảm các quyền được ghi nhận trong pháp luật tố tụng hình sự để họ được hưởng, được làm, được đòi hỏi, được yêu cầu mà các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải đáp ứng, thực thi đầy đủ.
Ở phạmvi hẹp, Nghiên cứu sinh cho rằng: Bảo đảm quyền con người của người bịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát là việc Viện kiểm sát khi tiến hành hoặc kiểm sát hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá, sửdụng chứng cứchứng minh buộc tội phải thực sựtôn trọng và bảo đảm thực hiện đúng đắn, đầy đủ các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội, nhanh chóng phát hiện và xử lý kịp thời mọi hành vi hạn chế, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
2.1.2. Đặc điểmbảo đảmquyền conngườicủa ngườibịbuộc tộitrong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Theo từ điển tiếng Việt thì “Đặc điểm” là nét riêng biệt [73, trang 369] nên bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự có đặc điểm như sau:
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó Cơ quan điều tra có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sựtiến hành xác minh, điều tra để xác định có hay không có các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội của một người nào đó đã được thực hiện. Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (hoặc khởi tố vụ án hình sự theo yêucầu của người bị hại đối với một số tội danh luật định); Viện kiểm sát chỉ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quanđiều tra và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án. Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố vụ án hình sự, bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đều phải được khởi tố, đảm bảo có căn cứvà hợp pháp. Chủthểcó nghĩa vụchứng minh và có trách nhiệm bảo đảmquyền con người của người bị buộc tội giai đoạn này là Cơ quan điều tra có thẩm quyền vàViện kiểm sát (trong phạm vi hạn hẹp). Kết quả hoạt động chứng minh để ra quyết định khởi tốhoặc không khởi tố. Đểđảmbảo quyền của người bịbuộc tội (gọi chung là đối tượng bị áp dụng) trong hoạt động thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra
47
có thẩm quyền phải tuân thủ nghiêm chỉnh, đầy đủ các thủ tục Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định như: Thủ tục giải thích quyền và nghĩa vụ cho đối tượng bịáp dụng khi lấy lời khai của họ; hoặc trước khi tiến hành đối chất, nhận dạng, khám người, khám nơi làm việc, khám chỗ ở và địa điểm của đối tượng bị áp dụng. Nếu phát hiện vi phạm thì Viện kiểm sát kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm hoặc yêu cầu tiến hành lại các biện pháp điều tra nêu trên cho đúng trình tự, thủ tục pháp luật tô tụng hinh sụ quy định. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có thể yêu cầu thay đổi Điều tra viên.
Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trongđó Cơquan điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cốcác chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng vàchính xác tội phạm, người phạm tội, xác định lỗi trong việc thực hiện tội phạm đểtruy cứu trách nhiệm hình sự. Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can để tiến hành điều tra. Trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho Cơ quan điều tra. Chủ thể có nghĩa vụ chứng minh giai đoạn này là Cơ quan điều tra có thẩm quyền.Để đảm bảo quyền của người bị buộc tội (gọi chung là đối tượng bị áp dụng) trong hoạt động thu thập chứng cứ phải tuân thủ các thủ tục Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định như: Thủ tục giải thích quyền và nghĩa vụ chođối tượng bị áp dụngkhi hỏi cung bịcan; lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại; thủtục trước khi tiến hành đối chất, nhận dạng, khám người, khám nơi làm việc, khám chỗ ở và địa điểm của đối tượng bị áp dụng, thủ tục tố tụng đặc biệt đối với
người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi…. đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụán hìnhsựhoặc là chuyển toàn bộcác tài liệu, chứng cứcủavụánđó đến Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can. Như vậy, ở giai đoạn khởi tố vàgiai đoạn điều tra vụ án hình sự, chủ thể chứng minh buộc tội chủyếu là Cơ quan điều tra (và các cơ quan khác được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra). Tuy nhiên, với vai trò là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, mà trong trường hợp này là kiểm sát hoạt động khởi tố,
48
điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải thực hiện nghĩa vụ (trách nhiệm)bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội theo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt làlàm sao đểcác quyền và lợi ích hợp pháp của người bịbuộc tộiđược tôn trọng, không bị xâm hại.
Giaiđoạntruytốlà giaiđoạnthứbacủatốtụng hìnhsự,mà trongđóViện kiểm sát căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm đánh giá một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ các tài liệu của vụán hìnhsựdo Cơ quanđiềutra chuyểnđếnvà trên cơsởđóViện kiểm sát ra quyết định: Truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản Cáo trạng (hoặc Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn); Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là đình chỉ haytạm đình chỉ vụán hìnhsự. Chủthểcó nghĩavụchứng minh là Viện kiểm sát/Kiểm sát viên.Đâylàgiai đoạn kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và sử dụng chứng cứ chứng minh trong Cáo trạng truy tố. Viện kiểm sát phải thực hiện nghĩa vụ (trách nhiệm) bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội theo đúng quyđịnh củapháp luậtnhư bảo đảmtiếng nói, chữ viết và bào chữa bằng việc trưng cầu người phiên dịch, người bào chữa chỉ định trong một số trường hợp luật định. Khi cócăn cứ luật định thì đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can..v.v.
Giai đoạn xétxử sơthẩm vụ án hình sự là giai đoạn thứ tư, giữ vị trí trọng tâm và quan trọng nhất của tố tụng hình sự. Sau khi nhận hồ sơ và Cáo trạng truy tốcủa Viện kiểm sát, trong thời hạn luật định, Tòa án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử (trừ những trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án). Tại phiên tòa, Viện kiểm sát/Kiểm sát viên phải công bố Cáo trạng, tham gia xét hỏi làm rõ chứng cứ buộc tội, gỡ tội của tội danh Cáo trạng truy tố, luận tội và tranh luận đối đáp với bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Chủ thể có nghĩa vụ chứng minh giaiđoạn này là Viện kiểm sát và Tòa án được tiến hành khi mở phiên tòa xét xử công khai và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá công khai các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án bằng cách xét hỏi và nghe các bên tranh luận đểlàm rõ sự thật, từ đó làm cơ sở cho việc ra Bản án, quyết định kết tội, không kết tội trên cơ sở đánh giá chứng cứ, tranh tụng. Viện kiểm sát/Kiểm sát viên chuẩn bị kếhoạch xét hỏi và luận tội, kiểm sát quá trình xét xử để bảo đảm quyền tố tụng của bị
49
cáo tạiphiên tòa,nếuphát hiện vi phạm thì nhắc nhỡkhắc phục ngay hoặc kiến nghị khắc phục sau khi xét xử xong.
Thủtục xét xửphúc thẩm phát sinh khi có kháng cáo của bịcáo và của những người tham gia tốtụng hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát. Hoạt độngcủa Viện kiểm sát bảo đảm quyền tố tụng của bị cáo tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, bảo vệkháng nghị của Viện kiểm sát trong những trường hợp xét thấy quyền, lợi ích hợp pháp của bịcáo bịxâm hại trái pháp luật nghiêm trọng hoặc không bảo đảm quyền của bị cáo trong những trường hợp luật định. Riêng thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là một thủ tục đặc biệt, không phải là một cấp xét xử thứ ba. Đây là thủ tục xét lại Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên có quan điểm cho
rằng thủtục này có tồn tại hoạtđộng buộc tội hay không vàngườibịkết án bằng Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật có quyền được suy đoán vô tội không?.
Tác giả luận án cho rằng: Nếu kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng có lợi cho người bịkết án như: Đình chỉvụán, tuyên bốkhông phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, cho hưởng án treo, hoặc áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù thì người bị kết án vẫn có quyền được suy đoán vô tội, ở đây không tồn tại hoạt động buộc tộimà chỉcó hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, khi Hội đồng xét xử giám đốc thẩm bác kháng nghị giám đốc thẩm, giữnguyênBảnán có hiệu lực pháp luật thì quyền đượcsuy đoán vô tội sẽchấm dứt. Nếu bản án kết tội (có hiệu lực pháp luật) bị xét xử lại theo thủ tục giámđốc thẩm, tái thẩm thì người bịkết án vẫn có quyền được suy đoán vô tội và khi Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm xét thấy Bản án kết tội (có hiệu lực pháp luật) là sai lầm thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền hủy Bản án kết tội (có hiệu lực pháp luật) đó để điều tra lại hoặc xét xử lại. Trong trường hợp này thìngười bị điều tra lại hoặc xét xử lại vẫn được quyền suy đoán vô tội và bị các hoạt động buộc tội chi phối.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời điểm bắt đầu và kết thúc của sựbuộc tội xuất hiện ngay khi chưa có quyết định khởi tốbịcan trong trườnghợp một người đã bị tạm giữ (tức là họ đãbị chuyển từ tư cách công dân sang tư cách người bị buộc tội kể từ khi bị tạm giữ) và họ sẽ chính thức bị buộc tội với tư cách là bịcan khi có quyết định khởi tốbịcan, đã có sựphê chuẩn của Viện kiểm sát và sự buộc tội tồn tại cho đến khi có Bản án, quyết định kết tội (có
50
hiệu lực pháp luật) thì họ trở thành người bịkết án nên họ không còn quyền được suy đoán vô tội, không còn sự buộc tội do có Bản án, quyết định kết tội (có hiệu lực pháp luật). Tác giảluận án ủng hộquan điểmcho rằng:“Nội dung của chức năng buộc tội là tổng hợp các hoạt động buộc tội của chủ thể có quyền theo quy định của pháp luật”. [101]. Trong thực tiễn tố tụng hình sự, tất cả những hoạt động của chủthể có chức năng buộc tội nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự bị can, bị cáo đều lànội dung của chức năng buộc tội. Như vậy, nội dung của chức năng buộc tội thểhiện rõ ở hai phần là: buộc tội về nội dung và buộc tội về tố tụng.
Buộc tội vềnội dung(Đối tượng chứng minh): là việc đưa ra những cáo buộc đối với cá nhân cụ thể về tội phạm gì và người bị buộc tội có hành vi của tội phạm đóđược quy định tại điều 85Bộluật Tố tụnghình sự năm 2015 tức là phải thỏa mãn đầy đủ nội dung buộc tội như: (1) Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểmvà những tình tiết khác của hành vi phạm tội; (2) Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sựhay không; mục đích, động cơ phạm tội; (3) Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sựcủa bịcan, bịcáo và đặc điểmvềnhân thân của bị can, bị cáo; (4) Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; (5) Nguyên nhân và điều kiện phạm tội; (6) Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Đối với người bịbuộc tộilà người dưới 18 tuổi phải chứng minh thêm: (a) Tuổi, mức độphát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi; (b) Điều kiện sinh sống và giáo dục; (c) Có hay không có người đủ 18 tuổi trở lên xúi giục; (d) Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội..” (Điều 416 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).Đối với người bị buộc tội làngười đủ 16 tuổi trởlên sẽchịu trách nhiệm hình sựvềmọi tội phạm. Đối với người bịbuộc tội làngười từ đủ 14 tuổi trở lên,đến dưới16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với 28
tội danh theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Lý luận chứng minhđãxácđịnhphương tiện chứng minh là chứngcứnên phải xácđịnhnhững chứng cứđểchứng minh nhữngvấnđềphải chứng minh trongvụán hìnhsự đượcquyđịnhtại điểma khoản 1Điều245,điểma khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; là chứng cứ quy định tại Điều 86, Điều 87 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 dùng để chứng minh
51
mộthoặc nhiềuvấnđềquyđịnhtại Điều85,Điều441BộluậtTốtụng hìnhsựnăm 2015 mànếuthiếu chứngcứnày thì không giải quyếtvụánđượckhách quan, toàn diện, đúng pháp luật.
Buộc tội vềtốtụng là“Tổng hợp hoạt độngtốtụng của chủthểcó chức năng buộc tội theo quyđịnhcủa pháp luật tố tụng hình sự nhằm phát hiện ra người phạm tội, chứng minh lỗi của người đó, bảo đảm phán xửvà hình phạt đối với người đó”[89, trang 74]. Nói cách khác, buộc tội về tố tụng là tổng hợp các hành vi, quyết định tố tụng cụ thể của chủ thể có chức năng buộc tội nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để chứng minh sự đúng đắn của buộc tội về nội dung đã đưa ra đối với người bị buộc tội, cụ thể như để thu thập chứng cứ xácđịnh thiệt hạitài sản, sức khỏe thì bắt buộc phải có quyếtđịnh trưng cầu giámđịnh tài chính-kế toán đểxác định giátrịtài sản thiệt hại, tỉlệthương tật% đốivới sức khỏe..v.v. Sự buộc tội về nội dung và buộc tội về tố tụng có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với nhau một cách biện chứng như là sự thể hiện của nội dung và hình thức, theo đó buộc tội về nội dung là cơ sở định hướng cho buộc tội về tố tụng tiến triển và ngược lại, buộc tội về tố tụng giúp cho buộc tội về nội dung có đầy đủ các căn cứpháp lý và thực tiễn khẳng định sự đúng đắn của buộc tội về nội dung.
Hiện nay có quan điểmcho rằng: Buộc tội vềnội dung được hiểu là nội dung buộc tội, còn buộc tội về tố tụng là thủ tục buộc tội. Tác giả luận án cho rằng nếu hiểu buộc tội về nội dung là nội dung buộc tội thì quá hạn hẹp;bởi buộc tội vềnội dung để thực hiện chức năng buộc tội được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả hoạt động buộc tội gồmnhững vấn đềcần chứng minh trong vụán hình sựđối với cá nhân, đối với pháp nhân và đối với người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 85,Điều 416, Điều 441 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Giới hạn và phạm vi chứng minh buộc tội phát sinh kể từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, tiến hành các hoạt độngđiều tra, xác minh thu thập chứng cứ, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ cho đến khi ra các quyết định buộc tội hoặc không buộc tội như đình chỉ, rút truy
tốhoặc ra Bảnán kết tội có hiệu lực pháp luật hoặc tuyên xửvô tội. Ởkhía cạnh khác, nội dung buộc tội còn được hiểu ở phạm vi hẹp tức là nội dung buộc tội đối với con người phạm tội cụ thể hoặc nội dung buộc tội theo kết luận điều tra của Cơquan điều tra hoặc nội dung buộc tội theo Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát; Còn thủ tục buộc tội theo nghĩa hẹp được hiểu là thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
52
đối vớingườiphạm tội cụthểmà thực tiễn gọi là quy trìnhtốtụng đốivớingười phạm tội cụ thể. Tác giả luận án quan niệm buộc tội trong tố tụng là tổng hợp các hành vi, quyết định buộc tội của chủ thể có chức năng buộc tội thể hiện qua việc thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để chứng minh sự đúng đắn của nội dung buộc tội đã đưa ra đối với người bị buộc tội; Tức là phải làm rõ các tình tiết định tội, các tình tiết định khung hình phạt, các tình tiết có ý nghĩa cho việc quyết định hình phạt, các tình tiết liên quan đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sựtrong vụ án hình sự, xử lý vật chứng, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
Nguyêntắcsuy đoán vôtộiđểchứng minhmộtchủthểnàođócó tội phải theo đúng trìnhtự,thủtụcluậtđịnhvà phải cóBảnánkếttộicủaTòa án
(có hiệu lực pháp luật). Mọi nghi ngờ về lỗi của bị can, bị cáo nếu không thể loại trừđượctheo trìnhtự,thủtụcdo luậtđịnhvà khi chưa cósựthống nhất trong việc giải thích, áp dụng các quy phạm pháp luậtđềuphảiđượcgiải quyết theo hướngcólợichohọ(Điều11 Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948củaLiên hợp quốc vàĐiều14 Côngướcquốctếvềquyền dânsựvà chínhtrịcủaLiên hợp quốc năm 1966 đều có quy định).
Bảo đảmquyền được suy đoán vô tội có nghĩa là: Người bịbuộc tội phải được coi là vô tội cho tới khi tội và lỗi của họ được chứng minh theo trình tự luật định, phù hợp với nguyên tắc “Lỗi không được chứng minh, đồng nghĩa với sự vô
tội được chứng minh”. Nguyên tắc này không những giúp phân biệt tội này với tội khác mà còn giúp Kiểm sát viên phát hiện ra “lỗi trong tư duy logic hình thức” khi khai báo về hành vi phạm tội của bị can, bị cáo để bác bỏ, phản bác những tư tưởng sai trái theo lối tư duy ngụy biện nhằm che giấu tội, lỗi của bị can, bị cáo.
Hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở các giai đoạn điều tra, truytốvà xét xửđối với bịcan, bịcáo bịbuộc tội phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy địnhtức đòihỏi sự tuânthủ về thủ tục pháp lý đểchống lại sự truy bức tùy tiện được xác định tại Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Mọi hoạt độngtốtụng hình sựphảiđược thực hiện theo quy địnhcủa Bộluật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xửngoài những căn cứvà trình tự, thủtục do Bộluật này quy định”.Nếu không tuân thủ quy định pháp luật là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc pháp chế nên mọi chứng cứ sẽ bị vô hiệu. Yêu cầu về chứng minh tội và lỗi của bị can, bị cáo bị buộc
53
tội đặt ra vấn đề trách nhiệm chứng minh được quy định tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2015: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc vềcơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Nguyên tắc này đặt ra trách nhiệm chứng minh buộc tội cho cơ quan buộc tội, chủ thể buộc tội. Để bảo đảm cho yêu cầu này, tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta đã đã đặt ra nguyên tắc nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất cứ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người hoặc các hình thức trái pháp luật khác trong quá trình thu thập chứng cứvà thực hiện các hoạt động tốtụng khác.Ngườibịbuộc tộicó quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội có nghĩa là: người bịbuộc tội luôn được quyền tựbào chữa hoặc nhờngười khác bào chữa, đượcquyền đưa ra chứng cứchứng minh sựvô tội của mình hoặc không tựbuộc tội chính mình (còn
gọi là “quyền im lặng”) phù hợp với Công ước quốc tế năm 1966: “…không bị buộc đưa ra lời khai chống lại mình, không bịbuộc phải nhận là mình có tội” (khoản 3Điều 14 Công ước). Bản án kết tội phải dựatrên các chứng cứđã được kiểm tra,đánh giá tại phiên tòa, chứng minh bịcáo có tội. Không được dùng làm chứng cứnhững tình tiết do người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác nêu ra, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó. Tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2015 quy định: “Khi không đủvà không thểlàm sáng tỏcăn cứđểbuộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người cóthẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội khôngcó tội” vànội dung này cũng phù hợp với nguyên tắc “suy đoán về tính hợp pháp của hành vi”.
Pháp luật tố tụng hình sự là phương tiện cụ thể hóa các quyền, nghĩavụ của công dân, con người trong Hiến pháp vào lĩnh vực tố tụng hình sự; là phương tiện đểgiới hạn quyền lựccủa cơ quan vàngườitiến hành tốtụng có thẩm quyền vàthông qua đó mà bảo đảm, bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội,đồngthời phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi xâm phạm của bất kỳ cơ quan, tổ chức và cánhân nào tới các quyền của họ, là phương tiện pháp lý, bằng các phương thức, cách thức, biện pháp khác nhau đểbảo vệ, bảo đảmcác quyền con người, quyền công dân khi bị xâm hại trái pháp luật trong quá trình chứng minh buộc tội.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH BUỘC TỘI CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Bảo đảmquyền con người của người bịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố điều tra truy tố xét xử vụ án hình sự Bảo đảmquyền con người của người bịbuộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố điều tra truy tố xét xử vụ án hình sự

