Ảnhhưởng củaluật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiếtcủaviệc nghiên cứu đề tài
Hôn nhân và gia đình là những hiệntượngphát sinh trong quá trình phát triển xã hộiloài người. Chính vì vậy,ởmọithờiđại,gia đình luôn có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển xã hội, làm rạngrỡbảnsắc dân tộc.ChủtịchHồChí Minh từng khẳng định “Quan tâm đến gia đình là đúng vànhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”.Cũng như những hiện tượng xã hội khác, HN&GĐ chịu sự tác động có tính quyết định của điều kiện kinh tế xã hội. Lịch sử phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình phát sinh, thay đổi những hình thái HN&GĐ. Đặc biệttừkhi xuất hiện nhà nước,sựliênkếtcủa các cá nhân nhằm xây dựng gia đìnhđược coi là sựkiện pháp lý làm phát sinh, thayđổiquyền và nghĩavụgiữa các bên trong quanhệpháp luật. QuanhệHN&GĐ khôngchỉthểhiệnýchí của cá nhân mà còn mang ý chí nhà nước.
Với tư cách là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật HN&GĐđiềuchỉnh các quanhệxã hộiphát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ nhằm xây dựng gia đình noấm,hạnh phúc, tiếnbộ,bìnhđẳng.Trong giaiđoạnhiện nay, việc củng cố và xây dựng quan hệ HN&GĐ là vấn đề rất quan trọng, một mặt góp phần vào việc ổnđịnhtrậttựxã hội,mặtkhác tạocơsởpháp lý cho việc xác lậpquanhệHN&GĐ theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Tây Nguyên là vùng đặc thù trong cả nước về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế – xã hội và dân cư với 54 dân tộc anh em sinh sống, trong đó có 12 dân tộc thiểu số tại chỗ. Mỗidân tộc đềucó những giá trịvăn hóa truyền thống, mangbảnsắc riêngvớihệthống luật tục giữvai trò quan trọng trong quá trìnhtựquản,điềuhòa xã hội. Hiện nay,ởTây Nguyên, trong vùngđồngbào các dân tộc thiểusốtạichỗ, luật tục trong lĩnh vực HN&GĐvẫngiữvai tròchủđạo.Họhoặc không biếtđếnnhững quyđịnh của pháp luật hoặcvẫnchưa hiểu rõ các quyđịnhcủa pháp luậtvềchếđộHN&GĐ, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ HN&GĐ cũng như các nguyên tắc cơbảncủa chếđộHN&GĐ.Tồntạivấnđềnày,mộtphần là do trìnhđộphát triển của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên vẫn đang còn một khoảng cáchđáng kểsovớitrìnhđộchung của cảnước.Dođó,việc áp dụng pháp luật vàođờisống của cộngđồngcác dân tộc thiểusốnơiđâyđã và đanggặpkhông ít khó khăn. Quyđịnh của pháp luật do nhiều lý do mà chưa thể đến được với toàn thể người dân. Nhưng trên
thựctế,nguyên nhânchủyếu là do chi phốibởiluật tục,thứđãăn sâu bám rễ trong tâm trí mỗi người dân làm cho họ tuân theo luật tục như một thói quen, một điều hiển nhiên mà không quan tâmđếnpháp luật. Trong tham luận của SởTư pháp tỉnhĐắc Lắc tạihộithảo“Mối quan hệ giữa luật tục, hươngước và pháp luật hiện hành” do Viện Khoa học pháplý tổ chức đã nhận định: “có những vụ vi ệc mặc dù Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử, nhưng người dân vẫn yêu cầu buôn làng xử lại vàbản án xétxửtheo luật tục được buôn làng chấp nhận hơn bất kỳ một bản án nào khác”.Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để có thể kết hợp hài hòa, có sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau giữa luật pháp của Nhà nước và luật tục của buôn làng, nghiêncứuvà áp dụng luật tục trong thực tếsẽgóp phầnrấtlớntrong việc ổnđịnhtrậttựxã hội ởđịa phương. Đánh giá được thực trạng ảnh hưởng của luật tục đối với việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng người dân tộc thiểu số tại chỗ trênđịa bànTây Nguyên hiện nay, xác định được những tác động tích cực và tiêu cực của luật tục trong lĩnh vực này và tìm ra giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế, khắc phục và từng bước loại trừ những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật HN&GĐ trong khu vực này là điềucầnthiết, cóýnghĩacảvềlý luận lẫn thực tiễn. Đó cũng là lý do để nghiên cứu sinh chọn và nghiêncứu đề tài“Ảnhhưởng củaluật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiêncứuđềtài này là tìm ra các giải pháp phát huy những ảnh hưởngtích cực và hạnchế, tiến tới từngbước loạibỏnhữngảnh hưởngtiêu cực của luật tục đếnviệc thực hiện pháp luật nhằm nâng cao hiệuquảthực hiện pháp luật HN&GĐ ở cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ của Tây Nguyên trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đíchtrên, luận án đã thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
– Làm rõ cơ sở lý luận về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ mà chủyếulà các nộidung: khái niệm và đặc điểmcủa luật tục; khái niệm, các hình thức thực hiện pháp luật HN&GĐ; khả năng ảnh hưởngcủa luật tục tớiviệc thực hiện pháp luật HN&GĐ; các yếutốtác độngđến ảnhhưởngcủa luật tục tớiviệc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểusốtạichỗởTây Nguyên.
– Đánh giá được thực trạngảnhhưởngcủa luật tục đếnviệc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên từ năm 2006 tới nay, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
-Đềxuất quanđiểmvà các giải pháp phùhợpnhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục tới việc thực hiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận án tập trung vào nghiên cứu và đánh giá thực trạng ảnh hưởng của luật tục tớiviệc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên
từnăm 2006đếnnăm 2016, nguyên nhândẫnđếnthực trạngđó,các giải pháp cần thực hiệnđểphát huy nhữngảnhhưởngtích cực,hạnchếnhữngảnhhưởngtiêu cực của luật tục nhằm làm cho việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộngđồngcác DTTSTC ở Tây Nguyên được nghiêm chỉnh và tự giác hơn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiêncứuvềkhông gian là địa bàn cư trú của 6 dântộcthiểusốtại chỗ theo chế độ gia đình mẫu hệởTây Nguyên, đó là các dântộc Ê đê,Gia rai, Chu ru, Raglai, Cơ ho và M’nông cư trúchủyếu ở 4 tỉnh Gia Lai,Đắc Lắc,Đắc Nông vàLâm Đồng. Địa bàn khảo sát tại 4 tỉnh trênlà ởmột số huyện như Chư pưh, Chư Sê, thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai, huyện CưMgar, huyện Buôn Đôn và ThànhphốBuôn Ma Thuật tỉnh Đắc Lắc, huyện Tuy Đức, huyện Đắc Song và Thị xã Gia Nghĩa tỉnh Đắc Nông, huyện Đơn Dương, huyện Lạc Dương và huyện Đức Trọng tỉnh LâmĐồng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và hƣớng tiếp cận của luận án 4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận ándựatrên phương pháp luận làchủnghĩa Mác – Lê Nin, tưtưởngHồChí Minh, quanđiểm của Đảng Cộngsản Việt Nam về nhà nước và pháp luật mà chủyếu là về thực hiện pháp luật HN&GĐ. Các vấn đề thuộc nội dung của đề tàisẽ được nghiên cứu trên cơ sở của quan điểm duy vật và phương pháp biện chứng.
Các phương pháp nghiêncứu cụ thể được sử dụng baogồm phân tích, tổng hợp,
so sánh, lịchsửcụ thể,xã hộihọc, lý thuyết hệ thống, thốngkê… Các phương pháp trên được sử dụng như sau:
– Phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử cụ thể, so sánh được sử dụng để nghiên cứu những vấn đề lý luận, xây dựng các khái niệm và rút ra các nhận xét, đánh giá.

– Phương pháp liên ngành dân tộc học – văn hóa học – luật học là phương pháp quan trọngđược sửdụng trong việc xác địnhquan niệm, biểu hiện của luật tục, ảnh hưởngcủa luật tục. Những tư liệuđiềndãtạiđịa bànlà minh chứng cho những nhận định, những lý giải về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện phápluật HN&GĐ tại các DTTSTC ở Tây Nguyên trong thực tế và nguyên nhân dẫn đến những ảnh hưởng đó. – Phương pháp thống kê, khảo sát, điều tra xã hội học với các công cụ như bảng
hỏicấutrúc, phỏngvấnsâu và thảo luận nhómđược sửdụngđểthu thập và xửlý thông tin về các vấn đề liênquan đến việc đánh giá thực trạng ảnh hưởng của luật tục đếnviệc thực hiện pháp luật HN&GĐởTây Nguyên thời gian qua. Các côngcụnghiên cứu định tính sẽ hỗ trợ làm sáng tỏ các thông tin thống kê thu thập được, thông qua các kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
Việc sử dụng các phương pháp trên trong luận án nhằm đảm bảo tính chỉnh thểvà liên thông giữa nộidung các chương vàđảmbảosựcânđốivềkếtcấucũng nhưtính đồng bộ, toàn diện trong các đánh giá và đề xuất các giải pháp.
4.2. Về hƣớng tiếp cận của luận án
– Hướng tiếp cận mang tính lịch sử, hệ thống: Trên cơ sở tập hợp, hệ thống các công trình nghiên cứu ngoài nước và trong nước có liên quanđến đề tàicủa luận án đãđược thu thập, luận án sẽ kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trên cơ sở phân tích, đánh giá các kếtquảnghiên cứu đó trongđiềukiện lịchsửcụthể, trongmộthệthống các mối liên hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau giữa các vấn đề nghiên cứu và định hướng tiếp tục nghiên cứu.
Hướng tiếp cận hệ thống được sử dụng để xem xét các bộ luật tục của các đồng bào dân tộc thiểu số, mà những quy định về HN&GĐ là một phần trong các quy định của luật tục.
– Hướng tiếp cận mang tính liên ngành: Luận án được nghiên cứu trên cơsở sửdụng phối hợp các tri thức khoa học và phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hộivà nhân văn như khoa học lịchsử,khảocổhọc, dân tộc học, xã hộihọc, văn hóa học,luật học để xâydựng cơ sở lý luận cho các vấn đề nghiên cứu.
-Hướngtiếpcậnmang tính thực tiễn: Trên cơsởnghiên cứu ảnhhưởngcủa luật tục đến việc thực hiện pháp luật về HN&GĐ trong thực tế, luận án sẽ cho thấy bức tranh toàn cảnhvềnhữngảnhhưởngcụthểcủa luật tục đếnviệc thực hiện pháp luật HN&GĐ ở Tây Nguyên. Cách tiếp cận này sẽ là phương ántối ưu để đề xuất những giải pháp riêng và cụ thể cho việc phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh
hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các DTTSTC ởTây Nguyên.
5. Những điểm mới của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, chuyên sâu dướigóc độlý luận chungvềnhà nước và pháp luậtvềảnhhưởngcủa luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộngđồng6 dân tộc thiểusốtạichỗởTây Nguyên từ năm 2006 đến năm 2016.
Luận án đã tập hợp, hệ thống hóa và xác định được các kết quả nghiêncứu cụthểcủa nhiều công trình nghiên cứu ởtrong và ngoàinước vềluật tục, luật tục Tây Nguyên, vai trò của luật tục trongđờisống xã hộicũng nhưvềthực hiện pháp luật HN&GĐ và ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ.
Luận ánđã phân tích làm rõđược nhữngnộidung lý luậnvềkhảnăng ảnh hưởngvà các yếu tố tác động đến ảnh hưởng của luật tục tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên.
Luận án đã trình bày được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của luật tục tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên trong thực tế và xácđịnh được một số nguyênnhân dẫn đến nhữngảnh hưởngđó.
Luận án đề xuất được một số giải phápđể phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế và từng bước loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật nhằm giúp cho việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ởTây Nguyên thời gian tới được nghiêm chỉnh và tự giác hơn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Về mặt khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về luật tục nói chung, lí luận về luật tục về HN&GĐ nói riêng và lý luận về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các DTTSTC ở Tây Nguyên.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kếtquảnghiêncứucủaluận án là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạtđộng thực tiễn trong quá trình hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về HN&GĐ ở khu vực miền núi. Đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước ở Tây Nguyên trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách và pháp luậtvềhôn nhân gia đìnhởđịa phương.Kếtquả nghiên cứu của luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc giảng
dạy, học tập và nghiên cứu khoa học pháp lý nói chung và khoa học Lý luận chung vềnhà nước và pháp luật nói riêng.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđược kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiêncứucác vấnđềcó liên quan liên quan tới đề tàiluận án
Chương 2. Những vấn đề lý luận về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên
Chương 3. Thực trạngảnhhưởngcủa luật tục đếnviệc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên thời gian qua
Chương 4. Quanđiểmvà giải pháp phát huyảnhhưởngtích cực,hạnchếảnh hưởngtiêu cực của luậttục đếnviệc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Những công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về luật tục, luật tục Tây nguyên và vai trò củaluật tục đối với đời sốngxã hội
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật hôn nhân giađình vàảnh hưởngcủaluật tục đến thực hiện pháp luật hôn nhân gia đình
1.1.3. Những công trình nghiên cứu vềảnh hưởngcủaluật tục đối với thực hiện pháp luật hôn nhân gia đình ở Tây Nguyên
1.2. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và nhữngvấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
1.2.1. Những vấn đề đã nghiên cứu và mức độ nghiên cứu
1.2.2. Nhữngvấn đề Luận án tiếptụcnghiên cứu
Kết luận chƣơng 1
Luật tục là một trong các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội rađời và tồn tại từlâuđời, cóvai trò quan trọng trong đời sống ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Vì thế, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoàinước đề cập đến luật tục dướicác gócđộkhác nhau như dân tộc học, văn hóa học, xã hộihọc. Mặc dù với những cách tiếpcậnkhác nhau nhưngnộidung của các công trìnhđềutậptrung vào việc làm rõ nội hàm khái niệm luật tục, đặc trưng, các hình thức tồn tại, nội dung, việc thực thi và đặc biệt là những giá trị của luật tục. Kết quả nghiên cứu của các công trìnhđó đã góp phần xây dựng luận cứ khoa học để nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đềdân tộc ởkhu vực Tây Nguyên, giúp cho các cấpchính quyền, các nhà hoạchđịnh chính sách kịp thời hoàn thiện hoặcđềra những chính sách phù hợpvềdânsốvà kếhoạch hóa gia đình, xây dựng nền văn hóa mới, gia đình mới phù hợp với từng dân tộc.
Tuy nhiên, có thể khẳngđịnh,cho đến nay chưa có công trìnhnào đềcậpmột cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về ảnh hưởng của luật tục nhằm tìm ra các giải pháp phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đếnviệc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểusốtại chỗ ở Tây Nguyên. Và đó chính là những nhiệm vụ nghiên cứu mà công trình này cần giải quyết.
Chƣơng 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝLUẬN VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA LUẬT TỤC ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH TRONG CÁC DÂN
TỘCTHIỂU SỐ TẠI CHỖ Ở TÂY NGUYÊN
2.1. Luật tục vềhôn nhân và gia đình của các dân tộc thiểu sốtạichỗởTây Nguyên
2.1.1. Khái niệm luật tục
Luật tục là mộthiệntượngxã hộiphổbiến của nhân loại ởthờikỳphát triển tiền công nghiệp và còntồn tạiđếnngày nayvớinhững mức độkhác nhauởcác tộc người. Được biếtđến vớinhiều thuậtngữ khác nhau như luật không thành văn
(unwritten law), luật dân gian (folk law), luậtbảnđịa (indigenous law), luật truyền thống (traditional law), luậttồntạitrong dân gian (living law)…nhưng các học giảthường dùng thuậtngữluật tục nhiều hơncả.Hiện nay,ởViệt Nam luật tục thể hiện dưới ba hình thức đó là những lời nói vần truyền miệng (như luật tục các dân tộc Tây Nguyên); luật tục thành văn hayđã được vănbản hóa (như luật tục Thái); luật tục tồn tại dưới dạng các thực hành xã hội (tức là luật tục chưa cố định thành lời nói vần hay văn bản, mà chủ yếu là những quy định được người ta ghi nhớ và thực thi trong thực tếđờisống). Chính vì vậy, khái niệm luật tục vẫnchưa được thống nhất trong giới nghiên cứu, màngườita coi luật tục là hình thức sơ khai của luật pháp trong xã hội chưa phân chia giai cấp. Theo nghĩa của từ, luật tục là những qui tắc xử sự mang tính dân gian, nguyên thủy,bảnđịa,không thành văn, hoàn toàn mang tính chất khu biệt với luật nhà nước [83, tr.1]. Từ điển bách khoa Việt Nam cho rằng luật tục là “toàn bộnhững nguyên tắc ứng xử không thành văn được hình thành trong xã hội, sau một thời gian dài áp dụng đã trở thành truyền thống và được mọi người tuân thủ” [114, tr.770]. Cùng quanđiểm ấy,TS. Lê Hồng Sơn cho rằng: “Luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số là phương ngôn, ngạnngữ diễn đạtbằnglờinói cóvần điệuchứađựngcác quy tắc xử sự chung điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cộng đồng dân tộc thiểusố,được cộngđồngbảođảm thực hiện” [137, tr.864-865]. Như vậy, luật tục ởđâyđược nhìn nhận là những quy phạm xã hội điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong cộngđồng,được mọingườituânthủvà áp dụng trong quá trìnhtồntại. Nhưng khái niệm này lại chưa thể hiện được bản chất sự tồn tại của luật tục cũng nhưhình thức tồn tại của nó.
Nhìn nhận luật tục dướigóc độtổchức cộngđồng,PGS. TSKH. Phan Đăng Nhật quan niệm “Luật tục là những quy định của quần chúng trong cộng đồng đặt rađể điều hòa mối quan hệ của tập thể cộng đồng một cáchtự nguyện và dân chủ, không phải là luậtlệdomộttầnglớpngười đặtra và thực thi để bảo vệ quyềnlợicủa giai cấp thống trị” [84, tr.85]. Khi nghiên cứu về luật tục ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu thường hay viện dẫn quan niệm của GS.TS. Ngô Đức Thịnh cho rằng luật tục là một hình thức đặc thù của tri thức dân gian, bao gồm hệ thống các chuẩn mực, các quy ước xã hộikhông thành văn (có trườnghợpđã thành văn hayđược vănbảnhóa như luật tục Thái, hươngước Việt), hình thành trong quá trình lịchsửlâu dài của mỗicộngđồng, qua kinh nghiệm trong ứng xử với môi trường và ứng xử xã hội, được truyền từđời nàyqua đời khác qua trí nhớ, qua thực hành xã hội, nhằm hướng dẫn, điều chỉnh,điềuhòa các quanhệxã hội(quanhệcá nhânvớicá nhân, cá nhânvớicộng đồng, cộngđồngnàyvớicộngđồngkhác). Nóđược cảcộngđồngthừa nhận,tạonênsựthống nhất và cốkếtcủa mỗicộngđồng.Như vậy, theo các nhà nghiêncứuvăn hoáhọc, luật tục là một loại qui tắc xử sự thường chỉ có ở các tộc người thiểu số.
Khi nghiên cứu về luật tục dưới góc độ luật học, nhiều nhà nghiên cứu luật học cho rằng, luật tục là khái niệm chỉ tất cả những qui tắc xử sự mang tính chất dân gian,đó là luật của dân gian. Theo cách hiểu này, “luật” là qui tắc, “tục” chỉ những gì mang tính dân gian, đối lập với những gì mang tính chất sách vở, hàn lâm. Như vậy, luật tục
bao gồm cả phong tục tập quán, lệ làng, hương ước,qui ước… “Có thể coi luật tục lànhững phong tục có dáng dấp của pháp luật”, là bước quá độ, là sự chuyển tiếp giữa phong tục và pháp luật, nói cách khác, luật tục là hình thức phát triển caocủaphong
tục tập quán và là hình thức sơ khai, tiền thân của pháp luật [34, tr.3]. Bởi nếu xétvềnội dung, luật tục có nội dung tương đối tổng hợp, bao quát tương đối toàn diện, điều chỉnhmộtcách rộng rãi các mặtcủa đờisống,cảvềlĩnh vực hìnhsự,dânsự,hành chính, đất đai, hôn nhân, gia đình… lẫn thủ tục xét xử, giải quyết tranh chấp [106]. Còn về hình thức, luật tục được biểu hiện chủ yếu dưới dạng lời nói, văn vần, nhưng lại thểhiệnđầy đủcác bộ phậncấuthành của một qui tắc xửsự nhưgiảđịnh, quiđịnh,chếtài dù cònở dạngđơngiản sơ khai.Vềbiện phápbảo đảmthực hiện, luậttụcchếtài khá da dạng, bao gồm các chế tài để tạ lỗi với thần linh, tạ lỗi đối với buôn làng, đền
bù cho người bị hại…, thậm chí kể cả hình phạt tử hình [34, tr.3]. Để thi hành luật tục có thiếtchếtòa án phong tục, baogồmnhữngngườithông thuộc luật tục, có uy tín trong cộng đồng. Mỗi khi xét xử xong, bao giờ cũng kèm một nghi lễ nhằm chấm dứt
những thù oán giữa các bênvớisựchứng giám của thần linh và dân chúng, thông thường đó là bữa cơm cộng cảm.
Như vậy, khái niệm luật tục cóthểđược nhìn nhậntừnhiều khía cạnh khác nhau,từgóc độlịchsử,văn hóa xã hội,vềbảnchất,nộidung hayvềhình thức thểhiện. Tùy vào cách tiếpcậnkhác nhau, các nhà nghiêncứucóthểđưa ra các quan niệm khác nhauvềluật tục. Tuy nhiên, trongtấtcảcác cách hiểu nói trênvềluật tục chúng ta cóthểhiểu luật tục là những quy tắc xửsựchung trongmộtcộngđồng người, được hình thành và lưu truyền nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng bao gồm quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng và giữa cộng đồng này với cộng đồng khác, được mọi thành viên trong cộng đồng đó thừa nhận vàthi hành.
2.1.2. Khái quát về Tây Nguyên và các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên Tây Nguyên gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai,ĐăkLăk,ĐăkNông và Lâm
Đồng.Vớidiện tíchtựnhiên 54,474 km2, chiếm 16,8% diện tíchcảnước,tínhđến ngày 1/4/2013 dânsốvùng Tây Nguyên là 5.455.477 ngườichiếm 6% dânsốcảnước1. Toàn vùng có 61 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thành phố, gồm 5 thành phố (Kon Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt,BảoLộc), 4 thị xã (An Khê, Ayun Pa, Buôn Hồ, Gia Nghĩa) và 52 huyện2.
Tây Nguyên là vùng có tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, có tiềm năng lớn để phát triển mạnh các ngành lâm nghiệp, cây công nghiệp, chăn nuôiđạigia súc, công nghiệp, du dịch… Tây Nguyên là nơi có diện tích rừng tự nhiên và trữ lượng gỗlớncủa cả nước,có hệthực vậtkhá phong phú trongđócó nhiều loài thựcvậtquýhiếm cũng như những loàiđặc hữu.Tài nguyênđấtcủa Tây Nguyên rộng lớn, cóquỹđấtđỏ bazan chiếmgần1/3 diện tích toàn vùng và chiếmtới66% tổng qũy đất bazan cả nước.Đất đỏ bazan phân bố thành các vùng tập trung trên 5 cao nguyên rộng lớn làDi Linh, Bảo Lộc, Buôn Ma Thuột, Đắk Nông, Plây Cu và Kon Hà Nừng. Tây Nguyên có tiềm năng khoáng sản bô xít rất lớn và phân bố tập trung, chiếm tới 91% tổng tiềm năng bô xít của Việt Nam. Về kinh tế, Tây Nguyên có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp, được coi là vùng kinh tế năng động của Việt Nam.
Địa hình Tây Nguyên là tậphợpnhững cao nguyên, sơn nguyêncó độcao trên 500 m đếntrên 1500 m bên cạnh là các dãy núi cao như Ngọc Linhởphía Bắc, ChưYangSinởphía Nam.Địa hình Tây Nguyêntạothànhmộtbức tườngánngữvà
1 Số liệu thống kê ngày 01/4/2013 của Tổng cục thống kê Việt Nam
2 Tây Nguyên có 722 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 77 phường, 47 thị trấn và 640 xã; 7.334 buôn thôn, tổ dân phố, trong đó có 2.764 thôn, buôn, bon, làng có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống.
tiếp nhận cả hai khối khí đông bắc và tây nam trong chế độ gió mùa ở nước ta. Bởi vậy, trên lãnhthổTây Nguyên hình thành những cảnh quan,hệsinh thái nhiệtđới,á nhiệt đới đa dạng(Tây Nguyên là một trong 238 vùng sinh thái quan trọng nhất cho bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới thuộc “Vùngsinh thái toàn cầu 2000”). Khu vực ngã baĐông Dương cóthểnói là vùng duy nhất trên thế giới có khu bảo tồn thiên nhiên liên quốc gia vớidiện tíchgầnnửa triệu hecta (Vườnquốc gia Am Dong Phan của Lào, vườn quốc gia ViracheycủaCampuchia,vườnquốc gia Chư mom Ray của Việt Nam). Tây Nguyên có khí hậu nhiệtđới ẩmgió mùa cao nguyênvớichếđộnhiệt tươngđối điều hoà, bức xạ mặt trời khá dồi dào… Tây Nguyên còn có các vành đai khí hậu á nhiệt đới núi ở độ cao trên 1000 – 1500m như Đà Lạt, Ngọc Linh, Măng Đen… tại đây không chỉ phát triển được các loài hoa quả có nguồn gốc ôn đới mà còn tạo ra tiềm năng du lịch, nghỉdưỡngđặc sắc. Xétvềmặtmôi trường sinh thái,vớihệđộngthực vậtvô cùng phong phú, lại có vị trí địa lý đặc biệt, Tây Nguyên đóng vai trò là lá phối của toàn khu vực miền Trung, miền Nam và ba nước Đông Dương.
Những đặc điểm địa lý đó đã tạo cho Tây Nguyên những nét đặc thù vùng, vàcũng chính những nétđặc thùđóđã làm cho Tây Nguyên là khu vực hộinhập vào Việt Nam muộn nhất, là điềukiệnvềmặtkinhtế- xã hộicho những quyđịnhcủa luật tục các DTTSTCvềHN&GĐ nơi đâytồn tạivà có vai trò lớn trong điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực này. Thêm vào đó, điều kiện tự nhiên này cũng tác động không nhỏ đến việc phát triển kinh tế, nâng cao nhận thức và hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật HN&GĐ nói riêng, trongviệc tổchức thực hiện pháp luật và đưa pháp luật vàothực tếcuộc sống vùng DTTSTC nơiđây.
Các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên và việc phân bố dân cư
Về lịchsử cưtrú, cư dân Tây Nguyên hiện nay có thể chia thành 2 khối hay 2 lớp khác nhau: những người đến cư trú sau và những người được coi là “bản địa”.ỞTây Nguyên sinh sống 12 dân tộc thiểu số tại chỗ, bao gồm 4 dân tộc nói nhóm ngôn
ngữ Mã Lai – Đa Đảo là Gia rai, Ê đê, Chu ru, Raglai và 8 dân tộc có tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me là Ba na, Xơ đăng, Giẻ triêng, B râu, Rơ măm, Mạ, M’ nông và Cơ ho.
Khối cư dânbảnđịa haygọilà dântộc tạichỗởTây Nguyên3 hiện nayđược phân định thành các nhómđịa phương nhưnghọcư trú tươngđốitậptrung của từng
3 Hiện nay khái niệm dân tộc thiểu số tại chỗ và dân tộc thiểu số bản địa vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau. Cóý kiến cho rằng dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên là khái niệm hẹp, chỉ bao gồm những dân tộc có gốc tích,
dân tộc. Các dân tộc Giẻtriêng, B râu, Rơ măm, Xơ đăng cư trúchủyếuquanh núi Ngọc Linh, bắc tỉnh Kon Tum. Hai dân tộc Gia rai và Ba na cư trú chủ yếu ở hai cao nguyên Plei ku và Kon Hà Nừng, Bắc tỉnh Gia Lai và Nam tỉnh Kon Tum. Dântộc Êđê phânbố chủ yếu ở tỉnh Đắc Lắc,dân tộc M’nông phân bố chủ yếu ở tỉnh Đắc Nông. Bốn dân tộc Mạ, Cơ ho, Chu ru, Raglai cư trúở tỉnhLâmĐồng.
Qua những biếnđộngvềdânsốởTây Nguyên, ta thấy dânsốvà thành phần dân tộc Tây Nguyên đều tăng nhanh, trong đó, dân số tăng theo cả hai hướng tự nhiên và cơ học, mà nét nổi bật là sự tăng cơ học, và ở Tây Nguyên hiện nay dân tộc tại chỗtrở thành số ít. Tỷ lệ dânsố đồng bàodân tộc tại chỗ Tây Nguyên trong dân số chung Tây Nguyên giảmdầnkhá nhanhtừkhoảngmấychục nămgầnđây.Nếunăm 1976, dânsốTây Nguyên là 1.225.000 người,gồm18 dân tộc anh em, trongđóđồngbào dântộcthiểusốtạichỗlà 853.820 người, chiếm 69,7% dânsố.Đếnnay, toàn vùng Tây nguyên có 54/54 tộc người, theosốliệuđiềutra năm 2009, dânsốTây Nguyên có 5.107.437người4, chiếm gần6% dânsốcảnước,baogồmbabộphận: Dân tộc Kinh, dân số 3.302.588 người, chiếm 64,7% tổng dân số, 35 dân tộc thiểu số di cưtừnơi khác đến, dân số 445.713 người, chiếm 8,73% tổng dân số và 12 dân tộc thiểu số
tạichỗ, dânsố1.359.134 người, chiếm 26,57% tổng dânsố.Đồngbào các dân tộc thường sống đan xen, không có buôn, bon, plei nào chỉ có một dân tộc, thậm chí có xãcó tới trên 10 dântộc5. Điều này, một mặt tạo động lực phát triển kinh tế, nhất là vùngđồngbào dân tộc thiểusố,các dân tộc giao lưu, traođổivớinhau trênmọilĩnh vực, khẳngđịnhtinh thần đoànkếtgắnbó giữa các dân tộc trong vùng;mặtkhác, những khó khăn, những vấn đề nảy sinh trong đời sống hàng ngày dễ bị các thế lực thù địch
lợi dụng, khaithác để thực hiện “diễn biến hoà bình”.Các số liệu trên cho thấy cả vềqui mô dân số cũng như cơ cấu dântộc ở TâyNguyên biến động liên tục và diễn ra hết sức nhanh chóng. Trong những năm tới, tỷ lệ đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có xu hướng giảm thêm, nếu không ổn định được qui mô dân số và ngăn chặn việc di cư tự do từ các nơi khác đến.
Một điểm nữa cần quan tâm trongvấn đề dântộc tại chỗ ởTây Nguyên, đó là sựtồntạivà ngày càng có vai trò rõ nét của các tôn giáo mới, baogồmTin lành vàCông giáo. Trong khi tínđồ dântộc Kinh chiếm đa số trong Công giáo, Phật giáo và
khởi nguồn tại mảnh đất Tây Nguyên như: Sê đăng, Ba na, Gia rai, Ê đê, M’nông, Mạ, Ko ho. Còn dân tộc tại chỗ Tây Nguyên là khái niệm rộng hơn, bao gồm các dân tộc kể trên, cộng với các dân tộc đã có quá trình di dịch cưđếnTây Nguyên sinh sốngtừnhiềuđờinay như: B’râu, Rơ măm,Giẻtriêng,H’rê,Churu, X’tiêng,
Raglai,…Các nhà dân tộc học hiện nay thống nhất sử dụng cụm từ “dân tộc tại chỗ”. 4 Tổng cục Thống kê Việt Nam, số liệu điều tra dân số và nhà ở năm 2009
5 Phỏng vấn ông K’Bửu, 45 tuổi, Phó Chủ tịch UBND xã N’ Thôl Hạ, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng ngày 08/9/2014
Caođàithì tín đồ các dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc thiểu số tại chỗ lại chiếm đa số trong Tin Lành. Số lượng các tín đồ Tin lành chiếm 20% dân số các dân tộc thiểu sốvà 25% dân số các dân tộc thiểu số tại chỗ. Trong tổng số 324.135 tín đồ Tin lành làngười DTTSTC Tây Nguyên, phân bố đông nhất là ở tỉnh Đắc Lắc 133.639 người, tiếp đó là Gia Lai 76.330 người, Lâm Đồng 65.592 người, Đắc Nông 37.303 người và Kon Tum 11.217 người. Trong tổngsố2.489 buôn làng DTTSTC Tây Nguyên, khoảng 1.500 buôn làng cóngườitheođạoTin Lành, chiếm hơn 50% tổngsốbuôn làng,sốbuôn làng có đông người theo đạo Tin Lành vào khoảng 800 (chiếm 32% tổng số buôn làng) [31, tr.65].
Đặc điểm kinh tế – xã hội
Kinhtếcủa đồngbào dântộc tạichỗTây Nguyên khá phong phú, đa dạng vàphát triển với nghề chính là nông nghiệp và thủ công nghiệp, trong đó trồng trọt nương rẫylà hoạtđộngkinhtếđem lạinguồn thu nhập chính. Ruộngnước đã xuất hiện nhưng diện tích và quy mô nhỏ. Ngoài ra còn có các hoạtđộngchăn nuôi, traođổi, buôn bán, tùy theo địa bàn cư trú mà người dân tộc tại chỗ Tây Nguyên có những hoạt động kinh tế thích hợp với điều kiện tự nhiên cũng như môi trường xã hội.
Thíchứngvớiđiềukiệnđấtrộngngườithưa là kỹthuật luân canh khoảnhđất rẫy theo chu kỳ khép kín. Các kỹ thuật canh tác thíchứngvới đất dốc trồng khô được áp dụngtốiđa như không dùng cày cuốc đểhạnchếxói mòn, phát rừngđốtlấytro thay phân, đa canh và xen canh để tận dụng, bảo vệ đất và tạo nguồn thu nhập. Vì vậy nên tín ngưỡng nông nghiệp đa thần, coi trọng việc thờthần lúa là nétđặc thùphổbiến. Bên cạnh đó, hoạt động khai thác các nguồn lợi từ rừng có vai trò đặc biệt quan trọng trong kinhtếcủa các dântộc tạichỗTây Nguyên. Nhìn chung, xuất phátđiểm kinhtếtruyền thống của các DTTSTC Tây Nguyênhạnchếhơn sovớicác dân tộc khác trong cả nước, với đặc thù nền kinh tế sinh tồn, thủ công, tự cấp tự túc, lệ thuộc vào rừng và tự nhiên.
Được sự quan tâm, đầu tư của Trung ương và nỗ lực của các địa phương trong vùng, kinh tế Tây Nguyên đã vươn lên, liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước phát triển; hệ thống đường giaothông đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp, hình thành mạng lưới rộng khắp, vừa liên kết 5 tỉnh trong vùng, vừa nốiTây Nguyênvớicác vùng khác trên tuyến hành lang Đông – Tây.Kếtquả làcơ cấu kinh tế – xã hội của vùng có những chuyển biến tích cực.Đời sốngvật chất vàtinh thần của nhân dân các dân tộc được cải thiện rõ rệt, an ninh chính trị, trật tự xã hội và chủ quyền quốc gia được đảm bảo và giữ vững. Hệ thống trường lớp được mở rộng
đến khắp các buôn làng; hệ thống cơ sở y tế rộng khắp; công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm được triển khai liên tục… Sản xuất nông nghiệp từ chỗ tự cung, tựcấp,đã chuyển theohướngsảnxuất hàng hóa, hình thành những vùng chuyên canh, tạo ra nhiều sản phẩm có lợi thế cạnh tranh trong nội địa và xuất khẩu, nhất là một sốsản phẩm chủ lực như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu và nhiều cây công nghiệp, rau, hoa xuất khẩu. Thu nhập và đờisốngvậtchất, tinh thần của các bộphận dân cư không ngừng được cải thiện.
Tuy nhiên, hiện nay Tây Nguyênvẫnđang là vùng còn nhiều khó khănvềmọi mặt, theo niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên, kinhtếTây Nguyênchủyếulànông lâm thủysảnvới46,3% (năm 2012), công nghiệp, xây dựng và dịchvụ,tươngứnglà 29,8% và 23,8%, trong khiđó,cơcấukinh tế của cả nước năm2012 thì nông lâm nghiệp và thủysản19,67%, công nghiệp và xây dựng 38,63% và dịchvụlà 41,7%. Như vậy, tỷ trọng kinh tế nông lâm thủy sản của Tây Nguyên cao hơn nhiều so với tỷ trọng kinh tế nông lâm thủy sản của cả nước, điều này cho thấy lợi thế điều kiện tựnhiên, khu vực nông lâm đang đóng vai trò quan trọng trongnềnkinhtếTây Nguyên. Trong những năm qua, cùngvớicảnước,kinhtếvùng Tây Nguyênđã cóbước phát triển, tốc độ tăng trưởng thời kỳ 2001-2012 đạt bình quân 12,99%/năm. Dù
tốc độtăng trưởng kinhtếcao,kếtquảgiảm nghèo nhanh, nhưng Tây Nguyên hiện vẫnlà vùng nghèo,đờisốngngườidân đanggặpnhiều khó khăn. Theokết quả Điều tra mức sống dân cư năm 2010, nếu thu nhập bình quân đầu người/tháng của cả nước là 1387,2 nghìnđồng,thì vùng Tây Nguyên là 1088,1 nghìnđồng,xếpthứ4 trong 6 vùng lãnh thổ.Tỷlệhộnghèo (chuẩn nghèo giaiđoạn2011-2015) của cảnước là14,2%, thì Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ nghèo đứng thứ hai cả nước với 22,2,% (vùng Trung du miền núi phía Bắc cótỷlệnghèo cao nhấtcảnước 29,4%). Như vậy, Tây Nguyên là vùng nghèothứhai trong 6 vùng của Việt Nam,tỷlệhộnghèo của vùng này vẫn ở mức cao và tỷ lệ hộ nghèo trong các năm 2002 đến 2010 có xu hướng giảm nhưng nhìn chung tốc độ vẫn chậm sovới cả nước và tốc độ giảm nghèo trên địa bàn không có sự đồng đều giữa các tỉnh.
Trong xu hướng phân hóa giàu – nghèo của vùng Tây Nguyên, xét theo dân tộc, các dân tộc tại chỗ thường là những người nghèo. Các số liệu từ kết quả điều tra mức sống dân cư năm 2010 (Tổng cục thống kê) cho thấy thu nhập bình quân đầu người/tháng của nhóm dân tộc Kinh là 1324,98 nghìn đồng; nhóm dântộc mới đến là 794,17 nghìn đồng và nhóm dân tộc tại chỗ là 524,64 nghìn đồng (chỉ bằng 39,6% thu nhập của nhóm dân tộc Kinh). Theo chuẩn nghèo năm 2010, tỷlệhộnghèo của dân
tộc Kinh là 7,51%, nhóm các dân tộc mới đến là 24,58%, nhóm các dân tộc tại chỗ là37,02%. Không những là đối tượng nghèo của vùng Tây Nguyên, các nhóm dân tộc tại chỗcũng ítđược hưởngthành quảcủaphát triển mang lại. Việc tiếpcậntớicác dịch vụgiáo dục, thị trường (chỉ tiêu đời sống chủ yếu là tự túc), điện lưới… của nhóm dân tộc tại chỗ có xu hướng thấp hơn so với các đối tượng khác.
Bên cạnh đó, Tây Nguyên vừa là vùng nghèo, vừa là vùng cómức độ bất bìnhđẳng cao; nguyên nhân sâu xa là do chính từ mô hình tăng trưởng của vùng trong thời gian qua. Với cách thức tăng trưởng dựa vào lao động giản đơn dẫn đến năng suất lao động thấp và kéo theo đó là thu nhập thấp. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên; trong khi người nghèo không có vốn, không có tài nguyên, không có kỹ năngđể tham gia. Các hộ nằm trong diện nghèosẽ cónguy cơ nằm ngoài lề trong sản xuất do thiếuđất,thiếu vốn, thiếukỹnăng laođộng.Trong khiđóngườinghèorấtthiếu vốndo không cóvốntựcó, khó vay ngân hàng do không có tàisảncó giá trịđểthếchấp. Sự tham gia của người nghèo đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng Tây Nguyên vào quá trìnhsảnxuất cây công nghiệp (cà phê…) chỉlà đi làm thuê bằng công sức laođộng cho phát rẫy, dọn cỏ, đào hố trồng, chăm bón…
Vềphương diện xã hội, Tây Nguyên là vùng có nhiềuđồngbào dân tộc sinh sống, mỗi dân tộc lại có những nét văn hóa riêng tạo nên bản sắc văn hóa vùng miền và tạo nên nền văn hóa đặc thù Tây Nguyên. Tùy từng dân tộc hay nhóm dân tộc màchế độ gia đình có thể là mẫu hệ hay song hệ. Ý thức cộng đồng, tinh thần mọi người vìmộtngườivà mộtngườivìmọingườicao. Cái tôi và cái chúng ta hòa vào nhau, thống nhất với nhau. Bản tính trung thực và trọng danh dự. Tội nặng nhất theo luật tục sẽ bị đuổi khỏi cộng đồng. Tư duy cụ thể là phổ biến, tư duy trừu tượng còn mờ nhạt. Nhận thức vềthếgiới cònđơngiảndướihình thức tâm linh. Conngườisống và ứng xử với nhau trên tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái và tuân theo luật tục.
Do hoàn cảnh địa lý và đặc điểm xã hội nên các DTTSTC Tây Nguyên còn bảo lưu nhiềuyếu tốvăn hóa của mình. Chính vì vậy,Đảngvà Nhà nước luôn quan tâm chăm lo đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào các DTTC Tây Nguyên nói riêng và đã có nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện cho đồng bào phát triển về mọi mặt, nhất là quan tâm đến công tác giữ gìn, bảo tồn, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào DTTSTC Tây Nguyên.
2.1.3. Khái niệm vàđặc điểm củaluật tục quy định về hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên
Ở hình thức tồn tại đầu tiên của luật tục trong quá trình phát triển, luật tục các DTTSTC Tây Nguyên cũngrấtđa dạng, tính đa dạng của nó thể hiện trongnộidung của luật tục, trong mỗi bản luật tục của mỗi cộng đồng, nhưngvề cơbản, luật tục các DTTSTC Tây Nguyên có những đặc điểm chung được thể hiện trong nội dung của luật tục điềuchỉnh các mốiquanhệtrong cộngđồng.Xem xétnộidung các bảnluật tục của các dân tộc tại chỗ ở đây, cho thấy vấn đề HN&GĐ là một trong những nội dung chiếm đa sốcủa luật tục, là mộttrong những lĩnh vực phản ánh khá rõ nét đặc trưng văn hóa tộc người và là hiện tượng có liên quan chặt chẽ với toàn bộ hệ thống xã hội
như kinh tế, văn hóa, giáo dục,đạo đức…Dưới góc độ như đã nêu, có thể hiểu luật tục quyđịnhvềHN&GĐ của các DTTSTC Tây Nguyên: làmộtphầncủaluật tục bao gồmnhững câu phương ngôn, ngạnngữdiễnđạtbằnglờinói cóvầncóđiệuchứa đựng các quy tắc xử sự về cách ứng xử, phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng tôn giáo trong lĩnh vực HN&GĐđểđiềuchỉnh các quanhệxãhộitrong lĩnh vực này,được nhiều thế hệ trong một cộng đồng xây dựng và lưu truyền, được mọi thành viên trong cộng đồng đó thực hiện một cách tự giác.
Từquan niệm trên và từnộidung của luật tục các DTTSTC Tây Nguyên quyđịnhvềHN&GĐ cho thấy, ngoài nhữngđặc điểmchung của luật tục, luật tục các DTTSTC Tây Nguyên quy định về HN&GĐ còn có những điểm đặc thù như:
Mộtlà,vấnđềHN&GĐ là mộtphần quan trọng trongnộidung của luật tục, chính vì vậy, cũng giống như các quy định khác của luật tục nói chung, bao gồm cách thức ứngxửvà những hình phạt nếu vi phạm những quyđịnhcủa luật tục trong lĩnh vực HN&GĐ. Các quy định này được hình thành và phát triển một cách tự phát từ nhu cầucủa cộngđồngđểđiềuchỉnh những quanhệxã hộitrong lĩnh vực HN&GĐ nhưnguyên tắc kếthôn, nghi thức củahôn nhân(vềngườilàm mối,lễđính hôn,lễtrao vòng…), các trường hợp thường xảy ra trong hôn nhân, các tội liên quan đến lĩnh vực
HN&GĐ như loạn luân, ngoại tình, không chăm sóc cha mẹ…
Hai là, những quy tắc xử sự trong lĩnh vực HN&GĐ được hình thành từ những phong tục tập quán, lễ nghi và được bổ sung dần qua nhiều thế hệ nên không xác địnhđược ailà người sáng tạo ra, mà nó là sáng tạo chung của cả cộng đồng. Nó là sự nhất trí của cộng đồng, được hình thành do thói quen tích lũy dần từ đời này đến đời khác, là ước vọng và ýchí chung của cộngđồngnhằm xây dựng vàbảovệgia đình bền vững,bảovệquyền của từng thành viên trong gia đình,được mọingườicùng chấp
nhận và cùng thực hiện. Bên cạnh đó, nó xuất pháttừnhững phongtục tậpquán liên quan đến lĩnh vực HN&GĐ nên ranh giới giữa luật tục và phong tục,tậpquán là rất mong manh và khó nhận biết.
Ba là, luật tục quyđịnhvềHN&GĐ chiếmsốlượnglớn trongnộidung mỗi bản luật tục của các DTTSTC. Đến nay, trong lĩnh vực này, vai trò của luật tục trongđiềuchỉnh các quan hệ liên quanđếnHN&GĐvẫngiữvai trò lớn,ảnhhưởngnhiều trong đời sống đồng bào các DTTSTC Tây Nguyên. Bởi những quy định ấy đã ra đời,
tồn tại và ăn sâu bám rễ vào tâm trí của người DTTSTC nơi đây. Họ thực hiện những quy định ấy như một thói quen, thêm vào đó, niềm tin tín ngưỡng cũng chi phối đến ýthức thực hiện luật tục trong lĩnh vực nàycủa họ.
Bốn là, đến thời điểm hiện nay, luật tục các DTTSTC Tây Nguyên nói chung vànộidung quyđịnhvềHN&GĐvẫntồn tạidướidạng không thành văn, là những câu ca, những lời nói vần hoặc là những thực hành xã hội gắn liền với đời sống hàng ngày của đồngbào DTTSTC Tây Nguyên.Chỉmộtvài luật tục được các nhà khoa học nghiên cứu, sưu tầm và ghi chép lại, tuy nhiên cũng mới chỉ ở mức độ ít, mang tính địa phương vàdướigóc độnghiêncứucònđồngbào các DTTSTC Tây Nguyênvẫnghi nhớ luật tục nói riêng và luật tục quy định về HN&GĐ để thực hiện một cáchtự giác.
Năm là, luật tục quyđịnhtrong lĩnh vực HN&GĐ là mộthình thức văn hóa pháp luật. Tính văn hóa xuất pháttừconđườnghình thành và nộidung chứa đựng trong những quyđịnhcủaluật tục quyđịnhvềlĩnh vực này. Luật tục quyđịnhvềHN&GĐ chính là cáchứngxửcủa conngườiđốivớixã hội,thểhiện qua các mối quan hệ xã hội nói chung và quan hệ giữa các thành viên trong gia đình bao gồm quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa ông bà, cha mẹ với con cháu, quan hệ giữa các anh
em trai,chịem gáivớinhau…,đócòn là các phong tục lễnghi trongcưới,hỏi, giải quyết mâu thuẫn, ly hôn…Nếuhiểu văn hóa theo nghĩa là việc cúnglễ,tếtựvà các thuần phongmỹtục, thì hàmlượngvăn hóa trong luật tục quyđịnhvềHN&GĐ khá đậmvì nó quy định cụ thể các lễ nghi liên quan đến lĩnh vực HN&GĐ, bởi ngoài phạt đền, bất cứ vi phạm nào cũng có hình thức cúng tạ tội với thần linh.
Bản thân những quy định của luật tục trong lĩnh vực này chính là văn hóa, nên việc thực hiện những quy định của luật tục về HN&GĐ cơ bản dựa trên nguyêntắc tựnguyện của mỗi cá nhân, coi đó như là lương tâm, tình cảm, tráchnhiệm, đạo đức của mỗingười. Ai vi phạm các quyđịnhcủaluật tục thì không những phải chịu các hình phạt mà còn bị dư luận xã hội phê phán, chê cười. Theo quan niệm, luật tục là cáigì đóthiêng liêng truyềnlạitừtổtiên xưa, là yếutốtâm linh, tín ngưỡng, việc vi phạm
những quy định của luật tục không chỉ đi ngược lại lợi ích của cộng đồng mà còn xúc phạm tới thần linh, trước sau sẽ bị thần linh trừng phạt chính bản thân họ và trừng phạt cả cộng đồng. Đó là khía cạnh văn hóa hết sức độc đáo của luật tục các DTTSTC Tây Nguyên mà khôngthểcóđược ởpháp luật hiện hành. Chính vì vậy,đồngbào các DTTSTC Tây Nguyên thực hiện luật tục một cách tự nguyện, tự giác với tư cáchhọ làchủ nhân của cộng đồng, nên thông qua văn hóa luật tục để điều chỉnh hành vi của cá nhân trong cộng đồng, hay đó chính là “văn hóa pháp luật”.
Sáu là, luật tục quyđịnhvềHN&GĐrấtđa dạng. Tính đa dạngbắtnguồntừngay cơsở xã hộivà cơ sở văn hóa để hình thành nên những quy định của luật tục vềHN&GĐ. Luật tục quyđịnhvềlĩnh vực HN&GĐđược cảcộngđồngtích lũy, xây dựng nên trong quá trình lịchsử,đólà sựđồngthuận, nhất trítừbên trong của mỗi cộngđồnglàng buôn, nó manglạilợiích,đảmbảotrậttựcho riêng từng cộngđồngấy.Mỗicộngđồngđềucó nhữnglợiích riêng, xuất phát từ những hoàn cảnh xã hội,điều kiện kinh tế, môi trường văn hóa mang tính đặc thù, do vậy luật tục – “thứ cương lĩnh tinh thần” của họ cũng thể hiện khác nhau. Không có bộ luật tục nào hay những quyđịnhvềHN&GĐ nào chung chocảmột dân tộc, mà chỉcó luật tục phù hợp với từng buôn, plei, bon của mỗi nhóm dân tộc hay nhóm địa phương. Chính sự phù hợp của những quyđịnhluật tục vềHN&GĐởtừng buôn, bon, pleiphụthuộc vàođiều kiện kinh tế – xã hội, văn hóa tộc người và chính trong bản thân mỗi dântộc6, tạo nên tính đa dạng của luật tục của các DTTSTC Tây Nguyên.
2.1.4. Nội dung quy định về hôn nhân và gia đình trong luật tụccủacác dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên
Nghiêncứunộidung luật tục của đồngbào dân tộc tạichỗTây Nguyên cho thấy nhóm các quy định về lĩnh vực HN&GĐ chiếm vị trí cơ bản. Bên cạnh đó, trong quan hệ HN&GĐ, sự hiện diện và hiệu lực thực tế của luật tục lại càng mạnh mẽ hơn, chính vì vậy, HN&GĐ là vấnđềchiếm đa sốtrong các điềuluật của luật tục, ví dụ: Luật tục Gia rai chương 4 quy định về hôn nhân và quan hệ gia đình, chương 5 luật tục M’nông quy định về hôn nhân và quan hệ nam nữ, chương 6 quy định về quan hệ giađình, Chương 6 luật tục Êđêquyđịnhvềquanhệcha mẹvà các con, chương 5 luật
tục Cơ ho (Nhóm Srê) quy định về quan hệ hôn nhân…
Hiện nay, khi nghiên cứu về HN&GĐ của đồng bào các DTTSTC Tây Nguyên, chúng ta thường căncứvào hình thức hôn nhânđểcho rằng dân tộc này theochếđộ
6 Vì bản thân mỗi dân tộc tại chỗ Tây Nguyên lại được chia ra thành các nhóm khác nhau, mỗi nhóm đókhi áp dụng luật tục lại khác nhau, có những biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, và địa phương cưtrú.
mẫuhệhay theochếđộphụhệ.Các dântộcGia rai,Êđê,Cơ ho, Churu, Raglai, M’nông còn duy trì nhiều tính chấtmẫuhệ,các dân tộc Bahnar, Sedang, Striêng,đã dần hướngvềchếđộ phụquyền. Tuy nhiên, cóthểthấy các dântộcBahnar, Sedang, Striêng,Mạđangởtrong lưng chừng giữa mẫuhệvà phụhệ,cóthểtạmgọiđólà “song hệ”7.
Tuy nhiên, khi nghiêncứuvềthiếtchếgia đìnhmẫuhệởcác DTTSTC Tây Nguyên, cóthểthấyđókhông phải là mộthình thức của chếđộmẫuhệmà do hoàn cảnh sinh sốngtạonên. Vìđốivớimọigia đình của đồngbào các DTTSTC Tây Nguyên, mỗi người con là sự góp phần đắc lực cho mọi hoạt động của gia đình, nhất làcon gái. Thêm vàođó,DTTSTC Tây Nguyênlạinghèo nàn,chỉtrôngcậyvào mức làm việc của mọingườitrong nhà. Dođó,nếumấtmộtngườicon tức là mấtđi một phần gia sản, nên chamẹnào cũng muốngiữcon mình lại, vìvậymớicóchếđộbắt rể. Tuy nhiên, vài năm sau hai vợ chồng có thể tách riêng gia đình bố mẹ vợ để thành
lập một tiểu gia đình.
Hôn nhân là quy luật,bước ngoặt quan trọng trong cuộc đờimỗicon người,đánh dấu bước trưởng thành và xáclậpvai trò, vị trí của mỗi cá nhân trong gia đình, dòng họ và cộng đồng. Vì thế, các DTTSTC Tây Nguyên quan niệm con trai, con gái xây dựng gia đình không đơn thuần là hạnh phúc lứa đôi mà “cóvợ cóchồng là có sựsống của giống nòi”. Vợ chồng là một khái niệm cặp đôi, thể hiện sự cân bằng và bền vững, giống như lửa và nước, nồi và vung, cán dao với chuôi dao. Vì thế luật tục Chu ru có câu:“Cádưới nước cócon đực các con, chim bay trên trời có con đực các con, nai trong rừng có conđực các con, huống chi là conngườichúng ta phải cóvợcóchồng”.8
Chính vì quan niệm như vậy, nênvềvấnđềHN&GĐ, luật tục các DTTSTC Tây Nguyên dànhrấtnhiều điều quyđịnhchi tiếtcụ thểvềquan hệ namnữ,vềviệc cưới xin và cuộc sống cũng như quan hệ vợ chồng trong gia đình và ngoài xã hội. Nội dung cụ thể của luật tục các dân tộc tại chỗ Tây nguyênvềvấn đề HN&GĐ được ghi nhận trong các lĩnh vực sau:
Thứnhất,vềnguyên tắc kếthôn và điềukiệnkếthôn.Vềcơbảnluật tục các dân tộc thiểusốTây Nguyênđềuquyđịnhvềnguyên tắc kếthôn là “nộihôn tộc người” và “ngoại hôn dòng họ”. Nội hôn tộc người tức là khuyến khích nam, nữ được
7 Hiện nay, ở Việt Nam vẫn còn có những tranh luận về vấn đề này, nhưng trong tương quan với hai thiết chế mẫu hệ và phụ hệ, chỉ có thể tạm gọi thiết chế này là thiết chế gia đình song hệ
8 Phỏng vấn ông Jơlơng Ya Loan, sinh năm 1946, ở thôn R’lơm, xã Tu Tra, huyện Đơn Dương, ngày
20/5/2015
kết hôn, xây dựng gia đình với những người trong tộc người của mình. Còn ngoại hôn dòng họtứclà chỉ được kết hôn với những người không có cùng quan hệ huyết thốngđược tính theo dòng mẹ, kể cả trực hệ hay bàng hệ.
Trước kia, do địa bàn cư trú tương đối tập trung, tách biệt, các mối quan hệ giao lưu văn hóa với các tộc người lân cận hạn chế, nên luật tục của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyênchỉủnghộviệc kếthôn giữa nhữngngườitrongnộibộ dân tộc. Vì vậy, hôn nhân ngoại tộc đối với đồng bào các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên ít xảy ra. Bên cạnh đó, đốivớingườiđồngbào DTTSTC Tây Nguyên, dònghọcũng chi phối khá mạnh mẽ đối với mối quan hệ HN&GĐ. Quan niệm truyền thống của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên, những người được xem là cùng dòng họ phải được sinh ra cùng một bà tổ nên luật tục không những cấm quan hệ hôn nhân giữa những thành viên sinh ra từ một bà
tổ mà cấm cả những thành viên cùng mang một tên họ mặc dù không có quanhệ gì vềhuyết thống kết hôn với nhau. Luật tục cũng quy định nguyên tắc tự nguyện trong hôn nhân. Trai gáiđếntuổi trưởng thành tự do yêu đương,tựdo tìm hiểungườibạnđời của mình mà không phải chịu sức ép nào cả. Nếu gia đình hai bên đồng ý cho đôi nam nữ lấy nhau thì tiến hành tổ chức đám hỏi.
Tiêu chuẩn chọnvợ,chọn chồng cũng là mộttrong nhữngnộidungđược luật tục quyđịnhnhằmđảmbảocho cuộc hôn nhânbềnvững. Tiêu chí chọnvợ,chọn chồng thời xưa và thời nay của đồngbào các DTTSTC Tây Nguyên có những nét tương đồng với nhau: nam khỏe mạnh, làm ăn giỏi, nhanh nhẹn, tháo vát, thật thà,đặc biệt phảilễphépvớicha mẹvà nhữngngườibềtrên trong gia đình;nữthì tính tình thùy mị, nết na, chăm chỉ làm ăn, thông thạo các công việc do giới tính quy định, biết cư xử khéo léo trong gia đình và ngoài xã hội.
Thứhai, quyđịnhnhững trườnghợpđược phépkếthôn gồm:ngườichưa cóvợ,ngườichưa có chồng phải tuân thủ nguyên tắc kếthôn ngoại hôn dònghọvà nội hôn tộc người; những người đã là vợ chồng nhưng đã ly hôn có ý nguyện chung sống
lạivớinhauđược quyềnkếthôn lại; nhữngngườiđã kếthôn nhưng cóvợhoặc cóchồng bị chết và đã làm xong thủ tục lễ bỏ mả;
Thứ ba, quy định về thủ tục cưới và nơi cư trú sau hôn nhân. Phong tục cưới hỏi của đồngbào các dân tộctạichỗTây Nguyên nói chung thuần phác,đơngiản nhưng tựu chung lại cũnggồm lễ dạm hỏi, lễ cưới và lễ lạimặt được tổ chức trước sự chứng kiến của mọi người trong gia đình, tộc họ, cộng đồng. Có thể nói, cư trú bên vợ là hình thức cư trú sau hôn nhân phổ biến nhất của các tộc người theochế độ mẫu hệ từ trước đến nayở TâyNguyên. Cũng có trường hợp ngoại lệ, sau khi cưới, vợ sẽ về cư trú nhà
chồng. Theo lời kể của những người lớn tuổi, trước đây hiện tượng sau khi kết hôn, vợcư trú bên nhà chồng cóxảyra, nhưngrấthiếm gặp.Điềunàyxảyra khi gia đình chàng trai giàu có nhưng không có con gái để chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ lúc tuổi già. Họ sẵn sàng bỏ nhiều trâu bò, nhẫn bạc, dâycườm, tiền để cưới côgái về làm vợ. Thông thường, nhữngngườicon gái khiđồngývềnhà chồng cư trú sau hôn nhân lànhững cô gái kém nhan sắc hoặc đã quá lứa lỡ thì, không aiđể ý đếnvà hình thức cưtrú sau hôn nhân này rất ít xảy ra.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\ẢNH HƯỞNG CỦA LUẬT TỤC ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY
Ảnhhưởng củaluật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay Ảnhhưởng củaluật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay Ảnhhưởng củaluật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay

