Nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

Nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

Nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Tại NHTM, tín dụng là một trong những kênh được sử dụng phổ biến nhất để thu hút vốn và điều hòa vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đất nước. Nhờ hoạt động này mà 80% lực lượng lao động trong xã hội có công ăn việc làm, kiếm được thu nhập (Đỗ Minh Thông, 2012). Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các NHTM, gây ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng, khách hàng và đến nền kinh tế. Do đó, việc đảm bảo chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu,… trong hoạt động tín dụng nói riêng và trong quản trị ngân hàng nói chung được các NHTM đặt lên hàng đầu.

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) – chi nhánh Hải Dương cũng không nằm ngoài xu thế này. Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với nhóm khách hàng doanh nghiệp những năm gần đây chiếm đến 65-72% tổng dư nợ tín dụng tại chi nhánh (Ngân hàng Vietcombank – Chi nhánh Hải Dương, 2019). Việc tăng trưởng tín dụng cho nhóm khách hàng DN của Chi nhánh đã đáp ứng được các chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng của Chi nhánh nhưng tỷ lệ nợ xấu (năm 2019, tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh là 3,51%; tỷ trọng nợ quá hạn của KHDN chiếm tới 95,33%), nợ tiềm ẩn rủi ro trong những năm qua vẫn khá cao và ngày càng có xu hướng tăng, trong đó dư nợ của các doanh nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất. Vì những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Dương” làm luận văn thạc sỹ.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

– Mục tiêu nghiên cứu

“Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải Dương trong thời gian tới.

– Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

+ Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải Dương, từ đó chỉ ra hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.

+ Trên cơ sở hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, đề tài đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải Dương.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tín dụng đối với Khách hàng doanh nghiệp.”

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải Dương

+ Về thời gian: Giai đoạn 2017-2019.”

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1. Khung nghiên cứu

Hình 1: Khung nghiên cứu của luận văn

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mạiChỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải DươngGiải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải Dương
* Nhóm các yếu tố bên trong

* Nhóm các yếu tố bên ngoài

* Chỉ tiêu định lượng

– Chỉ tiêu dư nợ tín dụng

– Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của ngân hàng

– Chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ tín dụng có TSĐB

– Vòng quay vốn tín dụng

– Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn

– Chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp

* Chỉ tiêu định tính

– Sự hài lòng của các DN

– Xây dựng chính sách phù hợp với KHDN

– Nâng cao chất lượng thẩm định khi cho vay DN

– Nâng cao công tác cán bộ, trình độ cán bộ phụ trách công tác chuyên môn

– Xây dựng chính sách khách hàng hợp lý

– Một số giải pháp khác

Trên cơ sở các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại, tác giả đưa ra các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải Dương. Sau khi phân tích các chỉ tiêu này, tác giả chỉ ra các hạn chế, nguyên nhân của hạn chế còn tồn tại trong chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải Dương để làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp.

5.2. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:

“- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập từ các tài liệu, thông tin, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, tạp chí chuyên ngành ngân hàng, tài liệu được công bố trên Internet liên quan đến chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nói riêng; kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank – Chi nhánh Hải Dương qua các năm 2017-2019, định hướng hoạt động tín dụng của Vietcombank – Chi nhánh Hải Dương. Đề tài còn thu thập kết quả chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp của một số chi nhánh ngân hàng thương mại (vốn điều lệ, vòng quay vốn tín dụng, dư nợ quá hạn) để so sánh, đối chiếu và làm bài học cho Vietcombank – Chi nhánh Hải Dương.

– Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phát phiếu khảo sát cho 100 khách hàng doanh nghiệp đang giao dịch tín dụng tại Vietcombank – Chi nhánh Hải Dương.

– Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin: Các dữ liệu sau khi được thu thập, tác giả tổng hợp, thống nhất toàn bộ nội dung, các nhận xét, từ đó tìm ra mối liên hệ giữa các thông tin thông qua lập các bảng biểu, biểu đồ, hình vẽ bằng cách sử dụng các phầm mềm excel, word, máy tính,… Các dữ liệu sau khi được xử lý, sắp xếp một cách hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho phân tích dữ liệu.”

– Phương pháp phân tích thông tin: Số liệu được tiếp cận, hệ thống, đánh giá qua các giai đoạn của Vietcombank – Chi nhánh Hải Dương, kết hợp với kết quả điều tra, khảo sát để phân tích từng vấn đề. Từ các số liệu thu thập được, tác giả xây dựng hệ thống biểu bảng để phân tích, đánh giá chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietcombank – Chi nhánh Hải Dương.

Nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương như sau:

Mở đầu

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

Chương 2: Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải Dương

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải Dương.

Kết luận

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tổng quan chung về tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp ở NHTM

1.1.1. Ngân hàng thương mại

“Có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại nhưng nhìn chung có hai khái niệm đặc trưng nhất như sau:

Theo Peter S.Rose (2004): “Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và cộng đồng nói riêng. Các ngân hàng có thể được định nghĩa thông qua các chức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Theo đó ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, thực hiện nhiều chức năng tài chính hơn so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào.

Theo Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng có sửa đổi: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác để hoạt động ngân hàng.

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: Ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình khác.

Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ ngân hàng.

Như vậy có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Từ đó có thể nói bản chất của NHTM thể hiện qua các điểm sau:

– Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế;

– Ngân hàng thương mại hoạt động mang tính chất kinh doanh;

– Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng.”

1.1.2. Tín dụng ngân hàng thương mại

Tín dụng là hoạt động lâu đời nhất và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại (NHTM). Hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Theo Nguyễn Minh Kiều (2008), tín dụng ngân hàng là “quan hệ chuyển nhượng sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”.

“Nói cách khác, tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả, kèm theo lợi tức khi đến hạn. Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia bằng nhiều hình thức như cho vay, bán chịu hàng hóa, chiết khấu, bảo lãnh,… được sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định cùng với một số điều kiện nhất định theo thỏa thuận.

Tín dụng là một phạm trù kinh tế hàng hóa, có quá trình ra đời tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Ban đầu, các quan hệ tín dụng hầu hết bằng hiện vật và một phần nhỏ là tín dụng hiện kim, hay gọi là tín dụng nặng lãi, cơ sỏ của quan hệ tín dụng lúc bấy giờ là sự phát triển lúc đầu của các quan hệ hàng hóa – tiền tệ trong điều kiện của nền sản xuất hàng hóa kém phát triển.

Như vậy, tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó các ngân hàng, các TCTD vừa là bên đi vay, vừa là bên cho vay. Bên cho vay chuyển giao tạm thời quyền sử dụng tài sản cho bên đi vay trong thời gian thỏa thuận, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả lại vô điều kiện đầy đủ vốn và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán.”

Tín dụng ngân hàng được phân loại như sau:

Thứ nhất, theo thời hạn tín dụng, tín dụng

“- Tín dụng ngắn hạn: là những khoản vay có thời hạn đến 1 năm, thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cá nhân

– Tín dụng trung hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm; được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.

– Tín dụng dài hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng này được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn.

Thứ hai, phân theo mức độ tín nhiệm của khách hàng

– Tín dụng có đảm bảo: các khoản vốn tín dụng phát ra đều có hàng hóa, vật tư tài sản tương đương đảm bảo.

– Tín dụng không có đảm bảo: các khoản tín dụng phát ra không cần có hàng hóa, vật tư, tài sản đảm bảo mà chỉ dựa vào uy tín, sự tín nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân để cấp vốn tín dụng.

Thứ ba, phân theo đối tượng trả nợ

– Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay cũng là người trực tiếp trả nợ.

– Tín dụng gián tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay và người trả nợ là hai đối tượng khác nhau.”

1.2. Chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại các Ngân hàng Thương mại

1.2.1. Quan điểm về chất lượng tín dụng

Trong ba yếu tố, giá cả, chất lượng, lượng bán hàng, chất lượng là yếu tố quan trọng nhất. Khi chất lượng được nâng lên, giá thành không thay đổi, hàng hóa sẽ được bán ra nhiều hơn. Do đó, muốn tồn tại và phát triển, doanh nghiệp nào cũng cần cải thiện và nâng cao chất lượng.

Xét ở góc độ ngân hàng, chất lượng tín dụng không chỉ nhằm để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, mà còn phải đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước nói chung và của địa phương nói riêng dựa trên cơ sở khả năng thu hồi được gốc và lãi đúng hạn như thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.

Theo Nguyễn Minh Tiến (2015), trong Giáo trình Tiền tệ ngân hàng, NXB Thống Kê, chất lượng tín dụng là “sự đáp ứng kịp thời, hợp lý những yêu cầu về vốn của khách hàng, phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, với một mức chi phí hợp lý, đảm bảo sự phát triển an toàn và lợi nhuận trong hoạt động tín dụng của ngân hàng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế”.

“Chất lượng tín dụng không chỉ thể hiện thông qua lợi ích của NHTM mà còn bao hàm cả lợi ích của khách hàng và cả nền kinh tế.

Thứ nhất, nếu xét trên quan điểm của khách hàng: mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng được coi là biểu hiện của chất lượng tín dụng. Chất lượng tín dụng là sự thoả mãn yêu cầu của họ về mức lãi suất hợp lý, thủ tục cho vay đơn giản, điều kiện cho vay thông thoáng…

Thứ hai, nếu xét trên giác độ kinh tế – xã hội: chất lượng tín dụng phải đáp ứng các yêu cầu về vốn, phù hợp với định hưởng phát triển kinh tế của từng vùng, địa phương nhằm tạo ra được các hiệu quả xã hội như phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế và khai thác các nguồn lực một cách tối ưu nhất.

Thứ ba, nếu xét trên quan điểm của ngân hàng: chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng của mỗi Ngân hàng , khả năng thu hồi nợ đúng hạn, đầy đủ và có lãi, đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường của ngân hàng đó.”

“Như vậy, trong phạm vi luận văn này, khái niệm chất lượng tín dụng được hiểu theo Nguyễn Minh Tiến (2015).

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

1.2.2.1. Chỉ tiêu đánh giá định lượng

a. Chỉ tiêu dư nợ tín dụng

Chỉ tiêu này được tính bằng công thức sau:

Tỷ trọng dư nợ tín dụng của khách hàng DN=Dư nợ tín dụng của khách hàng DNx100%
Tổng dư nợ tín dụng

“Chỉ tiêu này phản ánh quy mô dư nợ tín dụng của khách hàng DN trong tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng. Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với khách hàng DN càng cao cho thấy hoạt động tín dụng đối với khách hàng DN càng hiệu quả và ngược lại.

b. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của ngân hàng

Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đúng hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của NHTM tại một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.

Tỷ trọng nợ quá hạn của khách hàng DN=Dư nợ quá hạn của khách hàng DNx100%
Tổng dư nợ tín dụng của khách hàng DN

Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả nên tính an toàn là yếu tố quan trọng nhất để cấu thành nên chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay không được trả đúng hạn như đã cam kết, khoản nợ đó sẽ tự động chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Thực tế cho thấy, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ xấu có khả năng mất vốn. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao, NHTM càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, nghĩa là tỷ lệ nợ quá hạn càng cao, chất lượng tín dụng càng thấp.

Tỷ trọng nợ xấu của khách hàng DN=Dư nợ xấu của khách hàng DNx100%
Tổng dư nợ tín dụng của khách hàng DN

Chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, phản ánh những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải đối mặt. Quan sát tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu có thể đánh giá được phần nào chất lượng tín dụng của NHTM. Nếu chỉ tiêu này càng cao, ngân hàng sẽ bị đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp. Tuy nhiên, nợ quá hạn, nợ xấu là vấn đề khó tránh khỏi trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Do đó, các ngân hàng cần duy trì tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu ở mức thấp nhất có thể chấp nhận được.

Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/02/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sửu dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ độ an toàn tín dụng của ngân hàng càng cao.

c. Chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ tín dụng có TSĐB

Tỷ lệ dư nợ tín dụng của khách hàng DN có TSĐB=Dư nợ tín dụng của khách hàng DN có TSĐBx100%
Dư nợ tín dụng của khách hàng DN

TSĐB là một trong những yêu cầu quan trọng của ngân hàng đối với DN. Nếu DN không thể trả nợ, ngân hàng có quyền xử lý TSĐB để thu nợ. Tỷ lệ dư nợ tín dụng có TSĐB càng cao thì tính an toàn của món vay càng lớn.

d. Vòng quay vốn tín dụng

Vòng quay vốn tín dụng của KHDN=Doanh số thu nợ của KHDN
Dư nợ bình quân của KHDN

Trong đó,

Dư nợ bình quân=Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ
2

Đây là chỉ tiêu phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay (thường trong một năm). Chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tổ chức và quản lý tín dụng càng tốt. Vòng quay vốn tín dụng còn cho thấy hiệu quả đi vay của khách hàng thể hiện ở việc vay trả đúng thời hạn. Tuy nhiên, với ngân hàng, chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối vì nếu một NHTM cho vay các DN sản xuất, xây dựng sẽ có vòng quay vốn tín dụng thấp hơn NHTM khác cho vay DN thương mại. Như vậy, không vì thế mà chất lượng cho vay của NHTM này kém hiệu quả hơn.

Để đánh giá tương đối chính xác chất lượng tín dụng, vòng quay tín dụng phải được tính toán cho từng loại vay, từng thời hạn vay và từng đối tượng vay cụ thể.

e. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn

Hiệu suất sử dụng vốn vay đối với KHDN là chỉ tiêu được xác định bởi tỷ lệ dư nợ tín dụng đối với KHDN trên nguồn vốn huy động.

Hiệu suất sử dụng vốn của KHDN=Dư nợ tín dụng của KHDNx100%
Tổng nguồn vốn huy động

Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng vốn huy động có bao nhiêu là dành cho hoạt động tín dụng đối với KHDN. Nó phản ánh quy mô cũng như khả năng tận dụng nguồn vốn của ngân hàng. Bên cạnh đó, tỷ lệ này cũng đánh giá sự phù hợp giữa nguồn vốn huy động và tín dụng đối với KHDN. Tại các NHTM, tỷ lệ này luôn nhỏ hơn 1. Nếu tỷ lệ này tiến gần đến 1, ngân hàng phải đề phòng trường hợp mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, ngược lại, nếu tỷ lệ này quá thấp cho thấy nguồn vốn huy động và tín dụng đối với KHDN không phù hợp, ảnh hưởng tới khả năng sinh lời hoặc gây ra tình trạng ứ đọng vốn. Điều này có thể bắt nguồn từ việc ngân hàng không có chủ trương mở rộng tín dụng hoặc không thu hút được KHDN để cho vay. Để giải quyết vấn đề này, ngân hàng cần tăng dư nợ tín dụng đối với KHDN hoặc giảm nguồn huy động.

f. Chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp

Tỷ lệ thu lãi từ hoạt động tín dụng của KHDN tính trên tổng thu lãi và phí của ngân hàng. Như vậy, tỷ lệ này càng cao, càng chứng tỏ hiệu quả hoạt động tín dụng của nhóm KHDN đối với ngân hàng.”

Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng với KHDN=Thu nhập từ hoạt động tín dụng với KHDNx100%
Tổng thu nhập

1.2.2.2. Chỉ tiêu đánh giá định tính

Ngoài ra, để đánh giá khách quan và toàn diện hơn sự chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp, cần khảo sát khách hàng để đo lường sự hài lòng của các DN. Điều này được thể hiện bằng việc các DN có được đáp ứng vốn một cách kịp thời, nhanh chóng, thuận tiện hay không. Mỗi DN có nhu cầu vay vốn, thời hạn vay, phương thức vay khác nhau. Do đó, ngân hàng phải đưa ra được các phương thức cho vay đa dạng, phù hợp với từng nhu cầu của các DN với một quy trình cho vay khoa học, chi tiết nhưng vẫn đảm bảo nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí.

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

1.2.3.1. Nhóm các nhân tố bên trong

a. Chính sách tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp

“Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương, định hướng quy định chi phối hoạt động tín dụng do hội đồng quản trị ngân hàng đưa ra nhằm sử dụng nguồn vốn tài trợ cho DN, các hộ gia đình, cá nhân một cách hiệu quả, phù hợp với pháp luật và quy định của NHNN.

Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng, tạo sự thống nhất trong hoạt động tín dụng, từ đó hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời. Tùy từng điều kiện cụ thể mà ngân hàng đưa ra các chính sách tín dụng phù hợp như tập trung vào nhóm khách hàng là DN nói chung, DNNVV, DN lớn, các DNNN hay DN ngoài quốc doanh,… Nếu chính sách tín dụng chú trọng đến đối tượng là các khách hàng DN nói chung, ngân hàng sẽ đưa ra các ưu đãi cụ thể về lãi suất, thời hạn vay, thủ tục và các điều kiện vay, tài sản đảm bảo, điều kiện giải ngân và điều kiện thanh toán,… cho nhóm khách hàng này, phát huy được hiệu quả cho vay, nâng cao được chất lượng cho vay đối với đối tượng này. Do đó, chính sách tín dụng cần được xây dựng hợp lý, đúng đắn, linh hoạt để hạn chế rủi ro, nâng cao chất lượng cho vay, tăng tính cạnh tranh của ngân hàng trong việc thu hút khách hàng.

Ngoài ra, các sản phẩm cho vay đa dạng sẽ ảnh hưởng nhất định đến chất lượng các khoản vay. Các điều kiện cho vay của ngân hàng thường rất chặt chẽ và có thể trở thành rào cản cho DN trong việc vay vốn. Có DN có đủ khả năng trả nợ gốc và lãi đúng hạn nhưng lại không dễ dàng đáp ứng các điều kiện cho vay của ngân hàng. Vì thế, ngân hàng có thể bị bỏ qua các khoản cho vay tốt, ảnh hưởng nhất định đến chất lượng cho vay của ngân hàng. Do đó, việc tạo ra các hình thức cho vay linh động, hợp lý với tình hình sản xuất kinh doanh của DN sẽ giúp đa dạng hóa tài sản, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay, tác động nhất định đến chất lượng cho vay.

Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng, hạn chế rủi ro, tuân thủ theo pháp luật của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội. Như vậy, chất lượng tín dụng tùy thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của NHTM có đúng đắn hay không.”

b. Quy trình tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp

“Quy trình tín dụng là quy định về các bước cần thiết phải thực hiện trong quá trình tín dụng từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của cán bộ tín dụng (CBTD) và lãnh đạo ngân hàng có liên quan. Quy trình tín dụng gồm các bước như khai thác và tìm kiếm khách hàng; hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và lập hồ sơ vay vốn; phân tích, thẩm định khách hàng về dự án, phương án vay vốn.

Quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho quá trình thực hiện diễn ra hiệu quả hơn, giảm bớt thời gian, chi phí, giảm thiểu tối đa rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, một quy trình tín dụng cụ thể, chi tiết sẽ là phương tiện đắc lực để ngân hàng kịp thời tìm ra các sai sót, theo sát tình trạng khoản cấp tín dụng. Quy trình tín dụng cần được xây dựng một cách thống nhất toàn chi nhánh nhưng cũng cần linh hoạt với từng khoản tín dụng bởi sự linh hoạt này sẽ có ảnh hưởng tốt đến chất lượng các khoản vay.

c. Khả năng thu thập, phân loại và xử lý thông tin các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp

Thông tin tín dụng khách hàng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng, gồm các thông tin như tình hình tài chính, uy tín, trình độ quản lý, năng lực pháp lý của khách hàng,… Ngân hàng có thể thu thập các thông tin này bằng cách mua, tìm kiếm qua các kênh trung gian như cơ quan quản lý, các bạn hàng, chủ nợ của các DN, các cơ quan quản lý và tư vấn,… Nếu thu thập được nhiều thông tin, nhanh chóng, chính xác, toàn diện, khả năng phòng chống rủi ro sẽ tốt hơn, chất lượng tín dụng cũng tốt hơn.

d. Chất lượng cán bộ tín dụng

Đội ngũ cán bộ tín dụng ngân hàng quyết định sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng bởi CBTD là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu của quy trình tín dụng.

Nếu CBTD không có đạo đức nghề nghiệp, làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái pháp luật, chất lượng tín dụng sẽ bị ảnh hưởng. CBTD giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, kinh nghiệm đánh giá chính xác, chân thực các báo cáo tài chính, tính khả thi của dự án, phát hiện hành vi cố tình lừa đảo của khách hàng sẽ đánh giá được năng lực tài chính thực sự của khách hàng, từ đó có những quyết định đúng đắn.

CBTD có hiểu biết pháp luật, môi trường kinh tế – xã hội, đường lối phát triển của đất nước, tình hình thị trường tài chính – tiền tệ,… sâu rộng có thể biết được những biến động có thể xảy ra, từ đó có những tư vấn kịp thời cho khách hàng về phương án kinh doanh phù hợp. Điều này cũng góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM.”

e. Chất lượng kiểm soát nội bộ

“Ban kiểm soát nội bộ là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của NHTM. Đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần thiết với mọi ngân hàng. Qua kiểm soát nội bộ, các nhà lãnh đạo ngân hàng sẽ nắm được tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra, phát hiện ra các thuận lợi, khó khăn để có những biện pháp giải quyết kịp thời. Các quy chế, thể lệ và nguyên tắc cho vay nếu cán bộ không nắm vững sẽ gây ra những tổn thất, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng giúp cho hoạt động tín dụng đi đúng hướng, thực hiện theo các nguyên tác, yêu cầu thể lệ trong quy chế tín dụng cũng như quy trình tín dụng. Đây là biện pháp giúp ngăn ngừa, hạn chế sai sót của CBTD, giúp hoạt động tín dụng được sửa chữa kịp thời, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng.

f. Quản trị rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau. Khi rủi ro tín dụng được hạn chế, chất lượng tín dụng sẽ được nâng cao. Do đó, quản trị rủi ro tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng thận trọng trong từng bước, đánh giá đúng năng lực tài chính của khách hàng, khả năng thành công của dự án vay vốn; từ đó góp phần làm giảm tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng.

g. Công nghệ ngân hàng

Hiện nay, công nghệ đang ngày càng phát triển, mang lại nhiều lợi ích cho các NHTM trong phân tích, quản lý các khoản tín dụng nói chung và tín dụng đối với các DN nói riêng. Trang thiết bị hiện đại sẽ giúp các ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ một cách nhanh chóng, chính xác trong quản lý, theo dõi khách hàng, cập nhật, bảo mật thông tin về khách hàng, tiết kiệm thời gian và chi phí giao dịch, tạo sự tin tưởng cho doanh nghiệp, tăng khả năng thu hút DN, từ đó giúp NHTM tăng lợi nhuận.

1.2.3.2. Nhóm các nhân tố bên ngoài

a. Các yếu tố từ phía doanh nghiệp

– Năng lực và khả năng quản trị doanh nghiệp của DN: Năng lực của khách hàng là nhân tố quyết định đến việc khách hàng có sử dụng vốn vay hiệu quả hay không. DN thành công hay thất bại phụ thuộc nhiều vào năng lực quản lý. Nếu năng lực của chủ DN yếu kém, không dự báo được biến động của thị trường, thiếu hiểu biết trong sản xuất, phân phối sản phẩm,… sẽ dễ bị mất năng lực cạnh tranh, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng và ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Năng lực quản lý còn thể hiện ở việc tổ chức hệ thống hạch toán kế toán, quản lý tài chính phù hợp với quy định của pháp luật không. Một DN có nguồn vốn dồi dào nhưng năng lực quản lý kém có thể gây ra thất thoát vốn, sử dụng vốn không hiệu quả,… nghĩa là khoản tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho DN kém hiệu quả.”

– Sự minh bạch trong hệ thống kế toán tài chính của các DN: Sự minh bạch là sự công khai, tính chính xác trong hệ thống kế toán, tài chính của DN. Hệ thống tài chính kế toán của DN là một trong những nguồn cung cấp thông tin tín dụng cho ngân hàng. Nếu DN áp dụng đúng các chuẩn mực kế toán, có hệ thống kiểm soát độc lập, tuân thủ quy định pháp luật về chế độ tài chính – kế toán, DN sẽ đưa ra các thông tin tài chính trung thực, chính xác, đảm bảo việc đánh giá tình hình tài chính, khả năng trả nợ của DN, từ đó các ngân hàng có thể kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn vay của DN, đánh giá rủi ro trong việc cấp tín dụng cho các đối tượng khách hàng này. Từ đó, ngân hàng có điều kiện sàng lọc các DN tốt, tăng khả năng lựa chọn cho vay các DN tốt, giảm thiểu rủi ro trong cấp tín dụng cho DN.

– Năng lực tài chính của các DN: Năng lực tài chính của DN thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỷ trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn của DN đang sử dụng. Quy mô và tỷ trọng vốn tự có càng cao, tiềm lực tài chính của DN càng mạnh. Các DN Việt Nam thường gặp khó khăn về tài chính, đặc biệt là các DN siêu nhỏ bởi đa số các DN này kinh doanh bằng vốn tự có. Nếu đầu tư dự án quá lớn, DN khó tự chủ về mặt tài chính, bị động trong sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng. Hơn nữa, đa số các DN này không có nhiều tài sản nên khó tiếp cận được nguồn vốn từ ngân hàng. Như vậy, năng lực tài chính của DN càng cao, DN có nhiều khả năng đáp ứng điều kiện tín dụng, chất lượng tín dụng cũng được nâng cao.

“- Uy tín, đạo đức của DN: Đạo đức của người vay là yếu tố quan trọng trong quá trình thẩm định. Tính cách của người vay không chỉ được đánh giá bằng phẩm chất đạo đức chung mà còn phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quá khứ, hiện tại và chiến lược phát triển tương lai. Tuy nhiên, trên thực tế, tính chân thật, khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi món vay được thực hiện. Khách hàng có thể lừa đảo ngân hàng thông qua việc gian lận số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh,… khiến ngân hàng gặp rủi ro.

Uy tín của khách hàng là tiêu chí để đánh giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng. Uy tín của khách hàng thể hiện ở nhiều mặt như chất lượng, giá cả hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng, ngân hàng,… Việc phân tích uy tín của khách hàng chính xác sẽ giúp cho ngân hàng có những quyết định cho vay đúng đắn.

b. Các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh

– Môi trường chính trị: Tình hình chính trị của một quốc gia luôn có tác động nhất định đến không chỉ các NHTM, mà còn tác động đến cả hệ thống tài chính tiền tệ. Những sự kiện chiến tranh, thay đổi cơ chế bộ máy của quốc gia, hỗn loạn, biểu tình,… đều tạo ra những thay đổi về môi trường kinh doanh. Chính trị ổn định tạo nền tảng vững chắc cho NHTM mở rộng hoạt động cho vay, trong đó có cho các DN vay.

– Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý là cơ sở để các thành phần kinh tế hoạt động một cách hợp pháp, công bằng, bình đẳng theo một khung pháp lý đã quy định. Các bộ luật, các văn bản pháp quy ổn định, đồng bộ, thống nhất, hợp lý ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh, khả năng trả nợ của DN và chất lượng cho vay của ngân hàng. Hệ thống pháp luật là cơ sở điều tiết các hoạt động của nền kinh tế, kịp thời điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện, phù hợp hơn với sự phát triển chung của nền kinh tế nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng.”

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG VIETCOMBANK – CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG

2.1. Khái quát chung về Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải Dương

2.1.1. Giới thiệu chung về Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Hải Dương

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Dương được thành lập ngày 04/9/2002 theo Quyết định số 405/QĐ-NHNT-TCCB-ĐT của Hội đồng quản trị Ngân hàng ngoại thương Việt Nam và chính thức hoạt động từ ngày 17/3/2003.

Sau 16 năm hoạt động, từ một chi nhánh mới với quy mô hơn 30 cán bộ nhân viên, Vietcombank Hải Dương đã có sự phát triển nhanh chóng, nằm trong nhóm 10 chi nhánh có quy mô lớn nhất hệ thống Vietcombank. Hoạt động kinh doanh của chi nhánh đạt kết quả cao với sự tăng trưởng nhanh và bền vững. Điều này được chứng minh bằng những thành tích mà Vietcombank Hải Dương đã được ghi nhận qua các bằng khen, danh hiệu do tỉnh Hải Dương, Nhà nước trao tặng, nổi bật là:

– Năm 2005 và 2006, Vietcombank Hải Dương nhận cờ thi đua xuất sắc của tỉnh Hải Dương;

– Năm 2007 và 2008, Vietcombank Hải Dương là một trong ba đơn vị ngân hàng xuất sắc nhất trên địa bàn tỉnh;

– Vietcombank Hải Dương là doanh nghiệp tiêu biểu năm 2008;

– Vietcombank Hải Dương đón nhận huân chương lao động hạng 3 năm 2011, huân chương lao động hạng nhì năm 2015;

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *