Bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam
MỞĐẦU
1. Tínhcấpthiếtcủađềtài
Quyền con người là phạm trù chính trị – pháp lý, sựra đời của khái niệm quyền con người gắn liền với các cuộc cách mạng dân chủ tưsảnlật đổ chế độphong kiến, xã hội thần dân thế kỷXVII, XVIII. Ở Anh, khái niệmđó nằmtrong Luật về các quyền (1689); ở Mỹ, nằmtrong Tuyên ngôn độc lập (1776) và Hiến pháp (bổ sung, 1789);ở Pháp, nằmtrong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền
(1789); và về sau khái niệm này được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế do Liên hiệp quốc khởi xướng.
Trong các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền con người như: chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục và pháp luật… thì pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng hàngđầu, bởi vì: pháp luật là phương tiện chính thức hóa giá trị xã hội của quyền con người; là công cụ sắc bén của nhà nước trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người; pháp luậttạocơ sởpháp lý để công dân đấutranhbảovệ các quyền và lợiích hợp pháp của mình; vai trò của pháp luật còn thể hiện trong mốiquan hệ giữa pháp luật và các điều kiện đảm bảo khác như: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục…, các điều kiện này phải thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hộiổn định và được hiện thực hóa. Hiến pháp là đạo luật tối cao trong hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật, vì lẽ đó quyền con người cần phải được quy định cụ thể trong bản Hiến pháp.
Chính vì tầmquan trọng của vấn đề quyền con người, quyền công dân nên hiến pháp của các nước thường dành riêng một chương hoặc một phần ghi nhận các quyền con người, quyền công dân: chương V Hiến pháp Việt Nam năm 1992, Phần
I Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978, Chương II Hiến pháp ThụyĐiển 1974, chương III Hiến pháp Nhật Bản năm 1946, phần II Hiến pháp Hy Lạp năm 1975, phần IV Hiến pháp Singapore năm 1963, chương II Hiến pháp Hàn Quốc năm 1948, chương II Hiến pháp Ba Lan năm 1997, chương II Hiến pháp Trung Quốc năm
1982, chương II Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993…
1
Từcác cơ sở trên, việc phân tích, đánh giá các quy định về bảo đảm quyền con người trong các bản Hiến pháp Việt Nam các thời kỳlà rấtquan trọng, nhằm nhấn mạnh “việc ghi nhận quyền con người trong hiến pháp là để bảo vệ các quyền này bằng sức mạnh pháp lý cao nhất của quốc gia.” Do vậy, trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Nhân quyền, học viên đã lựa chọn đề tài “Bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam”.
2. Tình hình nghiêncứuđềtài
3.Mụcđích và nhiệm vụ3.1.Mụcđích
Nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích so sánh các văn bản pháp luật quốc tế và các bản Hiến pháp Việt Nam về bảo đảm bảo đảm quyền con người và đưa ra nhận xét về các quy định về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013.
3.2. Nhiệm vụ
– Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơbản vềquyền con người trong các côngước quốc tế, điều ước quốc tếvà pháp luật Việt Nam.
– Phân tích thực trạng, đánh giá tình hình bảođảmquyền conngườibằnghệthốngbộmáy nhànước ViệtNam, những thành tựu vàhạnchếtrong việcbảođảm quyền conngườithông qua các quy địnhcủaHiến pháp.
– Nhậnđịnh,đánh giá cácđiểmmớivềquyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013.
4. Cơsởphương pháp luận và phương pháp nghiêncứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
3
Minh về quyền con người; những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước về quyền con người. Nghiên cứuthực trạng việc bảo đảmquyền con người thông qua các quy định của Hiến pháp hiện nay.
Luận văn sửdụng kếthợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, bao gồm: phương pháp tổng hợp, phân tích, chứng minh, thống kê, so sánh,
kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn…
5. Những đóng góp mớicủaluận văn
Đâylà công trình nghiên cứu một cách toàn diện về lý luận cũng như thực tiễn về bảo đảm quyền con người thông qua các quy định của Hiến pháp Việt Nam. Luận văn có những điểm mới về mặt khoa học như sau:
Thứnhất, trên cơsởphân tích, tổnghợpcác quanđiểm,tácgiảđưarađánh giá cá nhân về các quan điểm của mình về bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam.
Thứ hai, luận văn phân tích, nhận xét về bảo đảmquyền con người trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam và việc cụ thể hóa các công ước quốc tế,điều ước quốc tế trong Hiến pháp Việt Nam nói chung và hệ thống pháp luật Việt Nam nói riêng.
Thứ ba, luận văn đánh giá một cách có hệ thống những thành tựu cũng nhưnhững hạn chế, bất cập trong thực thi quyền con người tại Việt Nam, nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
Thứ tư, Hiến pháp 2013 đã làm rõ hơn các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảmthực hiện quyền con người, quyền công dân; thể hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nước ta. Qua đó, luận văn nhận xét các quyđịnhvề quyền con người, quyền công dân để thểhiện được tầm quan trọng của các quy định này trong bản Hiến pháp mới nhất.
6.Kếtquảnghiêncứuvà ý nghĩa của luận văn
Kết quảnghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề lý luậnvề bảođảmquyền con người, tạocơ sởkhoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy địnhcủaHiến pháp về vấn đề này.
Các ý kiến, kết luận được trình bày trong luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, vận dụng trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật cũng như trong thực tiễn, chính sách, qua đó góp phần bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người.
7.Kếtcấuluận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương sau:
Chương 1: Bảo đảm quyền con người là mục tiêu của Hiến pháp.
Chương 2: Thực trạng vấn đềbảo đảmquyền con người trong Hiến pháp
VIệt Nam.
Chương 3: Bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp 2013.
5
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI LÀ MỤC TIÊU
CỦA HIẾN PHÁP
Quyền con người là những quyền cơ bản nhất của con người, được có một cách tự nhiên gắn bó mật thiết với con người – một động vật cao cấp có lý trí, và cótình cảm làm cho con người khác với các động vật khác, mà nhà nước thành lập với một trong những nhiệmvụ quan trọng bậc nhất của mình là phải bảo vệ những quyền đó. Cũng vì lẽ tự nhiên đó, quyền con người luôn là mục tiêu của Hiến pháp mỗi quốc gia.
1.1. Bảo đảm quyền con người – lý do ra đời Hiến pháp
Quyền con người là phạm trù chính trị – pháp lý, sựra đời của khái niệm quyền con người gắn liền với các cuộc cách mạng dân chủ tưsảnlật đổ chế độphong kiến, xã hội thần dân thế kỷXVII, XVIII. Ở Anh, khái niệmđó nằmtrong Luật về các quyền (1689); ở Mỹ, nằmtrong Tuyên ngôn độc lập (1776) và Hiến pháp (bổ sung, 1789);ở Pháp, nằmtrong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền
(1789); và về sau khái niệm này được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế do Liên hiệp quốc khởi xướng [26].
Theo quan điểm của các nhà triết học, chính trị học thời kỳ Khai sáng (thế kỷXVIIXVII) thì quyền con người là các quyền không thể tướcbỏ được; đâylà các quyền tự nhiên (natural right) do tạo hóa ban cho họ. Tiêu biểu cho quan điểm này là Thomas Hobbes (1588-1679), Jonh Locke (1632-1704) và Thomas Paine (1731- 1809) Đây là những quyền mang tính bẩm sinh, vốn có của các cá nhân, khi sinh rađã được thừa hưởng, bởi vì họlà thành viên của nhân loại. Các quyền này không không một xã hộihay một chínhphủnào có thể ban phát, xóa bỏ hoặc “chuyển nhượng” và nó không phụ thuộc vào các phong tục, tập quán, truyền thống văn
hóa,… đây là các quyền vốn có của các cá nhân. Các quyền đó bao gồm: quyền tựdo ngôn luận, quyền tự do tín ngưỡng và nhận thức, quyền tự do lập hội và quyềnđược bảo vệ bình đẳngtrước pháp luật. Tuy nhiên, đây chưa phải là bản liệt kê đầy đủ các quyền của công dân trong một nềnchính trị dân chủ. Theo quan niệm phương Tây thì các xã hội dân chủ phải thừa nhận các quyền con người mà bất kỳchính phủ dân chủ nào cũng phải duy trì, vì các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng như không phụthuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó.
Ngược lại với các quan điểm cho rằng quyền con người là quyền tự nhiên làhọc thuyết cho rằng quyền con người là quyền pháp lý (legal right). Các học giả tiêu biểu cho quan điểm này là: Edmund Burke (1727-1797) và Jeremy Bentham (1748- 1832). Theo đó, các quyền con người khôngphải tựnhiên mà có mà nó phải được thừa nhận và luật hoá. Các quyền này phụ thuộc vào ý chí của nhànước (tức giai cấp thống trị) và truyền thống văn hóa, các phong tục tập quán. Những quan điểm gắn các quyền con người với luật pháp đã được thừa nhận từ lâu. Trong lịch sử phát triển của quyền con người, nhân loại đã chứng kiến sựtồn tại của các hình thức pháp lý nay. Khởi đầu là Bộ luật cải cách, của Urukagina, đây là bộluật được biếtđến sớmnhất (khoảng năm 2350 TCN), trong bộ luật nàyđã nói đến những khái niệmvề quyền con người, tuy nhiên văn bảnchính thức bộ luật đó hiện vẫn chưa được tìm thấy. Một trong những bộ luật cổ hiện còn ngày nay là Luật Ur-Nammu (khoảng năm 2050 TCN) và Bộ luật Hammurabi (khoảng 1780 TCN) đây là những bộ luật xa xưa nhất ghi nhận về các quyền conngười, kểcả nữquyền, quyền trẻ em, và quyền của nô lệ. Mặt khác, quyền con người vẫn còn được ghi nhận trong các tài liệu tôn giáo, dĩ nhiên không nhiều lắm. Kinh Vệ đà, Kinh Thánh, Kinh Koran vàsách văn tuyển Luận Ngữcủa KhổngTửcũng nằmtrong sốnhững tài liệu ra đời sớm đã nêu ra những vấn đề về nghĩa vụ, quyền, và bổn phận của con người [26].
Hiện nay trụ Cyrus (hay Cyrus Cylinder)được cho là hiến chươngđầu tiên củanhân quyền thếgiới, “rađờitrước hiến chương Magna Carta hơn một ngàn năm”. Trụ này có từ thời hoàng đế Cyrus Đại đế (559-530 TCN), người sáng lập ra nước Iran, đã có một bản mẫu của trụ được Iran tặng cho Liên hiệp Quốc vào năm 1971. Hiến chương Magna Carta của người Anh lần đầu tiên được công bố năm 1215. Hiến chương này cóảnhhưởngđếnsựphát triểncủathông luật (common law) và nhiều văn kiện, tài liệu liên quan đến quyền con người như Hiến pháp Hoa Kỳ, đặc
biệt là Đạoluật Nhân quyền (Bill of Rights)… Hiến chương Magna Carta còn làmột trong những tài liệu pháp lý đầu tiên tiết chế quyền lực của nhànước để bảo vệcác quyền của công dân nước đó. Hiện nay, giá trị còn tồn tại lớn nhất của nó là luật
bảo thân (habeas corpus –thân xác thuộc về người). Quyền này phát sinh từcácđiều 36, 38, 39 và 40 của Hiến chương Magna Carta năm 1215; nó cũng bao gồm due process of law (luật tôn trọng tất cả các quyền hợp pháp của công dân).
Hai luồng tư tưởng bàn về nguồn gốc của quyền con người hiện vẫn còn gây nên nhiều tranh cãi, và nhận thức của nhân loại hiện vẫn đang bị chia rẽ bởi vấn đềnày. Việc phân định tính đúng sai của hai quan điểm này là vấnđề hết sức khó khăn, bởi vì quyền con người là phạm trù phức tạp, nó liên quan đến nhiều ngành
khoa học như luật học, triết học, xã hội học, chính trị học, đạo đức học… Mặcdùthừa nhận quyền con người có nguồn gốc tự nhiên hay nguồn gốc pháp lý thì có một thực tế rằng các quyền này vẫn phải đượcghi nhận và đảmbảo thực hiện dưới những hình thức pháp lý cụ thể. Và chỉ thông qua sựthể chế này các quyền con người mới có cơ chế đảmbảo thực hiện. Theo nghĩa đó, pháp luật là công cụ quan trọng để pháp lý hóa, pháp điển hóa các quyềntựnhiên của con người, đồng thời nócũng là phương tiện quan trọng để đảm bảo thực hiện các quyền đó.
Khái niệm về quyền con người hiệnđại chủ yếu bắtnguồntừchâu Âu, tuy nhiêncầnkhẳngđịnhrằng, kháiniệm tựdo và công bằng xã hội – những khái niệm cơ bản của quyền con người, nằm trong tất cả mọi nền văn hóa. Các nội dung đầu tiên của quyền conngười quốc tế thực sựcó thể được tìm thấy trong các Hiệp định về Quyền tựdo tôn giáo, Công ước Westphalia năm 1648 và việc cấm chế độ chiếm hữu nô lệ như tuyên ngôn vềviệc buôn bán nô lệ của Quốc hội Vienna vào năm 1815, việc sáng lập Xã hội chống chếđộ chiếm hữu nô lệ Mỹvào năm 1833 vàCông ước quốc tế về chống chế độ chiếmhữunôlệ năm 1926. Khái niệm quyền con người phổ biến cho tất cả loài người mới được các nướcchấp nhận sau chiến tranh thếgiới lầnII. Vào những năm 1940-1950, dướisựlãnh đạo củaRoosevelt, René Cassin và Joseph Malik, Liên hiệp quốc đã soạn thảo nên bản Tuyên ngônthế giới về quyền con người, kể từđó, quyền con người đã trở thành một khái niệm rộng khắp thế giới có ảnh hưởng lớn đến nhiều quốc gia, đó là khái niệmvề các quyền văn hóa, kinh tế và xã hội, quyền tự quyết và quyền phát triển, quyền tự do không bị phân biệt chủng tộc, quyền bình đẳng về tư pháp… Theo một thống kê của Liên hiệp quốc thì hiện nayđãcó khoảng hơn 50 định nghĩa khác nhau vềquyền con người đã được công bố. Theo cách tiếp cận của Liên hiệp quốc thì quyền con người là những bảođảmpháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (action) hoặc sựbỏ mặc(omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, nhữngsựđượcphép và tự do cơbản của con người.
Bên cạnhđó,người ta vẫn tiếp cận quyền con người dưới khía cạnh là những sựđược phép (entitlement) mà tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại, không
phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội…; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vìhọlà con người (cách tiếp cận này mang dấu ấn của học thuyếtvềcác quyền tự nhiên). Khi được thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người trở thành một phần không thể thiếu của hệ thống Liên hiệp quốc. Mặc dù, Liên hiệp quốc đãlên tới 191 thành viên nhưng khôngmộtquốc gia nào thực sựnghingờtuyên ngôn này, nhờ đó đến nay phần lớn nội dung của tuyên ngôn đã trở thành tập quán luật quốc tế về quyền con người, dựa trên sự chia sẻ các giá trị chung đã được nhất trí theo khuônkhổcủa Liên hiệp quốc, trong đó bao gồm các yếu tố hình thành nên đạo đức toàn cầu.

Theo quanđiểmđượcđôngđảocộngđồngquốctếthừa nhận thì quyền con người mang các thuộc tính cơ bản là: tính phổ biến, tính khôngthểchuyển nhượng, tính khôngthểphân chia, tính liênhệvàphụthuộclẫnnhau.ỞViệt Nam,đãcó nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa, cách tiếpcậnkhác nhau về vấn đề quyềncon người. Mặc dù còn có những điểm khác nhau, song phần lớn họđều thống nhất quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền con người là những chuẩn mực mang tính toàn cầu, đây là vấn đề chính trị – pháp lý vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù. Tính phổ biến thể hiện ở chỗ quyền con người bao hàm những nguyên tắc, những quyềnđược thừa nhận và áp dụngởmọinơi, nó làsựkết tinh những giátrịnhân văncủanhân loại mà loài người phải bảo vệ. Tính đặc thù thể hiện ở chỗ, tùy theo điều kiện kinh tế- chính trị, xãhội mà sẽcó những mức độ riêng để qui địnhđảmbảothực hiện phù hợp với những đặc điểmriêng của quốc gia. Trong quá trình nghiên cứu, giải quyết vấn đề quyền con người cần phải chú ý những điểm chung và những nét đặc thù, đảm bảo sự cân bằng, hòa hợp giữa những giá trị phổ biên và đặc thù [27].
Quan điểm biện chứng của học thuyết Mác – Lênin đã khắc phục được tính phiến diện trong nhận thức về con người và quyền con người ở các quan niệm nêu trên. Học thuyết Mác – Lênin xem xét con người với tư cách là sản phẩm của tựnhiên và xã hội. Con người là một thực thể tự nhiên nhưng là một thực thể tự nhiên con người trong cộng đồng xã hội. Trong cáitựnhiên của con người có mặt xã hội và trong cái xã hội của con người có mặt tự nhiên. Cho đến nay giữa các nhà khoa học – luật gia trong và ngoài nước vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm quyền con người. Theo PGS. TS. Nguyễn Đăng Dung, quyền con người:
Đó là những quyền cơ bản nhất của con người, được có một cách tựnhiên gắn bó mật thiết với con người – một động vật cao cấp có lý trí, và có tìnhcảmlàm cho con người khác vớicác độngvậtkhác, mà nhà
nước thành lập với một trong những nhiệmvụ quan trọng bậc nhất của mình là phải bảo vệ những quyền đó [27].
TS. Trần Quang Tiệp đưa ra định nghĩa ngắn gọn, kháđầyđủ và cụ thể vềquyền con người như sau: “Quyền con người là nhữngđặclợi vốn có tự nhiên màchỉ có con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định”[27].
Nội dung quyền con người đã được cộng đồng quốc tế ngày càng nhận thức đầyđủ và toàn diện, được phát triển và cụ thể hóa trong các Tuyên bố và Công ước quốc tế về quyền con người. Việc ghi nhận và đảm bảo quyền công dân trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia chính là thể hiện việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người.
Trong các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền con người như: chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục và pháp luật… thì pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng hàngđầu, bởi vì: pháp luật là phương tiện chính thức hóa giá trị xã hội của quyền con người; là công cụ sắc bén của nhà nước trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người; pháp luậttạocơ sởpháp lý để công dân đấutranhbảovệ các quyền và lợiích hợp pháp của mình; vai trò của pháp luật còn thể hiện trong mốiquan hệ giữa pháp luật và các điều kiện đảm bảo khác như: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục…, các điều kiện này phải thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hộiổn định và được hiện thực hóa. Hiến pháp là đạo luật tối cao trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, vì lẽ đó quyền con người cần phải được quy định cụ thể trong bản Hiến pháp.
Về mối quan hệgiữa quyền con người và hiến pháp, chúng ta có thể nhậnđịnh: Chính vai trò giá trị của quyền con người, quyền công dân mà trong tư duy chính trị của nhân loại, vấn đề quyền con người, quyền công dân trở thành một nội dung chính của lịchsửlập hiến. Hiến pháp của tất cảcác nước, dù ở chế độ xãhội nào (tư bản, xã hội chủ nghĩa, các nước đang phát triển)đềucó chế định quyền con người, quyền công dân. Đó là nội dung cơ bản nhất của mỗi hiến pháp, nộidung quan trọngđến mức nếu không có chế định quyền con người, quyền công dân, thìcũng không thể có bảnthân hiến pháp, nội dung đó chi phối kết cấu của bản hiến pháp, chếđịnhquyền công dân thườngđượcđặt lênhàngđầutrong hiến pháp của nhiều nước [22].
Chính vì tầmquan trọng của vấn đề quyền con người, quyền công dân nên hiến pháp của các nước thường dành riêng một chương hoặc một phần ghi nhận các quyền con người, quyền công dân: chương V Hiến pháp Việt Nam năm 1992, Phần I Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978, Chương II Hiến pháp ThụyĐiển 1974, chương III Hiến pháp Nhật Bản năm 1946, phần II Hiến pháp Hy Lạp năm 1975, phần IV Hiến pháp Singapore năm 1963, chương II Hiến pháp Hàn Quốc năm 1948, chương II Hiến pháp Ba Lan năm 1997, chương II Hiến pháp Trung Quốc năm
1982, chương II Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993…
Trong trường hợp hiến pháp không ghi nhận thì đã có văn bản riêng về quyền con người, quyền công dân. Đó là Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789. Lời mở đầu của Hiến pháp năm 1958 hiện hành của Cộng hòa Pháp trịnh trọng tuyên bố: “Nhân dân Pháp trung thành với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1789” [26]. Điềuđócó nghĩa Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789 như là một nội dung chính của hiến pháp.
Tuyên ngôn nhân quyền năm 1689 của Anh là một nguồn quan trọng của hiến pháp bất thành văn của nước Anh. Ở Mỹ,các quyđịnh về quyền con người, quyền côngdân đượcghi nhận trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 và trong 10 Tu chính án của Hiến pháp Mỹ.
Như vậy, dù quy định theo cách nào, các quốc gia đều coi quyền con người, quyền công dân là nội dung cơ bản, không thể thiếu của hiến pháp. Ghi nhận, bảođảm, bảo vệ quyền con người là sứ mệnh của Hiến pháp, là mục tiêu của Hiến pháp.
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngườinăm 1948 – thước đo chung cho tất cả các dân tộc, tất cả các quốc gia-đã khẳng định quyền con người phảiđược tôn trọng và được tất cả các quốc gia cam kết thưc hiên nhưng quyên va tư dođo môt cach co hiêu qua thông qua nhưng biên phap tich cưc , trong pham vi quôc gia hay quôc tê . Theo đó, quyền con người là giá trị phổ biến, không do hiến pháp sinh ra, việc ghi nhận quyền con người trong hiến pháp với mục tiêu là để được bảo vệ bằng sức mạnh pháp lý cao nhất của quốc gia.
Quyền con người là thành quả của sựnghiệp đấu tranh của cả nhân loại. Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cáo đẹp nhất trong nền văn hóa nhân loại. Những giá trị này được hình thành với sự đóng góp của tất cả cả quốc gia, dân tộc, giai cấp từng lớp và cá con người con người trên trái đất, chứkhông phải sản phẩm của riêng bất cứ quốc gia, dân tộc, giai cấp nào.
Đểkhẳngđịnh,bảođảmvàbảovệquyền conngườicộngđồngthế giớiđã thông qua nhiều điềuướcquốctếvềquyền con người. Trong cácđiềuước quốctế đó, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và Côngướcquốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966đượccoi là Bộ luật quốc tế về quyền con người. Việt Nam đã gia nhậphầuhếtcác côngướcnhân quyền quốctếchủchốt, trongđócó Côngướcvề Quyền Dân sự, Chính trị, Công ước về Quyền Kinh tế, Xã hội, Văn hoá; Công ước về XoábỏmọiHình thức Phân biệt Chủng tộc, CôngướcvềXoábỏmọiHình thức Phân biệt Đối xử với Phụ nữ; phê chuẩn 17 công ước của Tổ chức LaođộngQuốc tế. Việt Namđãký Công ướcQuốctếvềQuyềncủaNgườikhuyếttậtvà Côngước chống Tratấn[62].
Là thành viên của cácđiều ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam có nghĩa vụ trước công dân cửmình, trước những người sinh sống trên lãnh thổ của mình, trước cộng đồngtế giới về thực hiện các cam kết xuất phát từcác điều ước quốc tế: Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúcđẩyquyền con người. Việt Nam cần tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người bằng cơ chế hiến pháp: Ghi nhận, khẳng định trong Hiến pháp quyền con người, xáclậpcác thiết chế, các điều kiện để bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp.
1.2. Thực thi Hiến pháp là bảo đảm quyền con người
Hiến pháp là một hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản vàthiết lập kiến trúc, thủ tục, quyền hạn và trách nhiệm của một chính quyền. Nhiều hiến pháp cũng bảo đảmcác quyền nhất địnhcủa nhân dân. Xét về mặt nội dung, hiến pháp là đạo luật cơ bản quy định các quy tắc pháp lý quan trọng nhất của quốc gia, ấn định hình thể quốc gia, ấn định các cơ quan điều khiển quốc gia cùng những thẩm quyền của các cơ quan ấy.Hiến pháp là văn bảnphản ánh tổ chức chính trịcủa quốc gia.
Trước khi là đạo luật cơ bản, hiến pháp phảilà một đạoluật. Với tư cách làđạo luật, hiến pháp phải được tổ chức thực thi, mà đã là thực thi thì bên cạnh những hành vi thực hiện đúng, cũng có những hành vi thực thi sai, không khác nào nhưviệc thực thi các đạo luật bình thường khác.
Với tư cách là đạo luật cơ bản, tức là đặc biệt, có hiệu lực pháp lý tối cao nên việc thi hành và việc vi phạm cũngđặcbiệt: Trước hết,chủthểthi hành Hiến pháp là đặc biệt so với chủ thể thi hành các đạo luật bình thường khác. Điểmkhác căn bản của Hiến pháp với các đạo luật khác ở chỗ: Chủ thể thi hành Hiến pháp là quan chức, mà không phải là công dân. Đó là các cơ quan, tổ chức nắmquyền lực nhànước. Cơ quan, tổchức quyền lực nhà nướccàng có nhiều quyền lực bao nhiêu, càng phải có trách nhiệm phải thi hành hiến pháp bấy nhiêu. Bên cạnh việc thi hành là khả năng vi phạm. Đó là Nghị viện/Quốc hội, cơ quan thực hiện quyền lập pháp.Đó là Chính phủ, cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Đó là các cơ quan Đảng cầm quyền thông qua các hoạt động của lập pháp và hành pháp. Đó là các cơ quan chính quyền địa phương. Khác với đạo luật thường khác việc thực thi Hiến pháp không những qua các qua định, mà còn cả tinh thần của Hiến pháp [30].
Thứđến là mứcđộ nguy hại củacác hành vi vi phạm hiến pháp, chúng cóhậu quả rất lớn, đến nhiều người và thậm chí ngay hại cho nhiều thế hệ, cản trở sựphát triển của quốc gia, thường ở tầm chủ trương chính sách.
Và cuối cùng, những hành vi vi phạm này rất khó phát hiện và rất khó xử lý. Cho đếnhiện nay mặc dù có tới gần200nước có Hiến pháp, nhưng chỉ mới cókhoảng khôngđến 10% số nhà nướccó tòa án chuyênxửviệc vi phạm hiến pháp của các cơ quan và quan chức nhà nước vi phạm.
Cũng như việc thi hành các đạo luật bình thường khác, thực tiễn cho thấy cóhai loại hình vi phạm Hiến pháp ra: Hành vi hành động vi hiến là hành vicủa chủthể thực hiện hành động trái với các quy định Hiến pháp, hoặc không phù hợp với Hiến pháp. Đó có thể là hành vi của cơ quan ban hành văn bản pháp luật không phùhợp hoặc trái với Hiến pháp; hành vi của một cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm thẩm quyền (lạm quyền) mà Hiến pháp trao cho; hoặc hành vi của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào nhân danh nhà nước ngăn cản hoặc hạn chế việc thực hiện quyền và tự do hợp pháp của cá nhân người dân theo quy định của Hiến pháp.
Hành vi không hành động vi hiến là hành vi không thực hiện thẩm quyền vànghĩa vụ đã được Hiếnpháp quy định. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Hiến pháp giao thẩm quyền, nếukhông thực hiện hoặc thực hiện không kịpthời những thẩm quyền và nghĩa vụ đó thì sẽ bị coi là vi phạm Hiến pháp không hành động.
Trong các trường hợpmà cơ quan, cá nhân có thẩm quyền chậm trễ hoặc không thực hiện thẩm quyền ban hành văn bản quy định cụ thể về các quyền và tự do hiến định của người dân thì một số nước không bị coi là vi phạm Hiến pháp [29]. Trong mối quan hệgiữa Nhà nướcvà ngườidân, một khi Nhànước ghi nhận và khẳng định quyền và tự do của người dân trong Hiến phápđồngnghĩa với việc Nhànước xác địnhnghĩa vụ, trách nhiệm của mình phải bảo đảm thực hiện. Do vậy, sựthiếu hụt hay chậm trễ ban hành của các văn bản quy phạm pháp luật quyđịnh quyền và tự do hiến định của người dân cũng phải được coi là vấn đề Hiến pháp vàxem xét tính hợp hiến của hành vi không hành động của cơ quan, cá nhân được trao thẩm quyền. những vi phạm Hiến pháp cóthểđược phân tích thành 2 dạng chủ yếu:
Cũng giống như các đạo luật thường khác, một khi đã có hiện tượng vi phạm thì phải có sự xét xử của tòa án. Nhưng khác với đạo luật bình thường khác, việc xét xửcác hành vi vi phạm hiến pháp không được các nhà nước thừa nhận ngay từđầu. Ngay cảnước Mỹ, vớibản Hiến pháp thành văn của đầu tiên thành khuôn mẫu của thế giới cũng rất đắn đo cho việc xét xử các hành vi vi hiến của các cơ quan quyền lực quốc gia. Trong phán quyếtnổitiếng trong vụ án Mabury kiện Madison của Chánh án Marshall làm rạng danh tên tuổi của ông có lập luận:
Hiến pháp hoặclà đạoluật tối cao, không thể thay thế bằng những phương thức bình thường hoặcnó ở hệcấp bình thường như cácđạoluật khác của ngành lập pháp và nó có thể bị ngành lập pháp thayđổinếu muốn. Nếu lựa chọn thứ nhất là đúng, thì luật mâu thuẫn với Hiến pháp không thể là luật. Nếu lựa chọn thứ hai là đúng thì Hiến pháp thành văn là một nỗ lực ngu xuẩn của con người trong việc giới hạn quyền lực nhànước trong bản chất vô giới hạn của nó [26].
Một nước có nền văn minh rực rỡ như Pháp mãi những năm gần đây mới bắtđầu thành lập ra Tòa án Hiến pháp để xét xử các hành vi vi hiến. Trước đó, ở họ vẫn tồn tại một Hội đồng với tưcách tư vấn cho Tổng thống về các dự án luật trước khiđược Quốc hội thông qua. Bên cạnh đó, mặc dù được thành lập rất sớm nhưng chỉ
sau vài năm khi có Hiến pháp hiện hành năm 1949, kết quả xét xử thắng kiện cho người khởi kiện là rất ít, theo thống kê cho thấy trong khoảng 1,5%. Nhưng con sốnhỏ nhoi đó cũngđủsức mạnh cho việc răn đe các cơ quan công quyền trong việc đối nhân xửthế với công dân, ở mặc người công dân nhỏ bé cũng cảmnhận được vịthế lớn lao của mình được Hiến pháp bảo vệ.
Bước vào giaiđoạnxây dựng nền kinhtế thịtrường, xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập và toàn cầu hóa, bảo đảm quyền con người, nhiều thể chế pháp luật ở Việt Nam đã không còn phù hợp, thậm chí quá lạc hậu, không những không đóng vai trò hiệu quả trong việcổn định vàphát triển xã hội, mà còn gây ra nhiều hệ lụy trong xã hội như tình trạng tham nhũng, vi phạm các quyền dân chủ và bất nhất trong việc thực thi phápluật ở nhiều mức độkhác nhau [32]. Xây dựng nền kinh tếthịtrường phải dựatrên nềntảng pháp quyền nhằm chống lại tình trạnglạmdụng, tha hóa quyền lực, cửa quyền, lợi ích nhóm trong các cơ quan nhà nước và bảo vệ quyền và
lợi ích chính đángcủanhân dân. Pháp quyền là giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước trong khuôn khổ pháp luật. Hơn nữa, toàn cầu hóa vàhộinhập buộc chúng ta phải thayđổiđểphù hợpvới các chuẩn mực phổ quát chung của thếgiới trêncả phương diện kinh tế lẫn chính trị. Việc sửa đổi hiến pháp được đặt trong bối cảnh nhưvậy, và do vậy nhân dân và toàn xãhộimong đợi đây sẽ là lần sửa đổi rộng lớn, góp phần giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội đang đặt ra [34].
Một trong những tiêu chí cơ bảnđánh giá hiến pháp hiện hành là xem xét khả năng thực thi của hiến pháp trong đời sống thực tiễn. Một bản hiến pháp thành công là một bản hiến pháp thực chất, tức là các quy định của nó được thực thi trên thực tiễn. Nếu như các quy định hiến pháp chỉ là những tuyên ngôn chính trị có giátrị trên giấy tờ, thì hiến pháp này chỉ là một bản hiến pháp danh nghĩa. Ở nước ta, mặc dù được coi là một đạo luật cơ bản, giá trị thực thi của hiến pháp lại rất yếu. Hiến pháp có giá trị pháp lý tối cao, nhưng người dân cũng như các cơ quan nhànước chẳng mấykhi sửdụng/áp dụng hiến pháp trong việc giải quyết các vụ việc tranh chấp diễn ra trong xã hội.
Như vậy, để hiến pháp trở nên thực chất, cần phải đặc biệt coi trọng vấn đềthực thi hiến pháp. Hiến pháp mới nếu thiếu cơ chế thực thi trong thực tiễn, đó cũng chính là biểu hiện của việc bảo đảm quyền con người.
Khi đánh giásựthực thi hiến pháp, điều quan trọng là xem xétmức độ hiểu biết của xã hội về các quy định của hiến pháp. Mức độ hiểu biết thể hiện thông qua kiến thức, sự đồng thuận của nhân dân về các thể chế và nguyên tắc hiến pháp. Đểhiểu đượcmức độ hiểubiết của xã hội và tính công khai của hiến pháp, chúng ta cóthể đặt ra những câu hỏi như: mọi người có hiểu được các nội dung trong hiến pháp không? Mọi người có viện dẫn và biết cách thức sử dụng hiến pháp để bảo vệ các quyền hiến định của họ không? Xét các tiêu chí trên, rõ ràng xã hội và nhân dân Việt Nam có nhận thức rất hạnchế vềhiến pháp. Tình trạng này là rất dễ hiểu, bởi vì nhân dân không thấy được lợi ích của các quy định hiến pháp. Họ không thểnhờcậyhiến pháp để bảo vệ các quyền mà hiến pháp ghi nhận [22]. Do vậy, việc sửa đổi hiếnphápcầnphải tập trung tạo cơ hội, quy trình cho nhân dân có thể sử dụng trực tiếp hiến pháp để bảo vệ các quyền và lợi ích hiến định của mình.
Việc tuyên bố các quyền của người dân trong hiến pháp đặt ra các nghĩa vụcủa Nhà nước trong việc bảo vệ các quyền này khi bị xâm phạm [22]. Để thực hiện được điềuđó,cần có một thiết chếtài phánđộc lậpđể phán quyết các hành vi vi phạm hiến pháp của các cơ quan công quyền. Thực chất, hiến pháp nước ta ít có giátrị áp dụng là bởi vì chúng ta không có cơ chế bảo vệ hiến pháp hiệu quả. Sau nhiều nỗ lực và thảo luận ở nhiều cấp, một cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ hiến pháp đã rađời trong dự thảo hiến pháp: Hội đồng hiến pháp. Tuy nhiên, Hội đồng hiến pháp lại không phải là một cơ quan tài phán hiến pháp độc lập, mà hoàn toàn là một cơ quan chính trị: Hội đồng hiến pháp không độc lập do Quốc hội thành lập, giúp Quốc hội thực hiện chức năng bảo hiến; Hội đồng hiến pháp không có quyền tài phán, mà chỉcó quyền kiến nghị Quốc hội và các cơ quan nhà nước xem xét khi phát hiện các vi phạm hiến pháp. Theo lý thuyết và kinh nghiệm thực tế, Hội đồng hiến pháp với tưcách là một cơ quan chính trị sẽ không có vai trò đáng kể nào trong việc bảo vệ hiến pháp. Người dân cũng không thể kiện lên Hội đồng hiến pháp để yêu cầu cơ quan này xem xét bảo vệ các quyền của họ bị xâm phạm.
Thiếu sự trao quyền và khả năng người dân có thểsửdụng hiến pháp để bảo vệ quyền hiếnđịnhcủa họ thông qua một cơ quan tài phán hiến pháp độclậplànhững hạn chế rất lớn và cơ bản để đảm bảo sựthực thi hiến pháp trong tương lai.
Việc thành lậpmột tòa án hiến phápđộc lập, có thẩm quyền rộng rãi và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được quyền khởi kiện trực tiếp là những điều kiện tiên quyết bảo đảm sựthực thi hiến pháp. Nếu chưa thành lập được tòa án hiến pháp thìHội đồnghiến pháp theo dự thảo cũng cần phải được cải cách theo hướng nâng cao hơn tính độc lập và thẩm quyền của cơ quan này trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của người dân.
Việc quy định chế độ bảo hiến theo chiều đi xuống như ở phần trên đã nêu là một điềuphi lý, vì Quốc hội có thể là chủ thể nguy hại bậc nhất cho việc vi phạm Hiến pháp. Thứđến làcác cơ quan hành pháp mà Chính phủ là một trong các chủthể vi phạm Hiến pháp. Như trên đã phân tích, khác với nhữngđạo luật bình thường, sựvi phạm các quyđịnh củaHiến pháp chỉ có những chủ thể nắmquyền
lực nhà nước, càng cao bao nhiêu càng có khả năng vi phạm hiến pháp bấy nhiêu.
Nhà nước có trách nhiệm giải phóng tôi khỏisựnô lệ của người hàng xóm, thì cũng có khả năng nô lệ hóa tôi. Khả năng vi phạm hiến pháp nằmngay trong trách nhiệm thi hành Hiến pháp. Nhà nước không phải là những thiên thần bao giờcũng đúng. Họ có hai việc cần phải làm song song với nhau theo cách nói của J. Madisson:mộtlà Chính phủphải quản lý được người dân, hai là Chính phủ phải quản lý được chính bản thân mình.
Vì vậy, việc vi phạm Hiến pháp trước hết phải kể đến cơ quan Quốc hội – lập
pháp, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ – hành pháp; cơ quan Chính phủ –
bộ và các cơ quan ngang bộ và cơ quan Tòa án – tư pháp. Người dân chỉ có thể vi phạm luật và pháp luật, mà không có cơ hội cho việc vi phạm Hiến pháp. Vídụ một hành vi nào đó giết người, tức là hành vi xâm phạm quy định của Bộ luật Hình sự
do Quốc hội – lập pháp ban hành, mà không xâm phạm tới các mối quan hệđược
quyđịnh trọng Hiến pháp. Đó là hành vi vi phạm pháp luật –vi pháp, mà không phải là hành vi vi hiến. Nếu như có chăng chỉ là hành vi vi phạm gián tiếp các quy
định của Hiến pháp: Quyền được bảo vệ mạng sống –quyền được sống của con người đượcHiến pháp bảo vệ.
Hoạt động bảo hiến, hay cụ thể hơn ở nghĩa hẹp là hoạt động tài phán Hiến pháp phần nhiều tập trung vào hoạt động lậppháp của Quốc hội, tức là hoạt động ban hành các văn bản luật mẫu thuẫn với Hiến pháp. Đáng tiếc là Hiến pháp trướcđây và hiện hành của Việt Nam lại giao nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ Hiến pháp có rất nhiều chủ thể: Từ Ủy ban nhân dân cấp cơ sở cho đến cuối cùng cao nhất vànặng nề nhất là Quốc hội.
Hiến pháp 1992 quy định: “Người dân có quyền lập hội, biểu tình theo quyđịnh của pháp luật”[39, Điều 69]. Cho đến nay vẫn chưa có Luật về Hội và Luật Biểu tình. Hiến pháp 1992 quy định: “Quyềnvà nghĩa vụ của người dân do Hiến pháp và Luật quy định”[39, Điều 51]. Theo quyđịnh này, các văn bản dưới luật không được quyđịnh về nghĩa vụ hoặc quyđịnh hạnchế quyền của người dân. Thực tế cho thấy, trong những năm qua, Quốc hội đã giao cho Uỷban thường vụQuốc hội ban hành một loạt Pháp lệnh quy định về quyền cơ bản của người dân. Ví
dụ: các Pháp lệnh về thuế, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Pháp lệnh phí và lệ phí… Nhiều ý kiến không đồng ý cách uỷ quyền này và cho rằng đây là một dạng vi phạm Hiến pháp, vì Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể thay thế vị trí của Quốc hộiđể quy định những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền cơ bản của người dân. Điều 84 của Hiến pháp đã xác định rõ thẩm quyền của Quốc hội trong việc quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế.
Trong hoạt động hành pháp, không tuân thủ Hiến pháp được biểu hiện dưới hai hình thức chủ yếu: ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật có nội dung trái với Hiến pháp về các quyền cơ bản của người dân; và việc lãnh đạo, chỉđạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ không đúng nguyên tắcHiến pháp, không đúng chức năng, thẩm quyền đã được Hiến pháp quy định [55].
Quyền tựdo kinh doanh và nghĩavụ đóng thuế củangườidân là những quyền hiến định và luật định. Điều này có nghĩa là chỉ có Hiến pháp và luật được quyền quy định vấn đề này. Trong khi đó, nhiều nghịđịnhcủaChính phủ quy định về điềukiện kinh doanh kèm theo. Vìlẽ đó đã xảyra tình trạng nhiều “giấy phép
con”, và nhiều chính sách thuế…được ra đời chỉ căn cứvào các quyđịnh của Chính phủ và các Bộ.Cũng như nhiều Hiến pháp của các quốc gia khác trên thếgiới, Hiến pháp CHXHCN Việt Nam cũng quy định:
Người dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không ai bịbắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừtrường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người dân. Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xửtrái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất vàphục hồi danh dự [39, Điều 71, 72].
Nhưng trên thực tế việc bắt trước, xétxửsau vẫn còn là phổ biến. Thậm chícả mộthệ thống phápluật xửphạt vi phạm hành chính của các cơ quan hành pháp quy định cả các biện pháp cưỡng chế hành chính để gom các cá nhân mà cơ quan hành pháp tự cho là vi phạm pháp luật, mại dâm, ma túy vào các trại tập trung cai nghiện, giáo dưỡng mà không cần phải thông qua hoạt động xét xử của các cơ quan tư pháp. Càng ngày cũng vấn đề nói trên cũng đã dần được nhận thức ra. Ví dụ, việc bỏ hình thức quản chế hành chínhđã đượcdùng vào những năm trước đâycủa những ngày sau giải phóng là một minh chứng. Hay nhưmớiđây việc bỏ hình thứcđưa các trại tập trung chữa bệnh bắt buộc của những người có hành vi mại dâm của Luật xử lý vi phạm hành chính 2011.
Thứ ba, trong hoạt động xét xử, vi phạm Hiến pháp thường thấy qua các việc làm, các biểu hiện vi phạm nguyên tắc độc lập xét xửcủa Toà án như: Hoạt động
xét xử chịu tácđộngtừ sựcan thiệp, chi phối, cản trở, ép buộc… của các cá nhân,
cơ quan, tổ chức đảng, chính quyền…
Tóm lại: Quyền con người luôngắnliềnvớiHiến pháp. Hiến pháp không những chỉ là văn bản quy định việc tổ chức nhà nước, mà còn bảo đảm việc thực hiện quyền con người, quyền công dân. Vì lẽ đó, việc thực thi Hiến pháp cũng chính là bảo đảm thực thi quyền con người.
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM
Một trong những tiêu chí cơ bản đánh giá hiến pháp hiện hành là xem xét khả năng thực thi của hiến pháp trong đời sống thực tiễn. Một bản hiến pháp thành công là một bản hiến pháp thực chất, tức là các quy định của nó được thực thi trên thực tiễn. Nếu như các quy định hiến pháp chỉ là những tuyên ngôn chính trị có giátrị trên giấy tờ, thì hiến pháp này chỉ là một bản hiến pháp danh nghĩa. Ở nước ta, mặc dù được coi là một đạo luật cơ bản, giá trị thực thi của hiến pháp lại rất yếu. Hiến pháp có giá trị pháp lý tối cao, nhưng người dân cũng như các cơ quan nhànước chẳng mấy khi sử dụng, áp dụng hiến pháp trong việc giải quyết các vụ việc tranh chấp diễn ra trong xã hội. Do đó, việc đi sâu nghiên cứu thực trạng bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp hết sức cần thiết
2.1. Quy định về quyền con người
2.1.1. Quy định quyền con người trong Hiến pháp qua các thời kỳ
Trong bản Tuyên ngôn Độc lập đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịchHồ Chí Minh trước hết nhắc tới quyền con người, rồi suy rộng ra quyền tự quyếtdân tộc, để từđó khẳng định tính chất chính nghĩa của cuộcđấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam. Việc gắn kết giữa quyền con người với quyền độc lập của dân tộc là một sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Điều này cho thấy, Người không chỉ là một nhà cộng sản quốc tế, một nhà yêu nước chân chính mà còn là một nhà tưtưởngxuất sắc về quyền con người. Đáng chú ý làcác điều mà Hồ Chí Minh “suy rộng ra” ấy,thì ngày nay, Hội nghị thế giới vềquyền con người họp ngày 25 tháng 6 năm 1993 coi như là quy phạm của luật quốc tế hiệnđại với tuyên bố: “Quyền dân tộctựquyết không thể bịtước đoạt”và coi việc khước từ dân tộc tự quyết là sự vi phạm quyền con người” [53].
Cách mạng tháng Tám vừa thành công, ngaytạiphiênhọpđầutiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu tổ chức cuộcbầu cửđầu tiên
21
càng sớm, càng tốt với mục đích để nhân dân thực hiện quyền tự do chính trị quyền dân chủ, quyền công dân của mình là bầu ra Quốc hội, và Quốc hộinày có quyền thông qua một bản Hiến pháp ghi nhận các quyền tựdo, dân chủ cho nhân dân. Người chỉ rõ: “Nước ta đã bị chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ” [53].
Như vậy, trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền con người luôn gắn liền với Hiến pháp. Hiến pháp không những chỉ là văn bảnquyđịnh việc tổchức nhà nước, mà còn bảo đảm việc thực hiện quyền con người, quyền công dân. Tư tưởng về một nền lập pháp gắn liền với quyền con người đã nảy sinh từrất sớmở HồChí Minh. Ngay trong bức thư 8 điểm gửi đến Hội nghị Véc-xay (Pháp) năm 1919 với bút danh Nguyễn Ái Quốc,Chủtịch Hồ Chí Minhđãđòi quyền tự do dân chủ – quyền cơ bảnnhất của con ngườicho nhân dân Việt Nam. Người đồngthời
cung nêu rõ, nếuViệt Namđượcđộc lập thì sẽ: “…xếp đặt Hiến pháp theo tưtưởng dân quyền” [53], tức là Hiến pháp gắn liền với quyền con người, quyền công dân, hay nói cách khác, quyền con người, quyền công dân là một nội dung cốt lõi trong Hiến pháp của một nước Việt Nam mới.
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, trong phiênhọp đầu tiên của Chính phủ, ngày 3 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị một trong sáu nhiệm vụ cấp bách là xây dựng Hiến pháp. Người chỉ ra rằng: “Trước chúng ta đãbị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có một Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ” [53]. Như vậy, xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngườiđặt nềnmóng cho nền lập hiến Việt Nam nói chung và cho việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng Hiến pháp nói riêng.
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sựra đời của Hiến pháp 1946, địa vị pháp lý của người dân nước ta đã có sự thay đổi căn bản. Trước Cách mạng tháng Tám, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Về mặt chính trị cũng như pháp lý, người Việt Nam lúc đó không được gọi là công dân. Xét về phương diện lịch sử, nếu quyền con người, quyền công dân ở các nước tư bản rađời gắn liền với cuộc cách mạng tư sản xoá bỏ chế độ thần dân phong kiến, thì ởnước ta quyền làm người, quyền công dân gắn liền với cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc, xoá bỏ chế độ thực dân lẫn xã hội thần dân. Lần đầu tiên trong lịch sử
Việt Nam, Hiến pháp đã trang trọng ghi nhận quyền con người, quyền công dân –một trong những nội dung cơ bản nhất của Hiến pháp. Như vậy là ở Việt Nam, địa vị pháp lý của công dân được xác lập gắn liền với việc dân tộc giành được độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà…, dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do…, phụ nữViệt Namđã đượcngang hàng với đànôngđể được hưởng chung mọi quyền cánhân của công dân… ” [53]. Hiến pháp năm 1946 là Hiến phápđầutiên cụ thể hóa các quyền con người, nội dung của Hiến pháp được xuyên suốt bởiquan điểmđãđược ghi ở Điều 1: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” [53].
Hiến pháp năm 1946 thực sựlà công cụ đặc biệt quan trọng và có hiệu lực nhất đểbảovệ nền độc lập dân tộc, bảo vệchính quyền cách mạng và thực hiện quyền của nhân dân. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các quyền tự do dân chủ của con người được đạo luật cơ bảnghi nhận và bảo đảm.Cũng lần đầu tiên người dân lao động Việt Nam được xác nhận có tư cách công dân của một nướcđộc lập có chủ quyền. Nội dung của quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của công dân nhằmmụctiêu bảotoàn lãnh thổ, giành độclập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ.
Ba nguyên tắc xây dựng Hiến pháp 1946 là đoàn kết toàn dân, đảm bảo các quyền tự do dân chủ và thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Trong số 7 chương thì chương về “nghĩa vụ và quyền lợi của công dân” được xếp thứ2, gồm18 điều. Trong đó có 16 điều trực tiếp quyđịnh quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam. Hiến pháp đặt nghĩa vụ trước quyền lợi. Chương II quyđịnh các quyền tự do dân chủ của công dân trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xãhội và tựdo cá nhân. Lần đầu tiên trong lịchsửdân tộc, quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật được ghi nhận trong đạo luật của Nhà nước (Điều 7). Hiến pháp quy định phụ nữ được ngang quyền với nam giới về mọi phương diện.
Nội dung tiến bộ, dân chủ và nhân đạo của Hiến pháp 1946 còn được thể hiện ở những quy định về các quyền cơ bản của công dân như quyền tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc (Điều 7), quyền bầu cử và ứng cử (Điều 18), quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra (Điều 20), quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia (Điều 21), quyền tư hữu tài sản (Điều 12), quyền học tập (Điều 15), quyềntựdo ngôn luận, tựdo tổ chức và hội họp, tựdo tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài (Điều 10), quyền bất khảxâm phạmvề nhà ở và thư tín (Điều 11), quyền được Nhà nước ưu tiên chăm sóc giúp đỡ của công dân thuộc dân tộc thiểu số (Điều 8), của công dân già cả, tàn tật, trẻ em (Điều 14), của giới cần lao trí thức và chân tay (Điều 13) [36].
Quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân chỉ có thể được thực hiện khi có một bộmáy nhà nước vững mạnh, thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân [55]. Dođó, Hiến pháp 1946 dành các chương còn lại quyđịnhcơ cấu bộmáy nhà nước nhằm xác định trách nhiệmđảmbảo quyền và nghĩa vụ công dân. Cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất là Nghị viện nhân dân, do “công dân Việt Nam bầu ra ba năm một lần” (Điều 24), có nhiệm vụ giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các Hiệpước mà Chính phủ kýkếtvới nước ngoài” (Điều 23). Nghị viện không chỉ“thay mặt cho địa phương mình màcòn thay mặt cho toàn thể nhân dân” (Điều 25). Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân trực tiếp bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân (Điều 58), có nhiệm vụ chỉđạo Ủy ban hành chính quản lý mọi mặt ở địa phương. Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể bị bãi nhiệm nếu không còn tín nhiệm đối với cử tri (Điều 61). Các cơ quan hành chính nhà nước gồmChính phủ và Ủyban hành chính các cấp, có nhiệmvụtrực tiếp quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội trên cơ sở các đạo luật. Cơ quan tư pháp là Tòa án nhân dân có chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Hiến pháp năm 1946 cũng quy định những nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư pháp như: công khai (điều 65), có Hội thẩm nhân dân tham gia (Điều 65), bị cáo có quyền bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa (Điều 67), chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử(Điều 69),… thực hành quyền tố cáo trước tòa án. Quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Hiến pháp 1946. Quyền con người, quyền công dân thể hiện một cách nhất quán trong cả bốn Hiến pháp là ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơbản của công dân Việt Nam. Hiến pháp sau so với Hiến pháptrước đều có sựphát triển các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam.
TừHiến pháp đầu tiên 1946 đến Hiến pháp 1992, tư tưởng Hồ Chí Minh vềchính quyền của ai, phục vụ ai xuyên suốt toàn bộ nội dung. Cả bốn Hiến pháp đều khẳng định nguyên tắc: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, xác định bản chất Nhànướclà nhà nước của dân, do dân và vì dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức. Các quyền con người và quyền công dân thể hiện trong các bản Hiến pháp của Việt Nam rất rộng rãi và có tính tiên tiến. Điều đó thểhiện ở chỗ, ngaytừkhi Hiến pháp 1946, các quyền tựdo, bìnhđẳng, dân chủ được trang trọng ghi nhận cùng với cơ chế bảo đảmthực hiện các quyền đó. Đất nước ngày càng được củng cố và phát triển, các quyền con người vàquyền công dân cũng ngày càng được mở rộng và phát triển cả về số lượng và chất lượng; thể hiện nấc thang cao hơn về sựthể chế và cơ chế đảmbảo thực hiện. Khác với bảnchất chính trị – giai cấp trong xã hội tư bản, trong chủ nghĩa xã hội, các quyđịnh pháp lý về sựlãnh đạo của Đảng, sựquản lý của Nhà nước không nhằm hạn chế các quyền và tự do mà nhằm phát triển hoàn thiện hơn các quyền tự do của con người. Điều đó thể hiện tính chất tiên tiến của quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam.
Hiến pháp năm 1946 quy định tại Điều thứ6 đến Điều thứ9 trong đó có các nội dung là: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá. Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đềuđược tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình. Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡvề mọi phương diện đểchóng tiến kịp trình độ chung. Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện. Bình đẳng về chính trị là nội dung cốt lõi xuyên suốt các bản Hiến pháp trong đó, đặc biệt coi trọng quyền bình đẳng trong bầu cử, ứng cử, tham gia xây dựng chính quyền các cấp giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc đa số.Điều đó thể hiện trong các cuộc bầu cửQuốc hội từkhoá I đến khoá XI hiện nay. Quyền bình đẳng giữa nam giới vànữgiới cũng thể hiện rõ trong sốlượng đại biểu nữtham gia Quốc hội ngày càng tăng lên về số lượng và chất lượng. (ví dụ, số đại biểu nữtrong Quốc hội khoá I chiếm 2.5%; khoá II: 13.5%; khoá VIII: 18%; khoáIX: 18.84%; khoá X: 26.22% và khoá XI là 27.31%).
Các quyền con người, quyền công dân ngày càng được mở rộng và hoàn thiện hơn trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Sovớicác bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, quyền con người, quyền công dân có sựmở rộng và hoàn thiện hơn trong Hiến pháp 1992.Điều đó thể hiện sựphát triển liên tục cả về phương diện chính trị pháp lý cũng như phương diện kỹthuật lập hiến. Về nội dung chính trị – pháp lý, các quyền và nghĩa vụ pháp lý được Hiến pháp 1992 quy định đầy đủ, hợp lý và có tính khả thi hơn. Nội dung các quyền không chỉ phản ánh những thay đổi của đời sống đất nước mà còn thể hiệnsựtiếp thu những giá trị văn minh của nhân loại về nhân quyền, dân quyền [61].
Thấm nhuần tưtưởngnhân quyền củachủ tịch Hồ Chí Minh, kểtừHiến pháp đầu tiên 1946 cho đến Hiến pháp 1992 hiện hành đều thể hiện xuyên suốt việc đề cao các quyền con người, quyền công dân. Bốn bản Hiến pháp là bốn nấc thang về việc ghi nhận và phát triển các quyền cũng như cơ chế bảo vệcác quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam.
Về hình thức thể hiện, các quyền và nghĩa vụ ghi nhận trong Hiến pháp 1992 với kỹ thuật lập pháp chuẩn xác hơn. Lần đầu tiên thừa nhận thuật ngữ “quyền con người” trong Hiến pháp (ba bản Hiến pháp trước đồng nhất quyền con người với quyền công dân). Ngônngữthểhiện chặt chẽ, phản ánh đúng hiện thực khách quan, bỏ đi một số câu chữ mang tính nhân văn nhưng không phù hợp với thực tiễn.
Về số lượng các quyền và nghĩa vụ ghi nhận trong chương về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng có bướcphát triển chẳng những so với ba bảnHiến pháp trước mà còn so với Hiến pháp của các nước. Nếu Hiến pháp 1946 có 28 điều về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp 1959 có 21 điều, Hiến pháp 1980 có 28 điều thì Hiến pháp 1992 có 34 điều trên tổng 147 điều của toàn bộ Hiến pháp. So riêng với Hiến pháp 1980 thì Hiến pháp 1992 chỉ giữ lại bốn điều không sửa chữa, 26 điều phải sửa đổi, bổ sung và thêm bốn điều mới vớisựsắp xếp hợp lýhơn. Dung lượng và những thay đổi về hình thức đó thể hiện kỹ thuật lập hiến ngày một nâng cao theo nguyên tắc luật phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan và cótính khả thi.
Đến Hiến pháp năm 1980, đối với quyền bình đẳng nam, nữ (Điều 63), Hiến pháp bổ sung bốn điểm mới: một là, Nhà nước và xã hội có nghĩa vụ chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹthuật và nghề nghiệp của phụ nữđể phát huy vai trò của phụ nữtrong xã hội; hai là, Nhà nước cần hoạch định chính sách laođộngphù hợp vớiđiều kiện của phụ nữ; ba là, xã viên hợp tác xã cũngđược hưởng phụ cấp sinh đẻ; bốn là, Nhà nước và xã hội phải chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, các nhà ăn công cộng và những cơ sở phúc lợi khác. Đến Hiến pháp năm 1992, Điều 63 quy định quyền bình đẳng nam, nữ vàbổsung: “Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xửvớiphụnữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”. Việc bổ sung này là cần thiết nhằm phòng ngừa và chống lại những hành vi phân biệt đối xửvới phụ nữ, đánh đập,hành hạ, mua bán phụ nữ, sử dụng phụ nữnhư là một công cụ để làm giàu phi pháp.
Hiến pháp năm 1980 ghi rõ: “Công dân có quyền có nhà ở” [38, Điều 62]. Trước Hiến pháp năm 1980, chưa có quyđịnh nào trong các bản Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 quy định về vấn đề này. Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 chỉ quy định quyền bất khả xâm phạm về nhà ở. Với quy định này, Nhà nước ta thể hiện sựquan tâm sâu sắc tớimột trong những vấn đề xã hội bức xúc nhất của người dân là nhà ở. Tới Hiến pháp năm 1992 thì quyền này được sửa lại thành ba quyền mới là: “quyền được xây dựng nhà ởtheo quy hoạch và pháp luật, quyền được pháp luật bảo hộ của người có nhà cho thuê và quyền được pháp luật bảo hộ của người thuê nhà” [39, Điều 62]. Việc Hiến pháp năm 1992 xóa bỏchế độ bao cấp về nhà ở cũng là điều đúng đắn vì Nhà nước không có khả năng lo nhà ở cho mọi tầng lớp nhân dân, mà Nhà nước có thể xây nhà ở rồi cho dân thuêhoặc khuyến khích, tạomọi điều kiện thuận lợi để người dân tựxây dựng nhà ở cho mình theo quy hoạch và pháp luật.
Lần đầu tiên Hiến pháp năm 1980 dành một điều riêng quy định quyền của trẻ em trong đó quy định rõ Nhà nước và xã hội chú trọng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, mở rộng dần việc đảmnhiệm nuôi dạytrẻ em, làm cho sinh hoạt, học tập và trưởng thành của trẻ emđược bảo đảm. Trong các điều quyđịnh quyền của trẻ em (Điều 65) và quyền của thanh niên (Điều 66), Hiến pháp năm 1992 bổ sung thiết chế gia đình vào các thiết chế khác (Nhà nước và xã hội) cùng cótrách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và thanh niên. Điều đó khẳng định vịtrí, vai trò ngày càng tăng của gia đìnhvớitư cách là tế bào của xã hội, cái nôiđầu tiên của con người,đồng thờinhắc nhở mọi người hãy quan tâm xây dựng, củng cốgia đình để trẻ em, thanh niên được chăm sóc, giáo dục tốt hơn vì tương lai của đất nước, vì hạnh phúc của mọi nhà.
2.1.2. Các quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp 1992
Các quy định của Hiến pháp năm 1992 xác lập 9 nguyên tắc chung, cơ bản về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam, được thểhiện trong 7 điều của Chương V, gồm: nguyên tắc trở thành công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 49); tôn trọng quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội (Điều 50); quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân (Điều 51); Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội (Điều 51); quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định (Điều 51); mọi công dânđều bìnhđẳngtrước pháp luật(Điều52); Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền lợi
28
chính đáng của người Việt Namđịnh cưởnước ngoài (Điều 75); Nhà nước Việt Nam bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng của người nước ngoàiđang cư trú ở Việt Nam (Điều 81); Nhà nước Việt Nam xem xét việc cho cư trú đối với người nước ngoài đấu tranh vìtựdo và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hòa bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại (Điều 82).
Nhóm các quyền về chính trị, được thể hiện trong 6 điều (2 điều của Chương I và 4điềucủaChương V). Các quyền cơ bản vềchínhtrịđược quyđịnh trong Chương I gồm: quyền bãi miễnđại biểu Quốc hội vàđại biểu Hộiđồng nhân dân (Điều 7) và quyền làm chủ ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước vàxã hội (Điều 11). Tại Chương V, Hiến pháp năm 1992 quy định 9 quyền cơ bản vềchính trịcủacông dân Việt Nam, gồm: quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 53); quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương (Điều 53); quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước (Điều 53); quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 53); quyền bầu cử (Điều 54); quyền ứng cửvào Quốc hội vàHộiđồng nhân dân (Điều 54); quyền khiếu nại (Điều 74); quyềntốcáo (Điều 74) và bảo vệ Tổ quốc (Điều 77)..
Nhóm các quyền dânsự,đượcthểhiện trong 9điềucủaChương V, gồm: quyềnsởhữuvềthu nhậphợppháp,củacải đểdành, nhàở,tư liệu sinh hoạt và quyềnđược Nhà nướcbảo hộ quyền sở hữu này (Điều 58); quyền thừa kế hợp pháp và quyềnđượcNhànướcbảohộquyền thừakếnày(Điều58); quyền tácgiảvà quyềnđược Nhà nước bảo hộ quyềntác giả (Điều 60); quyềnsởhữu công nghiệp vàquyền được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 60); quyền tự do đi lại ởtrongnước(Điều68); quyềntựdo cư trúởtrongnước(Điều68); quyền ranước ngoài(Điều68); quyềntừnướcngoàivề nước(Điều 68); quyềntựdo ngôn luận (Điều69); quyền tự do báo chí (Điều 69); quyền được thông tin (Điều 69); quyền hội họp (Điều69); quyềnlập hội(Điều 69); quyền biểu tình(Điều69); quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo(Điều70); quyềnđượcNhànướcbảohộnhững nơithờtự(Điều 70); quyền bất khả xâm phạmvềthân thể quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 71); quyềnđượcpháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm (Điều 71); quyền được suy đoán vô tội(Điều72); quyền được bồi thường thiệt hạivề vật chất và phục hồi danh dự khi bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật (Điều 72); quyền bất khả xâm phạmvề chỗở (Điều 73); quyềnđược bảo đảman toàn và bí mậtvềthư tín,điệnthoại,điệntín(Điều73); quyềncủangườikhiếu nại,tốcáobị thiệt hại đượcbồi thường vềvậtchất và phục hồi danh dự (Điều 74).
Nhóm các quyền kinh tế, được thể hiện trong 6 điều (3 điều của Chương II và 3 điều của Chương V). Trong Chương II, Hiến pháp năm 1992 quy định 5 quyền làquyền được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật (Điều 18); quyền được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh (Điều 20); quyền được thành lập doanh nghiệp(Điều20); quyềncủangườisảnxuất được Nhànước bảo hộ quyền lợi (Điều 28) và quyền của người tiêu dùng được Nhà nước bảo hộ quyền lợi (Điều 28). Tại Chương V, Hiến pháp năm 1992 quy định 4 quyền – đólà: quyền lao động (Điều 55); quyền tự do kinh doanh (Điều 57); quyền sở hữu tưnhân đối với tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác và quyền được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu này (Điều 58).
Nhóm các quyền về văn hóa, giáo dục, khoa học- công nghệ, được thể hiện ở4 điều (1 điều của Chương I, 1 điều ở Chương III và 2 điều của Chương V). Điều 5 của Chương 1 quyđịnh một trong những quyền dân tộc cơ bản là kết quả nâng quyền con người lên thành quyền dân tộc cơ bản là quyền của các dân tộc được dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Tại Điều 32, Chương III, Hiến pháp năm 1992 quyđịnh quyềncủacông dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị. Còn lại 6 quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ được quy định tại Chương V, gồm: quyền học tập(Điều 59); quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật (Điều 60); quyền phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất(Điều60); quyền sáng tác văn học, nghệ thuật (Điều 60); quyền phê bình văn học, nghệ thuật (Điều 60); quyền tham gia các hoạt động văn hóa khác (Điều 60).
Nhóm các quyềnvềxãhội,đượcthểhiện trong cácđiềucủaChương V (các Điều 56, 61 – 67), gồm: quyền nghỉ ngơi và quyền được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội của viên chức nhà nước và người lao động làm công ăn lương (Điều 56); quyền được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe (Điều 61); quyền xây dựng nhàở(Điều 62); quyền cho thuê nhà (Điều 62); quyền thuê nhà (Điều 62); quyền của người thuê nhà được Nhà nước bảo hộ (Điều 62); quyền của người có nhà cho thuêđược Nhà nước bảo hộ (Điều 62); quyền bình đẳng nam nữ(Điều63); quyền của lao động nữđược hưởng chế độ thai sản (Điều 63); quyền của nữviên chức nhànước và làm công ăn lương được nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương
(Điều 63); quyền được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình (Điều 64); quyền của trẻ emđược gia đình, Nhà nước, xã hội bảovệ, chăm sóc và giáo dục (Điều 65); quyền củathanh niênđược gia đình, Nhà nước, xã hội tạo điều kiện học tập, lao
động, giải trí,… (Điều 66); quyền của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước (Điều 67); quyền của người và gia đình có công với nước được Nhà nước khen thưởng, chăm sóc (Điều 67); quyền của người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ
(Điều 67). Ở đây cũng có thể tách riêng thành nhóm quyền của một số chủ thể.
Nhóm các quyền của những cá nhân không phải là công dân Việt Nam (các Điều 75, 81 và 82 của Chương V). Đó là quyền của người Việt Nam định cưở nước ngoài được Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng (Điều 75); quyền của người nước ngoài (có thể là công dân nước ngoài hay người không có quốc tịch) đang cư trú ở Việt Nam được Nhà nước Việt Nam bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam (Điều 81) và quyền được Nhà nước Việt Nam xem xét cho cư trú của người nước ngoài đấu tranh vì tựdo và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hòa bình hoặc vì sựnghiệp khoa học mà bịbức hại (Điều 82).
2.2. Quy định phân quyền cũng là đảm bảo quyền con người
Mô hình phân quyền có nguồn gốc từthuyết “tam quyền phân lập”. Thuyết này cho rằng, để tránh hiện tượng lạm quyền thì quyền lực nhà nước phải được chia sẻ thay vì độc quyền. Cha đẻ của thuyết này là John Locke – một nhà triết học người
31
Anh. Học thuyết của ông sauđóđượcphát triển bởi nhà xãhộihọc và tư tưởng chính trị người Pháp là Montesquieu. Trong thực tế, mô hình phân chia quyền lực nhà nước chỉ ra đời khi xuất hiện Nhà nước tưsản[8]. Do đó, quyền lực nhà nước ởđâychính là quyền lực của giai cấp tư sản. Để đảmbảo hài hoà lợi ích giữa các nhóm khác nhau, quyền lực nhà nước cần được chia sẻ cho ba cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước. Quá trình phân chia quyền lực này, khôngcó sựtham gia nào khác ngoài lực lượng nắm quyền trong xã hội. Những người này tự mình phân chia quyền lực và tổ chức thực hiện quyềnlực ấytrên thực tế. Thực chất của việc phân chia này là để tránh hiện tượng lạmquyền và lộng quyền giữa các nhómlợiích khác nhau và hệ quả của nó làngườidân ít nhiều cũngđượchưởng lợitừsựchế ngựquyền lực đó.
Khác với mô hình phân quyền – quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp tư sản, là giai cấpchiếmsố ít trong xã hội, mô hình tập quyền xã hội chủ nghĩa tồn tại trong các Nhà nước mà ở đó chủ thể của quyền lực là đạibộ phận nhân dân laođộng. Nhân dân lập nên các cơ quan nhà nước và trao quyền cho các cơ quan ấy. Trong mô hình này không cósựphân chia quyền lực mang tính đối trọng như trong mô hình phân quyền. Quyền lực nhà nước được cấu thànhtừba quyền: Lập pháp, hành pháp và tư pháp, do đó, cũng sẽ có ít nhất ba loại cơ quan nhà nước tương ứngđược lập ra để thực hiện ba nhóm quyền này. Các cơ quan này có những chức năng và nhiệm vụ nhất định trong việc thực hiện quyền lực nhànước đượcnhân dân trao cho. Với tư cách là người chủ đất nước, chính nhân dân là người lập nên các cơquan nhà nước để thực hiện quyền lực của mình. Nói cách khác, nhân dân chính làchủ thể phân công quyền lực nhà nước. Thông qua hoạt động phân công này sẽ hình thành nên chức năng và nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan nhà nước khác nhau.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM

