Bảo đảm quyền học tập của trẻ em ở Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai. Trẻ em do còn non nớt về thể chất và trí tuệ nêncầnđược chămsóc và bảo vệ đặc biệt. Tuy nhiên không chỉ bảo vệ, chăm sóc trẻ em bằng tình yêu thương mà chúng ta cần phải trang bị cho trẻ em – thế hệ tương lai của đấtnước bằngnềngiáodụctiếnbộvà có hiệu quả. Nhận thức đượcđâylà vấnđề quan trọng vì thế Đảngvà Nhà nước ta trong nhiều nămđã có nhữngđầutư đúnghướngcho giáo dục và quyđịnh vấn đề giáo dục trẻ em trong nhiều văn bản. Đảng ta luôn khẳng định vai tròtrung tâm, đặc biệt quan trọng của giáo dục và đàotạotrong công cuộc Đổi mới đất nước được khởi xướng từ Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI.
Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ VI là Đạihội của Đổi mới. TạiĐạihội này, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mớitoàn diệnđấtnước. Phương hướng cơbản của chính sách kinh tế – xã hội trong Báo cáo chính trị được thông qua tạiĐạihội đã đề ramục tiêu của giáo dục là “hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xãhộichủnghĩacủathế hệtrẻ, đàotạođộingũ laođộngcókỹthuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xãhội”.Đạihộixác định“sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đạihọc vàchuyên nghiệp” phải“trực tiếp góp phần vào việc đổimớicông tác quản lýkinhtế và xã hội. Tổngkếtkinh nghiệm thực hiệncảicách giáo dục, điều chỉnh, nâng cao chấtlượngcủacuộc cải cách này”. Đạihộicũngđã đưa ra yêucầuvề phát triển giáo dục là:“Phát triển có kế hoạch hệ thống giáo dục, từ giáo dục mầmnonđếnđạihọc và trênđạihọc, bảođảmchấtlượngvàhiệu quảđàotạo”;“Kế hoạch phát triển giáo dục phải gắn bóvớikế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở từng địa phương và trong cả nước. Đầu tư đúng mức cho sự nghiệpgiáo dục nhằm trước hết bảo đảm đủsách giáo khoa và cơ
1
sở cần thiết cho dạy và học. Ngoài ngân sách của nhà nước, cần quy định rõsự đóng góp của các ngành và các địa phương, các tổ chức kinh tế, xã hội vàcác gia đình cho sự nghiệp giáo dục”
Như vậy, quanđiểmvề đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạođã đượcĐảng ta đề ra từ Đạihội toàn quốc lần thứ VI. Đây chính là cơ sở, tiềnđề đểĐảng ta ngày càng hoàn thiện hệ thống quan điểm, đồng thờilà cơ sở để Nhànước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển giáo dục và đào tạo. Điềunàyđã được thể hiệncụthể trong các văn kiệnĐạihộiĐảng, các văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và trong các văn kiện của BộChính trị, Ban Bí thư các khóa VII, VIII, IX, X cũng như trong chính sách phát triển giáo dục và đào tạo của nước ta.
BảnHiến phápđầutiêncủanướcViệt Nam DânchủCộng hòa năm 1946 đã ghi nhận sự bảo đảm quyền trẻ em trong lĩnh vực giáo dục, đó là: “Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” (Điều 14), và “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình nhà nước” (Điều 15). Quan điểm nhất quán về chăm lo và bảo đảm quyền trẻ em được thể hiện xuyên suốt trong các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).
Giáo dục trẻ em không chỉ được quy định trong vănkiện đạihội Đảng mà còn được quy định thành luật. Như vậy, giáo dục vừa là quyền của trẻ em, vừa là phương tiện không thể thiếu để thực hiện quyền trẻ em khác, giáo dục làm cho tương lai của trẻ emđược mở rộng. Ngày 26/01/1990 Việt Namđãký Côngước vềquyền trẻ em và phê chuẩn côngước này ngày 20/02/1990 không kèm theo bản lưu nào. Việt Namlà nước đầutiên ở Châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước này. Tháng 9/1990, Việt Nam đã tham gia Hộinghị thượngđỉnhthế giới vì trẻ em và tháng 3/1991đã ký
Tuyênbốthế giới vìsựsống còn, bảovệvà phát triển của trẻem. Việc phêchuẩn Công ước về quyền trẻ em 1989 tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho việc bảo vệquyền trẻ emở ViệtNam, đồng thời cũng đặt ra những nghĩa vụ rằng buộc Việt Nam đối với việc thực thi công ước.
Tuy nhiên, ở Việt Nam việc thực hiện và đảm bảo quyền của trẻ em nói chung cũng như quyền học tập của trẻ em còn nhiều hạn chế, trẻ em ở các vùng niềm khác nhau chưa có sự đồng đều về vấn đề này. Như vậy, đồng nghĩa với việc thực hiện luậtbảođảmquyềnhọctậpcủatrẻem Việt Nam cũng chưađược quan tâm đúng mức. Vì vậy, việc nghiên cứu thực tế pháp luật Việt Namđã là được gì và còn thiếu sót gì để hoàn thiện hơn pháp luật trong nước là điều cần thiết. Chính vì điều này, em xin chọn đề tài: “Bảo đảm quyền học tập của trẻ em ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mụcđíchcủaluận văn nhằm chongườiđọchiểu hơnvềtầmquan trọng của quyền học tập ở trẻ em và thực trạng tình trạng bảo vệ quyền học tậpởtrẻem vềmặtluậtđịnhcũng như thực trạng thực hiện quyền nàyởViệt Nam.Hướngđếnmụcđíchđó,luận văn cũngđềra những nhiệm vụcần phải làm:
– Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền học tập của trẻ em và khẳngđịnh quyền của trẻ em cũng là quyền của con người. Và trẻ em là đối tượng màchúng ta cần phải bảo vệ và chăm sóc nhiều hơn những đối tượng khác.
– Cũng trong luận văn này, tác giả đưa ta một số chuẩn mực quốc tế vềquyền học tập của trẻ em trong công ước quốc tế về quyềntrẻem năm 1989 mà Việt Nam đã là thành viên.
– Từ những chuẩn mực quốc tế như vậy quaytrở lạivớipháp luật Việt Nam hiện hành. Chúng ta đã làmđược gìđể bắtkịpvà học hỏiđược gìtừnhững quy định của luật quốc tế.
– Một nhiệmcụnữa cũng không kém phần quan trọng đó là nghiên cứu thực trạng thực hiện phápluật về bảo đảmquyền học tập của trẻ em hiện nay.
– Trên cơ sở tìm ra các nguyên nhân, luận văn đề xuất các giải phápvềviệc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền học tập của trẻ em Việt Nam.
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận vănđược trình bày trên cơ sởphương pháp của Lý luậnChủnghĩa Mac- LeninvềNhà nước và pháp luật, trênnềntảng quanđiểmcủa Đảng và Nhà nước về con người và sự phát triển con người.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích đối chiếu, phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống và phương pháp so sánh.
5. Những nét mới của luận văn
Phân tích, làm rõ khái niệmtrẻem, quyền trẻ emđểtừđóxác định được chính xác đối tượng nghiên cứu.
Trong luận văn chúng ta sẽ thấy được pháp luật quốc tế quy định thếnàovềquyền giáo dục ởtrẻem và từnhững chuẩn mực ấypháp luật Việt Nam đã học hỏi được những gì.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá luận văn đưa
ra mộtsốkiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Đưa quyđịnhvềquyền trẻem trong lĩnhvựcgiáo dục củaViệt Nam tiếngầnđếnvớichuẩn mực của Quốc tế.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Những giải pháp trình bày trong luận văn cóthểtham khảo và áp dụng trong việc hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền học tập của trẻem trên thực tế.
Ngoài ra, luận văn còn có thể được coi như một công trình chuyên sâu nghiêncứuvềbảođảmquyền học tậpcủa trẻem. Hạnchếlà điềukhông tránh khỏi song luận văn cóthểđược sửdụngđểtham khảo trong quá trình nghiên cứu ở mức độ cần thiết nhất định.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết cấu gồm 2 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền của trẻ em hiện nay
Chương 2: Thực trạng và giải pháp bảo đảm quyền học tập của trẻ emở Việt Nam hiện nay
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BẢO ĐẢM QUYỀN HỌC TẬP
CỦA TRẺ EM
1.1. Quan niệm về trẻ em và quyền trẻ em 1.1.1. Quan niệm về trẻ em
Trẻ em luôn là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm không chỉ của gia đình mà còn của cả xã hội. Không phải quá khó khăn để tìmđược lời lýgiải cho điều này. Tuy nhiên, khi nhìn nhận từ các góc độ khác nhau: Xã hội
học, Tâm lý học, Luật học…, mỗi một góc độ lại đặt ra những yêu cầu khác nhau nhằmđápứng tốt hơn đảmbảocho sự phát triển toàn diệncủa trẻem. Hơn nữa, quan niệm về trẻ em của các quốc gia trên thế giới cũng khác nhau.
Dướigóc độxã hộihọc, trẻem là mộtbộphận của cơ cấuxã hội[7] dựa vào tiêu chí đặc điểm nhân khẩu, kết cấu xã hội được chia thành nam vànữ, người già người trẻ, người lớn trẻ em, trình độ dân trí cao hay thấp. Theo tiêu chí này, kết cấu xã hội được phân chia căn cứ vào giới tính, trình độ văn hóa, mức độ đóng góp cho xã hội.
Dưới góc độ tâmlý học, xác định trẻ em căncứu vào độ tuổi và yếu tốtâm lý trong từng giai đoạn phát triển. Nhìn chung các nhà tâm lý học trẻ em trên thế giới đều thống nhất cách phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ em như sau [11]:
– Giai đoạn từ 1 – 1,5 tuổi: Giai đoạn này trẻ em được đáp ứng nhanh chóngmọinhu cầu, cầnđược chăm sóc thông qua ngườimẹ.Trẻem cảm nhận được và dần dần có niềm tin vào thế giới xung quanh.
– Giai đoạn từ 1,5 – 3 tuổi: Trẻ em bắt đầu biết đi và tự định hướng cho mình, hình thành sự tự chủ, muốn tỏ ra độc lập.
– Giai đoạn từ 3 – 6 tuổi: Trẻ emở độ tuổi nàyhình thành những năng lực làm chủ những sự lựa chọn mới. Tình cảm hồn nhiên dễ yêu dễ giận, đồng thời với khả năng thực hiện phẩm chất tự chủ là một phần của ý thức đứa trẻvề sự hình thành cá tính của nó. Tương ứng với giai đoạn này là sự lựa chọn giữa chủ động sáng tạo và cảm giác có lỗi.
– Giaiđoạntừ6 – 12 tuổi: Giaiđoạnnàytrẻem háohứcsẵnsàng học hỏi nhiều cái mới và đây cũng là độ tuổi trẻ em đến trường. Vì vậy tháiđộ của người lớn, của môi trường giáo dục sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em.
– Giai đoạn từ 13 – 18 tuổi: Đây là giai đoạn chưa thành niên, ý thức vềmìnhbướcđầuđượchình thành. Tôi là ai ? Mìnhsẽlàngườinhưthếnào ? Giaiđoạnnàytrẻemcốgắng khẳngđịnhmình nhưmộtngườiđộc lập, sẵn sàng hành động như người lớn.
Từlâutrẻemđã được coi là mộttrong các nhóm xã hộidễbịtổn thương nhất và được các nhà nước, các cộng đồng quan tâm bảo vệ [5]. Việc phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ em là căn cứ vào sự phát triển của trí tuệ, thể chất và tâm lý để từ đó cha mẹ, nhà trường và xã hội có thể hiểu rõhơn về trẻ em và có các biện pháp giáo dục phù hợp. Vì vậy theo các nhà tâm lý học giaiđoạnkếtthúc của trẻem là tuổi 18. Bởivìđộtuổi nàyđã cósựphát triểnđầyđủvềtrí tuệ, thểchất, tâmhồnvà đãlàmchủđược suy nghĩđưa ra được những hành vi sử xự phù hợp với xã hội, đạo đức và phápluật.
Về phương diện pháp lý, câu hỏi ʺThế nào là trẻ em?ʺ đã được đặt ra, theo truyền thốngtrẻemđược địnhnghĩa nhưmộtsựso sánhphủđịnh:trẻem là nhữngngườichưa trưởng thành.Đólà mộtđịnhnghĩa hàm chứa các yếutốtôn giáo, văn hóa, thểchất, niềm tin và định nghĩa nàyđặtra hai vẫn đề: lúc đầu và khi hết thúc giai đoạn trẻ em để trở thành người trưởng thành.
Vềthờiđiểmbắtđầucủa trẻem, chúng ta thấy trong lời nóiđầucủa tuyên ngônvềquyểntrẻem năm 1959 có quyđịnh:ʺtrẻem còn nonnớtvềthể chất và trí tuệ, cần phải được bảo vệ và chămsóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệthích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đờiʺ. Quy định này đã xácđịnh lúc bắt đầu trẻ em khi còn là bào thai trong bụng mẹ và được bảo vệ vềmặtpháp lý, tuy nhiên Tuyên ngônvềquyền trẻem năm 1959chỉlà một tuyênbốmang tính chất khuyến nghị và theo pháp luật quốc tế, tuyên ngôn không có giá trị ràng buộc với các quốc gia. Vì vậy pháp luật của các quốc gia không bị ràng buộc bởi quy định của Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959.
Theo Công ước về quyền trẻ em năm 1989, trẻ em chính thức có quyền được bảovệtừthờiđiểmsinh ra vớiquyền được đăng ký khai sinh [3]. Quyền khai sinh là quyền đầu tiên để khẳng định mỗi trẻ em là một cá nhân riêng biệt [8]. Như vậy, thời điểm bắt đầu của trẻ em xét về phương diện pháp lý được xácđịnh theo Côngước về quyền trẻem năm 1989 cũng giống nhưquy định của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Sau khi sinh ra, trẻ emđược chăm sóc, nuôi dưỡng và được pháp luật bảo vệ và trong từng giai đoạn phát triển có những thuậtngữtươngứngđược sửdụngvớitrẻem:Trẻsơ sinhđược biểu hiện là nhữngđứatrẻởgiaiđoạnđầutiên sau khi sinh ra và còn non nớt về mọi phương diện; Nhi đồng là trẻ em ở giai đoạn từ 4 đến 10 tuổi; Thiếu niên là trẻemởgiaiđoạntừ10đến14 tuổi [2]. Thuậtngữthiếu niênđược đềcậpđếntrong năm quốc tếcủa trẻnăm 1985;Vịthành niênđược hiểu là nhữngngườidưới18 tuổi, thuậtngữnày nhắc đếntrong Quy tắc tối thiểu của LiênHợpQuốc vềbảovệquyền tựdo khôngbịtước đoạtcủa trẻem vị thành niên. Liên Hợp Quốc đặt trẻ em trong đối tượng bảo vệ của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia với mục đích bảo vệ quyền củatrẻem vàngười chưa thành niên trong cuộc sống bình thường ở gia đình và cộng đồng cũng như quyền củatrẻem khi vi phạm pháp luật. Bởivìtrẻem là những ngườichưa trưởng thành dovậyhọkhôngthểtựmình quyếtđịnhvà hànhđộng một cách tốt nhất.

Vềthờiđiểmkếtthúc giaiđoạntrẻem, vấnđềnày pháp luật của các quốc gia quy định cũng rất khác nhau. Mặc dù trẻ em chưa phát triển đầy đủvề thể chất, trí tuệ và năng lực nhưng theo quy định của pháp luật trẻ embước đầu tham gia một số quan hệ pháp luật. Đa phần pháp luật các quốc gia quyđịnh tuổi 14 là tuổi kết thúc của giáo dục bắt buộc và là giới hạn pháp lý tối thiểu cho việc kết hôn; tuổi 15 là tuổiđược phéptham gia quanhệlaođộng theo quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế. Ở Việt Nam theo quy định của Luật Giáo dục năm 1988 thì tuổikếtthúc của giáo dục bắtbuộc là 14 tuổi; hoặc theo quy định của Bộ Luật Lao động năm 1994 thì tuổi tham gia quan hệlao động của trẻ em là 15 tuổi. Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tếvà quốc gia trẻemđược phép tham giamộtsốquanhệpháp luật nhưngđểtham gia vàotấtcảcác quan hệ pháp luật với tư cách là người trưởng thành thì pháp luật các quốc gia xác định rất khác nhau. Đa số các quốc gia trên thếgiới quy định đủ 18 tuổi là kết thúc giai đoạn trẻ em, có một số quốc gia lại địnhnghĩa trẻem là nhữngngườidưới20 tuổi như Thụy Sỹ. ỞViệt Nam, theo quyđịnhcủa Điều1 LuậtBảovệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻem năm 2004 thì trẻ emđược định nghĩa là nhữngngườidưới 16 tuổi. Sự khác nhauđó được Ủy banvề quyền con người của Liên Hợp Quốc khái quát rằng: pháp luật quốc tế không chỉ ra tuổi mà một người đạt tới sự trưởng thành, điều nàyđược xác định bởi mỗi quốc gia trong sự liên quan với các điều kiện kinh tế, xã hộivà văn hóa. Quanđiểmcủa Ủybanvềquyền conngườiđược cụthểhóa trong Điều 1 của Công ước về quyền trẻ em năm 1989: ʺTrẻ em là những ngườidưới18 tuổi, trừtrườnghợppháp luật áp dụng quy địnhtuổi trưởng thành sớm hơnʺ. Như vậy, định nghĩa trẻ em của Công ước về quyền trẻ em như là một sự khẳng định ngược: kết thúc giai đoạn trẻ em là bắt đầu của tuổi trưởng thành.
Câu hỏi đặt ra: ʺThế nào là trẻ em?ʺ dưới góc độ pháp lý đã được trả lời,
10
đó là những người chưa trưởng thành có thời điểm bắt đầu là khi sinh ra và giaiđoạn kết thúc như theo Điều 1 của Công ước về quyền trẻ em. Chúng ta có thểthấy, dưới góc độ tâm lý hoặc pháp lý thì tuổi 18 vẫn là một hình thức của tiêu chuẩntrẻem [19]. Tuy nhiên,điểmkhác biệt ởchỗ:dướigócđộpháp lý thìviệc tiếp cận trẻ em với tư cách là chủ thể có địa vị pháp lý. Điều đó có nghĩa trẻ em là những người có quyền, có bổn phận và là đối tượng bảo vệ của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Theo pháp luật quốc tế, trẻ em là con người và được hưởngquyền con người. Theo pháp luật quốc gia trẻ em là công dân của quốc gia. Pháp luật quốc gia giới hạn tuổi và xác lập địa vị pháp lý của trẻem là dựa trên điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của từng quốc gia. Cho nên giớihạntuổi vàđịa vịpháp lýcủatrẻemởcác quốc gia khác nhau cũngsẽkhác nhau.Đólà thựctếkhách quanbởiđiềuđóphụthuộc vàođiều kiện và hoàn cảnh của từng quốc gia. Mặc dù khác nhau như vậy nhưng theo pháp luật quốc tế định nghĩa trẻ em vẫn là thống nhất và Điều 1 Công ước vềquyền trẻ em là kết quả của một thỏa thuận quốc tế về trẻ em. Thỏa thuận này là nhântốquyếtđịnhgắnchặt quyền củatrẻem và những bù đắp pháp lý cóthể sử dụng được cho trẻ em với tư cách là một bộ phận của xã hội [16].
1.1.2. Quan niệm về quyền trẻ em
Quyềntrẻemđã được các quốc gia và cộngđồngquốc tếcông nhận thông qua các văn kiện pháp lý quốc tế. Những văn kiện quốc tế có hiệu lực sau khi được một số nước phê chuẩn hay gia nhập (gồm công ước, hiệp ước, nghị định thư). Các quốc gia thành viên chịu sự ràng buộc trách nhiệm pháp lýđốivớicác văn kiện này ngay khithủtục cuối cùng biểu hiệnsựnhất trítuânthủđãhoàn thành [10]. Tuy nhiên việc địnhnghĩa quyền trẻem lại không đơn giản bởi nó được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ tình thương, trẻ em được coi như những chủ thể phải được hưởng tình thương của xã hội, biểu hiện ở những hành động nhân ái, kêu gọi
11
ýthức trách nhiệm và bảovệtrẻem khỏiđóinghèo, bệnh tật. Những hànhđộng này có tác động mạnh đến lòng trắc ẩn của mọi người, nhưng nó chỉ cótác dụng tức thời. Nói cách khác những hành động ấy thường mang tính giaiđoạn không liên tục. Như vậy, theo cách tiếp cận này trẻ emlà chủ thể được hưởng sự ưu ái của xã hội nhưng mang tính chất thụ động và phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn, vào xã hội và trẻ em là chủ thể tiếp nhận. Mặt khác, theo cách này thì những nguyên nhânảnhhưởngtớicuộc sống của trẻem vànhững giải pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ em và những giải phápđểgiải quyết các vấnđềliên quanđếntrẻem khôngđược đềcậpđến. Cách tiếp cận này mang tính đạo đức hơn là tính pháp lý.
Dưới khía cạnh nhân đạo, trẻ em được coi là đối tượng cần phải bảo vệ, đặcbiệt khitrẻem rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm. Quan niệm này khác với quan niệm tình thương là ở tính chất của vấn đề mà nó giải quyết đó là trường hợpkhẩn cấp. Tuy nhiênđiểmgiống nhau là cách thức giải quyếtvấnđề. Trong cả hai quan niệm, các hành động chỉ nhằm chấm dứt tức thời những nỗi đau khổ và nguy cơ trẻ em phải gánh chịu.
Theo tôi, cách tiếpcậnnàychủyếutậptrung vào việc bảovệtrẻem khỏi tình trạng nguy hiểm. Vì vậy nó không phán ánh được đầy đủ đối tượng được hưởngquyền là tất cả trẻ em. Hơn nữa, điểm hạn chế của quan niệm này là ở chỗ: họ không tìm nguyên nhân gây ra nguy hiểm của trẻ em và việc ngăn chặn phòng ngừa. Dođó,quyền trẻemdướihai khía cạnh tình thương vànhân đạo mặc dù rất cần thiết trong cuộc sống của trẻ em nhưng mới chỉ dừng lại ở sự chia sẻ của người lớn đối với trẻ em.
Quan niệm phát triển cho rằngtrẻem phải có các điềukiện thích hợp đểphát triển và trưởng thành, trở thành những công dân có ích, có năng lực như người lớn. So với các quan niệm trên, nét khác biệt và cũng là điểm tích cực của quan niệm phát triển ởchỗ: phảitạođiềukiện, môi trường chosự
12
phát triển của trẻ em. Theo cách tiếp cận của sự sống còn và phát triển, quyền trẻ em bao gồm yếu tố nhân đạo và quan niệm phát triển.
Như vậy, quyền trẻ em được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau vàmỗicách tiếpcậnđềucóyếutốhợplý nhất định. Vớicách tiếpcậntình thương và nhân đạo nó phản ánh giá trị nhân văn của xã hội loài người. Đó làmối quan hệ giữa con người với con người, đó là sự ưu ái của người lớn cho trẻ em bởi vì trẻ emcần phải được bảo vệ. Điều nàyrất cần thiết trong cuộc sống nhưng những quan niệm này không thấy được tính tíchcực của chủ thểcần bảo vệ mà nhìn nhận trẻ em như những chủ thể thụ động.
Vớicách tiếpcậnsống còn và phát triển, tính tíchcựcvàhợplý của quan điểm này thể hiện: trẻ em trước tiên cần có sự sống và sự sống còn của trẻ em là cơ sở để trẻ em phát triển, trưởng thành. Như vậy, quan niệm nàyđãchỉrađượccách thức chosựphát triểncủatrẻem, nhìn nhậntrẻem là chủ thể tích cực trong việc hưởng quyền. Tuy nhiên, điểm hạn chế chính là xem xét quyền trẻ em từ nhu cầu của người lớn và cho sự phát triển của trẻem theo nhu cầu đó.
Theo tôi, trẻ em là nhóm xã hội dễ bị tổn thương do còn non nớt về thểchất, chưa đủ năng lực và cần được bảo vệ. Quan điểm này đã thể hiện thông qua các cách tiếp cận khác nhau. Bởi vì trẻ em không độc lập như người lớn, ít có khả năng và cơ hội để quyết định những vấn đề ảnh hưởng đến họ, nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận vai trò tích cực của trẻ em mà cần phải nhìn nhận năng lực và giá trị của trẻ em trong xã hội.
Vớinhận thức như vậy, dướigóc độpháp lý quốctếviệc nhìn nhận quyền trẻ em còn cần phải xem xét tới bản chất và nội dung của quyền trẻ em.
Quyền con người là yếu tố cấu thành bản chất của con người, điều đó cónghĩa làtấtcảmọingườiđềucó quyền giống nhau. Quyền conngườikhông chỉdành cho người lớn,bởivì quanđiểmquyền trẻem cũng là quyền con
13
người bắt nguồn từ thực tế khách quan rằng: trẻ em cũng là những con người, là thành viên của xã hội và là công dân của quốc gia nên đều có những quyền cơ bản của con người, của công dân. Điều này cũng được thể hiện thông qua tất cảcác văn kiện quốctế vềquyền conngườimàởđóbắt đầubằng câu:ʺMọi
ngườiđềucóquyền….ʺ.Trong pháp luật quốc gia, khiđềcậptớiquyền vànghĩa vụ của các cá nhân thường sử dụng thuật ngữ công dân bao gồm người lớnvàtrẻem. Vì vậy,trẻem cũng phải có quyền như nhữngngườitrưởng thành, phẩm giá vàvịthếcủamộtconngườikhôngchỉ bắt đầukhi ngườiđóđến tuổi trưởng thành mà bắt đầu khi người đó được sinh ra [17].
Tuy nhiên trong giaiđoạnđặc biệt của con người – giaiđoạntuổi thơtrẻ em cần có sự quan tâm, chăm sóc và hỗ trợ đặc biệt. Trong lĩnh vực quyền con người, điềunàyđượchiểu theo nghĩa là việc đảmbảocác quyền con người của trẻ em phải dựa trên các đặc điểm và nhu cầu trẻ em.
– Dotrẻem là công dânđặc biệt nênđặc điểmnổibậtcủaquyền trẻem là bản thân chưa thể hiện và bảo vệ quyền của mình và chủ yếu phụ thuộc vào người lớn. Vì thế gia đình và xã hội phải tạo ra những điều kiện tốt nhất để bảo vệ trẻ em.
– Có những quyền đặc thù chỉ trẻ em mới có như quyền không áp dụng mức án cao nhất hoặc những quyền trẻ em được ưu tiên hơn như quyền được học tập, quyền được bảo vệ đặc biệt. Chính vì vậy quyền của trẻ em được quyđịnh riêng trong các văn kiện quốc tế.
– Trẻ em được hưởng các quyền con người nhưng do trẻ em còn non nớt vềthểchất, trítuệvà nănglựchành vi chưađầyđủnêntrẻem chưađược hưởng một số quyền như người lớn như quyền kết hôn, bầu cử, ứng cử. Sự giới hạn này xuất phát từ đặc trưng khách quan về thể chất và tinh thần của trẻ em nhằmmụcđíchbảođảmsựphát triển toàn diệncủatrẻem cũng nhưsựvận động của toàn xã hội. Đây không phải là sự phân biệt đối xử trên cơ sở độ tuổi.
14
Như vậy, bản chất quyền của trẻ em chính là quyền của con người được cụthểhóa cho phùhợpvớinhu cầu,đặc trưng phát triển và tính chất cuộc sống của trẻ em.
Xét về nội dung, việc xem xét quyền trẻ em gắn liền với bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của từng quốc gia. Mức độ quan tâm đến trẻ em phát triểndầnlên trong lịchsửcho chúng ta thấy rằng quan niệmvềtrẻem gắn chặt với cách thức xã hội nhìn nhận về trẻ em và những kết quả của sự tácđộng đan xen giữa các lực lượng chính trị, kinh tế, xã hội. Quan điểm trẻ em có quyền bắtnguồntừnhận thức:trẻem đóng góp vàosựtáitạoxã hộivềmặt sinh học, tổ chắc và văn hóa. Do đó trẻ em có yêu cầu chính đáng được chia sẻ với người lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống văn hóa- xã hội. Trẻ em là chủ nhân của hiện tại và là những người xây dựng tương lai. Việc ghi nhận quyền trẻ em nhằm bảo đảm cho trẻ em không chỉ là người tiếp thu thụ độngcủa người lớnmà trở thành nhữngchủ thểcủa quyền, cókhảnăng
tạo dựng cuộc sống phù hợp.
Trên cơ sởcác cách tiếpcậnkhác nhau, xuất pháttừbảnchất và nội dung quyền trẻ em được định nghĩa như sau: quyền trẻ em là tất cả những gìcần có để trẻ em được sống và phát triển một cách lành mạnh và an toàn.
Định nghĩa này, theo tôi đã bao quát được các khía cạnh liên quan đến quyền trẻ em, cụ thể là:
Thứnhất, trẻem là nhóm xã hộidễbịtổnthương và đượctấtcảmọi người, cộngđồngxãhộivà pháp luậtbảovệ. Vìvậynhững nguy cơ cóthểảnhhưởngtớitrẻem và giải phápbảođảmthực hiện quyền trẻemsẽđược xem xét, đề cập nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho trẻ.
Thứ hai, trẻ em được gia đình, xã hội chăm sóc, nuôi dưỡng và tạo điều kiệnđểphát triển. Đặc biệtdướigóc độ pháplý thì việc tiếp cậnvớitrẻem phải dựa trên cơ sở quyền của trẻ em.
15
Thứ ba, để bảo đảm quyền trẻ em và trẻ em được sống, phát triển một cách an toàn, lành mạnh luôn cần có một số cơ chế pháp lý trên phương diện quốc tế cũng như ở mỗi quốc gia. Bởi vì quyền trẻ em là một giá trị phổ biến được cộng đồng quốc tế thừa nhận nhưng thực hiện và bảo đảm quyền trẻ em
lại diễn ra ở các quốc gia. Vì vậy cơ chế pháp lý bảo vệ quyền trẻ emở từng quốc gia cũng luôn phải phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của mỗi quốc gia.
1.1.3. Quan niệm về quyền học tập của trẻ em
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác giáo dục vàđào tạo, ngaytừ Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VIII, giáo dục đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Quan điểm, chủchương, đườnglốicủa Đảngvềgiáodụcvà đàotạoluônđược thể hiện nhất quán từ trước đến nay tiếp tục phát triển lên một bước cao hơn. ĐạihộiĐảngtoàn quốclầnthứX tiếp tục khẳngđịnhgiáo dục vàđào
tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện thúc đẩy nguồn lực con người. Điều này ở đại hội Đảng lần thứ XI càng được quan tâm và khẳngđịnhrõ mục tiêutừnayđếnnăm 2020: phát triển kinhtếtri thức trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ [4].
Đểmỗitrẻem–chủnhân tương laicủađấtnước cóđiềukiện phát triển, hơn bao giờ hết, Nhà nước cần phải có chủ trương, chính sách và pháp luật đúngđắn, tích cực tácđộngđếntrẻem, tạođiềukiện chotrẻemđược phát triển vềthểchất và tinh thần. Điều đócó nghĩa là, trong hoạt động của mình, Nhà nước phải luôn quan tâm đến trẻ em, tạo mọi điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện.
Quan tâm đến trẻ em là quan tâm đến những điều kiện vật chất và tinh thần của trẻemởcác vùng miền khác nhau, thuộc các đốitượngkhác nhau trong cả nước, để trẻ em có điều kiện phát triển toàn diện.
16
Giáo dục là một lĩnh vực rộng lớn, bao quát từ những nội dung về mục tiêu, tính chất, nguyên lý giáo dục, hệ thống giáo dục quốc dân, nội dung vàphương pháp giáo dục, chương trình giáo dục đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân, nhiệmvụvà quyền của ngườihọc, quản lý nhànước vềgiáo
dục, trách nhiệm của nhà trường, giáodục và xã hội…
Quyền học tập là quyền tối quan trọng, là loại quyền trong lĩnh vực văn hóa liên quanđến tất cả cácquyền kinh tế, xã hội. Xét theo khía cạnh nào đó,đâycũng là quyền dân sự, chính trị bởi quyền học tập được xem là trung tâmđể thực thi một cách có hiệu quả tất cả những quyền trên.
Hiến pháp 1992 khẳng định: ʺTrẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dụcʺ. Như vậy, trẻ em- những công dân nhỏ tuổi của đất nước- cần phải được hưởng đầy đủ quyền học tập và có nghĩa vụ học tập hết chương trình mà Nhà nước quy định. Theo Khoản 1 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáodụctrẻem năm 2004 thì:ʺTrẻem có quyền đượchọctập.Trẻem học bậc tiểu học trong các cơ sở công lập không phải trả học phíʺ.
Quyền trẻ em trong lĩnh vực học tập ở Việt Nam thể hiện bản chất của chếđộ xã hội chủ nghĩa, trong đó đảm bảo để mọi trẻ em Việt Nam trên mọi vùng niềm khác nhauđềuđượcđốixửbìnhđẳngvềcơhộihọctậpnhất làtrẻem nghèo, trẻ em vùng sâu vùng xa, trẻ em có nhược điểm về thể chất và tinh thần. Liên quan đến chủ trương này Điều 10 Luật Giáo dục năm 2005 đã quy định rõ:
ʺHọctậplà quyền và nghĩavụcủacông dân.Mọicông dân không được phân biệt chủng tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vịxã hội hoặc hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tậpʺ.
Quyền học tập của trẻ em là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến quyền học tập, quyền bình đẳng trong tiếpcậnvớigiáo dục, quyền đượcvui chơi, giải trí và phát triển năng khiếu của trẻ em Việt Nam, thể hiện chủ chương, chính sách, sự quan tâm sâu
17
sắc của Nhà nước đến trẻ em, dành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất mà Nhà nước, gia đình và xã hội có thể làm được.
1.2. Quyền học tập của trẻ em trong pháp luật quốc tế và Việt Nam 1.2.1. Quyền học tập của trẻ em trong pháp luật quốc tế
1.2.1.1. Công ước về quyền trẻ em năm 1989
Năm 1979, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã quyết định là Nămquốc tếthiếu nhi và chấp nhận kiến nghị của Ba Lan về việc soạn thảo một công ước quốc tế riêng về quyền trẻ em nhằm bảo vệ và thúc đẩy một cách có hiệu quảcuộc sốngcủatrẻem trênthếgiới.Mộtnhóm công tácgồmđạidiệncủa43 nướcthành viênỦyban quyền conngườiđứngđầulà luật sưngườiBa Lan Adam Lopatka vàđạidiệncủanhiều cơ quan,tổchức chuyên môn khác của LiênHợpQuốcđượcchỉđịnhsoạn thảo côngước.Việc soạn thảo côngước cũng có sự tham gia tích cực của khoảng 50 tổ chức phi chính phủ trên toàn thếgiới. Sau 10 năm làm việc tích cực với nhiều lần chỉnh sửa, lấy ý kiến đóng góp của các chính phủ, các tổ chức quốc tế, dự thảo Công ước về quyền trẻ emđãhoàn thành và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1989. Ngày 2/9/1990 Công ước có hiệu lực. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Ávà là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em. Đây là Công ước có số lượng quốc gia thành viên lớn nhất trong hệ thống các điều ước quốc tế về quyền con người của Liên Hợp Quốc. Gần 100% trẻ em trên thếgiới thuộc những quốc gia thành viên của Công ước.
Tronghệthốngđiềuước quốctếvềquyền con người, Côngước vềquyền trẻem là văn kiện pháp lýđềcậpriêngđếnquyền conngườicủa trẻem. Công ước đưa ra tập hợp các quyền trẻ em và các bảo đảm cho việc bảo vệ, chăm sóc trẻemmộtcách có hiệu quả. Côngước khôngchỉđềcậpđến quyền trẻ em nói chung mà còn đề cập đến những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: trẻ em tàn tật, trẻ em trong xung đột vũ trang.
18
Là một điều ước quốc tế, Công ước về quyền trẻ em ràng buộc nghĩa vụcủa các quốc gia đã phê chuẩn hoặc gia nhập trong việc thực hiện các quyền trẻ em. Không những thế, nó còn xác lập một cơ chế pháp lý quốc tế để theo dõi, giám sát quá trình thực hiện quyền trẻ em ở các quốc gia. Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng Công ước là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em.
Côngướcvềquyền trẻem tiếpcậnquyền trẻemtừnhữngđặcthùtrongsựphát triểnvềthểchất và tinh thầncủatrẻem. Không những vậy, Côngướccònđềcậpcụthểđếncácyếutố,hoàn cảnh tácđộngđếnviệc bảo đảm quyền trẻ em. Công ước đề cao vai trò của gia đình với ý nghĩa làmôi trường quan trọng nhất chosựsống còn, phát triển và hạnh phúc của trẻem. Côngướcđềcậpđếntácđộngcủatruyền thống văn hóađốivới cuộc sống,sựphát triểncủatrẻem,đồngthời nhấn mạnh vai tròcủahợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.
Quyền trẻ em được làm rõ trong Công ước và lấp đi những lĩnh vực còn trống trong các văn kiện quốctếtrước đóvềquyền trẻem. Đóchính là các yếu tố cơ bản làm cho Công ước trở thành công cụ pháp lý quốc tế quan trọng và hiệu quả nhất trong việc bảo vệ các quyền trẻ em.
Côngước vềquyền trẻem quiđịnhhệthống các quyền trẻem trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Theo cách phân loại truyền thống thì quyền trẻ em cũng bao gồm các quyền: dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, khác với các công ước quốc tế về quyền con người, xuất pháttừđặc thù của trẻem, Côngước hướngvào các lĩnh vực:bảođảmsựsống còncủatrẻem,bảo vệtrẻemvà sựtham gia của trẻ em. Chính vì vậy khi phân nhóm quyền của trẻem, các nhà nghiêncứucũng có những cách nhìn nhận khác nhau. Theo tác giảCarolyn Hamilton, quyền trẻemđược phân thành ba nhóm: quyền sống còn, quyền được bảo vệ và quyền tham gia.
19
Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc cho rằng Công ước quyền trẻ em bao trùm các lĩnh vực rộnglớnvàtổchức này chia quyền trẻem thànhbốnnhóm: quyền sống còn, quyền được bảovệ,quyền phát triển và quyền tham gia. ỞViệt Nam quan điểm của các nhà học giả cũng giống cách phân chia của Qũy Nhi đồng Liên Hợp Quốc [9].
Theo tôi, sởdĩ quyền trẻem không phân chia theo cách truyền thống khi phân chia quyền cònngườilà vì trẻ em cũng là con người và quyền con người đã được quy định. Cho nên Công ước chỉ tập trung quy định các quyền đặc thù cần thiết nhất cho trẻ em. Mặt khác, cuộc sống của trẻ em là một quátrình liên tục chứ không phải là các sự kiện tách rời. Sự phân chia chỉmang tính chất tươngđốivà không chính thức nhưng nó cóýnghĩa trong việc nghiên cứu, vật dụng đặc biệt là hoạt động truyền thông về quyền trẻ em.
Trong lĩnh vực quyền con người nói chung, các quyền dân sự, chính trịphải được thực hiện ngay; các quyền kinh tế- xã hội và văn hóa thực hiện dần dần từng bước tương ứng với sự phát triển của điều kiện kinh tế- xã hội. Trên phương diện pháp luật quốc tế, quyền trẻ em hoàn toàn không phải là vô hạn mà phụ thuộc vào hai yếu tố: Bảo đảm lợi ích công cộng và cân bằng với trìnhđộphát triển kinhtế-xã hội, phong tục tậpquán của các quốc gia. Chính vìvậyCôngướcđòihỏicác quốc gia thành viên có nghĩa vụtôn trọng và bảo đảm thực hiện, đồng thời Công ước cũng xác định giới hạn và cách thức thực hiện. Đối với quyền sống còn phải thực hiện ngay lập tức; các quyền tôn giáo tín ngưỡng cho phép hạn chế nếu cần thiết; các quyền phát triển, chăm sóc y
tế, học tập khuyến khíchđảm bảo tới mức tối đa.
Công ước về quyền trẻ em đánh dấu bước ngoặt lớn trong việc ghi nhận và bảo đảm các quyền của trẻ em. Để hỗ trợ cho Công ước, từ năm 1989 đến nay Liên Hợp Quốc tiếp tục thông qua nhiều văn kiện quốc tế khác về vấn đềnày, trongđócó hai Nghịđịnhthưbổsung Côngước đềuđược thông qua
20
năm 2000, bao gồm: Nghị định thư khôngbắt buộc về sửdụngtrẻem trong các cuộc xung đột vũ trang và nghị định thư không bắt buộc về buôn bán, bóc lột mại dâm trẻ em và văn hóa khiêu dâm trẻ em.
Tóm lại, Côngước vềquyền trẻ emtrởthành hiện thực không phải làvấn đề đơn giản và dễ dàng mà là quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ. Trên thực tếtình trạng vi phạm quyền trẻem cònphổbiến ởnhiều nơi và không phải tất cả mọi trẻ em đều đã được hưởng đầy đủ quyền của mình nhưng nội dung Công ước vẫn là những chuẩn mực quốc tế cho hành động của các quốc gia và là công cụ pháp lý quốc tế quan trọng nhất cho việc thúc đẩy và bảo vệquyền trẻ em [18].
1.2.1.2. Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 – Văn kiện quốc tế cơbản và toàn diện về quyền trẻ em hiện nay
Côngước Liênhợpquốc vềquyền trẻem năm 1989 đánhdấumột bước ngoặt lớn trong việc bảo đảm các quyền của trẻ em, được coi là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em.
So với các văn kiện trước đóđề cập đến vấn đề quyền trẻ em, Công ước có những điểm nổi bật là:
Thứnhất, Côngướcquyền trẻem năm 1989đã bao quátđược tấtcảcác khía cạnhcủaquyền trẻem. Ngoàilờinóiđầu, nộidung của Côngước gồm3 phầnvới54điềukhoản. Đặc biệt trong phần I, bên cạnhđịnhnghĩa, các nguyên tắc chung của việc bảo vệ quyền trẻ em, Công ước còn đề cập các biện pháp bảo vệ đối với trẻ em tị nạn, trẻ em trong khu vực có xung đột quan sự, trẻ em bị bóc lột và trẻ em thuộc dân tộc thiểu số.
Thứ hai, Công ước đã đưa ra một định nghĩa chung về trẻ em mà cóthểáp dụng cho mọi xã hội trên thế giới mà không có sự phânbiệt về bất kỳ yếu tố chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán.
Thứ ba, nếu như các văn kiện pháp lý quốc tế trước đó mới chủ yếu đề
21
cập đến quyền trẻ em ở góc độ quyền con người thì Công ước khẳng định trẻem là những cá nhân có những nhu cầu, lợi ích riêng biệt và đưa ra một tập hợp các quyền củatrẻem trên cơsởkếthợpcảhai nguyên tắc: tôn trọng nhân phẩm, các quyền tự di của con người và nhằm đáp ứng nhu cầu đặc thù của trẻ.
Thứ tư, Công ước còn đề cập đến những nhóm trẻ em có hoàncảnh đặc biệt khó khăn nhưtrẻem tàn tật, trẻembịmấtmôi trường gia đình, trẻem mạidâm, trẻem làm trái pháp luật, đồngthờiđềcậpđếnnhững thách thức hay nhữngvấnđềcấpbách mà trẻem đanggặpphải nhưbịlạmdụng tình dục, bóc lộtlao động, buôn bántrẻem và những biện pháp nhằm xóa bỏnhững thách thức, vấn đề cấp bách này.
Thứnăm, khôngchỉquyđịnhvềcác quyền trẻem, Côngướccònđềcập cụ thể đến những yếu tố, hoàn cảnh tác động đến việc bảo đảm các quyền trẻem. Côngước đềcao vai trò của gia đình với ýnghĩa là môi trườngtựnhiên quan trọng nhất chosựsống còn, phát triển, hạnh phúc của trẻem và quyđịnhrõ trách nhiệm của các quốc gia thông qua các cam kết, thực hiện đầyđủviệc đảmbảochotrẻemđược hưởngcác quyền được sống, được chăm sóc, được bảo vệ, được học tập.
Thứ sáu, với sự ra đời của Công ước, quyền trẻ em đã chuyển sang thời kỳphát triển mới, thayđổicơbảnvềchất: chuyển quyền trẻemtừphạm trùđạođứcsang phạm trù pháp lý- chính trị. Các quốc gia thành viên phải quyđịnhtrong pháp luật mìnhmộtcáchcụthể,đầyđủ,toàn diện và nhất quán những quyền mà trẻ em được hưởng phù hợp với Công ước. Không những thế, Công ước còn xác lập một cơ chế pháp lý để theo dõi, giám sát sự tiến bộ của các quốc gia trong việcđảmbảocác quyền trẻem. Ủybanvềquyền trẻemđược thành lập nhằm xem xét sự tiến bộ mà các quốc gia thành viên đạt được trong việc thực hiện các nghĩa vụ mà họ đã cam kết thông qua các báo cáo định kỳ. Bên cạnh Ủy ban về quyền trẻ em thì các cơ quan chuyên môn, UNICEF và
22
cáctổchức khác thuộc Liên hợp quốc cũng có thẩm quyền giám sát, giúpđỡcác quốc gia thành viên trong quá trình thực hiện Côngước.Cáctổchức phi chính phủ với mạng lưới rộng lớn gồm những văn phòng đại diện ở các quốc gia sẽ tiếp tục những công việc của Ủy ban về quyền trẻ em: cung cấp thông tin bằng văn bản đến Ủy ban về những vấn đề liên quan tới báo cáo quốc gia; hỗtrợ chuyên môn cho các cuộc thảo luận của Ủy ban về quyền trẻ em[15].
Tính đến thời điểm này, Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989 vẫn là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em. Mặc dù vậy,đâykhông phải là văn kiện quốctếduy nhấtvềvấnđềnày.Đểthấy được toàn bộ khuôn khổ pháp lý quốc tế về quyền và bảo vệ quyền trẻ em, cần nghiên cứu nhiều văn kiện khác, trong đó tiêu biểu là hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước về sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang về buôn bán trẻ em, bóc lột và văn hóa phẩm kiêu dâm trẻ em; các công ước vàkhuyến nghị có liên quan của ILO (mà tiêu biểu là Công ước số 138 về tuổi laođộng tối thiểu và Công ước số 182 về xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em
tồi tệ nhất); các tuyên bố hướng dẫn, quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên và một số văn kiện khác.
1.2.1.3. Quyền học tậpcủatrẻem theo Côngước củaLiênhợpquốc năm 1989
Quyền được học tậplầnđầutiênđược đềcậptrong Khoản 1Điều26 Tuyên ngôn toànthếgiớivềquyền conngườinăm 1984, trongđónêu rõ:
ʺMọi người đều cóquyền được học tập. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở các bậc tiểu học và trung học cơ sở. Giáo dục tiều học phải là bắt buộc. Giáo dục kĩ thuật và dạy nghề phải mang tính phổ thông và giáo dục đại học hay cao hơn phải theo nguyêntắccông bằng chobấtcứai cókhảnăngʺ. Khoản 2 Điều nàyđề cập mục tiêugiáo dục và Khoản 3, cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn các hình thức giáo dục cho con.
23
Điều 26 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người sau đó được cụthể hóa trong các Điều 13 và 14 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xãhội1966. Điều13đềcậpđếnquyền được học tậpnói chung, thừa nhận quyền được học tậpcủa mọingười. Điều14cụthểhóa vấnđềquyền phổcậpgiáo dục tiểu học. Theo đó, mỗiquốc gia thành viên Côngước vào lúc trở thành thành viên chưa thể bảo đảm thực hiện được việc giáo dục tiểu học phổcậpvà miễn phí trong phạm vi lãnhthổnước mình hoặc các vùng lãnhthổkhác thuộc quyền tài phán của nước mình, camkếttrong vòng hai năm sẽ lập ra và thông qua kế hoạch hành động chi tiết, nhằm thực hiện từng bước nguyên tắc giáo dục tiểu học phổ cập và miễn phí cho mọi người trong một khoảng thời gian hợp lý đã được ấn định trong kế hoạch đó.
Trong Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989, quyền được học tập của trẻ em được ghi nhận tại các Điều 28, 29. Theo đó các điều này, các quốc gia thành viên phải đảm bảo giáo dục tiểu học là miễn phí, sẵn có và bắt buộc; khuyến khích tổ chức những hình thức giáo dục khác nhau của giáo dục trung học, làm cho những hình thức giáo dục này thuận tiện và đếnvớimọi trẻem; thi hành các biện pháp thíchhợpnhư thực hiện giáo dục không mất tiền và tài trợ trong trường hợp cần thiết.
Các quốc gia thành viên phải có biện pháp thích hợp để phổ biến rộng rãiđếntấtcảtrẻem những thông tin và địnhhướngvềgiáo dục chuyên nghiệp. Cácđiềunày cũng quyđịnhkỷluật nhà trường phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của trẻ em.
Đồng thời Công ước ghi nhận cam kết của các quốc gia thành viên rằng việc học tập của trẻ em phải hướng tới mục tiêu là [13]:
– “Phát triển tối đa nhân cách, tài năng, các khả năng về trí tuệ và thểchất của trẻ em.
– Phát triển sự tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản, tôn trọng những nguyên tắc được ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc.
24
– Phát triển sự tôn trọng đối với cha mẹ trẻ em, tôn trọng bản sắc văn hóa, ngôn ngữ và các giá trị của bản thân trẻ em, tôn trọng những giá trị quốc gia của đất nước mà trẻ em đang sống và của đất nước là nguyên quáncủa trẻem, tôn trọng những nền văn minh khác với nền văn minh của bản thântrẻ đó.
– Chuẩn bị cho trẻ em sống một cuộc sống có trách nhiệm trong xã hội tựdo, theo tinh thần hiểu biết, hòa bình, khoan dung, bìnhđẳngnamnữvàhữunghị giữa các dân tộc, các nhóm chủng tộc, dân tộc, tôn giáo và những người bản địa.
– Phát triển sự tôn trọng đối với môi trường tự nhiên.
Liên quan đến mục tiêu học tập của trẻ em, trong Bình luận chung số 1 thông qua tại phiên họp lần thứ 26 năm 2001, Ủy ban quyền trẻ em cho rằng, do các mục tiêu như vậy, việc học tập đã vượt ra ngoài môi trường nhà trường và phải lấy trẻ em làm trung tâm, nhằm trao quyền cho trẻ em thông qua việc phát triển năng lực kiến thức, nhân phẩm, lòng tự trọng và sự tự tin của trẻ.
Ngoài ra, Công ước còn hướng tới việc xóa bỏ nạn dốt và mù chữ khắp thế giới và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các kiến thức khoa học, kỹ thuật và các phương pháp giảng dạy hiện đại, yêu cầu các quốc gia thành viên phải thúc đẩy và khuyến khích hợp tác quốc tế trong những vấn đề liên quan đến việc học tập của trẻ em.
Công ước đưa ra các quy định nhằm đảm bảo việc học hành của trẻ em như ʺCác quốc gia thành viên công nhận quyền trẻ emđược bảo vệ không bịbóc lột về kinh tế và không phải làm bất kỳ công việc gì nguy hiểm ảnh hưởng đến việc học hành của trẻ emʺ (Điều 32).
Khiđềcậpđếnquyền học tậpcủa trẻem, Côngước cũng dành nội dung quan trọng quy định về quyền học tậpcủa trẻ em khuyết tật. Quyđịnh của Công ước xuất phát từ nhận thức của cộng đồng quốc tế về người khuyết tật. Ngườikhuyếttậtđược coi là nhóm thiểu số lớn nhấtthếgiới và cũng là
25
mộttrong những nhómdễbịtổnthương nhất, vì tình trạng khuyếttậtkhiến họ đã và đang phải chịu những thiệt thòi trên tất cả phương diện của đời sống xã hội, trong đó phải kể đến lĩnh vực học tập. Theo báo cáo của UNESCO vàILO, 90%sốtrẻem khuyết tật ởcác nước đang phát triển khôngđược đến trường, 30% thanh thiếu niên phải kiếm sống trên đường phố là người khuyết tật. Trong số các điều ước quốc tế về quyền con người trước năm 2007, Côngước quốc ế về quyền trẻ em 1989 là công ước duy nhất và đầu tiênđề cập đến việc bảo vệ quyền của trẻ em khuyết tật. Tại Điều 23 Công ước quy định các quốc gia thành viên công nhậntrẻem tàntậtvềtinh thần haythểchấtđược hưởngmộtcuộc sống trọnvẹnvà đầyđủtrong nhữngđiềukiệnđảmbảo phẩm giá, thúc đẩy khả năng tự lực và tạo điều kiện cho trẻ em tham gia tích cực vào cộng đồng. Giống như người bình thường, trẻ em khuyết tật cũng cóquyền được học tập. Xuất phát từ đặc thù của họ, Công ước yêu cầu các quốc gia ʺTrên cơ sở thừa nhận các nhu cầu đặc biệt của trẻ em tàn tật, sự giúp đỡdành cho trẻ em tàn tật phải được cung cấp miễn phí, bất kỳ khi nào có thể, tính đến khả năng tài chính của cha mẹ hay những người khác chăm sóc trẻem tàn tật và sẽ được trù tính sao cho đảm bảo rằng trẻ em tàn tật được tiếp cậnhiệuquảvàđược giáo dục, đàotạoʺ (Khoản 3Điều23 Côngước Liên hợpquốc vềquyền trẻem). Như vậy, theo Côngước, giáo dục vớitrẻem khuyết tật cân trên cơ sở hòa nhập, có những điều chỉnh hợp lý phù hợp với nhu cầu của trẻ em.
Quan điểm về chăm sóc và việc học tập của trẻ em ngày nayđược hiểu nhất quán trong xã hội là phải chăm sóc, học tậpmộtcách toàn diện, không chỉchúýđếnbồidưỡng, truyềnthụkiến thức cho học sinh mà còn phải thường xuyên giáo dục vềđạođức, thểchất, thẩmmỹvà tổchức vui chơi, giải trí để trẻ phát triển toàn diện. Công ước có quy định các quốc gia thành viên công nhận quyền của trẻ em được nghỉ ngơi và tiêu khiển, được tham gia
26
vui chơi và những hoạt động giải trí phù hợp với lứa tuổi, được tự do tham gia các sinh hoạt văn hóa và văn nghệ; phải tôn trọng và thúc đẩy quyền của trẻemđược tham gia đầyđủvào sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật, phải khuyến khích việc dành những cơ hộibìnhđẳng,thíchhợpcho hoạtđộngvăn hóa, nghệ thuật, giải trí và tiêu khiển(Điều31 Côngước của Liênhợpquốc vềquyền trẻ em 1989).
Côngước của Liênhợpquốc vềquyền trẻem 1989được coi là bản tuyên ngôn đầy tính nhân văn về quyền con người. Công ước đã làm rõ khái niệm quyền trẻem, đồngthời soirọivà khỏa lấpnhững lĩnh vực còn trống trong các văn kiện quốc tế trước đó về quyền con người. Có thể thấy, quyền trẻem nói chung và quyền học tậpcủatrẻem nói riêngđã được Côngước quy định một cách rõ ràng, đầy đủ và chi tiết, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ các quyền và hạnh phúc của trẻ em trên thế giới hiện nay.
1.2.2. Quyền học tập của trẻ em trong pháp luật Việt Nam
1.2.2.1. Từ quy định của Công ước Liên hợp quốc năm 1989 đến pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em
Côngước Liênhợpquốcvềquyền trẻem năm 1989 là mộtvăn kiện trong hệ thống điều ước quốc tế về quyền con người, đề cập riêng đến quyền conngườicủa trẻem. Côngước tạora mộtbước ngoặt trong việc bảođảm các quyền trẻ em. Công ước đưa ra tập hợp các nguyên tắc, các quyền trẻ em và các bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ, chăm sóc một cách cóhiệu quả, được phát triển toàn diện. Côngướcđã bao quátđược tấtcảcác khía cạnh của quyền trẻem, bao gồm: quyền sống còn(Điều6); quyền được cóhọtên vàquốc tịch(Điều7); quyền giữgìnbảnsắc(Điều8); quyền khôngbịcách ly khỏi cha mẹ (Điều 9); quyền được đoàn tụ gia đình (Điều 10, 11); quyền tự do phát biểu, tựdo bàytỏýkiến(Điều12, 13); quyền tựdo tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 14); quyền tự do kết giao và tự do hội họp hòa bình
27
(Điều 15); quyền được bảo vệ đời tư (Điều 16); quyền được tiếp cận thông tin (Điều 17); quyền được học tập(Điều 28). Tuy nhiên Công ước nhấn mạnh, dođặc biệt của trẻ em về lứa tuổi, về nhu cầu nên cần phải được chăm sóc, bảo vệ, giúp đỡ đặc biệt. Tính nhân văn sâu sắc của Công ước còn được thể hiện ởchỗCôngướckhôngchỉđềcậpđếnquyền trẻem nói chung mà cònđềcập đến nhóm trẻ em có hoàn cảnh khó khăn như trẻ em tàn tật, trẻ em bị mất môi trường gia đình, trẻ em mại dâm, trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em bị bóc lột.
Công ước tiếp cận quyền trẻ em từ những đặc thù trong sự nghiệp phát triểnvềthểchất và tinh thầncủatrẻ. Trong Côngước, tấtcảcác quyền đều quan trọng, đan xen và bổsung cho nhau. Cuộc sống của trẻ em là mộttiến trình liêntụcchứkhông phải là sựkiện tách rời. Chính vì vậy, các nhóm quyền này có quan hệ gắn bó với nhau, việc phân chia các quyền trẻ em thành những nhóm quyền chỉmang tính chấtdễhiểu, dễnhớmà thôi. Theo Côngước,quyền trẻ em được phân chia theo bốn nhóm cơ bản sau:
– Nhóm quyền được sống còn (các Điều 5, 6, 24, 26, 27). Do trẻ em là những cá thể non nớt cả về thể chất lẫn tinh thần, không thể tự sản xuất ra của cải, vật chất để nuôi sống bản thân, nên trong Công ước, khái niệm ʺbảo đảm sựsống cònʺ của trẻemđược mởrộng khôngchỉbaogồmviệc bảođảm khôngbịtướcđoạtvềtính mạng mà còn baogồmviệc bảođảmchotrẻemđược cungcấpchất dinhdưỡngvà sựchăm sóc sức khỏe và ytếởmức độcao nhất. Tấtcảmcác quyền trẻ em nào liên quan đến vấn đề này đều thuộc phạm vi nhóm quyền được sống còn của trẻ em. Nghĩa vụ của các quốc gia làphải đảm bảo cho sự sống còn và phát triển của trẻ em ở mức độ cao nhất.
– Nhóm quyền được bảo vệ (các Điều 2, 7, 8, 9, 10, 11, 16, 19, 20, 21, 22, 23, 25, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40). Khái niệm bảo vệ trẻ em không dừng lại ở việc ngăn ngừa những sự xâm hại về thể chất, tinh thần với trẻ màcòn bao gồm cả việc ngăn ngừa và khắc phục những điều kiện bất lợi đối với
28
cuộc sống của trẻem. Theo Côngước quốc tếvềquyền trẻem 1989, nhóm quyền này bao gồm các quyền của trẻ em được bảo vệ khỏi hình thức bóc lột, lạmdụng, sao nhãng, bỏmặc khỏisựphân biệtđốixửvàbảovệtrong các trườnghợpđặc biệt nhưbịmấtmôi trường gia đình, trong các hoàn cảnh
chiến tranh, thiên tai…
– Nhóm quyền được phát triển (các Điều 17, 18, 28, 29, 31, 32). Côngước đưa ra mộtcách nhìn nhận toàn diệnvềsự phát triểncủa trẻem, không chỉ về thể chất mà còn về trí tuệ, tình cảm, đạo đức và xã hội. Tất cả những quyền của trẻem tác độngđếnquá trình nàyđược coi là thuộc nhóm quyền phát triển. Nhìn chung, nhóm quyền này thể hiện ở ba khía cạnh chính: cung cấp chất dinh dưỡng (phát triển về thể chất), giáo dục (phát triển về trí tuệ) và
cung cấp các điều kiện vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật… (phát triển về tinh thần).
– Nhóm quyền được tham gia (các Điều 12, 13, 14, 15, 17, 30). Côngước của Liênhợpquốc 1989 quy định, nhóm quyền này baogồmtấtcảcác quyền giúp trẻ em có thể biểu đạt (dưới mọi hình thức), những ý kiến của bản thân các vấnđềliên quanđếncuộc sống của trẻ. Có ba yêucầutrong việc thực hiện nhóm quyền này là: giúp trẻ có điều kiện tiếp nhận thông tin; giúp trẻđược biểu đạt ýkiến, quanđiểm;tôn trọng lắng nghe và xem xétýkiến, quanđiểm của trẻ.
Tìm hiểunộidung các quyđịnhcủaCôngướcvềquyền trẻ em bên cạnh việc tiếpcậntheo bốn nhóm quyền như trêncủatrẻem, còn có cách tiếpcậnkhi quan niệm quyền trẻem cũng là quyền conngườitheo các nhóm quyền con người. Quyền trẻem chính là quyền con người, nên các quyền conngườicủatrẻem củatrẻem mang tính phổ quát và cóthểchia thành 4 nhóm như sau:
– Thứ nhất: các quyền dân sự, chính trị bao gồm các quyền có họ tên,
29
quốc tịch; quyền tự do biểu đạt và lập hội, bảo vệ khỏi sự hành hạ và ngược đãihay những quy định đặc biệt về sự bảo vệ, can thiệp của Nhà nước trong những tình huống và điều kiện mà theo đó trẻ em cóthể bị tước đoạt tự do, bị
tách khỏi bố mẹ….
– Thứhai: các quyền kinhtếbaogồmquyền được hưởngan sinh xãhội, quyền có một mức sống thỏa đáng cho sự phát triển về thể chất, tinh thần
và được bảo vệ khỏi sự bóc lột lao động….
– Thứ ba: các quyền xã hội bao gồm quyền được hưởng tiêu chuẩn tốt nhất về chăm sóc sức khỏe, quyền được chăm sóc đặc biệt trong trường hợp bịkhuyết tật, quyền được bảovệkhỏimọisựbóclộtvàlạmdụng tình dục,
quyền được nhận làm con nuôi….
– Thứtư: các quyền văn hóa baogồmquyền được học tập, thu nhận thông tintừcác nguồn khác nhau, quyền được nghỉ ngơi và giải trí, quyền
tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật….
Công ước còn có các quy định ràng buộc nghĩa vụ của các quốc gia đãphê chuẩn hoặc gia nhập trong việc thực hiện các quyền trẻem, nhấn mạnh rằng: Nhànước phảisửdụngmộtcáchtốiđa các nguồn lực sẵncóđểbảo đảm cácquyền kinh tế, xã hội, văn hóa của trẻ em. Khi cần thiết, các quốc gia có thể yêu cầu sự trợ giúp quốc tế để bảo đảm các quyền của trẻ em.
Để quyền trẻ em được thực hiện có hiệu quả, một cơ chế pháp lý quốc tế để theo dõi, giám sát quá trình thực hiện quyền trẻ em của các quốc gia đãđược thành lập theo Điều 43 Công ước, đó là Ủy ban về quyền trẻ em. Ủy ban này có chức năng theo dõi sự tiến bộ của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện Công ước. Ủy ban có ba nhiệm vụ chính: Xem xét các báo cáo định kỳ do các quốc gia thành viên đệ trình lên về việc thực hiện Công ước; Đưa ra những khuyến nghịvớicác quốc gia thành viên trong việc thực hiện Côngước; Chuyển tới Quỹ Nhi đồng của Liên hợp quốc.
30
Là dân tộc luôn đấu tranh tích cực cho việc thực hiện quyền con người ở từng quốc gia và ở phạm vi toàn thế giới, Việt Nam nhận thức sâu sắc giá trịnhân văn to lớn của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Chính vì vậy mà Việt Namđã tích cực hưởngứngtrong việc soạn thảo, kýkếtvà phêchuẩn Công ước. Trong quá trình soạn thảo Công ước, các quy định pháp luật tiếnbộcủa Việt Namvềquyền trẻ emđược quyđịnhtrong Hiến pháp cũng như trong Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ năm 1979 được chính phủ, các cơ quan nhà nước và đặc biệt là ủy ban quốc tế thiếu nhi Việt Nam chuyểntảiđóng góp cho Liênhợpquốc. Việt Nam là nước thứhai trênthếgiới và là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn công ước, vào ngày 20/2/1990.
Vớitư cách là mộtnước thành viên thực hiện camkếtcủa mình, Việt Namđã nhanh chóng triển khai hàng loạt hànhđộngcụthể, phong phúđểCôngước đi vàođờisống xã hộicủa đấtnước như: Tuyên truyềnphổbiến Công ước trong nhân dân một cách rộng rãi thông qua các tài liệu, sách báo, phương tiện thông tinđạichúng; xây dựng chương trình hànhđộngđểthực hiện Côngước như chương trình hànhđộngquốc gia vìtrẻem giaiđoạn 1991- 2000, Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010, Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người giai đoạn 2003- 2015; lồng ghép những nội dung cần thực hiện của Công ước vào các chương trình, chính sách xã hội của Nhà nước. Điềuquan trọng nhất là Nhà nước Việt Namđã xây dựng và ban hànhmộthệthống pháp luậtđồngbộđểthực hiện Côngước,làm cho nội dung cụ thể của nó có vị trí xứng đáng đối với pháp luật quốc gia, để quyền của trẻ em nhất là quyền học tập của trẻ em ngày được quan tâm và thực hiện tốthơn. Ngay sau khi Việt Nam phê chuẩn Côngước ngày 20/2/1990 Nhànước đã ban hành, sửa đổi nhiều đạo luật để đảm bảo thực hiện các quyền trẻem ở Việt Nam. Cụ thể là:
31
– Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; – Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991;
– Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);
– BộLuật laođộngnăm 2012 trongđóquyđịnhvềtuổi laođộngtối thiểu và nghiêm cấm lao động trẻ em;
– BộLuậttốtụng hìnhsựnăm 2003 trongđóquyđịnhvềthủtục tốtụng đặcbiệt đốivớingười bịhại, người bịbắt,bị tạmgiữ, bịcan, bị cáo làngười chưa thành niên;
– Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 với những quy định nhằmbảo vệquyền lợi hợp pháp của phụ nữ và trẻ em;
– Các văn bản luật và dưới luật khác.
Quyềntrẻem theo pháp luật Việt Nam baogồmcác quyền dân sự, chính trị, giáo dục, văn hóa, xã hội, được xây dựng trên cơ sở phù hợp với các quyền của trẻ em trong Công ước quốc tế của Liên hợp quốc, có tính đến tình hình kinhtế-xã hội,đặcđiểmvăn hóa, truyền thống và phongtụctậpquán của dân tộc Việt Nam, theo đó trẻ em Việt Namcũng được hưởng đầy đủ các nhóm quyền là quyền sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển vàquyền được tham gia. Việt Namđã cụthểhóa các nhóm quyền của trẻemđược quy định trong Công ước bằng 10 quyền cơ bản của trẻ trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 gồm: quyền được khai sinh và cóquốc tịch; quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng; quyền được chung sống với cha mẹ; quyền chăm sóc sức khỏe; quyền được học tập; quyền được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, văn nghệ; quyền có tài sản; quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội.
Khi nóiđếnquyền trẻem trong pháp luật Việt Nam khôngthểkhông nói đến bổn phân của trẻ em. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm
32
2004 quy định về quyền gắn với bổn phân trẻ em là sự phát triển độc đáo giátrị văn hóa Việt Nam trong việc thực hiện Công ước. Các quyền và bổn phận này được hình thành trên cơ sở của mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, trong đó Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và bảo đảm thực hiện quyền trẻem và ngược lại trẻ em có quyền thụ hưởng các quyền do Nhà nước trao cho,đồng thời phải thực hiện các bổn phận của mình theo quy định của pháp luật.
Để thực hiện các quyền trẻ em một cách có hiệu quả, theo tinh thần của Côngước, pháp luật Việt Nam quyđịnhrõ ràng trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Gia đình có nghĩa vụtrước tiên trong việc thực hiện các quyền nàycủatrẻemđược sinh ra vàđược nuôidạytrong môi trường gia đình. Do vậy, các thành viên trong gia đìnhđều phảicó trách nhiệm chăm sóc cho các em nhữngđiều tốt đẹp, đạo nghĩa, giáo dục các em biết quan tâm, tôn trọng cuộc sống của những người khác trong gia đình và cộng đồng.
Song song đó, Nhà nước và xã hội có nghĩa vụ làm tất cả những gì cóthể để bảo đảm sự tồn tại của trẻ em. Việt Nam đã xây dựng một bộ máy các cơ quannhà nước đểđảmbảoviệc thực hiện quyền trẻ em. Quốc hội với tưcách là cơ quanlậppháp ban hành luật nhằm cây dựngmộtkhung pháp lý, khởi động cho cơ chế thực hiện quyền trẻ em, đồng thời giám sát toàn bộ quátrình thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật có liên quanđến trẻem. Chính phủ và các bộ ban ngành có trách nhiệm thực thi các quy định của pháp luật về quyền trẻ em cũng như các chính sách liên quan đến quyền trẻ em. Ủy ban có nhiệmvụtrình Chínhphủcác dự ánLuật, pháp lệnh và vănbảnquy phạm pháp luật khác, các chiến lược và các chương trình về dân số, gia đình và trẻ em; tổ chức, chỉ đạo thực hiện pháp luật và các chương trình thuộc lĩnh vực chuyện môn của ủy ban; thanh tra, kiểm tra, giải quyết các khiếu nại, tốcáo và xử lý vi phạm pháp luật về dân số, gia đình và trẻ em. Bên cạnh đó còn
33
có Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam, đây là một cơ quan trực thuộc Ủy ban dân số, gia đình và trẻ em được thành lập với mục đích đẩy mạnh xã hội hóa vấn đề bảovệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Quỹđã góp phần tích cực vào việc thực hiện quyền trẻemởViệt nam, đặc biệthướngđếncác trẻem có hoàn cảnh khó khăn, trẻem ởvùng sâu, vùng xa. Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm bảo vệ trẻ em khi trẻ em vi phạm pháp luật và xử lý các hành vi xâm hại đến quyền trẻ em.
Hiện nay, do sự tinh giảm cán bộ Nhà nước, Ủy ban dân số, gia đình vàtrẻem Việt Nam không còntồntại. Tuy vậy, công tác bảovệ, chăm sóc trẻemvẫnđược sựquan tâmđặc biệt của Nhà nước và BộLaođộng-Thương binh và Xã hội là cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về công tác này.
Ngoài các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cũng có trách nhiệm trong việc thực hiện quyền trẻ em. Mặt trậntổquốc Việt Namđã thực hiệnrấttốtviệc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về quyền trẻ em; tham gia và giám sát việc thực hiện pháp luật liên quanđếntrẻem; đưa ra các kiến nghịđốivớicác cơ quan nhànước và góp phần ngăn ngừa các hành vi xâm hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là một đoàn thể quần chúng với chức năng chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em. Vì vậy, tham gia thực hiện quyền trẻ em là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Hội. Đoàn thanh niên cộngsảnHồChí Minh có trách nhiệmtổchức, hướngdẫnhoạt độngcủathiếu niên, nhiđồng,phụtráchĐộithiếu niên tiền phongHồChíMinh. Ngoài ra, nhiều tổ chức xã hội khác cũng đóng vai trò rất to lớn trong việc thực hiện quyền trẻem nhưHộichữthậpđỏ, Hội khuyến học, Hộibảo
trợ trẻ em, Hội người tàntật,…
Chính quyền địa phương có trách nhiệm triển khai thực hiện quyền trẻ
34
em và các chương trình dành chotrẻem. Đặc biệt, chính quyền địa phương phải có trách nhiệm trong việc đăng ký khai sinh cho trẻ, trách nhiệm với trẻem không có nơi nương tựa, đảm bảo các điều kiện cho trẻ em được vui chơi, giải trí, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao.
Như vậy, về mặt pháp lý cũng như trên thực tế, toàn xã hội Việt Nam cùng tham gia vào việc bảo vệ và thực hiện quyền trẻ em. Không những thế, thực hiện quyền trẻ em ở Việt Namcòn được hỗ trợ rất lớn từ cộng đồng quốc tế, các quốc gia, các tổ chức quốc tế liên chính phủ cũng như phi chính phủ. Sựgiúpđỡkhôngchỉđơnthuần là sựhỗtrợvềtài chính, kỹthuật mà quan trọng hơn là nhằm nâng cao nhận thức của xã hội, của người dân và chính trẻem về quyền trẻ em cũng như giá trị của họ.
Kể từ khi phê chuẩn Công ước, trong hơn 20 năm qua, hàng chục triệu trẻ em Việt Nam đã được lớn lên, hàng trăm tổ chức xã hội đã được phát triển cùngvớiCôngước.Sau Côngước này, hệthống pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ và chăm sóc trẻ em ngày càng được hoàn thiện,
tạora những thayđổivềnhận thức, hànhđộngđểgiải quyết các vấnđềtrẻem. Từ đó, chất lượng cuộc sống của trẻ em được cải thiện đáng kể, quan hệcủa trẻ em với gia đình, với Nhà nước và xã hội có chiều hướng tích cực hơn, bắt đầu có cơ chế để lắng nghe tiếng nói của trẻ em.
Tóm lại, Việt Nam đã cây dựng được một khung pháp lý bảo vệ quyền trẻem.Vềcơ bản, các quyđịnhvềbảovệquyền trẻem trong các văn bản pháp luật Việt Nam đều phù hợp với các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989.
1.2.2.2. Hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền học tập của trẻ em
Đối với nước ta, sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ emđược xácđịnhlà trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của mọi công dân và gia đình. Từcác quyđịnhcủa Hiến pháp, pháp luậtnước ta đã
35
thể chế hóa quyền trẻ em trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, tạothànhmộthệthống các vănbảnpháp luậtvềquyền trẻem trongđócóquyền học tập của trẻ em.
Tổ chức đầu tiên của trẻ em được thành lập vào ngày 15/5/1941 (nay làĐộithiếu niên tiền phongHồChí Minh). Tháng 5/1961, Ủyban thiếu niên nhiđồngViệt Namđược thành lập. Tháng 9/1972, Ủyban thườngvụQuốc hội đã phát động phong trào bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo khẩu hiệu: ʺTất cả vì tương lai con em chúng taʺ. Năm 1979, để phối hợp với Ủy ban năm quốc tếtrẻem của Liênhợpquốc, Ủyban năm Quốc tếthiếu nhi Việt Nam được thành lập và Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp
lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Hiến phápđầutiên của nướcta năm 1946đãquyđịnh:ʺTrẻemđược
quyền săn sóc, giáo dưỡngʺ (Điều 14), thực hiện ʺ…nền sơ học cưỡng bách
và không học phí…Học sinh nghèo được Chính phủ giúp…ʺ (Điều 15). Những nguyên tắc hiếnđịnhmangđậmtinh thần vìtrẻemđótiếp tục được khẳngđịnhvà phát triển trong các Hiến pháp sau này (năm 1959, 1980, 1992). Từ quy định của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam đã thể chế hóa quyền của trẻ em trong nhiều văn bản quy pháp pháp luật khác nhau, tạo thành một hệ thống các văn bản pháp luật về quyền trẻ em [1].
Ngày 26/1/1990 Việt Namđã ký Côngước vềquyền trẻem và phêchuẩn vào ngày 20/2/1990 (không có bảo lưu nào). Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước.
Ngay sau khi phê chuẩn công ước, Nhà nước Việt Nam đã ban hành haiđạo luật quan trọng là Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em và Luật Phổcậpgiáo dục tiểu học (cùng vào năm 1991), Luật Giáo dục năm 2005, đồng thờisửađổi,bổsung nhiều vănbảnkhác nhau nhằmnộiluật hóa nộidung của công ước và hệ thống pháp luật quốc gia. Ngoài ra, các cơ quan nhà nước
36
còn ban hành một số văn bản pháp luật quan trọng như: Nghị định số75/2006/NĐ-CP ngày 02/08/2006 của Chínhphủquyđịnhchi tiết và hướng dẫnthi hànhmộtsốđiềucủa Luật Giáo dục; Nghịđịnhsố88/2001/NĐ- CP ngày 22/11/2001củaChính phủ về thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơsở; Nghị định số 61/2006/NĐ- CP ngày 20/6/2006 về chính sách với nhà giáo, các bộquản lý giáo dục công tác ởtrường chuyên biệt, ởvùng cóđiềukiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Thêm vào đó, nhà nước còn xây dựng và tổchức thực hiện các chương trình hành động quốc gia vì trẻ em trong mỗi giaiđoạn 10 năm, hiện đã hoàn hành chương trình Hành động Quốc gia vì trẻ em giaiđoạn1991- 2000; Chiếnlược giáo dục 2001- 2010 và Kếhoạch hànhđộng quốc gia giáo dục cho mọi người gia đoạn 2003- 2015; Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, dự án nhằm mục tiêu là đến năm 2010, tấtcảtrẻem trongđộtuổi tiểu học đềuđược đếntrường;cảithiện cơhội tiếp cận với trường tiểu học và nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn cũng như lồng ghép vấn đề giáo dục trẻ em vào nhiều chương trình kinhtế,văn hóa, xãhộikhác của đấtnước nhằmbảođảmcho trẻemđược họctậpmộtcách toàn diện. Hiện tại, hệthống pháp luật Việt Nam có liên quanđếnquyền trẻem baogồmhàng trăm vănbảnpháp luật, trong đó nòng cốt là Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004.
1.2.2.3. Quyền học tập của trẻ em Việt Nam
Điều59 Hiến pháp 1992 quyđịnh:ʺHọctậplà quyền và nghĩavụcủa công dân. Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí. Công dân có quyền học văn hóa và học nghề bằng nhiều hình thức. Học sinh có năng khiếuđượcNhànướcvà xãhộitạođiềukiệnhọctậpđểphát triển tài năng. Nhà nước có chích sách học phí, học bổng. Nhànướcvà xã hội tạo điềukiện chotrẻem có hoàn cảnhđặcbiệt khó khăn khácđượchọcvăn hóa và học nghề phù hợpʺ.
37
Quy định trên của Hiến pháp được cụ thể hóa trong Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991, Luật Giáo dục năm 2005 và Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004.
Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 xác định giáodục tiểu học ởViệt Nam là phổ biến, bắt buộc và miễn phí. Phổ cập giáo dục tiểu học vừa làquyền, vừa là nghĩa vụ của trẻ em. Điều 1 Luật Phổ cập giáo dục tiểu học xácđịnh rõ: ʺNhà nước thực hiện chính sách phổ cập giáo dục tiều học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 5 đối với tất cả các trẻ em Việt nam trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổiʺ. Như vậy, mọi trẻ em trong độ tuổi quy định đều có quyền và có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Ngoài ra, Khoản 3 Điều 6 Luật này còn quyđịnh:ʺTrẻem cókhảnăng phát triểnđặc biệt thìđược lớp1 trước 6 tuổi hoặc học vượt lớpʺ nhằm tạo điều kiện bồi dưỡng cho những học sinh có năng khiếu được phát triển tài năng.
Bên cạnh những quyđịnhcho các trườnghợpchung, LuậtPhổcập giáodụctiểuhọccòn quyđịnhcác trườnghợpđiềukiệnbảođảmquyền được phổ cập giáo dụctiểu học cho các trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt.Trẻem vì lý do sức khỏe, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn đặc biệt hoặc ở vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng hải đảo và vùng cókhó khăn có thể được phổ cập giáo dục tiểu học ở độ tuổi lớn hơn (Điều 6 và Điều 8). Nhà nước và xã hội có trách nhiệm quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện cần thiết để trẻ em là con liệt sĩ, thương binh nặng, trẻ em tàn tật, trẻem mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt đạt được trình độ giáo dục tiểu học.
Vớiquyết tâm lớn, ngaytừbanđầuNhà nước ta đã có các bước đi, biện pháp cần thiết để phổ cập giáo dục tiểu học đi vào đời sống của toàn xã hội, trongđóʺNhànước dành ngân sách chính đángđểthực hiệnphổcập giáo dục tiểu học. Nhànước có chính sáchđộngviên các nguồn tài chính
38
khác trong xã hội, lậpquỹgiáo dục quốc gia, nhằmhỗtrợkinh phí chosựnghiệp phổ cập giáo dục tiểu họcʺ (Điều 5, Luật phổ cập giáo dục tiểu học). Pháp luật Việt Nam cũng có nhiều quy định cụ thể nhằm bảo đảm quyền được giáo dục tiều học miễn phí cho trẻ em Việt Nam. Khoản 2 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 xác định rõ: ʺTrẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải đóng học phíʺ.
Ngoài giáo dục tiểu học còn có các bậc khác mà trẻ em cũng có quyền tiếpcậnnhư giáodụcmầmnon, giáodụcphổthông.Điều28 LuậtBảovệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 nêu rõ: ʺCơ sở giáo dục mầm non và cơ sởgiáo dục phổ thông phải có điều kiện cần thiết về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiếtbịdạyhọcđểbảođảmchấtlượnggiáodụcʺ.ʺNhànướccó chính sách phát triển giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, trợ cấp xã hội để thực hiện công bằng xã hội trong giáo dụcʺ.Trẻemtạicơsởgiáodụcmầmnon có quyền đượcchăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo mục tiêu, kế hoạch giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục vàĐàotạo;đượcchăm sócsứckhỏe banđầu,đượckhám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập; được giảm phí đối với các dịch vụ vui chơi, giải trí công cộng (Điều 84 Luật Giáo dục năm 2005).
Điều 11 Luật Giáo dục năm 2005 quy định, cùng với giáo dục tiểu học, giáo dục trunghọccơ sởlà cấphọcphổcập, nhà nướcquyếtđịnhkếhoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cảnước. Thực hiệnchủtrươngcủaĐảngvà Nghị quyếtcủaQuốc hộisố41/QH10 ngày 9/12/2000vềthực hiệnphổcậpgiáo dục trung học cơ sở, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/CP ngày 22/11/2001 về thực hiện phổcập giáo dục trung học cơ sở, theo đó, đối tượng phổ cập giáo dục trung học cơ sởlà thanh niên, thiếu niên Việt Nam trong độ tuổi từ 11 đến 18 tuổi, đã
tốtnghiệp tiểu học, chưa tốtnghiệp trung học cơ sở. Mục tiêuphổcậpgiáo
39
dục trung học cơ sở là bảo đảm cho hầu hết thanh niên, thiếu niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình độ trung học cơ sở trước khi hết 18 tuổi, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Học tập để đạt trình độ phổ cập trung học cơ sở là quyền và nghĩa vụ của công dân nói chung và của trẻ em nói riêng.
Pháp luật nước ta nghiêm cấm hành vi cản trở việc học tập của trẻ em.Điều 10 Nghị định số 36/2005/NĐ- CP ngày 17/03/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quyđịnh các hành vi bị coi là cản trở việc học tập của trẻ em bao gồm: (1) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng vật chất, uy quyền để ép buộc trẻ em phải bỏ học, nghỉ học; (2) Dụ dỗ, lôi kéo trẻ em bỏ học, nghỉ học; (3) Bắt trẻembỏhọc, nghỉhọcđểgây áp lực, khiếu kiện, biểu tình trái pháp luật; (4) Phá hoại cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập, giảng dạy trong các cơ sở giáo dục; (5) Cố tình không thực hiện nghĩa vụ đóng góp theo quy định, không bảo đảm thời gian, điều kiện học tập của trẻ em.
Bên cạnh việc quyđịnhtrực tiếp quyền được học tậpcủa trẻem, các văn bản pháp luật của Việt Nam cũng chú ý đến việc quy định các chính sáchđểbảovệquyền đó, nhất là trách nhiệm, nghĩa vụcủa gia đình, nhà trường, các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội. Hiến pháp năm 1992 đã đề cao trách nhiệm của gia đình, cha mẹtrong việc giáodụccon cái: ʺChamẹcótrách nhiệm nuôi dạy con cái thành những công dân tốtʺ (Điều 64). Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng nêu rõ: cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ vàđạo đức. Trong bậc tiểu học, Điều 18 Luật phổ cập giáo dục tiểu học quy định trách nhiệm của cha mẹ, người đỡ đầu của trẻ em là ghi tên cho con hoặc cho trẻ en được đỡ đầu đi học tại trường, lớp tiểu học trên đại bàn cư trú nơi thuận tiện nhất, tạo điều kiện để con hoặc trẻ em được đỡ đầu hoàn thành giáo dục
40
tiểu học, kết hợp với nhà trường, tổ chức xã hội trong việc giáo dục con hoặc trẻ emđược đỡ đầu, thực hiện giáodục gia đình theo những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tương tự, ở các bậc học khác, cha mẹ, người giám hộ cũng có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, tạođiềukiện cho con em hoặc người được giámhộ được học tập, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nhà trường (Điều 94 Luật Giáo dục năm 2005)
Như vậy, trách nhiệm giáo dục trẻ em trước tiên thuộc về gia đình, cha mẹ nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm của Nhà nước, nhà trường, cáccơ sởgiáo dục và cá nhân. Điều 28 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: ʺGia đình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; học hết chương trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻem thực hiện quyền học tập; hoặchếtchương trình giáo trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn. Nhà trường vàcác cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm thực hiện giáo dục toàn diện về đạo đức, tri thức, thẩm mỹ, thể chất, giáo dục lao động hướng nghiệp cho trẻ em; chủđộngphốihợpchặtchẽvớigia đình và xã hội trong việc bảovệ, chăm sóc và giáo dục trẻ emʺ. Đối với nhà trường, trách nhiệm chung của chủ thểnàyđược quyđịnhtạiĐiều93 Luật Giáo dục năm 2005 là ʺchủđộngphối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dụcʺ.
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định rõ cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức chính trị- xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xãhội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân vàcông dân có trách nhiệm giúp nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục vànghiêncứukhoa học; góp phần xây dựng phong tràohọctậpvà môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn nhữnghoạt độngcóảnh hưởngxấu đến thanh niên, thiếu niên và nhiđồng; tạo điềukiện để ngườihọc được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao lành mạnh; hỗ trợ về tài lực, vật lực
41
cho sự nghiệp phát triển giáo dục theo khả năng của mình (Điều 97 Luật Giáo dục năm 2005).
1.3. Các thiết chế bảo vệ quyền học tập của trẻ em ở Việt Nam 1.3.1. Gia đình
Mặc dù thành phần và cấu trúc gia đình ngày nayđã cónhiều thayđổi, song gia đình vẫn là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của trẻ em, là phòng quyết đầu tiên và quan trọng nhất để bảo vệ trẻ em. Gia đình có trách nhiệm trước tiên trong việc nuôi nấng và bảo vệ trẻ em từ khi sinh rađếnlúc trưởng thành. Trẻem tiếp thu các chuẩn mực và giá trịvăn hóa từchính gia đình của mình. Sựphát triểnđầyđủ, hài hòa của trẻem và lợiích
tốt nhất của trẻ em nằm ngay trong môi trường gia đình.
Với ý nghĩa như vậy, Hiến pháp năm 1992 quy định rằng: Trẻ em được gia đình, nhà trường và xã hộibảovệ, chăm sóc và học tập. Quyđịnhnàyđược khẳng định lại trong Điều 5 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004. Đâylà tưtưởngxuyên suốt trong pháp luật Việt Nam liên quanđếnquyền trẻem nói chung cũng như quyền học tậpcủa trẻem nói riêng. Quy định đó một mặt phù hợp với tinh thần Công ước về quyền trẻ em, mặt khác phản ánh giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam luôn coi trọng trách nhiệm của cha mẹ, gia đình với con cái nói riêng và trẻ em nói chung.
Như chúng ta đã biết, quyền của trẻ em là quyền của con người. Nhưng trẻ em là đối tượng đặc thù còn non nớt về thể chất và tinh thần cho nên việc thực hiện quyền trẻ em luôn phụ thuộc vào cha mẹ và gia đình. Bảo vệ, chăm sóc trẻ em là đạo lý mà bất cứ xã hội nào cũng phải thực hiện. Quyền của trẻem là trách nhiệm của gia đình được quy định trong pháp luật.
Cha mẹ và gia đình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dạy và dành những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em, bao gồm cả những trách nhiệm về mặt pháp luật và trách nhiệm về mặt đạo lý. Trách nhiệm nàyđược đề cập
42
trong hầu hết Chương III của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Cha mẹvà gia đình đóng vai trò hàng đầu trong việc thực hiện quyền trẻ em nói chung cũng như quyền học tậpcủa trẻem nói riêng. Do vậy, quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam nhằm khẳngđịnhtrách nhiệm của cha mẹtrong việc hướng dẫn con cái theo hướng đúng đắn, kể cả việc hướng dẫn con cái trong việc thực hiện quyền của họ. Gia đìnhđược coi là phòng tuyếnthứnhất vàcũng là phòng tuyến lý tưởng nhất để bảo vệ và yêu thương trẻ em, do đó giađình cần phải được bảo vệ, hỗ trợ.
Điều 32 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em không chỉ đề cao vai trò của cha mẹ, gia đình trong việc địnhhướngcho trẻ, thực hiện quyền trẻem mà còn các quyđịnhtrách nhiệm tôn trọngýkiến của trẻem. Quyđịnh này không làm giảm vai trò của cha mẹ trong việc quyết định những điều tốt đẹp nhất cho trẻ em mà nhằm mục đích tạo ra định hướng trong giáo dục của cha mẹvà gia đình. Mặc khác, nó là cơ sởchotrẻphát triểnkhảnăng của mình đảm bảo quyền được tham gia của trẻ em. Bởi vì Công ước về quyền trẻem và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em coi trẻ em không chỉ là đối tượng bảo vệ màcòn là một chủ thể, một con người đang trong quá trình phát triển và có quyền từng bước quyết định lấy tương lai của mình. Đây là quanđiểm tiến bộ vì trẻ em được coi là những thành viên của quá trình phát triển và đóng một vai trò tích cực trong cộng đồng xã hội.
1.3.2. Nhà trường
Quyền được học tập là một trong những quyền cơ bản của trẻ em được ghi nhận trong Điều 28 Công ước về quyền trẻ em, Điều 59 Hiến pháp 1992,Điều 16 Luật bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em và Điều 9 Luật Giáo dục.
Theo quyđịnhcủa Khoản 4Điều37 LuậtBảovệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em và Khoản 1 Điều 47 Luật Giáo dục thì Ủy ban nhân dân các cấp vàBộ Giáo dục Đào tạo có trách nhiệm phát triển hệ thống trường học đảm bảo
43
thực hiện quyền được học tập của trẻ em. Những quy định này của pháp luật Việt Nam là cơ sở pháp lý cho việc hình thành hệ thống trường học đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ em; đồng thời thực hiện chính sách ʺgiáo dục là quốc sách hàng đầuʺ.
Có thể nói, nhà trường có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của trẻ em cũng như việc thực hiện quyền trẻ em. Bởi vì sự phát triển của trẻ em là kết hợp của hai yếu tố: cá nhân và môi trường, trong đó có môi trường giáo dục tạinhà trường. TheoĐiều2 Luật Giáo dục thì mục tiêu của giáo dục là đào
tạoconngườiViệt Nam phát triển toàn diện. Đểđạtđược mục tiêuấycần phải có nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu giáodục đối với sự pháttriển của trẻ em trong mỗi giai đoạn nhất định cụ thể là:
Thứnhất, theo quyđịnhcủaĐiều18 Luật giáo dục,hệthống giáo dụcmầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáodụctrẻem từ3 tháng tuổiđến6 tuổi. Như vậy, trường mầm non là nơi giúptrẻem phát triểnvềthểchất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ,hình thành nhữngyếutốđầu tên của nhân cách.
Thứ hai, theo quy định của Điều 59 Hiến pháp năm 1992 và Luật phổcập giáo dục tiểu học thì giáo dục tiểu học là bắt buộc và không phải trả học phí. Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơsở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ và thẩm mỹ.Đâyđược coi là bậc học nềntảng giúp cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe,đọc, viết, nói; có thói quen rèn luyện thân thể, giữgìnvệsinh; có hiểu biết banđầuvềhát, múa, âm nhạc, mỹthuật. TạiViệt Nam, trong chương trình giáo dục phổ thông, một số nguyên tắc và tiêu chuẩn cụ thể của luật quốc tếvề quyền con người đã được lồng ghép vào các môn học Đạo đức (ở cấp I) vàGiáo dục Công dân (ở cấp II và III) [6].
44
Thứba, trường trung học cơ sởcó trách nhiệm củngcốphát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, Toán, Lịch sử dân tộc, kiến thức về Khoa học xã hội- Khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, có những hiểu biết tối thiểu về kỹ thuật hướng nghiệp.
Thứ tư, trường trung học phổ thông có trách nhiệm củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổthông. Ngoàinộidungchủyếunhằmbảođảmkiến thức phổthông cơ bản toàn diện và hướngnghiệp chomọihọc sinh còn cónộidung nâng cao cho một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.
Ngoài hệ thống nhà trường được thành lập theo địa giới hành chính, ởViệt Nam còn có hệ thống các nhà trường chuyên biệt theo Điều 46, 57, 58 và59 Luật Giáo dục:
– Trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú cho con em dân tộc thiểu số tại các vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn.
– Trường năng khiếu nghệ thuật, thểdục, thểthaođược thành lập nhằm phát triển tài năng của học sinh trong các lĩnh vực này.
– Trường, lớpdành chongườitàntậtnhằm giúp các đốitượngnày phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, hòa nhập với cộng đồng.
– Trường giáodưỡngnhằm giáo dục ngườichưa thành niên vi phạm pháp luật để họ phát triển lành mạnh trở thành người lương thiện, có khả năng tái hội nhập vào đời sống xã hội.
Như vậy,ởViệt Namhệthống nhà trường đóngmộtvai trò rất lớntrong việc thực hiện quyền trẻ em nói chung và quyền họctậpcủa trẻ em nói riêng.
Đốivới trẻem, nhà trường là nơiđể tấtcảtrẻemđềucó cơ hội được chăm sóc, nuôidưỡngvà học tập.Ởđó, trẻem giáodụctheo những chuẩn
45
mực chung của xã hội, được học từnhữngđiềuđơngiản nhất theosựđịnh hướng của giáo viên để trẻ em dần dần phát triển thể chất, trítuệ và đạo đức.Đồng thời trường học là nơi cho trẻ em có cơ hội tham gia, bày tỏ những suy nghĩ, ýkiến của riêng mình. Đólà nơi mà trẻem bên cạnhsựthểhiện của một cá nhân độc lập còn là nơi thể hiện tính cộng đồng giữa trẻ em trai và trẻem gái, giữa trẻ em bình thường và trẻ em khuyết tật. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi lẽ đây là giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách. Do vậy nhà trường là nền tảng để trẻ em bước vào xã hội. Nó tạo ra cái nhìn bìnhđẳng của chính trẻ em mà không có sự phânbiệt đối xử, đặc biệt là đối với trẻem khuyết tật và trẻ em vi phạm pháp luật, bởi vì nhà trường là nơi để các em xóa đi mặc cảmcủa chính mình, là nơiđểcác em hoàn thiện mình hơn vàcũng là nơi tạo cơ hội cho sự bình đẳng của chính các em. Không những thế, thông qua nhà trường trẻ em được tiếp cận với nền văn hóa dân tộc cũng nhưtinh hoa văn hóa nhân loại, là nơi cho trẻ em tiếp thu những thành tựu của cha anh và phát huy những tố chất của trẻ em.
Đối với gia đình, mặc dù gia đình là môi trường lý tưởng cho sự phát triển của trẻ em, nhưng giáo dục gia đình còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế,trìnhđộvăn hóacủacác thành viên trong gia đình.Mỗigia đìnhsẽcónhững chuẩnmựcriêng trong nuôi dưỡng, giáodụccon cái. Vìvậybên cạnh gia đìnhđểtrẻem đượcphát triển toàn diện thì khôngthểthiếu nhàtrường. Nếu như môi trường gia đình tập trung vào chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục đạo đức, lối sống thì nhà trường đóng vai trò trong việc phát triển trí tuệ, nhân cách của trẻ em. Đây là yếu tố không thể thiếu để trẻ em phát triển toàn diện, hài hòa.
Đối với xã hội, nhà trường là nơi để trẻ em tham gia các hoạt động xãhội và cũng là nơi để ngăn ngừa các hành vi sai trái, lệch lạc của trẻ emđặc biệt là các tệnạnxã hội, góp phầnhạnchếtrẻem vi phạm pháp luật. Đồng
46
thời, nhà trường cũng là nơi thực hiện rõ nhất chính sách và pháp luật về giáo dục của mỗi quốc gia.
Có thể nói, trẻ em trưởng thành và trở thành những công dân có ích cho xã hội luôn cần có nhà trường. Nhà trường như là sự liên kết giữa gia đình, xãhội và nhà nước trong việc thực hiện quyền trẻ em đặc biệt là quyền học tập của trẻ em.
1.3.3. Các tổ chức xã hội
Các tổchức xã hộicó vai tròrấtquan trọng trong việc bảovệquyền con người nói chung, quyền trẻ em nói riêng. Chúng ta biết rằng, nhà nước dùđược tổ chức tiến bộ đến đâucũng không thể “nhìn thấu” được mọi sinh hoạt xã hội, không đủ sức đáp ứng mọi nhu cầu (các nhu cầu này ngày càng cao) của mỗi cá nhân cũng như nhóm xã hội [14]. Theo quy định của Điều 34 Luật Bảovệ,Chăm sóc và Giáo dục trẻem thìMặttrậnTổquốc Việt Nam, Hội Liên hiệpphụnữViệt Nam và Đoàn Thanh niên cộngsảnHồChí Minh cótrách nhiệm trong việc thực hiện quyền trẻ em.
Theo Điều 9 Hiến pháp 1992, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh của các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội và cá nhân, các dân tộc, các tôn giáocủangườiViệt Namđịnhcưởnướcngoài. Vì vậy,MặttrậnTổquốc Việt Nam có vai trò rất lớn trong việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam.
MặttrậnTổquốc Việt Nam phốihợpcùngvớicác cơ quan thông tinđạichúngtổchức tuyên truyền, giáo dục pháp luật chotrẻem. Mục đích nhằm nâng cao nhận thức của người dân đối với trẻ em, quyền trẻ em. Đây làtiềnđềđểgia đình và xã hộibảođảmthực hiện quyền học tậpcủa trẻem. Không nhữngthếMặttrậnTổquốc Việt Nam còn tham gia vào quá trình giám sát việc thực hiện pháp luật liên quanđến trẻem, đưa ra kiến nghịđối vớicác cơ quan nhànướcvà góp phần ngăn ngừa các hành vi xâmhạitới quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.
47
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là một đoàn thể quần chúng với chức năng chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em. Vì vậy thực hiện quyền trẻ em là nhiệm vụ quan trọng của hội. Hội Liên hiệp phụ nữViệt Nam xây dựng các chương trình hànhđộngnhằm tuyên truyền cho các bà mẹbiếtvềtầmquan trọng của việc bảovệquyền trẻem. Chính những ngườimẹtrong gia đình là nhữngngườithực hiệnmộtcáchtốtnhất quyền học tập của trẻ từ gia đình, tạo điều kiện cho trẻ em phát triển toàn diện.
Đoàn Thanh niên cộngsảnHồChí Minh đóng vai trò tích cực trong việc thực hiện các chương trình hành động, chăm sóc và giáo dục trẻem. Theo quyđịnhcủaKhoản 3Điều34 Luậtbảovệ, chăm sóc và giáo dục trẻem, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn hoạt động của thiếu niên, nhi đồng, phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã xây dựng chương trình hoạt động của Đoàn, Đội tham gia chương trình hành động quốc gia vìtrẻem. Mộttrong những nhiệmvụtrọng tâm của Đoàn là tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước liên quanđếnviệc bảovệ, chăm sóc và giáodụctrẻem. Hệthống thông tin, báo chí, nhà xuất bản của Đoàn rất coi trọng nội dung và hình thức của hoạt động này. Các chương trình phát thanh và truyền hình thanh niên, thiếu nhivớinhiều hình thức truyền thông dành cho thiếu nhi giới thiệu nhiều nội dung, chuyênđề liên quan đến việc thực hiện quyền học tập của trẻ em. Với phương châm
tạora môi trường thuậnlợichotrẻem thực hiện quyền được học tập, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã tổ chức các hoạt động thi đua học tập như phong trào: Vượt khó, học tốt; Em yêu khoa học; Hội nghị tuyên dương
thiếu nhi xuất sắc trong học tập… thu hút đông đảo thiếu nhi tham gia, từ đó giúp các em có thái độ, động cơ, ý thức tự giác khắc phục khó khăn vươn lên trong học tập. Đoàn thanh niênđãtậptrungtổchức phát triển các loại hình
48
vui chơi lành mạnh, bồ dưỡng phát triển năng khiếu, từng bước góp phần thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của đông đảo thiếu nhi.
Như vậy, vềmặtpháp lý cũng như trên thực tếtoàn xã hộiViệt Nam tham gia vào việc bảo vệ trẻ em và thực hiện quyền học tập của trẻ em. Đây lànét đặc trưng của hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở Việt Nam. Nó không chỉ thể hiện trách nhiệm của người lớn mà còn là trách nhiệm của cộng đồng, của xã hội. Không những thế, ở Việt Nam thực hiện quyền học tập của trẻ em còn được bảo đảm bằng nhà nước.
1.3.4. Nhà nước 1.3.4.1. Quốc hội
TheoĐiều83 Hiến pháp năm 1992, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với ý nghĩa như vậy, ở Việt Nam quốc hội là cơquan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Thông qua hoạt động ban hành vănbảnquy phạm pháp luật, Quốc hộiViệt Namđã ban hànhrấtnhiều các vănbảnquy phạm pháp luật liên quanđếnquyền trẻem trongđócó quyền học tập của trẻ em mà điển hình là Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (sửa đổi năm 2004). Hoạt động đó một mặt điều chỉnh kịp thời những vấn đềliên quan đến việc học tập của trẻ em.
Đồng thời với việc ban hành luật, Quốc hội Việt Nam còn thực hiện việc giám sát tối cao đối với toàn hoạt động của nhà nước trong đó có các hoạt động liên quan đến quyền học tập của trẻ em. Vai trò giám sát của Quốc hội thể hiện thông qua hoạtđộngcủa Ủyban Văn hóa, Giáodụcthanh thiếu niên và nhiđồng theo quy định của Điều 30 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001.
1.3.4.2. Chính phủ
Theo quy định tại Điều 109 Hiến pháp 1992, ʺChính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ
49
nghĩa Việt Namʺ. Chính phủ có chức năng ʺthống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệmvụchính trị, kinhtế,văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vàđối ngoạicủanhànướcʺ;ʺChỉđạoviệc thực hiện cácđiềuướcquốctếmànước Cộng hòa xãhộichủnghĩa Việt Nam kýkếthoặc gia nhậpʺ. Như vậy, chính phủcó trách nhiệmchỉđạo,điềuhành vàbảođảmthực hiện quyền trẻemởViệt Nam.Đểthực hiện nhiệmvụnày, Chínhphủgiao cho cácBộ,cơ quan chuyên trách và chính quyền địa phương trực tiếp triển khai thực hiện.
1) Bộ Giáo dục và Đàotạo
quyền học tập của trẻ em được nhà nước giao cho Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm chính cùngvớicác sởvà phòng giáodụccủa các tỉnh và thành phố. BộGiáo dục vàĐàotạochủtrì, phốihợpvớicác Bộ, ban ngành đoàn thể để thể chế hóa các nội dung của Chính phủ.
Phối hợp với Bộ Kế hoạch và đầu tư xây dựng các chương trình đầu tư cho các mục tiêu phát triển học tập cho trẻ em.
Tổ chức giám sát và báo cáođịnh kỳ lênChính phủ và Thủ tướng vềtình hình thực hiện.
Phốihợpvớicác Bộngành khác trong các hoạtđộngtuyên truyền liên quan đến quyền học tập của trẻ em.
Theo dõi tỷ lệ trẻ em nhập học
Kiểm soát chất lượng học tập
Tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chăm sóc trẻ em cho cha mẹ. 2)Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Chủtrì và phốihợpvớiBộGiáo dục và đàotạothẩmđịnhvà trình các kế hoạch về phát triển giáo dục cho trẻ em.
PhốihợpvớiBộTài chính và BộGiáo dục và Đàotạoxây dựng chương trình ở các cấp.
3) Bộ Lao động, Thương binh và xãhội
50
Chủtrì, phốihợpvớicác Bộkhác xây dựng và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định để bảo đảm quyền học tập của trẻ em.
Chủ trì và giám sát tình hình thực hiện quyền tiếp cận giáo dục của trẻ em.
4) Ủy ban nhân dân tỉnh và các thành phố trực thuộc trung ương
Xây dựng chương trình hoạt động, đềra các mục tiêucụthể, trách nhiệm thực hiện ở cấp địa phương.
Chỉ đạo việc lập kế hoạch và xây dựng chương trình học tập cho trẻem ở các cấp học.
Chỉ đạo việc áp dụng và thực hiện các chính sách cho giáo viên cũng như học sinh theo quy định của Chính phủ.
Tóm lại: Thực hiện quyền trẻem là trách nhiệm của quốc gia. Trách nhiệm này xuất phát từ thực tiễn quốc gia cũng như những ràng buộc pháp lýquốc tế. Vìvậynhà nước, xã hộivà mỗigia đìnhđềucó trách nhiệm trong việc thực hiện quyền học tập của trẻ em.
Quốc hội với tư cách là cơ quan lập pháp ban hành luật nhằm xây dựng một khung pháp lý, khởi động cho cơ chế thực hiện quyền trẻ em, đồng thời giám sát toàn bộ quá trình thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật liên quan đến quyền học tập của trẻ em. Chính phủ, các Bộ ngành có trách nhiệm thực thi các quyđịnhcủapháp luậtvềquyền trẻem cũng như những chính sách liên quan đến trẻ em.
Các tổchức xãhộicó vai tròrấtlớntrong việc phốihợpvớicác cơquan nhà nước thực hiện tốt pháp luật liên quan đến quyền trẻ em, nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với quyền trẻ em.
Mặc dù mỗi cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng cómốiquanhệchặtchẽtrong việc thực hiện quyền học tậpcủa trẻem. Trung
51
tâm của mối quan hệ đó là Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em. Về mặt pháp lýđâylà cơ quan ngang Bộ và Bộ trưởnglà thành viên Chính phủ. Về chức năng đây là cơ quan đầu mối trong sự phối kết hợp với tất cả các cơ quan nhànước, tổchức xã hộitrong và ngoàinước đểthực hiện quyền trẻem nói chung, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em nói riêng.
52
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN HỌC TẬP
CỦA TRẺ EM Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng pháp luật đảm bảo quyền học tập của trẻ em
Pháp luật và giáo dục dườngnhư là hai lĩnh vực không có nhiều mối liên hệ. Nhưng liên quanđến hoạt độngcủa Nhà nước về quản lý, liên quanđến vấn đề bảo vệ quyền lợi cho nhóm đối tượng rất đặc biệt trong xã hội đólà trẻem, pháp luậttrởthành cơ sởvà yêucầuđặtra cho xãhộiđảmbảo quyền học tập cho trẻ em. Để thực hiện hóa một quyền tưởng như đơn giản, cảhệthống pháp luậtđã phải vào cuộc,vớihiệulựcpháp lý cao thấp khác nhau đã hình thành nên một hệ thống các văn bản điều chỉnh về lĩnh vực này.
Tronghệthống pháp luật Việt Nam, mặc dù không phải làmộtbộphận, nhưng trước tiên cần phải nói tới chủ trương, đường lối của Đảng trong việc quan tâmđến vấn đề giáo dục. Đó sẽ là định hướng rõràng cho sự hình thành nên các quy định pháp luậtvềsau. Văn kiệnĐại hộiĐảng lần thứXI một lần nữa khẳng định một cách chắc chắn: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàngđầu. Đổi mớicăn bản, toàn diệnnềngiáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hộinhập quốc tế, trongđóđổimớicơ chếquản lý giáo dục, phát triểnđộingũ giáo viên và cánbộquản lý là khâu then chốt”. Mặc dù không trực tiếp, nhưng định hướng là khárõ ràng khi học tập là cả một quá trình và điểm khởi đầu chính là trẻ em, cho dù ở lứa tuổi nào, đảm bảo cho việc học tập phải được coi là quốc sách hàngđầu. Với những chủ trương, chính sách đó, thật dễ hiểu vì sao chỉ riêng vấn đềgiáo dục cócảmộthệthống các vănbảnpháp luậtđược xây dựngđểđiều chỉnh. Và để có thể lược qua toàn bộ các văn bản pháp luật, tác giả lựa chọn cách thức tìm hiểu theo trìnhtựthời gian các vănbảnđược ban hành và cóhiệu lực pháp luật.
53
Trước tiên, phải kể đến thời điểm năm 1990 khi Việt Namlà nước thứhai trên thế giới và nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước về quyền trẻem của Liên Hợp Quốc, và chưa đầy một năm sau nước ta đã ban hành Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáodục trẻem (năm 1991) và trong gần 20 năm qua nước ta đã đề ra và thực hiện hai Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em giai đoạn 1991-2000 và giai đoạn 2001-2010 cùng nhiều chính sách, văn bản hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy chuẩn, chương trình mục tiêu, các dự án, xây dựng tổ chức bộ máy, bố trí và đào tạo cán bộ quản lý, xây dựng và phát triển các tổ chức, cung cấp dịch vụ liên quan nhằm mục tiêu bảo vệ, chăm sóc trẻem. Nhờđócông tác bảovệ, chăm sóc và giáo dục trẻemđã có những chuyển biến tích cực.
Chính sách đó được thể chế hóa bằng các nội dung được ghi nhận trong nhiều vănbảnpháp luậtvớimục tiêu: Giáodụclà đàotạoconngườiViệt Nam phát triển toàn diện, cóđạođức, tri thức, sức khỏe, thẩmmỹvà nghềnghiệp, trung thànhvớilýtưởngđộc lậpdân tộc và chủnghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng
yêucầu của sựnghiệp xây dựng vàbảovệTổ quốc –Điều2 Luật Giáo dục 2005. Vớiquyđịnhmang tínhnềntảng đó, trẻemđượcquyền tiếpcậnmột nền giáo dục có chất lượng, một nền giáo dục đem lại sự phát triển lành mạnh cả về thể chất và trí lực không tách rời nghĩa vụ cao cả của mỗi công dân.
Mang tính cụ thể hơn, được ghi nhận ở văn bản pháp lý có giá trịcao hơn là Hiến pháp, quyền học tập và quyền học tập của trẻ em còn được hiểu lànghĩa vụ, Nhà nước cùng các thiết chế của mình và toàn xã hội có nghĩa vụ và
tạođiềukiện cho quyền họctậpcủa trẻemđược thực hiện. Điều59 Hiến pháp 1992 có quy định: Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Bậc tiểu học là bắtbuộc, không phảitrảhọc phí. Học sinh có năng khiếuđược Nhànước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng. Nhà nước có chính
54
sách học phí, học bổng, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học tập văn hóa và học nghề phù hợp. Nhưvậy Nhà nước thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, đảm bảo tạo mọi điều kiện cho mọi đối tượng trẻ em được tiếp cận với việc học tập, kể cả Nhà nước chu cấptoànbộchomỗihọc sinh, học phí là hoàn toànđược miễn. Đâylà cách thức phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay.
Vấn đề nàyđược quy định trong Hiến pháp nhắc lại nội dung của Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991, và nâng nó lên một bậc về hiệu lực pháp lý, nói lên tầm quan trọng của một mục tiêu vì quyền học tập của trẻ em. Bên cạnh quy định tại Điều 59, Hiến pháp còn đề cập tới vấn đề này một cách toàn diện tại các Điều 5, Điều 35, Điều 36, Điều 65.
Điều 5: Các dântộccó quyền dùng tiếng nói, chữviết, giữgìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.
Điều 35: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đàotạonhân lực, bồi dưỡngnhân tài. Mục tiêucủagiáo dục là hình thành vàbồidưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người laođộngcó nghề, năng động và sáng tạo, có niềmtựhào dân tộc, cóđạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giầu nước mạnh, đápứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điều 36: Nhànước ưu tiênđầutư cho giáo dục, khuyến khích các nguồnđầutư khác. Nhànướcthực hiện chính sách ưu tiên bảo đảmphát triển giáo dục ởmiền núi, các vùng dân tộc thiểusốvà các vùng đặc biệt khó khăn.
Điều 65:Trẻemđược gia đình, Nhànước và xãhộibảo vệ, chăm sóc và giáo dục.
55
Trở lại với Luật phổ cập giáo dục tiểu học, Điều 1 có quy định:“Nhànước thực hiện chính sách giáo dục tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 5 đối với tất cả các trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 6 đến 14”. Bên cạnh đó, luật cũng có quyđịnhtạođiềukiện chotrẻem cókhảnăng phát triểnđặc biệt được học trước độ tuổi hoặc học vượt lớp. Tiếp bước Luật phổ cập giáo dục tiểu học, năm 2000 Quốc hội ban hành Nghị quyết số 41/2000/QH10 về phổcập giáo dục trung học cơ sở, với một chỉ tiêu vĩ mô đến năm 2010, phổ cập bậc học cấptrung học cơ sởchotrẻem trước khihếttuổi 18. Phùhợpvới Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010 kêu gọi sự thayđổi cănbảntrong giáo dục nhằmđápứngcác yêucầuvềnguồn nhân lực trong giaiđoạncông nghiệp hóa và hiệnđạihóa. Việc ban hành ChiếnlượcQuốc giavềGiáo dục cho mọingườivàođầu thậpniên 90, đề ra một sốmục tiêu quốc gia và chỉ tiêu cụ thể cho đến năm 2000. Đây là kết quả thực hiện cam kết quốc tếmà ChínhphủViệt Namđã tham gia tạiHội nghị Giáo dục Thếgiới Dakar năm 2000 nhằm xây dựng một kế hoạch dài hạn. Kế hoạch HànhđộngGiáo dục choMọingườigiaiđoạn2003-2015(kếhoạch EFA) nêucụthể rằng “Quyền được Giáodục của trẻ em và người lớn là nhân tố then chốt trong Luật Giáo dục Việt Nam và Việt Nam dành nhiều nỗ lực và nguồn lực đểthực hiện quyền này.” BảnKếhoạch EFA baogồm4hợpphần chính:
chăm sóc trẻ thơ và giáo dục mầmnon, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Trung học cơ sởvà giáo dục phi chính quy. Kếhoạch EFA khẳngđịnhngân sách Nhà nước giữ vai trò là nguồn ngân sách chủ yếu thực hiện kế hoạch, và các khoản chi của Chính phủ cho Giáo dục dự kiến sẽ tăng từ 3,7% năm 2002 lên 4,2% GDP vào năm 2015. Kếhoạchdựkiến, ngân sách Nhà nước sẽhỗtrợtài chính 20% tỉ trọng cho Giáo dục.Đồng thời, việc hiện đại hóa quản lý Giáo dục có hiệu quả và việc thực hiện nghiêm túc Kế hoạch EFAsẽ giúp đạt được các mục tiêu trọng yếu vào năm 2015.Trong Kế hoạch Chiến lược Phát triển
56
Giáo dục 2001-2010, Chính phủ đã cố gắng nhiều hơn để xây dựng các chính sách và những can thiệp nhằm duy trìphổcậpGiáo dục Tiểu học, đápứng mục tiêuphổcậpGiáo dục Trung học cơsởvào năm 2010 vàđạt tỉ lệ nhập học Mầm non là 95%.
Đểđápứngcho yêucầugiáo dục phục vụsựnghiệp xây dựngđất nước, Kế hoạch Chiến lược Phát triển Giáo dục giai đoạn 2001-2010 đề ra 3 mục tiêu chính: hiệnđạihóa giáo dục;đàotạonhân lực có trìnhđộchuyên môn cao trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, và quản lý kinh doanh cũng như đào tạo công nhân lành nghề; đổi mới ở tất cả các cấp giáo dục với đội ngũ giảng dạy đông đảo hơn và có chất lượng hơn, cải thiện quản lý giáo dục, và xây dựngmộtkhuônkhổpháp lý mạnhmẽhơn cho giáo dục. Bảy lĩnh vực sauđây đã được xác định để đạt các mục tiêu:
(1) đổi mới mục tiêu, nội dung và chương trình;
(2) xây dựng đội ngũ giáo viên và hiện đại hóa các phương pháp giảng dạy; (3) đổi mới quản lý giáo dục;
(4) đổi mới hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển hệ thống trường học; (5) tăng nguồn lực tài chính và hạ tầng cơ sở giáo dục;
(6) tăng cường sự tham gia của xã hội; (7) tăng cường hợp tác quốc tế.
Năm 2003, Chính phủ đã thông qua Kế hoạch hành động Giáo dục cho Mọi người giai đoạn 2003-2015, nhằm đảm bảo rằng đến năm 2015 tất cả trẻem(đặc biệt là trẻem gáicầnsựbảovệđặc biệt, trẻthiệt thòi nhất vàtrẻthuộc các nhóm dântộcthiểu số) được tiếpcậnvớigiáodụccó chất lượng. Sự cam kết của Việt Nam trong việc xóa bỏ bất bình đẳng giới trong giáo dục cũng được thể hiện trong Kế hoạch hành động Quốc gia về Giáo dục cho mọi người(EFA) và Mục tiêu 3 của Mục tiêu Phát triển Thiên niênkỷ(MDG) nhằm xóa bỏ khoảng cách giới trong giáo dục tiểu học và trung học vào năm
57
2005 và đạt bình đẳng giới trong giáo dục vào năm 2015. Mục tiêu thiên niên kỷ còn gọi là Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là 8 mục tiêu được 189 quốc gia thành viên Liên hợp quốc nhất tríphấn đấu đạt được vàonăm 2015, trongđó Đảm bảo đến năm2015, tất cả mọi trẻ em ở mọi nơi, cả trẻ em trai và trẻem gái đều có thể hoàn thành toàn bộ chương trình tiểu học.
Cùng vớisựphát triển của kỹthuật lập pháp, năm 2004, mộtđạoluật
quan tâm toàn diện tới sự phát triển của trẻ em ra đời – Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Một cách dễ hiểu và căn bản, Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻem quyđịnh:“Gia đình, Nhànước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập, học hết chương trình giáo dục phổcập, tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn”. Cũng tại điều luật này, một lần nữa bậc học tiểu học được ghi nhận là bậc học mà trẻ emđược quyền học mà không mất học phí đối với các cơ sở đào tạo công lập. Đặc biệt, quyền học tậpcủa trẻem là quyền dành chochủthểđặc biệt khi khôngthểhoàn toàntựmình thực hiệnđã được Luậtbảovệ, chăm sóc và giáo dục trẻem quan tâm. Bằng quyđịnhgắnquyền được học tậpcủa trẻemvớitrách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội:
Điểu 28. Trách nhiệm bảo đảm quyền được học tập
1. Gia đình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; học hếtchương trình giáodụcphổcập; tạođiều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn.
2. Nhà trường và các cơsởgiáo dục khác có trách nhiệm thực hiện giáo dục toàn diệnvềđạođức, tri thức, thẩm mỹ, thểchất, giáo dục lao động hướng nghiệp cho trẻ em; chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
3. Cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông phải cóđiều kiện cần thiết về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để bảo đảm chất lượng giáo dục.
58
4. Người phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trong nhà trường phải được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, cósức khoẻ, phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề, yêutrẻ, được tạo điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ.
5. Nhànước có chính sách phát triển giáo dục mầmnon, giáo dục phổ thông; chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, trợ cấp xã hội để thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.
Theo các quyđịnhnày, quyền học tậplà cụthểhơn, quan tâm tới những gìtrẻem nhậnđược từquá trình học tập. Học tậpgiúp trangbịkiến thức, nâng cao năng lực nhận thức, kỹ năng của trẻ em, và mục đích đó có đạt được hay không phụ thuộc một phần từ việc dạy học. Vì vậy, quyền học tập của trẻ em được đảm bảo đồng nghĩa với việc cơ sở đào tạo phải đủ năng lực vậtchất và con người. Bên cạnhđógia đình, nhà trường và xã hộilà môi trường của quá trình học tậpphải thống nhất, phốihợpđểđảmbảocho kết quả của việc học tập. Và không chỉ hướng tới phổ cập giáo dục ở các bậc học, khuyến khích việc học tập là điều cần thiết và Nhà nước chủ động thực hiện mục tiêu đó bằng các chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, trợ cấp xãhội, hướng tới các đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trong việc thực hiện quyền được học tập.
Gầnđâynhất, Quốc hộithông qua Luật Giáo dục năm 2005,mộtlần nữa ghi nhận các quyền bình đẳng trong việc tiếp cận các cơ hội học tập, phổcập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, cũng như trách nhiệm tạo điều kiện cho việc học tập của công dân, trong đó đặc biệt quan tâm đến đối tượng con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng thể hiện sự quan tâm đúng
59
mức hơn tới phát triển trẻ thơ và giáo dục mầm non – bậc học mà trẻ em cần tớisựquan tâm chăm sóc đặc biệtđểphát triển nhữngkỹnăng cơ bảnnhất của cuộc đời. Điều 21 Luật giáo dục quy định mục tiêu của giáo dục mầm non phải thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻtừ3 thángđến6 tuổi, vớimục tiêu là giúptrẻphát triểnvềmặtthểchất, tình cảm, trítuệvà thẩmmỹđểhình thành các yếutốcănbảnvềnhân cách cũng như chuẩnbịcho trẻ đi học tiểu học. Các thể chế giáo dục mầm non gồm: nhà trẻ (tiếp nhận trẻ từ 3 tháng đến 3 tuổi); mẫu giáo (tiếp nhận trẻ từ 3-6 tuổi) và trường “mầm non” có cả lớp nhà trẻ và mẫu giáo cho trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi.
Năm 1999, ngân sách giáo dục mầmnonchỉchiếm 5,4% tổng ngân sách giáo dục của nhà nước. Tuy nhiên, tỉ trọng ngân sách nhà nước dành cho giáo dục mầmnon liên tục tăng, và đạt8,5% trong năm 2008. BộGD&ĐT còn khẳngđịnhthêm rằng trong tương lai, mục tiêu, nhiệmvụvà phương pháp giáo dục mầm non phải đảm bảo những tiêu chí sau:
● Là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần giúp người Việt Nam được giáo dục toàn diện về mọi mặt.
● Phải phù hợp với độ tuổi và khu vực. Nội dung và phương pháp phải nhất quán và phù hợp với giáo dục tiểu học và trung học.
● Phải có tính thực tế và theo kịp những ứng dụng mới trên thế giới.
●Phải bìnhđẳngvà không phân biệtđốixửvớitrẻemởvùng sâu, vùng xa và vùngđặc biệt khó khăn. Giáo dục mẫugiáo phảiđược ưu tiên thích đáng, đặc biệt cho trẻ 5 tuổi.
● Cải thiện trang thiết bị và nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên với trách nhiệm của nhà nước.
● Nhà nước cần chú trọng hơn tới giáo dục mầm non đặc biệt là ở khu vực nông thôn nghèo.
Điều lệ Trường mầm non mới (Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT,
60
ngày 7 tháng 4 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) đặc biệt kêu gọi các
tổ chức cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ thơ cần tạo dựng môi trường học tập và giáodụctốtnhất chotrẻkhuyếttậtđểgiúp các em cùng tham gia vào hoạt động học tập với các em khácở cảmẫu giáo và nhà trẻ. Bên cạnh đóXãhộihóa giáodụccũng làmộtvấnđềđượcLuật Giáodụcnăm 2005 quan tâm, theo đó:
● Nhà nước và toànthểnhân dân có trách nhiệm chăm losựnghiệp giáo dục và xây dựng một xã hội học tập;
●Nhànước thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích cáctổchức, cá nhân tham gia phát triểnsựnghiệp giáo dục;
● Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục.
Như vậy, cóthểthấyhệthống pháp luật Việt Namđã ghi nhận một cách vững chắc về quyền học tập của trẻ em. Quyền năng đó được dành cho trẻ em như một điều kiện cơ sở ban đầu cho trẻ em trở thành những công dân có đủ năng lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Biểu hiện rõ nét của tinh thần ấy là vấnđềphổcậpgiáo dục cấptiểu học và trung học cơ sở, nhưmộtchiến lược có định hướng của Nhà nước theomức độ và yêucầu tăng dần theo thời gian và cùngvớiđócóthểhiểu rằng Nhà nước ngày càng quan tâmđến những yêu cầu của xã hội cho mỗi một trẻ em bước vào lứa tuổi trưởng thành và cần thiết phải tạo điều kiện để trẻ emđápứng các yêu cầu đó với quy định vềphổcập giáo dục. Khôngchỉmộtlầnmà tronghầuhếtcác văn bản pháp luật quyền học tậpcủa trẻem luôngắnvớitrách nhiệm của nhà trường, giađình và xã hội. Bởi lẽ trẻ em là một đối tượng đặc biệt, không có đủ điều kiện để có thể tự mình đáp ứng được nhu cầu học tập của mình mà cần có sự tham gia từ tất cả những “người” khác không phải là trẻ em. Và đặc biệt khi quyền trẻ em là một vấn đề được cả thế giới quan tâm, bỏ qua mọi sự khác biệt về
61
chính trị, trẻem làm cho các quốc gia xíchlạigầnnhau hơn trong tư tưởng của mộtsựđảmbảochotrẻem cóđượcnhững quyền quan trọng nhất. Đểhiện thực hóa những tư tưởng đồng thuận đó, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã ghi nhận phápluật quốc tế: “Trong trường hợp điều ước quốc tếmà Cộng hoà xãhộichủnghĩa Việt Nam ký kếthoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”. Như vậy, pháp luật Việt Nam không hề tách rời pháp luật thế giới trong vấn đề bảo vệ quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em Việt Namđược cóquyền mà bất cứ trẻ em nào trên thế giới được công nhận và bảo vệ.
Ghi nhậntạiĐiều8 Côngướcquốctế vềquyền trẻem, quyền học tập được diễn giải:“Trẻ em cần nhận được sự giáo dục cần thiết, được giúp đỡ đểphát triển tốt về thể chất, trí tuệ và xã hội, trở thành người công dân có trách nhiệm và biết tôn trọng những quyền của người khác”. Và để thật đầy đủ trước khi kết thúc phần quy định pháp luật về quyền họctậpcủatrẻ em, khôngthểkhông nóiđếnĐiều29củaCôngước,điềuluật mà chắc chắn pháp luật Việt Nam tôn trọng và đảm bảo thực hiện theo sự thừa nhận của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đó là quy định: “Quy định giáo dục phải hướng tới sựphát triển tối đa tiềm năng của trẻ và xây dựng sự tôn trọng quyền con người”. Như vậy, quyền học tập của trẻ em cần được hiểu là được gắn với nền giáo dục mà giáodụccho dùđượctiến hành theo cách thức nhưthếnào thìtrướchết phải hướng tới sự phát triển tiềm năng của mỗi một trẻ, không tách rời sự tôn trọngvớiquyền conngườicủangườikhác.Vớicách hiểu chung, thống nhất theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết tham gia, sẽ là cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả của việc đảm bảo quyền học tập của trẻ em hiện nay.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BẢO ĐẢM QUYỀN HỌC TẬP CỦA TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

