An ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực tiễn của Việt Nam
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 70% bề mặt trái đất được bao bọc bởi biển và đại dương nên từ rất sớm, con người đã biết thám hiểm, chinh phục và mở ra các tuyến đường vận tải quốc tế phục vụ cho nhu cầu giao thông, thương mại. Ngành hàng hải càng phát triển, càng đối diện với nhiều hiểm họa an ninh, đặc biệt là cướp biển, khủng bố, vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển, người trốn theo tàu và các tội phạm khác trên biển. Bên cạnh đó, xuất hiện ngày càng nhiều những tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền giữa các quốc gia, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang, từ đó đe dọa an ninh tuyến đường vận tải biển, đe dọa quyền tự do hàng hải.
Trong nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm quản lý, bảo đảm an ninh hàng hải, Liên Hợp quốc, Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), các tổ chức quốc tế khu vực đã soạn thảo, ban hành nhiều văn bản pháp lý về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, tạo cơ sở cho các quốc gia thành viên nội luật hóa và thực thi trong hệ thống pháp luật quốc gia.
Là một quốc gia ven biển có đường bờ biển trải dài theo chiều dài đất nước, Việt Nam từ thủa sơ khai đã sớm hình thành các thương thuyền với nhiều hải cảng sầm uất. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành hàng hải đã đóng góp vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước, từng bước khẳng định vị thế của một ngành kinh tế mũi nhọn giúp Việt Nam “hướng ra biển, làm giàu từ biển”. Nhận thức rõ vai trò của tăng cường bảo đảm an ninh tàu biển, cảng biển đối với sự phát triển của ngành hàng hải, Việt Nam đã sớm phê chuẩn và gia nhập rất nhiều các công ước quốc tế về an ninh hàng hải đồng thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để nội luật hóa và thi hành các công ước quốc tế về an ninh hàng hải mà Việt Nam đã phê chuẩn, tham gia. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện hành thực sự đang thiếu vắng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển. Một số văn bản quy phạm pháp luật còn chưa rõ ràng, chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn trong thực tiễn thi hành.
Việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật quốc tế và Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng và cấp thiết đối với Việt Nam bởi hơn lúc nào hết an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam hiện đang bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa và cần có một hệ thống các giải pháp hữu hiệu nhằm tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải.
Dưới góc độ an ninh phi truyền thống, cướp biển khu vực Đông Nam Á đang là “điểm nóng” đe dọa trực tiếp tới an ninh tàu biển Việt Nam bởi Đông Nam Á là
tuyến vận tải truyền thống với 80% số tàu làm nhiệm con thoi trung chuyển hàng hóa từ Việt Nam tới các cảng lớn trong khu vực. Vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển cũng đang trực tiếp đe dọa tới an ninh tàu biển và cảng biển Việt Nam với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi. Khủng bố hàng hải luôn là hiểm họa tiềm tàng bởi sự gia tăng của các tổ chức khủng bố quốc tế và khu vực. Trộm cắp vặt, phá hoại, người trốn theo tàu, tiếp cận các khu vực cấm tại cảng diễn ra thường xuyên, đe dọa trực tiếp tới an ninh cảng biển Việt Nam.
Ở khía cạnh an ninh truyền thống, những tranh chấp chủ quyền tại biển Đông đang nổi lên tạo nguy cơ biến thành xung đột “nóng”, đe dọa trực tiếp đến môi trường an ninh, hòa bình và ổn định trong khu vực. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hơn 80% diện tích biển Đông, tiến hành hoạt động tuần tra, khảo sát, ngăn trở các nước khác khai thác tài nguyên. Cùng với đó là việc hiện đại hóa hải quân, cải tạo các bãi đá cạn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam do Trung Quốc chiếm giữ trái phép để xây dựng đường băng, căn cứ quân sự phục vụ ý đồ kiểm soát tuyến hàng hải quan trọng trong khu vực, từ đó, đe dọa trực tiếp tới an ninh tàu biển, cảng biển và quyền tự do hàng hải.
Như vậy, an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam hiện đang bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, trong khi hệ thống pháp luật quốc gia về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển còn chưa đầy đủ, tồn tại nhiều bất cập trong quá trình thực thi. Trước những đòi hỏi cấp thiết về việc nghiên cứu hệ thống pháp luật quốc tế và thực tiễn Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển Việt Nam, nghiên cứu sinh đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “An ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực tiễn của Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho mình.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật quốc tế và Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, chỉ ra những tồn tại, bất cập, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải của Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
(1) làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong pháp luật quốc tế hiện đại; (2) phân tích thực trạng pháp luật quốc tế và thực tiễn thi hành tại một số quốc gia; (3) phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam
về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong mối liên hệ với quá trình nội luật hóa các Công ước quốc tế về an ninh hàng hải mà Việt Nam là thành viên, chỉ ra được những bất cập, tồn tại trong thực tiễn thi hành để từ đó đề xuất giải pháp bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong pháp luật quốc tế hiện đại. Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam, Luận án có phạm vi nghiên cứu như sau:
- Phạm vi không gian: An ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển tại khu vực biển Đông sẽ được tập trung nghiên cứu, đặc biệt là lý luận và thực tiễn về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu vấn đề an ninh hàng hải trong luật quốc tế hiện đại và hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành về an ninh hàng hải.
- Giới hạn phạm vi các hiểm họa an ninh: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật trong đấu tranh với các hiểm họa tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền giữa các quốc gia, cướp biển/cướp có vũ trang, khủng bố, vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển, người trốn theo tàu. Nhiều hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải khác như biến đổi khí hậu, hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, ô nhiễm môi trường biển, hoạt động của các cơ quan Nhà nước chấp pháp nước ngoài (đâm chìm, tịch thu, phá hủy tàu cá, ngăn cản quyền tự do hàng hải.)… mặc dù cũng là hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển nhưng sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Giới hạn tàu biển: Các biện pháp an ninh nghiên cứu chỉ áp dụng với tàu biển có mục đích thương mại, chạy chuyến quốc tế với tổng dung tích từ 500 trở lên. Những loại tàu nhỏ có tổng dung tích dưới 500, tàu sông, tàu cá, tàu gỗ thô sơ, tàu du lịch, du thuyền, tàu quân sự, tàu ngầm, tàu của Nhà nước không có mục đích thương mại sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đề tài nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về an ninh hàng hải của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Ma-lay-xia…nhằm đề xuất những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, Luận án được tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đối với từng nội dung cụ thể, Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như:
phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh luật học, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn để đưa ra giải pháp cụ thể và khả thi.
- Phương pháp phân tích, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn là phương pháp chủ đạo được sử dụng trong hầu hết các chương, đặc biệt là chương 3 và chương 4 nhằm làm rõ nội dung của các quy định trong pháp luật quốc tế và Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển.
- Phương pháp thống kê được sử dụng chủ yếu ở chương 2 và chương 4 nhằm thống kê thực trạng và sự tác động của các hiểm họa tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền chủ quyền, cướp biển/cướp có vũ trang, khủng bố hàng hải, vận chuyển trái phép chất ma túy bằng đường biển, người trốn theo tàu đối với an ninh tàu biển, cảng biển. Phương pháp này cũng được sử dụng tại chương 4 trong quá trình thu thập số liệu về thực trạng năng lực thông quan, vận tải của hệ thống tàu biển, cảng biển Việt Nam.
- Phương pháp tổng hợp là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình thu thập tài liệu, phân tích các quan điểm, đề xuất và kiến nghị với các cơ quan chức năng về các biện pháp tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển Việt Nam.
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của chế định an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.
- Phương pháp hệ thống được sử dụng để xâu chuỗi và tìm ra sự nhất quán giữa các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan trong an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, qua đó, Luận án đánh giá, kiến nghị một cách hệ thống và toàn diện các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển.
- Phương pháp so sánh là phương pháp quan trọng nhằm phân tích và đối chiếu các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển. Ngoài ra, phương pháp này cũng được sử dụng hiệu quả trong việc so sánh các quy định về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển tại một số quốc gia khác với Việt Nam nhằm đưa ra những kinh nghiệm cần thiết cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề nghiên cứu.
Những đóng góp mới của Luận án
Trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài, Luận án có những đóng góp mới về phương diện khoa học sau đây:
- Thứ nhất, Luận án góp phần làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, có những luận giải rõ ràng về đặc điểm của an ninh hàng hải, nhận diện các hiểm họa an ninh hàng hải, đánh giá tác động của các hiểm họa an ninh hàng hải cũng như chỉ ra được sự khác biệt giữa an ninh hàng hải với an toàn hàng hải, vị trí của an ninh hàng hải trong an ninh quốc gia để từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách, pháp luật xây dựng cơ chế hữu hiệu cho bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển.
- Thứ hai, Luận án đã phân tích được quá trình hình thành và phát triển của chế định an ninh hàng hải trong luật quốc tế, đưa ra được đánh giá về các quy định của pháp luật quốc tế trong phòng ngừa và đấu tranh chống các hiểm họa an ninh và các biện pháp tăng cường an ninh tàu biển, cảng biển. Đặc biệt, Luận án đã đi sâu phân tích những vấn đề được coi là thách thức của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển hiện nay như tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia trên biển Đông, cướp biển, khủng bố hàng hải, vận chuyển trái phép ma túy, người trốn theo tàu…
- Thứ ba, Luận án đã tiến hành hệ thống hóa pháp luật và thực thi pháp luật của một số quốc gia về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển.
- Thứ tư, Luận án đã đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam, từ đó làm rõ thêm những thành tựu và hạn chế trong hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam.
- Thứ năm, Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về quy định của pháp luật quốc tế, thực tiễn của một số quốc gia và những hạn chế về pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về an ninh hàng hải đối với tàu biên, cảng biển của Việt Nam, Luận án đã đề xuất những giải pháp mang tính tổng thể, khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và năng lực thực thi pháp luật về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển của Việt Nam trong thời gian tới. Đề xuất xây dựng Chiến lược an ninh hàng hải quốc gia được coi là giải pháp điểm nhấn của Luận án.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Công trình nghiên cứu sẽ có giá trị tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan lập pháp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc xây dựng, ban hành và thực thi các văn bản quy phạm pháp luật về an ninh hàng hải đối với
tàu biển, cảng biển.
Công trình cũng có giá trị tham khảo đối với các công ty vận tải biển, các cảng biển trong hoạt động xây dựng và thực thi kế hoạch an ninh tàu biển và an ninh cảng biển.
Công trình cũng sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho các học giả nghiên cứu và các sinh viên chuyên ngành Luật Hàng hải thuộc Khoa Hàng hải, trường Đại học Hàng Hải Việt Nam – là đơn vị nơi nghiên cứu sinh đang giảng dạy.

Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các công trình của tác giả đã công bố trước đó và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của luận án được chia thành các chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu ở ngoài nước và trong nước liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Những vấn đề lý luận về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển. Chương 3: Pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển Chương 4: Thực tiễn Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC VÀ TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án
Trên thế giới, hiện có rất nhiều công trình nghiên cứu về an ninh hàng hải, tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:
Khái niệm an ninh hàng hải và pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển
Tất cả các công trình nghiên cứu đều cố gắng đưa ra khái niệm an ninh hàng hải bởi đây là một thuật ngữ chuyên ngành mở, chưa có định nghĩa thống nhất và việc đưa ra một định nghĩa về an ninh hàng hải có ý nghĩa quan trọng cho các học giả trong việc mở rộng hay thu hẹp phạm vi nội dung nghiên cứu của mình.
Cách tiếp cận phổ biến về an ninh hàng hải được các nhiều học giả như tác giả Nathalie Klein, James Kraska and Raul Pedrozo, Roach J. Ashley, Vreÿ Francois thể hiện trong bài nghiên cứu của mình là tiếp cận an ninh hàng hải theo hướng phủ định –“negative” nghĩa là xác định các hiểm họa phổ biến đe dọa tới an ninh hàng hải và nếu loại trừ được các hiểm họa này, đồng nghĩa với việc an ninh hàng hải được bảo đảm [167,28], [143, 49], [182, 41-66], [205, 121-132].
Một cách tiếp cận khác theo hướng “khẳng định” – “positive” theo đó an ninh hàng hải được hiểu là sự duy trì đảm bảo “trật tự ổn định trên biển” – “good” or “stable order at sea” theo quan điểm của tác giả Geoffrey Till, hay “trật tự ổn định của các đại dương chịu sự cai trị của các quy tắc luật trên biển” theo James Kraska and Raul Pedrozo hay là” một quá trình duy trì ổn định trên, dưới và từ biển” theo tác giả Ed Tummers [111, 36], [143, 45], [106,13].
Kết hợp cả hai cách tiếp cận nói trên, tác giả Christian Bueger trong bài viết “What is Maritime Security” đã đưa ra khái niệm an ninh hàng hải trong mối liên hệ với bốn khái niệm là an ninh quốc gia, môi trường biển, phát triển kinh tế và an ninh con người [94,13-14].
Trong cuốn sách “Maritime Security and the Law of the Sea”, tác giả Natalie Klein đã tiếp cận khái niệm an ninh hàng hải dưới hai khái niệm cơ bản: an ninh hàng hải trong hệ thống quốc tế và lợi ích an ninh của không gian đại dương, sử dụng đại dương cho hoạt động thương mại [167, 94].
Trong cuốn “Concepts of Maritime Security A strategic perspective on alternative visions for good order and security at sea”, tác giả Chris Rahman đã đi sâu phân tích nội hàm an ninh hàng hải được hợp thành từ năm nội dung là “an ninh
môi trường biển, quản lý đại dương, bảo vệ đường biên giới trên biển, hoạt động của lực lượng vũ trang trên biển và an ninh cho hệ thống giao thông vận tải biển” [ 96, 14-17]. Như vậy, các công trình nghiên cứu của các học giả chưa đưa ra một khái niệm thống nhất về an ninh hàng hải nhưng có điểm chung là tiếp cận từ các hiểm họa an ninh.
Trong cuốn sách “Maritime security: an introduction”, tác giả Micheel MC Nicolas đã nghiên cứu một cách đầy đủ các hiểm họa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển như tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển, cướp biển, khủng bố hàng hải, người trốn theo tàu, vận chuyển trái phép ma túy và các hành vi bất hợp pháp trên biển khác [164]. Các hiểm họa này cũng được liệt kê trong tất cả các công trình nghiên cứu, điển hình có thể kể đến như cuốn sách“Maritime Security: International Law and Policy Perspectives from Australia and New Zealand của Donal R. Rothwell, cuốn sách “Maritime security and the Law of the Sea” của Natalie Klein, hay cuốn sách “A practitioner’s Guide to Effective Ship and Port Security” của Michael Edgerton [105], [167], [165].
Tác giả Craig H. Allen trong cuốn sách “Legal challenges in Maritime Security: The International Supply Chain Security Regime and the Role of Competent International Organizations”, đã đưa ra nhận định “an ninh tàu biển và cảng biển đóng một vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế bởi hệ thống vận tải biển kết nối thương mại toàn cầu tới hơn 200 quốc gia trên thế giới. Chuỗi cung ứng vận tải biển này thường xuyên bị đe dọa bởi các hiểm họa” và do đó, đồng quan điểm với tác giả Donna Nincic và Christian Bueger, tác giả Craig H.Allen đã nghiên cứu phương pháp quản lý rủi ro trên cơ sở xây dựng một “ma trận” quản lý, từ đó xây dựng chiến lược và phương thức ưu tiên nhằm đối phó loại bỏ hiểm họa hoặc giảm thiểu những tác hại mà hiểm họa có thể gây ra [99, 34-67].
Một nội dung quan trọng mà nhiều học giả đề cập đến trong các nghiên cứu của mình chính là hệ thống pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển. Cuốn sách chuyên khảo nghiên cứu luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển đồ sộ nhất phải kể đến trước tiên chính là cuốn sách “International Maritime Security Law” của các tác giả James Kraska và Raul Pedrozo xuất bản năm 2013 với nội dung làm rõ các quy định của pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải [143, 94-678]. Cùng cách tiếp cận trên, nhiều học giả đã nghiên cứu khuôn khổ pháp lý về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển dựa trên nền tảng Công ước Luật biển 1982, Công ước an toàn sinh mạng người trên biển, Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng. Ngoài ra, những văn bản pháp lý quốc tế
điều chỉnh riêng từng hiểm họa an ninh đối với tàu biển và cảng biển cũng được các học giả tập trung nghiên cứu.
Các hiểm họa đe dọa an ninh tàu biển và cảng biển
- Tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển
Đây là một hiểm họa an ninh truyền thống, được các học giả đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Phù hợp với phạm vi nghiên cứu của Luận án, tác giả chỉ đề cập tới nội dung của các công trình nghiên cứu liên quan đến tranh chấp và giải quyết tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia trên Biển Đông.
Cuốn sách “The South China Sea towards a region of peace, security and cooperation” là tập hợp các bài tham luận của các học giả về an ninh biển Đông trong khuôn khổ hội nghị khoa học quốc tế với chủ đề “The South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development” [190]. Bên cạnh những bài viết đánh giá tầm quan trọng của biển Đông trong môi trường chiến lược đang thay đổi, các học giả Mark J.Valencia, Leszek Buszyinky, Fu-Kuo Liu, Geoffrey Till tập trung phân tích những diễn biến gần đây của biển Đông, các tranh chấp liên quan đến việc phân định ranh giới biển và chủ quyền đối với các đảo, lợi ích chiến lược và mối quan hệ Trung Quốc – Mỹ dẫn tới những hệ lụy đối với hòa bình, an ninh trong khu vực. Các học giả cho rằng, giải quyết tranh chấp biển Đông đòi hỏi sự hiểu biết thấu đáo Luật Biển thật sự quy định như thế nào về việc phân định ranh giới trên biển, do đó, vấn đề tranh chấp tại Biển Đông cần nhìn dưới góc độ luật pháp quốc tế [157, 123-156], [155, 24-69], [110, 78-96], [112].
Giáo sư Zou Keyuan đưa ra quan điểm về “đảo nhân tạo” và tác động của đảo nhân tạo đối với tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Trường Sa trong bối cảnh khái niệm “đảo nhân tạo” còn đang gây nhiều tranh cãi và chưa có bất kỳ định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi mặc dù Công ước Luật Biển 1982 có các điều khoản đề cập tới khái niệm này [208, 167]. Giáo sư Peter Dutton trong bài tham luận của mình, nghiên cứu về ba tranh chấp cơ bản ở Biển Đông và đưa ra kết luận, cần phải có Bộ quy tắc ứng xử để đảm bảo hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực. Ngoài ra trong cuốn sách còn có rất nhiều tham luận của các học giả liên quan tới vấn đề giải quyết tranh chấp, quản lý xung đột, hợp tác trên mọi lĩnh vực vì an ninh và phát triển ở Biển Đông [175, 148-162].
“Maritime security in South China Sea: Regional implication and International Cooperation” là một cuốn sách của Shicu Wu và Keyuand Zou tập trung nghiên cứu về vấn đề an ninh hàng hải trên biển Đông đặc biệt là vấn đề an
ninh truyền thống liên quan tới tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia [187].
Cuốn sách “Maritime Security in Southeast Asia” của Kwa Chong Gan và John K.Skogan tập trung nghiên cứu vấn đề an ninh hàng hải tại khu vực Đông Nam Á, đề cập tới trách nhiệm của các quốc gia cũng như sự hợp tác của các quốc gia trong khu vực nhằm xây dựng một cơ chế hữu hiệu bảo đảm an ninh hàng hải, duy trì trật tự trên biển. Nhìn chung, Công ước Luật biển 1982 là cơ sở nền tảng cho các học giả phân tích và đề xuất hướng giải quyết cho các tranh chấp cũng như yêu sách về chủ quyền và chủ quyền của các quốc gia ven biển [154].
- Cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàu thuyền
- Khủng bố hàng hải
- Vận chuyển ma túy trái phép bằng đường biển
Pháp luật quốc tế về các biện pháp tăng cường an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến đề tài luận án
Một số vấn đề lý luận về an ninh tàu biển, cảng biển
Hiểm họa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển Việt Nam
- Tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển
- Cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàu thuyền
- Khủng bố hàng hải
- Người trốn theo tàu
Đánh giá kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và những vấn đế luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án
- Những ưu điểm và kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển
- Những vấn đề chưa giải quyết thấu đáo
Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu mà các học giả trong nước và ngoài nước đã đạt được, thì luận án cần tiêp tục nghiên cứu các vấn đề sau:
Thứ nhất là tiếp tục làm sáng tỏ hơn, sâu sắc hơn hệ thống lý luận về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, cụ thể là:
- Làm rõ khái niệm tàu biển, cảng biển, khái quát hóa được khái niệm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển. Nhận diện các hiểm họa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, nghiên cứu làm nổi bật vai trò của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong thương mại quốc tế.
- Trong quá trình nghiên cứu cần đặt an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong mối quan hệ với an toàn hàng hải và an ninh quốc gia làm cơ sở cho đề xuất các giải pháp xây dựng chính sách, pháp luật của quốc gia về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển.
Thứ hai là nghiên cứu hệ thống pháp luật quốc tế và thực thi pháp luật quốc tế về an ninh hàng hàng hải đối với tàu biển, cảng biển tại một số quốc gia cụ thể:
- Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của chế định an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong pháp luật quốc tế- một vấn đề chưa được các học giả đề cập tới.
- Tiếp tục nghiên cứu, phân tích nhằm làm sáng tỏ nội dung của các quy định trong pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển cũng như liên hệ thực tiễn thi hành pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Ma-lay-xia.
- Phân tích các thiết chế quốc tế trong việc bảo đảm thực thi pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển.
Thứ ba là cần tiếp tục nghiên cứu vấn đề pháp luật Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển. Đây là vấn đề pháp lý chưa được nhiều học giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu một cách toàn diện, và sẽ là cơ hội cho tác giả được tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu trong luận án của mình. Cụ thể là:
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, quá trình nội luật hóa các Công ước quốc tế để thấy mức độ tương thích và phù hợp của pháp luật Việt Nam với các Công ước quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển mà Việt Nam đã ký kết, tham gia.
- Phân tích thực tiễn thi hành pháp luật an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển. Hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong bảo đảm thực thi pháp luật về an ninh hàng hải cũng được tiếp tục đề cập đến trong luận án.
- Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu chỉ ra các bất cập còn tồn tại trong hệ thống pháp luật để đề xuất giải pháp đồng bộ cho bảo đảm tăng cường an ninh hàng hải đối với tàu biển và cảng biển của Việt Nam.
Giả thuyết nghiên cứu của luận án
Giả thuyết thứ nhất : Trong bối cảnh hội nhập và thương mại hóa toàn cầu, an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển đang bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa.
Giả thuyết thứ hai: Pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển là công cụ hữu hiệu và hợp tác quốc tế là xu hướng tất yếu cho các quốc gia trong đấu tranh, đối phó với các hiểm họa đe dọa an ninh.
Giả thuyết thứ ba: Thực trạng pháp luật Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển chưa thực sự đầy đủ, còn tồn tại nhiều mẫu thuẫn, bất cập trong thực tiễn thi hành, đòi hỏi phải xây dựng chính sách và hệ thống các giải pháp đồng bộ để tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải Việt Nam trước các hiểm họa đe dọa an ninh tàu biển cảng biển hiện nay.
Câu hỏi nghiên cứu
Nội dung của Luận án sẽ tập trung nghiên cứu để trả lời cho các câu hỏi:
Khái niệm, vai trò và các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển? Mối quan hệ giữa an ninh hàng hải với an toàn hàng hải, an ninh hàng
hải với an ninh quốc gia?
Tại sao pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển quy định tương đối đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia, các chủ thể liên quan trong hợp tác, ứng phó với các hiểm họa đe dọa an ninh nhưng lại chưa hiệu quả trong bảo đảm tăng cường an ninh tàu biển, cảng biển trên thực tế?
Hệ thống pháp luật Việt Nam đã đầy đủ và phù hợp với các điều ước quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia chưa và cần hoàn thiện như thế nào để trở thành một công cụ hữu hiệu trong tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển?
Hướng tiếp cận của luận án
Để luận giải, minh chứng cho các giả thuyết của luận án, tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu, luận án sẽ tiếp cận theo các hướng sau:
Tiếp cận hệ thống: An ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển được đặt nghiên cứu trong mối quan hệ với an toàn hàng hải, an ninh quốc gia, an ninh con người và trong các văn bản pháp lý quốc tế, tạo nên một hệ thống chỉnh thể thống nhất, toàn diện.
Tiếp cận liên ngành: Luận án có sự kết hợp tri thức của nhiều ngành khoa học như khoa học chính trị, khoa học triết học, khoa học hàng hải, khoa học Luật (luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật hàng hải, luật công pháp quốc tế…).
Tiếp cận lịch sử: Quan điểm lịch sử được nhất quán trong toàn bộ quá trình nghiên cứu, đặc biệt trong việc đánh giá sự hình thành và thực thi pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển.
Tiếp cận so sánh: Được sử dụng trong quá trình nghiên cứu pháp luật của các quốc gia khác, từ đó so sánh, rút ra những kinh nghiệm thực tiễn cho Việt Nam.
Kết luận chương 1
Nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu của các học giả tiền bối đã cho tác giả một cái nhìn toàn diện, sâu sắc về các vấn đề liên quan đến đề tài luận án, qua đó, tác giả nhận thấy mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về an ninh hàng hải nhưng chưa có một công trình nào, đặc biệt ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu tiếp cận một cách đầy đủ, toàn diện về vấn đề này. Nhận thức được điều đó, nghiên cứu sinh đã xác định rõ mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. Đó là sẽ tiếp tục tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, pháp luật quốc tế và thực tiễn của Việt Nam về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển để từ đó đề xuất những giải pháp tổng thể, toàn diện nhằm tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển tại Việt Nam
CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN NINH HÀNG HẢI ĐỐI
VỚI TÀU BIỂN, CẢNG BIỂN
Khái niệm và vai trò của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong quan hệ quốc tế
Trong chương này, tác giả sẽ làm tập trung làm rõ nội hàm định nghĩa an ninh, tàu biển, cảng biển, an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển. Đặc điểm và vai trò của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển cũng được tập trung nghiên cứu với mục đích luận giải cho phạm vi và hướng nghiên cứu của đề tài.
Định nghĩa
- Định nghĩa an ninh
Theo một lẽ tự nhiên, khi gặp phải nguy hiểm, đe dọa, người ta thường nghĩ đến an ninh, nên nhắc tới an ninh, đặc trưng cơ bản nhất được nhắc tới là mối quan hệ giữa sự uy hiếp và nguy hiểm [44,13]. Trong tiếng Trung, “an ninh” được hiểu là trạng thái chưa có nguy hiểm, không bị đe dọa, không xảy ra sự cố. Trong tiếng Anh, “an ninh” – Security, được hiểu đơn giản là “tự do trước nỗi sợ hãi và lo lắng”, là “tự do khỏi sự nguy hiểm, rủi ro” hoặc “là sự thiếu vắng các hiểm họa” [166], [174]. Trong tiếng Việt, an ninh là “trật tự xã hội, tình hình chính trị yên ổn, không lộn xộn, không nguy hiểm, là “khả năng giữ vững sự an toàn trước các mối đe dọa” [83,9], [45,19]. Dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng giữa các khái niệm có sự tương đồng ở chỗ an ninh là không tồn tại sự đe dọa và nguy hiểm.
An ninh là một nội dung quan trọng trong quan hệ quốc tế, là “hình thức đặc biệt của chính trị” [152,18]. Tuy nhiên, an ninh không phải là khái niệm tĩnh mà luôn phát triển và mở rộng với thời gian. Nhìn lại chiều dài lịch sử thế kỷ 20, trong bối cảnh xung đột vũ trang của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Chiến tranh lạnh, khái niệm an ninh được hiểu như khả năng của một quốc gia có thể ngăn chặn được cuộc xâm lược vũ trang từ bên ngoài. Vì vậy, trong lý thuyết quan hệ quốc tế, Chủ nghĩa hiện thực đã đồng nhất coi an ninh là sự bảo vệ hay đảm bảo chủ quyền của một quốc gia trước sự tấn công hoặc ảnh hưởng của các quốc gia khác.
Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa, hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng trên mọi lĩnh vực. Trong kỷ nguyên mới, các quốc gia cũng phải đối diện với nhiều hiểm họa an ninh, không chỉ đến từ bên ngoài mà còn xuất phát từ chính bên trong, không chỉ đến từ vũ khí, máy bay, tàu chiến mà còn đến từ chính kinh tế, văn hóa, xã hội. Ô nhiễm môi trường, biển đổi khí hậu, thiên
tai, bệnh dịch, đói nghèo, di dân, cạn kiệt tài nguyên… – những thứ vốn thuộc chủ đề “chính trị cấp thấp” trong góc nhìn của Chủ nghĩa hiện thực – bỗng trở nên sống động, làm tâm điểm bàn luận cho vấn đề an ninh phi truyền thống [44,38]. Đó là quan niệm mới về một trạng thái an ninh với sự mở rộng theo hướng không chỉ tập trung vào cấp độ quốc gia mà còn tập trung vào cả cấp độ cá nhân và an ninh con người là một trong những cách tiếp cận nổi bật.
Tuy nhiên, nhận thức và xác định những vấn đề an ninh phi truyền thống vẫn chưa có sự thống nhất. Nhiều công trình nghiên cứu đã trích dẫn quan điểm của Liên hợp quốc về vấn đề an ninh phi truyền thống bao gồm 7 lĩnh vực chính là: an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh y tế, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị [16,22]. Một số nghiên cứu khác lại quy an ninh phi truyền thống về 5 lĩnh vực cơ bản gồm: an ninh môi trường, an ninh kinh tế, an ninh xã hội, an ninh chính trị và an ninh văn hóa hay phân thành 6 nhóm chính: ô nhiễm môi trường, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, tội phạm xuyên quốc gia, nạn khủng bố, dịch bệnh truyền nhiễm và thảm họa địa chất [ 149,25].
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 giữa các nước ASEAN và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung ASEAN – Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống, xác định an ninh phi truyền thống là những vấn đề: tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế, tội phạm công nghệ cao.
Tuy có nhiều quan điểm, nhưng chúng đều có một điểm chung là xác định các vấn đề an ninh phi truyền thống là gì để so sánh và qua đó thấy được sự khác biệt với vấn đề an ninh truyền thống. Nếu an ninh truyền thống coi quốc gia là đối tượng của an ninh và giá trị của an ninh là chủ quyền quốc gia, được biểu hiện bằng sự toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết tối cao trong lĩnh vực đối nội đối ngoại thì an ninh phi truyền thống lại coi con người là đối tượng của an ninh và giá trị cơ bản của an ninh phi truyền thống xoay quanh tất cả vấn đề khác có khả năng trở thành một mối đe dọa đối với cuộc sống của quốc gia hay cộng đồng [79,25], [44 ,45].
- Định nghĩa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển
Trước khi tiếp cận định nghĩa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, tác giả cần làm rõ một số vấn đề về tàu biển, cảng biển, quy chế pháp lý của tàu biển, cảng biển, bởi lẽ nội dung của nó không chỉ quan trọng trong việc góp phần làm rõ định nghĩa về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển mà còn giúp tác giả xác
định phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài.
- Định nghĩa tàu biển
Là một phương tiện hình thành lâu đời trong lịch sử nhân loại nhưng định nghĩa tàu biển được hiểu và giải thích không đồng nhất trong các văn kiện pháp lý quốc tế và pháp luật của các quốc gia. Qua kết quả nghiên cứu đạt được của một số học giả như G. Yankov, Jan Gidel hay Don Meyer, thì tàu biển – “ship” là bất kỳ loại tàu thuyền, có cấu trúc nổi, có kích cỡ lớn, có khả năng hành hải qua các vùng biển rộng [171,248], [145,70], [102,22]. Trong khi đó, tàu thuyền – “vessel” là cấu trúc nổi di động được thiết kế để hoạt động trên biển và các vùng nước liên quan với chức năng chuyên chở người hoặc hàng hóa [145,70], [192,764], [179,911].
Với sự giải thích trên, thuật ngữ “tàu biển” có nội hàm hẹp hơn thuật ngữ “tàu thuyền” bởi một tàu thuyền đi trên biển gọi là tàu biển, ngược lại không thể gọi một chiếc tàu thuyền là tàu biển nếu tàu thuyền ấy hoạt động trên sông, hồ hoặc những vùng nước không liên quan đến biển.
Trong pháp luật quốc tế, định nghĩa tàu biển được đề cập ở 25 Công ước quốc tế đa phương và mỗi định nghĩa được đưa ra trong Công ước chỉ phù hợp với mục đích và phạm vi điều chỉnh của từng Công ước đó [179, 912].
Thuật ngữ “ship” trong Công ước Hagues 1924 được dùng chỉ tàu biển – “là bất kỳ loại tàu nào dùng vào việc chuyên chở hàng hoá bằng đường biển” và được giải thích chi tiết hơn trong Công Marpol 1973-1978 –“là bất kỳ kiểu tàu nào hoạt động trong môi trường biển, kể cả tàu tàu cánh ngầm, tàu đệm khí, tàu ngầm, phương tiện nổi, cũng như các công trình nổi cố định hoặc di động” [196], [126].
Trong một số Công ước quốc tế khác, thuật ngữ “ship”– tàu biển được thay thế bằng thuật ngữ “vessel”– tàu thuyền, ví dụ như trong Công ước Colreg 1972, tàu thuyền bao gồm tất cả các loại phương tiện dùng hoặc có thể dùng làm phương tiện giao thông trên mặt nước, kể cả loại tàu không có lượng chiếm nước, tàu cánh ngầm (WIG), thủy phi cơ [125]. Thuật ngữ “vessel” được giải thích một cách ngắn gọn trong Công ước quốc tế về cứu hộ năm 1989, “là bất cứ tàu, phương tiện hoặc cấu trúc nổi có khả năng hành hải”[128].
Nhiều quan điểm cho rằng, thuật ngữ “ship” hay “vessel” không tạo ra hai khái niệm khác nhau và việc sử dụng chúng phụ thuộc vào từng ngữ cảnh cụ thể.
Quan điểm này dần chiếm ưu thế và được thể hiện trong UNCLOS khi thuật ngữ “ship” được đề cập tại các phần II, III (trừ Điều 42 (1,c)), IV, VII và X; còn thuật ngữ “vessel” được đề cập tại phần I, V, XII (trừ Điều 233), XIII và XV. Như vậy, trong UNCLOS không có sự phân biệt về mặt pháp lý giữa hai thuật ngữ này.
Một điểm chung dễ nhận thấy trong rất nhiều Công ước quốc tế, tàu biển
thường bị giới hạn là tàu đi trên biển, không bao gồm tàu sông, tàu quân sự, tàu cá, tàu gỗ thô sơ, tàu du lịch, du thuyền và tàu của quốc gia không tham gia vào mục đích thương mại bởi mục đích của tàu biển là thương mại với chức năng vận chuyển hàng hóa, hành khách. Ngoài ra, loại tàu nhỏ, có tổng dung tích dưới 500 cũng không được coi là tàu biển bởi theo cách hiểu truyền thống, tàu biển là phương tiện vận chuyển kích cỡ lớn, có khả năng đi qua đại dương và các vùng biển rộng [136].
Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, định nghĩa tàu biển được tiếp cận khác nhau, có thể khái quát thành các nhóm:
Nhóm thứ nhất: một số quốc gia (Hoa Kỳ, Canada Liberia. Nga, Anh…) đã đưa ra định nghĩa tàu biển trên cơ sở mô tả đặc tính tàu biển là có cấu trúc nổi, dùng trong hành hải cho mục đích vận tải thương mại.
Nhóm hai: một số quốc gia như Xinh-ga-po, New Zealand đưa ra định nghĩa tàu biển trên cở sở mô tả đặc tính tàu đồng thời liệt kê các loại tàu nào được coi là tàu biển.
Nhóm ba: một số quốc gia (Autralia , Nhật Bản, Trung Quốc…) đưa ra định nghĩa về tàu biển trên sơ sở vừa mô tả đặc tính tàu, vừa kết hợp việc liệt kê các loại tàu nào là tàu biển và liệt kê những đối tượng không phải tàu biển.
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về tàu biển, nhưng các định nghĩa đó đều chỉ ra những đặc điểm chung dễ nhận biết của tàu biển:
Thứ nhất: tàu biển phải là một loại cấu trúc nổi di động, có động cơ hoặc không có động cơ, có khả năng hành hải trên biển. Tính nổi là đặc điểm chung của tàu biển, do đó, các phương tiện tàu ngầm hay thủy phi cơ sẽ chỉ được coi là tàu biển khi chúng đi nổi trên mặt nước. Ngoài ra đặc tính hoạt động trên biển và đại dương cũng là đặc điểm để phân biệt tàu biển với tàu thủy nội địa vì cùng là tàu nhưng hoạt động ở các vùng nước khác nhau sẽ có quy chế pháp lý khác nhau.
Thứ hai: tàu biển có mục đích thương mại với vai trò là một phương tiện vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường biển. Đây là đặc điểm để nhận dạng và phân biệt tàu biển với tàu công vụ nhà nước, tàu quân sự, tàu cá, tàu gỗ thô sơ và loại tàu khác không có mục đích thương mại.
Trong Bộ luật Hàng Hải Việt Nam năm 2015, tàu biển được định nghĩa “là phương tiện nổi di động chuyên dùng hoạt động trên biển không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi” [61].
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đồng ý với định nghĩa tàu biển được đưa ra trong Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, bởi lẽ, định nghĩa này phù
hợp với các định nghĩa về tàu biển trong các Công ước quốc tế, thể hiện rõ nét thuộc tính nổi di động, hoạt động trên biển với mục đích thương mại– vốn là những đặc điểm cơ bản của tàu biển. Việc loại trừ các phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi ra khỏi định nghĩa tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải năm 2015 hiện hành là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với tinh thần của nhiều Công ước như Công ước Hagues 1924, Công ước Athens 1974, Công ước Inmarsat 1976, bởi các đối tượng này có điểm khác tàu biển là không có khả năng tự dịch chuyển trên biển.
- Định nghĩa cảng biển
Cảng biển có lịch sử hình thành lâu đời, đánh dấu sự nhận thức của con người từ rất sớm về vai trò của giao thông vận tải biển và một trong những công trình cảng biển lâu đời nhất được biết đến trên thế giới là cảng Alexandria, xây dựng vào năm 1900 trước công nguyên [25,19]. Nếu như khó tìm được một định nghĩa thống nhất về tàu biển, thì với cảng biển, dường như có một cách hiểu tương đối nhất quán trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia.
Thuật ngữ “seaport” – trong từ điển tiếng Anh trước tiên được hiểu là một đơn vị lãnh thổ được thành lập trên bờ biển [203,23]. Học giả J. Grosdidier de Matons cũng đồng quan điểm trên, khi ông cho rằng, “cảng biển là một nơi dọc bờ biển, được quản lý bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền do Nhà nước chỉ định, để phục vụ cho mục đích thương mại bằng đường biển” [151,13] . Tuy nhiên, định nghĩa của J. Grosdidier de Matons đã không tính đến sự tồn tại của rất nhiều cảng biển, trên thực tế có tham gia vào giao thông vận tải biển quốc tế nhưng nằm cách biển hàng trăm dặm (ví dụ như cảng Asuncion của Paraguay). Thuật ngữ “cảng biển” cũng có thể được sử dụng để chỉ các tuyến đường hẻm ở phía tây bờ biển châu Phi, nơi các khúc gỗ sau khi được xếp đã thả ra khỏi bờ và trở thành cầu tàu đang được sử dụng dọc theo bờ biển nơi này [203,23].
Trong Công ước Giơnevơ ban hành ngày 9/12/1923 về Quy chế quốc tế của cảng hàng hải, tại điều 1 có quy định những cảng “thường thường có tàu biển ra vào và dùng cho ngoại thương được gọi là cảng biển” [195]. Định nghĩa này tương đồng với định nghĩa cảng biển trong Bộ luật ISPS, theo đó, “cảng biển được hiểu là nơi giao tiếp với tàu biển chạy chuyến quốc tế”[136]. Đặc điểm tiếp nhận tàu biển chạy chuyến quốc tế trở thành điểm phân biệt rõ nét giữa cảng biển với cảng cá hay cảng thủy nội địa.
Trong một báo cáo cho Ủy ban của Cộng đồng châu Âu bởi nhóm làm việc
về cảng, cảng biển được định nghĩa: “là một khu đất và nước mà ở đó được trang bị các điều kiện làm việc cần thiết cho phép tiếp nhận tàu biển và các phương tiện vận tải khác để thực hiện việc xếp dỡ và bảo quản, giao nhận hàng, đồng thời nó còn bao gồm cả các hoạt động kinh doanh vận tải biển có liên quan khác” [181,5].
Khái niệm cảng biển của Ủy ban Cộng đồng Châu Âu có thể thấy tìm thấy trong sự tương đồng với khái niệm về cảng biển tại điều 5, khoản 11, của Đạo luật Cảng biển Colombia: “cảng là một nhóm các cơ sở hạ tầng bao gồm công trình, thiết bị lắp đặt cho phép sử dụng trong một khu vực liền kề ra biển nhằm tiếp nhận tất cả các loại tàu biển ra, vào xếp dỡ hàng hóa, chuyển giao hàng hóa giữa đường bộ với đường biển” cũng như tương đồng với quan điểm của học giả Ivan Roa, khi ông cho rằng: “cảng biển là những vùng gắn liền với biển, đại dương, kết nối giữa biển và đất liền, được trang bị cơ sở hạ tầng và các phương tiện kỹ thuật nhằm cung cấp nơi trú ẩn ở một mức độ khác nhau cho tàu thuyền, cho phép chuyển giao hàng từ một phương tiện vận tải khác xuống tàu thuyền và ngược lại” [142,1055].
Từ định nghĩa cảng biển, có thể nhận thấy được đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: cảng biển là đầu mối giao thông quan trọng kết nối giữa biển với đất liền, nơi tiếp nhận tàu biển ra, vào hoạt động để thực hiện thao tác xếp dỡ hàng hóa và vận chuyển hành khách. Do đó, chức năng chủ yếu của cảng biển là phục vụ tàu biển, cung cấp các các dịch vụ cho tàu vào cảng như dịch vụ thông quan, hoa tiêu, lai dắt, vệ sinh hầm hàng, cung cấp lương thực thực phẩm, nguyên nhiên vật liệu, bảo đảm an ninh cho tàu khi tàu neo đậu tại cảng… Phục vụ hàng hóa cũng là chức năng chủ yếu của cảng biển theo đó cảng biển sẽ cung cấp các dịch vụ như xếp dỡ, giao nhận, chuyển tải, bảo quản, lưu kho, tái chế, đóng gói, hỗ trợ cho công tác xuất nhập khẩu, phục vụ hàng quá cảnh.
Thứ hai: các cảng biển đều được đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và các trang thiết bị cho tàu biển ra vào để bốc dỡ hàng hóa và thực hiện các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu vận tải. Hiện nay cùng với sự bùng nổ phát triển logistics trên mọi lĩnh vực, cảng biển được coi là đầu mối quan trọng trong chuỗi logistics, có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả của cả quy trình logistics. Để phát triển logistics cảng biển đòi hỏi sự phát triển đồng bộ của hệ thống giao thông vận tải đến/đi từ cảng, đẩy mạnh các ứng dụng công nghệ thông tin trong cảng để tăng năng suất xếp dỡ, quản lý kiểm soát các rủi ro đe dọa an ninh cho tàu đến cảng.
Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, tại điều 73 đưa ra định nghĩa về cảng biển, theo đó “cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng, lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền đến, rời để bốc
dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện dịch vụ khác”.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đồng ý với quan điểm về cảng biển được quy định trong Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015, bởi lẽ định nghĩa này hoàn toàn tương đồng với cách hiểu về cảng biển trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của các quốc gia, đồng thời khái quát được những đặc điểm cơ bản của cảng biển.
- Định nghĩa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển
An ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế trong vài thập niên gần đây, đặc biệt sau sự kiện khủng bố rung chuyển thế giới ngày 11/9 năm 2001 tại Hoa Kỳ. Ý niệm về an ninh hàng hải xuất hiện vào thế kỷ XV với việc thiết lập một trật tự trên biển được bảo đảm bởi các quốc gia Châu Âu khi các quốc gia này tuyên bố chủ quyền mở rộng tại các vùng biển và đại dương. Ban đầu, an ninh hàng hải được hiểu là hành động của nhà nước, của các hãng tàu nhằm chống lại hiểm họa cướp biển. Tuy nhiên, với tư cách là một khái niệm về hoạch định chính sách toàn cầu, an ninh hàng hải đã xuất hiện với tầm quan trọng ngày càng tăng của các vấn đề an ninh phi truyền thống trong lĩnh vực hàng hải từ những năm 1990. Đặt trong bối cảnh ngày càng gia tăng căng thẳng tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển, sự lớn mạnh không ngừng của các tổ chức khủng bố cực đoan, sự tăng nhanh về số lượng, tính chất nguy hiểm của các hoạt động tội phạm trên biển, cho thấy an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển đã trở thành tâm điểm chú ý của an ninh toàn cầu.
Hiện nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong nỗ lực đưa ra một định nghĩa chung. Có thể chia thành hai quan điểm chính về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển:
Quan điểm thứ nhất: coi an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển là một bộ phận của an ninh hàng hải và được xem xét trong tổng thể khái niệm an ninh của quan hệ quốc tế.
Với quan điểm này, thuật ngữ hàng hải được hiểu như một tính từ chỉ không gian biển- một không gian tương tự đất liền, vì vậy an ninh hàng hải bao trùm lên một số lĩnh vực từ an ninh truyền thống đến an ninh phi truyền thống.
Dưới góc độ an ninh truyền thống: An ninh hàng hải được hiểu là sự toàn vẹn chủ quyền biên giới quốc gia trên biển, là sự an toàn của tuyến đường hàng hải, của tàu biển, cảng biển trước các hiểm họa an ninh truyền thống như cướp biển hay
tranh chấp liên quan đến chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển. [1,1-16]
Dưới góc độ an ninh phi truyền thống: An ninh hàng hải được hiểu là việc bảo vệ tài sản và lãnh thổ hàng hải khỏi các hành vi gây hại tiềm tàng bắt nguồn từ biển [148, 13]. Những hành vi này không chỉ bắt nguồn từ những hiểm họa truyền thống mà còn mở rộng ra nhiều hiểm họa phi truyền thống như khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu vũ khí, vận chuyển ma túy trái phép, di dân bất hợp pháp, ô nhiễm môi trường biển, suy giảm tài nguyên, mất cân bằng hệ sinh thái và những thảm họa thiên tai. Tìm kiếm cứu nạn cứu hộ trên biển cũng như vấn đề an ninh con người được đề cập đến như một khía cạnh của an ninh hàng hải [167,79].
Như vậy, định nghĩa an ninh hàng hải tiếp cận dưới góc độ an ninh phi truyền thống được mở rộng hơn rất nhiều so với định nghĩa an ninh truyền thống theo đó an ninh hàng hải bao gồm an ninh đối với tàu biển, cảng biển, an ninh chủ quyền quốc gia trên biển, an ninh môi trường biển và an ninh con người.
Ngoài cách tiếp cận an ninh hàng hải trong tổng thể định nghĩa an ninh của quan hệ quốc tế, còn có cách tiếp cận thứ hai về định nghĩa an ninh hàng hải là cách tiếp cận theo hướng khẳng định – “positive”và phủ định – “negative”.
Cách tiếp cận theo hướng ‘khẳng định” – “positive” mà đại diện là học giả Geoffrey Till, cho rằng biển là nguồn tài nguyên thiên nhiên, là môi trường sống của con người và là môi trường cho giao thông thương mại. Do đó, an ninh hàng hải nhấn mạnh đến sự duy trì đảm bảo “trật tự ổn định trên biển” – “good” or “stable order at sea” nhằm phục vụ cho sự phát triển của con người và trật tự này có thể bị đe dọa bởi “những hiểm họa” [111,311].
James Kraska and Raul Pedrozo cũng đồng quan điểm với Geoffrey Till, coi an ninh hàng hải “như là một trật tự ổn định của các đại dương chịu sự cai trị của các quy tắc luật trên biển”[143,34]. Còn theo Ed Tummers, an ninh hàng hải là “một quá trình duy trì ổn định trên, dưới và từ biển và cần có các nguyên tắc cơ bản chi phối việc sử dụng biển, đại dương trong hòa bình, an ninh ” [106,13].
Tuy nhiên, quan điểm cá nhân tác giả cho rằng, việc tiếp cận định nghĩa an ninh hàng hải theo hướng khẳng định -“positive” của các học giả trên khiến cho khái niệm an ninh hàng hải trở nên mơ hồ vì chưa có một sự giải thích thỏa đáng thế nào là “trật tự”, “ổn định” trên biển và đảm bảo “trật tự trên biển” phải bao gồm những nội dung gì.
Cách tiếp cận theo hướng phủ định –“negative” của nhiều nhà nghiên cứu trong đó có tác giả Roach J. Ashley cho rằng, an ninh hàng hải cần được tiếp cận
theo hướng xác định các hiểm họa phổ biến đe dọa tới an ninh hàng hải và đề ra các biện pháp loại trừ các hiểm họa đó [182,41-66]. Danh mục các hiểm họa an ninh hàng hải được nhiều học giả nỗ lực liệt kê bao gồm: tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia, khủng bố hàng hải, cướp biển, buôn bán ma tuý, buôn bán người bất hợp pháp bằng đường biển, phổ biến vũ khí, đánh bắt cá bất hợp pháp, các tội phạm môi trường, các tai nạn hàng hải và thảm họa thiên tai, biến đổi khí hậu [205,121-132]. Nếu loại trừ được các hiểm họa này, đồng nghĩa với việc an ninh hàng hải được bảo đảm. Như vậy, theo cách tiếp cận này, “an ninh hàng hải nên được hiểu là sự thiếu vắng, không bị đe dọa bởi các hiểm họa” [167,21].
Cách tiếp cận theo hướng phủ định –“negative” trở nên tương đối phổ biến. Trong báo cáo của năm 2008 của Liên Hợp Quốc về ” Đại dương và Luật biển” có xác định 7 mối hiểm họa cụ thể đe dọa tới an ninh hàng hải gồm: (1) cướp biển và cướp có vũ trang trên biển; (2) hành động khủng bố trên biển; (3) hoạt động buôn bán vũ khí, vũ khí hủy diệt hàng loại, (4) buôn lậu, vận chuyển ma túy; (5) vận chuyển buôn bán người bằng đường biển; (6) đánh cá bất hợp pháp không báo cáo, không theo quy định và (7) các hành động có chủ ý bất hợp pháp khác gây thiệt hại cho môi trường biển”[194].
Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng cách tiếp cận theo hướng phủ định – “negative” cũng có nhược điểm bởi việc lập danh sách các hiểm họa rất khó đầy đủ, cũng như không cung cấp được mối liên hệ gắn kết giữa các hiểm họa, không đưa ra được cách thức để có thể giải quyết các mối hiểm họa đó. Hơn nữa, nó tạo ra các câu hỏi như liệu biến đổi khí hậu, thiên tai trên biển có phải là hiểm họa của an ninh hàng hải? Hay tranh chấp giữa các quốc gia ven biển về chủ quyền và quyền chủ quyền là vấn đề an ninh quốc gia hay an ninh hàng hải?
Theo một hướng tiếp cận khác, kết hợp cả hai cách tiếp cận phủ định – “negative” và khẳng định – “positive” nói trên, định nghĩa an ninh hàng hải được học giả Christian Bueger nghiên cứu trong mối liên hệ với bốn định nghĩa là an ninh quốc gia, an ninh môi trường biển, an ninh kinh tế và an ninh con người. An ninh hàng hải gắn với an ninh quốc gia, gắn với quyền lực trên biển và sức mạnh hải quân trong việc bảo đảm trật tự an ninh trên biển, an ninh tuyến đường hàng hải và chủ quyền quốc gia trên biển. Do đó bảo đảm an ninh hàng hải chính là việc loại trừ các hiểm họa như tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền giữa các quốc gia, khủng bố hàng hải. An ninh hàng hải gắn với an ninh môi trường biển bởi bản thân biển cũng cần được duy trì trạng thái ổn định không bị đe dọa bởi các hiểm họa như tai nạn, đâm va, sự cố tràn dầu, ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và biến
đổi khí hậu. An ninh hàng hải cũng liên quan tới phát triển kinh tế xanh bởi biển và đại dương đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế thương mại toàn cầu thông qua hoạt động vận tải biển, qua tiềm năng cung cấp các nguồn tài nguyên biển và kinh tế du lịch ven biển mang lại. An ninh hàng hải liên quan đến an ninh con người mà giá trị cốt lõi của nó là an ninh lương thực, an ninh của thuyền viên trên tàu. Và do đó, an ninh hàng hải cần được bảo đảm khỏi các hiểm họa như cướp biển, buôn lậu ma túy, vũ khí, buôn bán người trái phép bằng đường biển và các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp [ 94,13-14]. Với cách tiếp cận này, an ninh được mở rộng nội hàm và an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển là một bộ phận trong tổng thể định nghĩa về an ninh hàng hải.
Qua những phân tích trên có thể thấy, dù được tiếp cận dưới góc độ “an ninh truyền thống” hay “an ninh phi truyền thống”, tiếp cận theo hướng ‘khẳng định” hay “phủ định” hoặc kết hợp cả hai cách tiếp cận trên thì an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển đều được xem xét như một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong tổng thể mở rộng của định nghĩa an ninh hàng hải và bảo đảm an ninh hàng hải chính là việc phòng ngừa, ứng phó với các hiểm họa an ninh.
Quan điểm thứ hai: coi an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển chính là an ninh hàng hải.
Nếu như quan điểm thứ nhất tiếp cận thuật ngữ hàng hải như một tính từ chỉ không gian biển, một không gian tương tự đất liền thì quan điểm thứ hai lại tiếp cận thuật ngữ hàng hải như một khía cạnh của quan hệ quốc tế tương tự như chính trị, kinh tế, môi trường, theo đó an ninh hàng hải được hiểu theo nghĩa hẹp, nhấn mạnh đến an ninh của việc sử dụng biển vào mục đích giao thông thương mại [1,1].
Đứng ở góc độ ngành vận tải biển, an ninh hàng hải tập trung vào an ninh hệ thống vận chuyển và sự an toàn của hàng hóa mà không bị gián đoạn bởi các hành vi bất hợp pháp. Craig H. Allen cho rằng an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển “là tổng thể các giải pháp được thực hiện bởi chủ tàu, người khai thác tàu, người quản lý tàu, người khai thác cảng, các công trình ven biển và các cơ quan quản lý nhà nước về hàng hải để bảo vệ tàu biển và cảng biển chống lại hành vi bất hợp pháp” [99,8].
Trong những khuyến nghị về an ninh hệ thống vận tải biển trong Chiến lược quốc gia về an ninh hàng hải của Hoa Kỳ cũng đưa ra định nghĩa an ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển (hay còn gọi là an ninh hệ thống vận tải biển): “là một chế độ an ninh theo định hướng hệ thống được xây dựng dựa trên các lớp bảo vệ và phòng thủ sâu nhằm giảm thiểu rủi ro an ninh cho tàu biển, cảng biển, đồng thời
bảo vệ các chức năng và hiệu quả của hệ thống giao thông vận tải biển” [93].
Cộng đồng chung Châu Âu (EU) cũng ban hành Quy định (EC) số 725/2004 về tăng cường an ninh tàu biển và bến cảng theo đó “an ninh hàng hải là việc bảo vệ tàu biển và các công trình cảng biển khỏi các hành động bất hợp pháp xảy ra trên biển”. Các hành động bất hợp pháp không chỉ là cướp biển, khủng bố hàng hải, buôn bán vũ khí, vũ khí hủy diệt hàng loại, vận chuyển ma túy, buôn bán người trái phép bằng đường biển mà còn bao gồm cả các tranh chấp lãnh thổ và xung đột vũ trang giữa các quốc gia, những tiềm ẩn của thiên tai, khí hậu cực đoan tác động trực tiếp tới hệ thống vận tải biển và cơ sở hạ tầng hàng hải [107].
Theo bản Chiến lược an ninh hàng hải của Anh (2014), an ninh hàng hải “là sự kết hợp của các biện pháp phòng ngừa để bảo vệ tàu biển và cảng biển chống lại các mối đe dọa của các hành vi cố ý bất hợp pháp như chiến tranh, tội phạm trên biển, cướp biển hay các cuộc tấn công mạng vào quá trình vận tải biển” [193].
Phù hợp với đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài, định nghĩa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong Luận án này được tác giả tiếp cận theo quan điểm thứ hai, nghĩa là tiếp cận định nghĩa trong phạm vi hẹp. Tuy nhiên, dù an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển theo quan điểm thứ nhất coi đó là một bộ phận của an ninh hàng hải hay theo quan điểm thứ hai, đồng nhất với khái niệm an ninh hàng hải thì đều có đặc điểm chung là tiếp cận theo hướng nhận diện các hiểm họa an ninh và bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển chính là phòng ngừa và ứng phó với các hiểm họa, từ đó, giảm thiểu và loại trừ hiểm họa.
Mặc dù còn nhiều quan điểm và cách giải thích khác nhau, nhưng về cơ bản, trong Luận án này an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển được hiểu “là sự kết hợp của các biện pháp phòng ngừa và ứng phó được quy định trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia nhằm bảo vệ hệ thống tàu biển, cảng biển trước các hiểm họa đe dọa an ninh của tàu biển, cảng biển trong quá trình vận tải biển quốc tế”.
Tiến trình toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại thúc đẩy quá trình giao lưu hợp tác giữa các quốc gia nhưng mặt khác cũng tạo tiền đề cho việc nhân rộng các hiểm họa đe dọa an ninh tàu biển, cảng biển. Sự nhận thức lại về giá trị to lớn của biển và đại dương làm gia tăng những tranh chấp về chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển. Sự lớn mạnh không ngừng của các tổ chức tội phạm quốc tế và lan rộng của chủ nghĩa khủng bố làm cho các hoạt động bất hợp pháp như cướp biển, khủng bố, buôn lậu ma túy, vũ khí tăng nhanh về quy mô và tính chất nguy hiểm. Sự đói nghèo, chiến tranh của một số quốc gia đang dẫn đến làn sóng di cư bất hợp pháp của người trốn theo tàu bằng đường biển vào các quốc gia
phát triển…An ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển hơn lúc nào hết đang bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, đòi hỏi có sự hợp tác liên ngành từ cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế.
Đặc điểm của an ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển
Trên cơ sở xây dựng định nghĩa về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển, trong phạm vi luận án, tác giả chỉ ra những đặc điểm cơ bản của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển như sau:
Thứ nhất: Chủ thể bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển là quốc gia và các thiết chế quốc tế.
Hơn 90% lượng hàng hóa trong thương mại quốc tế được vận chuyển bằng đường biển, do đó bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trở thành trách nhiệm của các thiết chế quốc tế trong chiến lược phát triển thương mại toàn cầu, đặc biệt phải kể đến vai trò của Liên hợp quốc, Tổ chức Hàng Hải quốc tế, Tổ chức Hải quan quốc tế và các tổ chức quốc tế khu vực như EU, ASEAN… Các tổ chức quốc tế có vai trò quan trọng không chỉ trong việc xây dựng, soạn thảo, ban hành hệ thống các văn kiện pháp lý quốc tế mà còn hỗ trợ cho các quốc gia thông qua các chương trình hợp tác kỹ thuật, hội thảo, đào tạo, huấn luyện, thực tập an ninh nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật quốc tế về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển.
Do vai trò quan trọng của ngành hàng hải đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nên bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trở thành mối quan tâm đặc biệt trong chiến lược bảo đảm an ninh quốc gia. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập hệ thống các cơ chế, chính sách, pháp luật và công cụ để bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển.
- Đối với tàu biển
Tàu biển được đăng ký, mang quốc tịch của quốc gia nơi tàu đăng ký hoạt động và con tàu đó sẽ được bảo vệ về quyền và nghĩa vụ, bao gồm cả bảo đảm an ninh hàng hải của tàu biển bởi quốc gia mà tàu mang quốc tịch theo nguyên tắc cờ tàu được quy định trong UNCLOS.
Trước đây, khi luật biển quốc tế chưa thực sự phát triển, nhằm bảo vệ lợi ích của mình, một số quốc gia đã yêu cầu công nhận tàu biển như một dạng “lãnh thổ nổi” của quốc gia trên biển, tại đó duy trì quyền lực Nhà nước như trên đất liền. Tuy nhiên hiện nay đa số quốc gia không ủng hộ quan điểm coi tàu biển là lãnh thổ nổi, mà chỉ xem nó là một thực thể độc lập trên biển và nguyên tắc quốc tịch sẽ không
mang tính tuyệt đối, bởi lẽ:
- Khi ở trong một cảng nước ngoài, tàu biển ngoài việc chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia mà tàu mang cờ, thì tàu còn phải tôn trọng các luật và quy định của quốc gia có cảng [ 70,70 -71].
- Tàu biển có thể là vật bảo đảm hoặc là đối tượng cầm cố do một bên thua kiện, đây không phải là tính chất của lãnh thổ [ 70,70 -71].
- Trên thực tế, quốc gia mà tàu mang cờ không phải lúc nào cũng thực hiện quyền tài phán tuyệt đối của mình lên tàu treo cờ nước mình, đặc biệt đối với tàu thực hiện việc thuê mướn quốc tịch hoặc treo cờ phương tiện.
Ngoài ra, nguyên tắc quyền tài phán quốc tịch đối với tàu biển trong một số trường hợp còn bị giới hạn bởi nguyên tắc quyền tài phán phổ quát. UNCLOS và thực tế xác định quyền tài phán của quốc gia tại khu vực biển quốc tế cho phép các quốc gia, ngoài quốc gia mà tàu mang quốc tịch, có thể thực hiện quyền tài phán của mình khi quyền và lợi ích của quốc gia đó có nguy cơ bị xâm hại hoặc vì lý do an ninh hàng hải. Một trong những trường hợp áp dụng nguyên tắc quyền tài phán phổ quát chính là đấu tranh chống cướp biển được quy định trong UNCLOS, theo đó, cho phép các quốc gia có quyền tài phán đối với tàu cướp biển tại những vùng biển nằm ngoài quyền tài phán thông thường của một quốc gia hoặc không quốc gia nào có thể thực hiện quyền tài phán thông thường đối với những tội phạm đó.
Từ sự phân tích về quy chế pháp lý của tàu biển trên có thể thấy, việc bảo đảm an ninh hàng hải đối với tàu biển thuộc trách nhiệm của nhiều chủ thể, căn cứ vào vị trí tương ứng của tàu tại các vùng biển khác nhau mà có thể thuộc về quốc gia tàu mang quốc tịch hay quốc gia có cảng biển hoặc thuộc về bất kỳ quốc gia nào theo nguyên tắc quyền tài phán phổ quát.
- Đối với cảng biển
Theo định nghĩa tại Điều 8 của UNCLOS, nội thủy là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Vùng nội thủy gồm có vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, các vịnh, các vùng nước nước nằm giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền tuyệt đối, hoàn toàn và đầy đủ tại vùng nội thủy như trên lãnh thổ đất liền. Do đó, trong vùng nội thủy không tồn tại chế độ “lãnh thổ nổi” của một số tàu biển mà được đặt dưới thẩm quyền giám sát và kiểm soát tương đối của quốc gia ven biển trong đó có quyền kiểm soát an ninh hàng hải. Nhằm bảo vệ chủ quyền cũng như bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải cho quốc gia ven biển, hầu hết các quốc gia đều ghi nhận chế độ xin phép trước dành cho tàu biển nước
ngoài muốn đi lại trong khu vực nội thủy của quốc gia ven biển.
Cảng biển là một bộ phận của nội thủy, do đó cũng không nằm ngoài quy chế này. Tuy nhiên, nhằm giải quyết nhu cầu giao thương hàng hải quốc tế và lợi ích về kinh tế – thương mại, các quốc gia có thể cho phép tàu biển của mỗi bên được tiếp cận cảng biển thông qua thủ tục rút gọn hơn thông thường. Quy chế Giơ-ne-vơ 1923 về quy chế pháp lý của cảng biển quốc tế đã đặt nền tảng cho sự tự do hóa hoạt động vận tải biển, đồng thời góp phần xóa bỏ sự phân biệt đối xử về quyền tiếp cận sử dụng các cảng nước ngoài khi Quy chế yêu cầu: “…mỗi nước ký kết cam kết dành cho tàu biển của nước ký kết khác sự đối xử bình đẳng trong các cảng biển nằm dưới chủ quyền hoặc thẩm quyền của quốc gia mình liên quan đến quyền tự do tiếp nhận cảng, sử dụng cảng và hưởng đầy đủ các lợi ích liên quan đến hoạt động thương mại, hàng hải dành cho tàu thuyền, hàng hóa và hành khách” [195].
Tuy nhiên, sự tồn tại của nguyên tắc đối xử bình đẳng không đồng nghĩa với quyền tự do tiếp cận cảng biển, thậm chí ngay cả các cảng của các quốc gia thành viên Quy chế, mà quyền này có thể được quy định một cách hợp lý trong pháp luật của các quốc gia thành viên [115,7 -13].
Thực tiễn cho thấy, các quốc gia đều ghi nhận quyền được cập cảng và sử dụng các dịch vụ trong cảng của tàu biển nước ngoài, tuy nhiên vẫn là thiết lập và duy trì một số điều kiện nhất định nhằm kiểm soát hoạt động của tàu biển nước ngoài trong cảng, đặc biệt liên quan tới an ninh hàng hải. Quốc gia có cảng biển thực hiện thủ tục kiểm tra hành chính đối với đối với tàu biển nước ngoài đến cảng và nếu có bằng chứng rõ ràng về việc tàu biển tạo ra nguy cơ đe dọa an ninh hàng hải thì có quyền giữ tàu trong cảng cho tới khi các khiếm khuyết được khắc phục.
Như vậy, quốc gia là chủ thể chủ yếu bảo đảm an ninh hàng hải cho tàu biển, cảng biển. Tuy nhiên, xét dưới góc độ quy chế pháp lý đối với tàu biển, cảng biển thì có sự khác nhau bởi đối với tàu biển, việc bảo đảm an ninh hàng hải thuộc trách nhiệm của một số các quốc gia căn cứ vào vị trí tương ứng của tàu trong khi bảo đảm an ninh cảng biển lại hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của quốc gia có cảng, được xác định trên cơ sở pháp luật quốc gia, phù hợp với pháp luật quốc tế.
Thứ hai: Định nghĩa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển xác định rõ đối tượng bảo vệ của an ninh hàng hải chính là là tàu biển, cảng biển.
Điều này có nghĩa rằng, chính bản thân tàu biển, cảng biển cần an ninh và tàu biển, cảng biển là đối tượng trung tâm cần được bảo vệ của khái niệm an ninh. Theo cách hiểu truyền thống, khi đề cập tới an ninh, được hiểu đó là an ninh của quốc gia, trong đó quốc gia là chủ thể trung tâm của khái niệm an ninh. Theo cách
hiểu phi truyền thống, an ninh được mở rộng, quan tâm đến những mối đe dọa khác đối với cộng đồng, cá nhân, trong đó coi con người là trung tâm của khái niệm. An ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển có sự giao thoa giữa an ninh quốc gia với an ninh con người. Khi an ninh tuyến đường hàng hải, quyền tự do hàng hải bị đe dọa, cũng chính là đe dọa đến an ninh quốc gia. Mặt khác, khi tàu biển, cảng biển bị đe dọa bởi cướp biển, khủng bố hàng hải, vận chuyển trái phép ma túy, vũ khí, vận chuyển, buôn bán người trái phép bằng đường biển, thì chính là sinh mạng, sức khỏe của hành khách, thuyền viên bị uy hiếp, đe dọa trực tiếp tới an ninh con người.
Thứ ba: Cơ sở pháp lý của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển là các quy định của hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
An ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển là một chế định có lịch sử hình thành và phát triển trong luật quốc tế, được ghi nhận trong nhiều Công ước quốc tế, điển hình có thể kể đến như: Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961, Công ước tạo điều kiện thuận lợi trong giao thông đường biển năm 1965, Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng người trên biển năm 1974, Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, Công ước về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải năm 1988, và Công ước Viên về chống buôn bán các chất ma túy bất hợp pháp và các chất hướng thần năm 1988, Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng năm 2001…Các quốc gia thành viên của các Công ước quốc tế kể cũng ban hành các văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật quốc gia nhằm nội luật hóa và thực thi nghĩa vụ thành viên của Các công ước mà mình đã gia nhập, phê chuẩn.
Bên cạnh đó, rất nhiều hiệp định về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển được ký kết giữa các quốc gia ở cấp độ khu vực. Hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia chính là cơ sở pháp lý cho việc triển khai tổng thể các biện pháp bảo đảm an ninh đối với tàu biển, cảng biển.
Thứ tư: Các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển rất đa dạng, có tính xuyên quốc gia và đòi hỏi sự hợp tác trên mọi lĩnh vực giữa các quốc gia trong ngăn ngừa và ứng phó với các hiểm họa.
Các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển rất đa dạng, không chỉ có cướp biển, cướp có vũ trang đối với tàu thuyền, khủng bố hàng hải, vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển, buôn lậu vũ khí, vũ khí hủy diệt hàng loạt, sự tiếp cận trái phép của người trốn theo tàu mà còn có rất nhiều các sự cố khác được coi là mối hiểm họa an ninh như: trộm cắp, phá hoại, xáo trộn hàng hóa, đồ dự trữ trên tàu, can thiệp vào các thiết bị, hệ thống quan trọng của tàu biển, cảng biển, tấn công hạt nhân, sinh học, hóa học, sử dụng tàu để chở những người có
ý định gây ra sự cố an ninh hay thậm chí các thảm họa thiên tai trên biển …
Đặc điểm xuyên quốc gia của an ninh hàng hải được tạo thành bởi (1) tính phức tạp của hệ thống vận tải biển quốc tế do tàu biển di chuyển đến khắp các cảng biển trên thế giới; (2) sự khó kiểm soát đường biên giới do phạm vi rộng lớn của biển và (3) hoạt động tội phạm trên biển nhiều khi xảy ra ở những vùng biên giới giáp ranh giữa các quốc gia, thậm chí xảy ra ở biển cả, nơi không thuộc chủ quyền và quyền tài phán của bất cứ quốc gia nào. Chính những yếu tố này đã tạo nên một môi trường lý tưởng cho các hoạt động tội phạm xuyên quốc gia.
Tính xuyên quốc gia của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển đặt ra yêu cầu hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực từ hợp tác hải quân, tổ chức các cuộc tuần tra, tập trận chung đến chia sẻ thông tin tình báo, kinh nghiệm thực tập, đào tạo, huấn luyện an ninh nhằm ngăn ngừa và ứng phó với các hiểm họa. Trên thực tế, sự thành công của nhiều chương trình hợp tác quốc tế nhằm tăng cường bảo đảm an ninh cho tàu biển, cảng biển là những minh chứng rõ nét nhất cho đặc điểm này, có thể kể đến như Sáng kiến An ninh Eo biển Malacca (MSSI), chiến dịch Eunavfor Atlanta của Eu hay hoạt động của Lực lượng biển hỗn hợp (CMF) của Hoa Kỳ [97,163]. Trong Báo cáo của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc năm 2008 cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác quốc tế về bảo đảm an ninh hàng hải khi Báo cáo cho rằng an ninh hàng hải là một trách nhiệm chung và đòi hỏi một tầm nhìn mới về an ninh tập thể.
Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển có ý nghĩa giúp các quốc gia trong việc hoạch định cơ chế, chính sách, chiến lược và các biện pháp triển khai phù hợp nhằm tăng cường bảo đảm an ninh hàng hải cho tàu biển, cảng biển.
Vai trò của an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong quan hệ quốc tế
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\AN NINH HÀNG HẢI ĐỐI VỚI TÀU BIỂN, CẢNG BIỂN TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM
An ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực tiễn của Việt Nam An ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực tiễn của Việt Nam An ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực tiễn của Việt Nam An ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực tiễn của Việt Nam An ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực tiễn của Việt Nam An ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực tiễn của Việt Nam An ninh hàng hải đối với tàu biển cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực tiễn của Việt Nam

