Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam

Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Những năm đầu của thế kỷ 21, Việt Nam là một trongnhững nước có tốc độphát triển kinh tếnhanh nhất thếgiới. Có được thành công đó là do Đảng và Nhànước ViệtNam đã thực hiệnmộtloạt những cải cách về kinh tế, đặc biệt trongđócó cải cách về đất đai. Những chính sách đổi mới ban đầu của công cuộc Đổi Mới vào giữa những năm 80 của thế kỷtrước đãtập trung vào việc giao ruộng đất của các hợp tác xã nông nghiệp cho các hộ gia đình và cá nhân. Việc này mangđếnsựtăng trưởng rõ ràng trong sảnxuất, đưa Việt Nam trở thànhnướcxuất khẩu gạo đứng thứ3 thế giới vào thời gian đó. Những chính sách tiếp theo trong những năm 90 của thế kỷ trước đã tập trung vào công nghiệp hóa, dẫn tới làm giảmđáng kể tỷtrọng nông nghiệp trong nền kinh tế đất nước xuống còn 20% GDP vào năm 2007 và tăng tỷ lệ đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào năm 2007 tương ứng là 42% GDP và 38% GDP. Là mộtphần của quá trình này,mộtlượngđáng kểđất đai chuyển dịch từ nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp vàsựchuyển dịch tương ứng về người sử dụng đất.

Pháp luật và chính sách đất đaiđã thường xuyên được đổi mới để tìm ra những giải pháp thực tế nhằm kết hợp giữa lý tưởng xã hội chủ nghĩa về sở hữu đấtđai với những yêu cầuvà áp lực của một nền kinh tế thị trường hiện đại đang nổi lên, sự cần thiết xác định lại và chính xác hóa mối quan hệ giữa đất đai, con người, nhà đầu tư và Nhà nước.

Tuy vậy, mặc dù thường xuyên điều chỉnh khung pháp luật để hoàn thiện lĩnh vực quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nhận được hơn 30.000đơn tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của người dân gửi tới từ năm 2003 đến 2006. Số lượng khiếu kiện tăng đều đặn và sự không vừa lòng của những người bịảnh hưởng cũng như của nhà đầu tư chứng tỏsựcần thiết của việc tiếp tục làm rành mạch và chi tiết đối với các quy định của pháp luật về đất.

Sựthiếu minh bạch và chồng chéo của hệ thống phápluật vềđất đai gây ra không ít những khó khăn cho người dân. Đặc biệt, trong lĩnh vực thu hồi đất nông nghiệp, một trong những tư liệu sản xuất quan trọng nhất của người nông dân. Người nông dân Việt Nam, là một trong những thành phần, lực lượng quan trọng cónhững đóng góp to lớn trong 2 cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và xây dựngđất nước. Họ là những người có trình độ hiểu biết pháp luật hạnchế, thường làkhông cókhảnăng bảo vệ trướcnhững tình huống pháp lý xảyra khi Nhà nước thực hiện các chính sách thu hồi đất nông nghiệp. Hơn nữa, trong quá trình thực thi pháp luật, không ít những cán bộ đại diện cho Nhà nước thực thi công quyền cónhững hành vi tham nhũng, gây khó khăn cho người nông dân.Từđó, việc thuhồiđất nông nghiệp để lạikhông ít những khó khăn, hậu quả cho những người nông dân Việt Nam. Đó là những thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống, các quyền công dân theo quy định của pháp luật bị xâm phạm. Tuy vậy, ở một mức độ nàođóxét theo quy định của pháp luật Việt Nam và Luật Quốc tế về quyền con người thì những người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp cũng không được đảm bảo.

Quyền conngườitheo quyđịnhcủacác CôngướccủaLiênHợpQuốc và

Luật Quốc tế thì gồm nhiều quyền khác nhau từ quyền dân sự, kinh tế, chính trị… Dướigócđộcủanhữngngườinông dânbịthuhồiđấtnông nghiệp,bịmấtđi nguồn tư liệu sản xuất chính, sinh kế duy nhất đảm bảo cuộc sống của họ thì các quyền conngườivề: quyềnsởhữutài sản; quyềnvềlaođộng,việc làm; quyềnđược giáo dục; quyền được hưởng tiêu chuẩn sống thích đáng; quyền được tự do ýkiến và biểu đạt; và quyền được xét xử công bằng là những quyền quan trọng vàthiết yếu nhất.

Pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về đất đai nói riêng cũng rất quan tâm, đảm bảo các quyền cơ bản nêu trên của người nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp. Tuy nhiên, trong các quy định pháp luật còn nhiều hạn chế, thiếu sót so với thực tế, trong quá trình thực thi còn nhiều điểmbất cậpdẫnđếnvi phạm các quyền của người nông dân trong quá trình thu hồiđấtnông nghiệp. Luật Đất đai được ban hành năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01.7.2014 có nhiều điểm mới,sửa đổi bổsung nhằmđảmbảohơn quyềnlợicủangườinông dân trong thuhồiđấtnông nghiệp. Tuy nhiên, giữa quyđịnhcủaluật và thựctếtriển khai còncảmộtkhoảng cách, do đó việc nghiên cứu đề tài: “Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam” là một yêu cầu cấp thiết, mang tính thời sự cao. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ lànhững ý kiến đóng góp với các cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành các văn bản hướng dẫnLuật Đấtđai trong lĩnh vực thuhồiđất nông nghiệp nhằmbảođảmcác quyền con người cơ bản cho người nông dân.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay, qua đó tìm hiểu những bất cập còn tồn tại của pháp luậtvề thu hồi đất nông nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người và những khó khăn, tồn tại trong quá trình triển khai thi hành trên thực tế của các cơ quan nhà nước gây bất lợi cho người nông dân. Bằng kinh nghiệm và hiểu biết của mình tác giả mong muốn lý giải những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất cập của pháp luật và mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại của pháp luật hiện hành, đáp ứng một cách tốt nhất những yêu cầu do thực tế cuộc sống đặt ra.

3.2. Nhiệm vụ của Luận văn

Nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Namđểchứng minh quyền con người là một trong những vấnđềquan trọng, cốtlõi cần được quan tâm và bảovệ, đặc biệtđốivớinhững ngườinông dân trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.

Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về đất đai nói chung và thu hồi đất nông nghiệp nói riêng để chỉ ra những thiếu sót, hạn chế làm ảnh hưởng đến các quyền con người cơ bản của những người nông dân bị thu hồi đất.

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng của việc bảo đảmquyền con người của người nông dân khi bị thu hồi đất để kịp thời ngăn chặn nhằm bảo vệ các quyền con người chính đáng củangười nông dân khi nhà nước thực hiện thu hồi đất nông nghiệp vì các mục đích khác nhau.

Nghiên cứu, phân tích các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, bất cập của hệthống pháp luật; đưa ra các giải pháp về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảcủa việc thu hồi đất nông nghiệp cũng như bảo đảmcác quyền con ngườicơ bản của người nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các hệ thống lý luận, quan điểm, tài liệu khoa học; luận điểm vềquyền con người.

Hệthống quyđịnh của Hiến pháp, Pháp luật Dân sự, Pháp luật Đất đai, Chính sách thuộc lĩnh vực thu hồi đất nông nghiệp, bồi thường khi thu hồi đất.

Thực tiễn thi hành pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam và những giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi đất nông nghiệp và bảo đảm các quyền con người cơ bản của người nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Thu hồi đất nông nghiệp là một vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm liên quanđến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Hơn nữa lĩnh vực quyền con người là một lĩnh vực còn mới và được đề cập khá dè dặttrong hệ thống khoa học pháp lý của Việt Nam. Do đó, trong phạm vi nghiên cứucủa một đề tài luận văn thạc sỹluật học, tácgiảchỉ đề cậpđến một số mặt hạnchế củapháp luật về thu hồiđất nông nghiệp ở Việt Nam và phản ảnh một số quyền con người cơ bản của người nông dân bị ảnh hưởng bởi quá trình thu hồi đất nông nghiệp và hậu quả của quá trìnhđó đểlại. Cụ thể là:

– Quyền sở hữu tài sản;

– Quyền về lao động, việc làm; – Quyền được giáo dục;

– Quyền được hưởng tiêu chuẩn sống thích đáng; – Quyền được tự do ý kiến và biểu đạt;

– Quyền được xét xử công bằng. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu

Với tính chất đặc thù của ngành khoa học xã hội, Luận văn sửdụng các phương pháp luận của các môn khoahọcxã hội nhưng có đặc thùnhất địnhkhi áp dụng. Luận văn cóvậndụng phương pháp luận triết học biện chứng duy vật; đánh giá các vấn đề lý thuyết, pháp lý và thực tiễn về quyền con ngườitheo một cách khách quan, toàn diện. Bên cạnh phương pháp luận triết học biện chứng duy vật, Luận văn cũng vận dụng một số học thuyết, lý thuyết xã hội trong nghiên cứu như thuyết duy lý, thuyết cấu trúc, thuyết văn hóa, thuyết tựdo…Ngoài ra, trong nghiên cứu và trình bày, Luận văn còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, thống kê, so sánh, lịch sử, chứng minh, tổng hợp, quy nạp được kết hợp sửdụng để triển khai thực hiện đề tài.

Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam
Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam

6. Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Vấn đề thu hồi đất và quyền của người bị thu hồi đất tại Việt Nam. Chương 2: Bảo đảmquyền con người cơ bản của nông dân khi thu hồi đất

nông nghiệp tại Việt Nam.

Chương 3: Những giải pháp bảo đảm quyền con người của nông dân khi thu

hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam.

Chương 1

VẤNĐỀ THU HỒI ĐẤT VÀ

QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI VIỆT NAM

1.1. Vấn đề thu hồi đất tại Việt Nam 1.1.1. Pháp luật về thu hồi đất đai

Từnăm 1986 thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước vềvấnđềĐổi Mới, đất nước ngày càng có những chuyển mình rõ rệt, các thành phần kinh tế đua nhau phát triển và có những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế. Cùng với sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cả việc đô thị hóa đòi hỏi phải có sự chuyển đổi các loại đất đang sử dụng cho phù hợp với mục đích sửdụng đất mới. Đặc biệt, diện tích đất bịchuyển đổi nhiều nhất là đất nông nghiệp, kèm theo đó là những người nông dân cũng chuyển thành những người công nhân, người làm dịch vụhay các ngành nghề khác. Đểthực hiện việc chuyển đổi mục đích sửdụng đất và thu hồi đất đai phục vụcho sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng vàNhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật điều chỉnh về vấn đề này.

Trước LĐĐ2003, khung chính sách (dựa trên LĐĐ 1993) chỉ chấp nhận một cơ chế thu hồi đất bắt buộc. Việc chuyển dịch đất đai được thực hiện dựa trên quyết định hành chính của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhà đầu tưnhận đất từNhà nước để thực hiện dự án đầu tư phải nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất cho Nhà nước cũng như bồi thường cho những người sửdụng đất trước đó. Nhà nước chỉ có quyền thu hồi đất đai cho các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tuy nhiên trên thực tế, cơ chế Nhà nước thu hồi đất cũng đã được áp dụng cho tất cả các dự án đầu tư kinh tế đem lại lợi ích riêng cho nhà đầu tư. Nhàđầu tưnhận thấy quy trình thu hồi quá phức tạp và khó khăn khi họ phải đàm phán về bồi thường với những người đang sử dụng đất. Cũng trong thời gian 5 năm thực hiện thu hồi đất bắt buộc theo LĐĐ 1993, giá đất do UBND cấp tỉnh quy định theo khung giá đất của Chính phủchỉbằng 10-30% giá đất chuyển nhượng trên thị trường. Người bị thu hồi đất không hài lòng về việc bồi thường không thỏa đáng vềđất đai và nhà đầu tư cũng không hài lòng về quy trình thực hiện quá phức tạp. Tuy nhiên, những khiếu kiện gửi tới các UBNDđịa phương thường nhận được rất ít phản hồi hoặc hầu như không, người khiếu kiện lại tiếp tục gửi tới các cấp quản lýcao hơn. Sốngười khiếu kiện đi tới các cơ quan trung ương ngày càng nhiều hơnđòi hỏi giải quyết trực tiếp, điều đó cho thấy cần phải có những đổi mới tiếp tục.

LĐĐ 2003đã đưa ra cơ chếchuyển dịchđất đai tựnguyện dựa trên thỏa thuận 2 bên giữa nhà đầu tư và những người đang sửdụng đất vềviệc chuyển nhượng đất, thuê đất hay góp vốnbằng QSDĐ. Cơ chếthu hồi đất đai bắt buộc được thực hiện trên cơ sở những quyết định hành chính do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Một số nguyên tắc cơ bản về chuyển dịch đất đai trong LĐĐ 2003 được tóm tắt như sau:

– Cơ chế Nhà nước thu hồi đất đai phải thực hiện theo quy hoạchsử dụng đất đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt và côngbốcông khai. Người sử dụng đất không được tự thay đổi mục đích sử dụng đất khi không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.

– Cơ chế Nhà nước thu hồi đất bắt buộc được áp dụng trong các trường hợp chuyển dịchđấtđai bao gồm:thứnhất, là đểsửdụng chomụcđíchlợiích quốc gia, lợi ích công cộng; thứ hai, là để thực hiện các dự án đầu tư có 100% vốn nước

ngoài (bao gồm cảdựán ODA–Hỗtrợphát triển chính thứccủaChínhphủvà

FDI – Đầu tư trực tiếp của nước ngoài); thứ ba, là để thực hiện các dự án đầu tưphát triển kinh tế đặc thù như xây dựng hạ tầng cho các khu công nghiệp, khu dịch vụ, khu công nghệ cao, khu đô thị, khu dân cư nông thôn và các dự án thuộc nhóm có vốn đầu tư lớn nhất.

– Cơ chếchuyển dịch đất đai tựnguyện được áp dụng trong những trường hợp đất được chuyển sang sử dụng để thực hiện các dự ánđầu tưtrong nước không thuộc trường hợp được áp dụng cơ chếNhànước thu hồi đất bắt buộc hoặc trong trường hợpdựán được áp dụng cơ chếNhà nước thu hồiđất bắt buộc nhưng chủđầu tư có nguyện vọng được thực hiện cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện.

Các điều kiện khác có liên quan đến cơ chế Nhà nước thu hồi đất, bao gồm:

– Giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành phải phù hợp với giá đất trên thịtrường, như vậy giá đất theo thị trường sẽ được áp dụng để tính giá trị bồi thường.

– Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc bồi thường, tái định cư theo thủ tục đã được quy định.

– Nhà đầu tư nhậnđất đai do Nhànước giao hoặc cho thuê phảitrảtiền sửdụng đất hoặc tiền thuê đất cho Nhà nước theo giá thị trường.

Cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện được quy định rất rõ ràng với các thủtục đơn giản và phù hợp với chuẩn quốc tế. Cơ chế này đã được áp dụng trong khánhiều dựán đầu tư sản xuất, kinh doanh vàđã hoạtđộngkhá tốt. Tuy nhiên, sau

một vài năm, một số vấn đề nảy sinh khi một số người sử dụng đất đã đòi giá cao hơn nhiều sovớigiá thịtrường và nhà đầutư khi đã nhận được phần lớnđất đai theo giá thịtrường đã không thểhoàn tất việc nhận nốt phần diện tích đất còn lại cho dự án đã được xác định diện tích đất cụ thể.

1.1.2. Quy định của pháp luật hiện hành về thu hồi đất

LĐĐ số45/2013/QH13 được Quốc hội ban hành ngày 29/11/2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014 là văn bản mới nhất và có hiệu lực cao nhất của Việt Nam quyđịnhvềchếđộsởhữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhànước đại diện chủsởhữu toàn dân vềđất đai và thống nhất quản lý vềđất đai, chếđộquản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩavụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

So với LĐĐ 2003, LĐĐ mới có 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều với những điểm mới nổi bật liên quan đến thu hồi đất nói chung và thu hồi đất nông nghiệp nói riêng, cụ thể:

– Luật quy định đầy đủ, rõ ràng các đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuêđấtvàđiềukiệnđểtriển khai thực hiện cácdựánđầutưđểNhànướcgiaođất,cho thuê đất. Qua đó, có thể khắc phục một cách hiệu quả việc giao đất, cho thuê đất một cách tràn lan chưa tính đến năng lực của các chủ đầu tư trong việc triển khai các dự án gây nên tình trạng sử dụng đất lãng phí, kém hiệu quả như trong thời gian vừa qua.

– Luật xác định rõ và quyđịnh cụthểnhững trường hợp mà Nhà nước phải thu hồi đất (như Hiến pháp vừa mới được thông qua) nhằm khắc phục, loại bỏnhững trường hợp thu hồi đấtlàm ảnh hướng đến quyền và lợiích của người sửdụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã hội.

– Luật quyđịnh cụthểvà đầyđủtừviệc thu hồi đất,bồithường,hỗtrợtáiđịnh cưđảm bảo một cách công khai, minh bạch về quyền lợi của người có đất thu hồi; đồng thời khắc phục và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước là chủsở hữu về đất, người sử dụng đất và chủ đầu tư.

– Luật đã tiếp cận và thể hiện đầy đủ vấn đề về tài chính đất đai theo hướng cơ chếthị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất, quyền lợi của Nhà nước, chủ đầu tưvà đảm bảo ổn địnhxã hội; phù hợp với quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

– Luật mởrộng thời hạngiao đất nông nghiệp cho hộgia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp;mởrộng hạn mứcnhận chuyển quyền sửdụngđất của hộgiađình, cá nhân đáp ứngyêu cầu tích tụđất đai phục vụsản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại phù hợp với đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được

nêu trong Nghị quyết 26 của Ban chấp hành Trung ương Đảng…

Vềcác trường hợp Nhà nước thu hồi đất, khoản 1, Điều 16 LĐĐ 2013 quyđịnh rõ:

Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;

b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;

c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người [24, Điều 16, Khoản 1].

LĐĐ 2013 dành cảChương VI đểquyđịnhvềthu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trong đó, thẩm quyền về thu hồi đất được quy định tại Điều 66, cụ thể:

1. UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cưởnước ngoài, tổchức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư, nước ngoài;

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2. UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoàiđược sởhữu nhà ở tại Việt Nam [24, Điều 66].

Vềnguyêntắcbồithường khi thuhồiđất,LĐĐ2013 quy định: “Việcbồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thểcủaloạiđấtthu hồi do UBND cấp tỉnh quyếtđịnh tạithờiđiểm quyếtđịnh thu hồi đất”[24, Điều 74, Khoản 2]. Ngoài ra, tại khoản 3, Điều 74 cũng quy định “Việc bồi thường khi Nhànướcthuhồiđấtphảibảođảmdân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật” [24, Điều 74, Khoản 3].

Đối với các trường hợp thu hồi đất nông nghiệp, ngoài việc áp dụng các quyđịnh và nguyên tắc chung của Luật Đất đai khi thu hồi đất, LĐĐ 2013 cũng cónhững quy định riêng mang tính đặc thù. Cụ thể, tại Điều 77 quy định về bồi thường đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ giađình, cá nhân:

1. Hộgia đình, cá nhân đangsửdụngđấtnông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường về đất, chi phíđầu tưvào đất còn lại theo quy định sau đây:

a) Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồmdiện tích trong hạn mức theo quyđịnh tại Điều 129, Điều 130 của Luật này vàdiện tích đất do được nhận thừa kế;

b) Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quyđịnh tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

c) Đối với diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất vượt hạnmức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thìviệc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sửdụng đất là hộgia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sảnkhác gắn liền với đấttheo quyđịnhcủa Luật này thì đượcbồi thường đối với diện đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này [24, Điều 77].

Việc hỗtrợkhi Nhà nước thu hồi đất được quyđịnh tại Điều 83 của LĐĐ 2013, theo đó nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là:

a) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;

b) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật [24, Điều 83].

Theo quy định của Luật, các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:

a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;

b) Hỗtrợđào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làmđối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ởkết hợp kinh doanh dịch vụcủa hộgiađình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở;

c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thù hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;

d) Hỗ trợ khác [24, Điều 83].

Đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân mất việc làm, phải chuyển đổi nghề khi Nhà nước thu hồi đất thì Điều 84, LĐĐ 2013 quy định:

1. Hộgia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhànước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp đểbồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm.

Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghệ thìđược nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh.

2. Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất kết hợp kinh doanh dịch vụmà nguồn thu nhập chính từhoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhànước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi đểphát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm.

3. Căn cứvào kếhoạch sửdụng đất hàng năm của cấp huyện, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệmtổchức lập và thực hiện phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người có đấtthu hồi là đất nông nghiệp, đất ởkết hợp kinh doanh dịch vụ. Phương ánđàotạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm được lập và phê duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư.

Trong quá trìnhlậpphương ánđàotạo, chuyểnđổinghề,hỗtrợtìm kiếm việc làm, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện phải tổ chức lấy ýkiến và có trách nhiệm tiếp thu, giải trìnhýkiếncủangườicóđất thu hồi [24, Điều 84].

Những quy định của LĐĐ 2013 về thu hồi đất nói chung và thu hồi đất nông nghiệp nói riêng đã có những bước tiến, những đột phá phần nào giải quyết những bất cập, khó khăn trong thời gian vừa qua về thu hồi đất. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai vẫn cần có những văn bản chỉđạo, hướng dẫn của Chính phủ, BộTài nguyên và Môi trường cũng như các Bộ, ngành có liên quan để những quy định nêu trên đi vào thực tế.

Việc thực hiện chính sách pháp luật về thu hồi đất luôn hướng đến việc đảm bảo các quyền cơ bản của những người bị thu hồi đất. Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo đảm các quyền đó của người bị thuhồi đất nhưcác quyền về sở hữu, quyền

về lao động việc làm, quyền được giáo dục, được hưởng an sinh xãhội…Các quyđịnh của pháp luật Việt Nam ghi nhận và phản ánh các quy định của các Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền con người. Theo đó, khi thực thi pháp luật về thu hồi đất đai cũng cần phải bảo đảm các quyền con người cơ bản theo quy định của các Công ước về quyền con người của Liên Hợp Quốc.

1.2. Quyền của ngƣời bị thu hồi đất theo công ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời 1.2.1. Khái niệm quyền con người

Lịch sử loài người cho thấy, ở bất kỳ đâu, vào bất kỳ giai đoạn nào, tri thức vềquyền con ngườicũng là nền tảng cho sựphát triển và tiến bộcủa các xã hội cũng như là tiền đề cho phát triển đầy đủ về nhân cách và năng lực của mỗi cá nhân.Ở phạm vi rộng hơn, tri thức về quyền con người là tiền đề cho hòa bình và thịnh vượng của toàn nhân loại.

Ở Việt Nam công cuộc đấu tranh để giành quyền con người phải trải qua một quá trình lịch sửlâu dài. Trong quá trình đấu tranh đó, nhận thức vềquyền con người trong các tầng lớp xã hội ngày một được cải thiện. Cuộc đấu tranh giành quyền dân chủ và độc lập xã hội của nhân dân ta đã thu được những thành tựu hết sức to lớn. Cùngvớiđộc lậpchủquyền, toàn vẹnlãnh thổ, các quyền con người ngày càng được đảm bảo.

Cũng như tất cả các quốc gia trên thế giới, việc trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc và các Công ước quốctếvềquyền con người đặtra nghĩa vụcho Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế trên lĩnh vực này, trong đó có nghĩa vụ về giáo dục, phổ biến quyền con người.

Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện, do đócó nhiều định nghĩa khác nhau. Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người.

Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủyLiên hợp quốc vềquyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu. Theo định nghĩa này:

Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hànhđộng(actions) hoặcbỏmặc(omissions) mà làmtổnhạiđếnnhân phẩm, nhữngsựđượcphép (entitlements) vàtựdo cơbản(fundamental freedoms) của con người [6, tr.15].

ỞViệt Nam, một sốđịnh nghĩa vềquyền con người do một sốchuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụngvớicon người, chotấtcảmọingười.Nhờcó những chuẩnmựcnày, mọi thành viên trong gia đình nhân loạimớiđượcbảovệnhân phẩm vàmớicóđiều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhấtđịnh,mộtđiềurõ ràng là quyền con ngườilà những giátrịcaocảcầnđượctôn trọng vàbảovệtrongmọixãhộivàtrong mọi giai đoạn lịch sử.

1.2.2. Tính chất của quyền con người

Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các tính chất cơ bản là: tính phổbiến, tính không thểchuyển nhượng, tính không thểphân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.

1.2.2.1. Tính phổ biến (universal)

Thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bìnhđẳng cho tấtcảmọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn nhưvềchủng tộc, dân

tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân… Liên quan đến tính chất này, cũng cần lưu ý là bản chất của sự bìnhđẳngvề quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độhưởng thụcác quyền mà là bình đẳng vềtư cách chủthểcủa quyền con người.

1.2.2.2. Tính không thể chuyển nhượng (inalienable)

Thể hiện ở chỗ các quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước, trừmột số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi một người phạm tội ác thì có thể bịtước quyền tự do của mình.

1.2.2.3. Tính không thể phân chia (indivisible)

Thểhiện ởchỗcác quyền con người đều cótầmquan trọng như nhau, vềnguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người.

Tuy nhiên, liên quan đến tính chất không thể phân chia của quyền con người, cần chú ý là trong thực tế, tùy những bối cảnh cụ thể, có thể ưu tiên thực hiện một sốquyền nhất định, miễn là phải dựa trên những cơ sở và yêu cầu thực tế của việc bảo đảm các quyền đó chứ không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị của các quyền đó.

1.2.2.4. Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent)

Thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằmtrong mối liên hệphụthuộc và tác động lẫn nhau. Sựvi phạm một quyền sẽtrực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác, và ngược lại tiếnbộtrong việc bảo đảmmộtquyền sẽtrực tiếp hoặc gián tiếp tácđộng tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.

1.2.3. Đặc điểm của quyền con người

1.2.3.1. Quyền con người từ góc độ đạo đức – tôn giáo

Những quy tắc đạo đức hàm chứa những ý tưởng về quyền con người sau đó được đúc kết, khái quát, bổsung và phát triển trong giáo lý của các tôn giáo. Sức mạnh đức tin của các tôn giáo đó biến các ý tưởng về quyền con người nhưvậy trở

thành những quy phạmđạo đức –tôn giáo được tuân thủrộng rãiởnhiều xã hội, trong đó đề cao và cổ vũ tình yêu thương đồng loại, sự công bằng, bình đẳng, tự do

và nhân phẩm – những yếu tố nền tảng của quyền con người.

1.2.3.2. Quyền con người từ góc độ lịch sử – xã hội

Nhìn từ góc độ lịch sử và xã hội, quyền con người bắt nguồn từ các quan hệ xã hội, làkếtquảvàphụthuộc vàosựvậnđộng củacác quanhệxãhộitrong lịch sử. Thực tế cho thấy, trong mỗi giai đoạn lịch sử, xã hội loài người tồn tại những quan niệm khác nhau về các quyền, tự do và nghĩa vụ, cũng như những quy phạm và cơ chế khác nhau để thực hiện, giám sát và bảo vệ các quyền, tự do và nghĩa vụ đó.

1.2.3.3. Quyền con người từ góc độ triết học

Trên phương diện triết học, sựhình thành, phát triển của quyền con người phản ánh quy luật phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao. Cụ thể, nó phản ảnh quá trình phát triển mang tính quy luật trong nhận thức của loài người từ những khái niệm sơ khai nhất về công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm cho đến những tư tưởng, học thuyết và những quy phạm pháp lý về quyền con người.

1.2.3.4. Quyền con người từ góc độ chính trị

Ngaytừkhi còn ởdưới dạng quan điểm, tư tưởng, quyền con người đã làmột vấn đềảnh hưởng, chi phối quan hệchính trị, cảởtầmquốc gia và quốc tế. Cuộc đấu tranh quyết liệt giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến từ thế kỷ XVIđến cuối thế kỷ XVIII đã chứng minh sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền con người vàchính trị. Mặc dù ở thời điểm bắt đầu của cuộc đấu tranh này, quyền con người chủyếu mới thể hiện dưới dạng các đòi hỏi về quyền công dân; tuy nhiên, ngay từ thời điểm đó,quyền conngười đã làmột thứ vũ khí tưtưởngrất lợi hại, góp phần quyết định giúp giai cấp tư sản lật đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến.

1.2.3.5. Quyền con người từ góc độ pháp lý

Là một phạm trù đa diện, song quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn cả với pháp luật.

Điều này trước hết là bởi cho dù quyền con người có là bẩmsinh, vốn có(nguồn gốc tựnhiên) hay phải do các nhà nước quyđịnh (nguồn gốc pháp lý), thìviệc thực hiện các quyền vẫn cần phải có pháp luật. Hầu hết những nhu cầu vốn có,

tựnhiên của con người (các quyền tựnhiên) không thểđược bảo đảmđầyđủnếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền trở thành những quy tắc cư xử chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất với tất cả các chủ thể trong xã hội, chứ không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức. Chính vì vậy, quyền con người gắn liền với các quan hệ pháp luật và là một phạm trù pháp lý.

1.2.4. Luật quốc tế về quyền con người

1.2.4.1. Bộ luật quốc tế về quyền con người

Bộ luật quốc tế về quyền con người (the International Bill of Human Rights) là thuật ngữ chỉ tập hợp ba văn kiện quốc tế cơ bản trên lĩnh vực này, đó là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) và hai Công ước quốc tếvề các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR) (hai công ước này cùng được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1966). Ngoài ra, một sốtài liệu còn cho rằng, các nghịđịnh thư bổ sung của hai công ước cơ bản về quyền con người năm 1966 cũng là những bộ phận cấu thành của Bộ luật này.

Ý tưởng vềviệc xây dựng Bộluật quốc tếvềquyền con người nảysinh vàđược triển khai ngay sau khi thông qua Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945. Một Ủy ban trù bị (Preparatory Commission) của Liên Hợp Quốc về vấn đề này đãđược triệu tập ngay sau khi kết thúc Hội nghị Xan Phranxixcô, và đã khuyến nghịECOSOC nhanh chóng thành lập một ủy ban về thúc đẩy quyền con người dựa trên những nội dung của Điều 68 Hiến chương. Trên cơ sở khuyến nghị này, ECOSOCđã thành lập Ủyban quyền con người LiênHợpQuốc (the UN Commission on Human Rights) vào đầu năm 1946. Ngay trong phiên họp đầu tiêncủa Đại hội đồng Liên Hợp Quốc được tiến hành vào năm 1946, Đại hội đồng đã xem xét bản dự thảo Tuyên ngôn về các quyền tự do cơ bản (Declaration on Fundamental Human Rights an Freedoms) và chuyển dựthảo này cho ECOSOCđểỦyban Quyền con người xem xét “chuẩn bịcho việc xây dựng một bộluật quốc tếvềquyền con người”. Trong phiên họp đầu tiên vào năm 1947, Ủy ban Quyền con người đã chỉ định một sốchuyên gia chịu trách nhiệm xây dựngdựthảođầu tiên của Bộluật quốc tếvềquyền con người. Sau đó, nhóm chuyên gia này được thay thế bởi một ủy ban soạn thảo chính thức, bao gồm đại diện của tám quốc gia thành viên của Ủy ban Quyền con người được bầu ra dựa trên sự cân bằng về khu vực địa lý.

Ngày 10/12/1948, Đạihội đồng Liên HợpQuốc đãthông qua bản Tuyên ngôn toàn thếgiới vềquyền con người, chỉba năm sau khi Liên Hợp Quốc được thành lập. Đây là văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên tập trungđề cấp vấn đề quyền con người. Bản Tuyên ngôn gồm 30 điều, lần đầu tiên xác định một tập hợp những quyền và tự do cụ thể, cơ bản của con người trên tất cả các phương diện chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa.

1.2.4.2. Quyền dân sự, chính trị trong Luật quốc tế

Cùng với cơchế quốc tế bảo vệ vàthúc đẩy quyền con người, những chuẩn mực quốc tếvềquyền con người (international human rights standards) hay còn gọi là các quy phạm quốc tế về các quyền và tự do của con người là một trong hai bộ phận quan trọng cấu thành luật quốc tế về quyền con người. Về cơ bản, hệ thống các chuẩn mực quốc tếvềquyền con ngườiđược chia thành các quyền cá nhân (individual rights) và các quyền đặc thù áp dụng cho một số nhóm người cụ thể gọi là quyền của nhóm (group rights).

Xét ở góc độ pháp điển hóa, các quyền và dự do này đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR), sauđó, được tái khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều văn kiệnquốc tếmà đặc biệt là Côngước quốc tếvềcác quyền dânsự,chínhtrị(ICCPR)(đượcĐại hộiđồng liên hợpquốc thông qua vào năm 1966) và trong một số văn kiện quốc tế khác trên lĩnh vực này.

Xét về danh mục, có nhiều cách phân chia khác nhau với các quyền và tự do cá nhân dựa trên những cách tiếp cận khác nhau với nội dung của UDHR, ICCPR và ICESCR. Theo cách tiếp cậnliên kết, cóthểchia các quyền vàtựdo cá nhân thành 5 nhóm, bao gồmnhóm quyền dân sự, nhóm quyền chính trị, nhóm quyền kinh tế, nhóm quyền xã hội và nhóm quyền văn hóa. Cụ thể nhóm quyền dân sự vàchính trị bao gồm các quyền và tự do như sau:

Nhóm quyền dân sự (civil rights), bao gồm:

a) Quyền khôngbịphân biệt đối xử,được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật.

b) Quyền sống, tự do và an ninh cá nhân. c) Quyền về xét xử công bằng.

d) Quyền về tự do đi lại, cư trú. e) Quyền được bảo vệ đời tư.

f) Quyền được tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo.

g) Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trước hôn nhân. Nhóm quyền chính trị (political rights), bao gồm:

a) Quyền tự do biểu đạt. b) Quyền tự do lập hội.

c) Quyền tự do hội họp một cách hòa bình. d) Quyền tham gia vào đời sống chính trị.

1.2.4.3. Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong Luật quốc tế

Xét ở góc độ pháp điển hóa, các quyền và tự do này đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thếgiới vềquyền con người năm 1948 (UDHR), sau đó,được tái khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế khác mà đặc biệt làCông ước quốc tếvềcác quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR)(được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào năm 1966).

Danh mục các quyền và tựdo được xác định dựa trên ICESCR, việc phân tích nội dung chi tiết của các quyền vềcơ bản được dựa trên các bình luận chung

(general comments) của Ủy ban giám sát ICESCR (Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa). Bên cạnh đó, các nhận xét kết luận (concluding observations) mà Ủy ban này đưa ra và công bố sau khi kết thúc việc xem xét báo cáo của mỗi quốc gia trong việc thực hiện công ước cũng là nguồn tham chiếu khi giải thích mộtsốquyền. Ngoài ra, một số nguồn khác đôi khi cũng được sử dụng cho mục đích này, trong đó bao gồm những văn kiện và tài liệu có liên quan do Liên Hợp Quốc thông qua, ấn hành và một số sách chuyên khảo của các chuyên gia nổi tiếng trên thế giới trên lĩnh vực quyền con người.

Theo cách tiếp cận liên kết thì các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được chia thành ba nhóm, cụ thể như sau:

Nhóm quyền kinh tế (economic rights), nhóm này bao gồm:

a) Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng. b) Quyền lao động.

Nhóm quyền xã hội (social rights), nhóm này bao gồm:

c) Quyền được hưởng an sinh xã hội. d) Quyền được hỗ trợ về gia đình.

e) Quyền được hưởng sức khỏe về thể chất và tinh thần. Nhóm quyền văn hóa (cultural rights), nhóm này bao gồm:

f) Quyền giáo dục.

g) Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu khoa học.

Pháp luật Quốc tế vềquyền con người được hình thành trong suốt một thời gian dài và trải qua nhiều cuộc đấu tranh mang tính lịch sử. Cùng với việc gia nhập và trởthành thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam cũng đã tham gia và phêchuẩn nhiều Côngướccủa Liên hợp quốc vềquyền con người. Các quyền nàyđã được cụ thể hóa vào nhiều văn bản quy phạm pháp luật và được triển khai trên thực tiễn, đi vào đời sống nhân dân.

1.2.5. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền con người

Giống nhưởnhiều quốc gia khác, ởViệt Nam, Đảng và Nhà nước đã xácđịnh những tưtưởngvà đường lối chỉ đạo về quyền con người làm cơ sở cho việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trên thực tế.

Những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người thể hiện:

– Thứ nhất: Quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại.

– Thứ hai: Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp.

-Thứba: Quyền con người vừa có tính phổbiến, vừa có tính đặc thù, phụ thuộc vào truyền thống, đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia.

– Thứ tư: Quyền con người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất. – Thứ năm: Quyền con người phải được pháp luật quy định.

– Thứ sáu: Quyền không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm.

-Thứbảy: Các quyền con người cần đượctôn trọng vàbảođảm một cách bình đẳng.

-Thứtám: Tôn trọng, bảo vệvà thúc đẩyquyền con người trước hết là trách nhiệm của mỗi quốc gia.

– Thứ chín: Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người gắn liền với việc bảo vệvà thúcđẩyhòa bình, ổn định, an ninh, bình đẳng và cuộc sống phần vinh ở mỗi quốc gia trên thế giới.

-Thứmười: Đối thoại và hợptác quốc tếlà yêu cầu cần thiết, khách quan để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

– Thứ mười một: Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là mục tiêu của Đảngvà NhànướcViệt Nam, là yêucầutrong xây dựng Nhànướcpháp quyền và là động lực cho việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [6].

Từnhững quan điểmcơ bản vềquyền con người như nêu trên, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã và đang xây dựng và thực hiện chính sách nhằm trực tiếp và gián tiếp bảo vệ, thúc đẩy quyền con người.

Trong lĩnh vực thu hồi đất đai, các quy định của Luật Đất đai, Luật Dân sựvà các văn bản pháp lý có liên quan cũngđã ghi nhận các quyền cơ bảncủacon người theo Công ước Quốc tế. Tuy nhiên, với một số lượng các văn bản tương đối lớn trong lĩnh vực đất đai, bao gồm các luật, nghị định, thông tưhướng dẫn…dẫn đến có không ít các quy định chồng chéo dẫn đến việc triển khai thực hiện gặp rất nhiều khó khăn. Hơn nữa, trong quá trình thực thi pháp luật cũng gặp không ít những tiêu cực làm ảnh hưởng đến các quyền cơ bản của ngườibịthu hồi đất. Những vụ việc liên quan đến thu hồi đất trong thời gian vừa qua là một minh chứng rõ nét cho vấn đềnày. Trong lĩnh vực thu hồi đất, người bịthu hồi đất có nhiều quyền khác nhau theo quy định của pháp luật nhưng về cơ bản là gồm các quyền vềsở hữu, quyền về lao động, việc làm, quyền giáo dục, quyền được hưởng cuộc sống

thích đáng, quyền được thông tin và quyền được xét xử công bằng…

Bảo đảm và bảo vệ cácquyền cơ bản của người bị thu hồi đất được các cấp, các ngành đặt ra từ lâu nay nhưng kết quả thực hiện thì chưa được là bao. Chính vìvậy, đòi hỏi cần phải có sự tìm hiểu kỹ lưỡng từ nguyên nhân đến hậu quả từ đó cónhững giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề này.

Chương 2

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI CƠ BẢN CỦA NÔNG DÂN

KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

2.1. Tình hình thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa tại Việt Nam

2.1.1. Diện tích đất bị thu hồi

Tại Hội thảo “Nông dân bị thu hồi đất – Thực trạng và giải pháp”được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức tại Hà Nội gần đây đã cho thấy tình trạng thu hồi đất của nông dân để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong 5 năm, từ năm 2001 – 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm 3,89% diện tích đất nông nghiệp đang sửdụng). Trongđó, diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha.

Các vùng kinh tế trọngđiểmlà khu vực có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc. Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308 ha), Đồng Nai (19.752 ha), Bình Dương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha), Cà Mau (13.242 ha), Hà

Nội (7.776 ha), Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh Phúc (5. 573 ha)…[5, tr.5]

Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển triển Nông thôn, tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tíchđấtthổ cư chiếm 11%. Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp, tỷlệ nàyở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác dưới 0,5% [5, tr.4].

Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếmtỷlệnhỏ trong tổngsốdiện tích đấttựnhiêncủađịaphương nhưnglạitậptrung vàomộtsố huyện, xã có mật độ dân số cao. Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, có xã diện tíchđấtbịthu hồi chiếm tới 70-80% diện tích đất canh tác. Các tỉnh nằm ngoài vùng trọng điểm về phát triển kinh tế, diện tích đất sản xuất và đất ở bị thu hồi còn tương đối nhỏ và nằm trong khoảng từ vài trăm tới dưới 1.000 ha [5, tr.5].

2.1.2. Đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất

Đất nông nghiệp là tài sản quý giá nhất, nguồn lực quyếtđịnhđể người nông dân tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong nhiều năm,Đảng và Nhà nước đã có những nỗ lực hỗ trợ nông dân tiếp cận quyền sửdụng đất đai. Tuy nhiên, cho đến nay, quyền sửdụng đấtcủa nông dân và vấn đề bảo hộnông dân giữa quyền sử dụng đất cả với tư cách là tư liệu sản xuất, lẫn tư cách tài sản đang tồn tại nhiều vấn đề.

Theo thống kê hiện nay, trung bình mỗi hec – ta đất bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp. Vùng đồng bằng sông Hồng cósố hộ bịảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ: khoảng 108 nghìn hộ. Sốhộ bị thu hồi đất ở các vùng khác thấp hơn: Tây Nguyên chỉcó

trên 138.291 hộ, Thành phố Hồ Chí Minh: 52.094 hộ…[13, tr.8].

Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách giúp thực hiện quá trình thu hồi đất và giải quyết việc làm cho các hộ gia đình bị thu hồi đất. Các địa phươngđã ban hành và tổchức thực hiện các chính sách cụthể đối với người dân thông thực hiện các văn bản chỉ đạo của Chính phủ như: Luật Đất đai 2003; Nghị định số197/2004/NĐ-CPvề bồi dưỡng, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị quyết 01/2004/NĐ-CP của Chính phủ về một số giải pháp chủyếu tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện ngân sách Nhà nước năm 2004…

Những quyđịnh vềgiá đất bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư… đã được tích cực triển khai tới từng hộ dân bịthu hồi đất nông nghiệp. Việc thu hồi đấtsảnxuất nông nghiệpđể chuyển đổi mụcđích sửdụng sang đất chuyên dùng đã tạođiều kiệnthuận lợi cho các địa phương phát triển công nghiệp, dịch vụ cũng như xây dựng các khuđô thị mới cho người dân địa phương; tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài. Số lượng lao động nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản chuyển sang làm việc ở các ngành phi nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ góp phần đẩymạnh chuyển dịch cơ cấulao độngtheo hướng tích cực, phùhợpvớiđịnh hướngphát triển của đất nước. Việc bố trí, sắp xếp nơi ở mới cho các hộ dân bị thu hồi đất đến nơi ở mới có quy hoạch tổng thể với hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội hiện đại đã góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.

2.1.3. Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp Trong quá trình thực hiện việc thu hồi đất nông nghiệp cho nhiều mục đích

khác nhau, trong đó chủ yếu là để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng đã tồn tại không ít những khó khăn, hạn chế cần phải khắc phục, cụ thể như sau:

– Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi hầu hếtlà vùng đất tốt, có điều kiện thuận lợi cho canh tác, trong khi các diện tích đất đền bù là đất xấu, cách xa khu dân cư và điều kiện hạ tầng phục vụ sản xuất còn nhiều khó khăn.

– Việc thực hiện định giá bồi thường đất cũng như tài sản trên đất chưa phùhợp với giáthịtrường và yêu cầuthực tế của việc chuyểnđổinghề nghiệp cho người nông dân.

– Một số địa phương chạy theo phong trào phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị mà chưa cân nhắc đếnhiệu quả; hoặc phát triển công nghiệp, dịch vụbằng mọi cách mà chưa chú ý đúng mức đến tác động đối với người nông dân.

– Hiện tượng quy hoạch treo, quy hoạch các khu đô thị, khu công nghiệp tràn lan là khá phổ biến. Quá trình quy hoạch chuyển đổi mục đích sửdụng cũng nhưthẩm định các phương án sử dụng đất và xây dựng phương án bồi thường chưa thực sựkhoa học, thiếu sự tham gia đầy đủ của các ngành, các tổ chức có liên quan hoặcđại diện cho quyền lợi của người nông dân.

– Thời gian triển khai công tác thu hồi đất kéo dài nhiều năm gây bất lợi đến tâm lý cũng nhưviệc ổn định đời sống vàviệc làm của các hộ nông dân có đất nông nghiệp nằm trong diện bị thu hồi. Các yếu tố trượt giá hầu như chưa được tính đến trong định giá bồi thường, hỗ trợ cho người nông dân.

– Công tác tuyển dụng lao động tại các địa phương có đất bị thu hồi chưa thực sựhiệu quả. Do vậy, lao động nông nghiệp nhìn chung không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Hầuhếtcác lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghềcũ sau khi đất sản xuất bị thu hồi;chỉcó mộttỷ lệrất nhỏ (khoảng vài %) chuyển sang nghề mới và tìm được việc làm ổn định. Có tới 67% số lao động nông nghiệp bị thu hồi đất vẫn giữnguyên nghề sản xuất nông nghiệp; 13% chuyển sang nghềmới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định. So sánh vớicác lao độngthuộc ngành phi nông nghiệp, lao độnglàm thuê và công nhân thì cơ hội của những người này chuyển sang nghề mới lớn hơn nhiều. Việc làm và thu nhập của các hộ sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp (chiếm tới 60%) làđối tượng bịtác động lớn nhất sau khi thu hồi đất vàgặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới. 53%số hộ cóthu nhập giảm so với trước kia khi bịthu hồi đất nông nghiệp, chỉ có 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước [29, tr.53].

–Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại các địa phương vừa thiếu, vừa yếu, dẫn đến hiện tượng không giải đáp rõ những thắc mắc của ngườidân hoặc áp dụng không đúng chính sách,chế độ bồithường, hỗtrợlàm ảnh hưởng đến quyềnlợi của người bị thu hồi đất.

– Trong quá trình bồi thường, hỗ trợ tái định cư, nhiều nơi lại thiên về bảo vệquyền lợi của nhà đầu tư mà chưa cân đối quyền lợi của người dân bị thu hồi đất.

2.2. Bảo đảm quyền con ngƣời cơ bản của nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam Bảo đảm quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *