Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Là một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lại bị ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu; đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh nên hiện nay số người cần trợ giúp xã hội của Việt Nam rất lớn, chiếm hơn 20% dân số cả nước. Trong đó có khoảng 9,2 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, gần 5% hộ nghèo, 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, ….

Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị – xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Bảo trợ xã hội là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước. Đây là một hoạt động mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc nhưng cũng có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội. Cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội, công tác bảo trợ xã hội ngày càng được quan tâm, các văn bản đã được sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu của xã hội. Đến nay, công tác bảo trợ xã hội là một trong những bộ phận quan trọng của chính sách an sinh xã hội. Bảo trợ xã hội không chỉ là cứu đói, hỗ trợ lương thực cho cá nhân, hỗ trợ gia đình chịu hậu quả thiên tai, chiến tranh, mở rộng thành các hợp phần chính sách là trợ giúp đột xuất, trợ giúp thường xuyên,… Đối tượng thụ hưởng chính sách cũng ngày một mở rộng và phương thức thực hiện đa dạng hơn.

Tỉnh Gia Lai có vị trí đặc biệt quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế, xã hội; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội của tỉnh nói riêng và của nước ta nói chung. Mặc dù Gia Lai là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế và cơ hội đầu tư nhưng nhìn chung Gia Lai vẫn là một tỉnh nghèo; trình độ dân trí còn thấp; điều kiện địa lý, giao thông đi lại khó khăn; cơ sở hạ tầng còn yếu và đặc biệt là hệ thống các doanh nghiệp dân doanh chủ yếu vẫn là doanh nghiệp siêu nhỏ nên nguồn thu ngân sách của tỉnh vẫn còn rất nhiều hạn chế; chi đầu tư phát triển chủ yếu do Trung ương hỗ trợ. Do vậy, nguồn lực đầu tư dành cho công tác bảo trợ xã hội gặp rất nhiều khó khăn.

Từ thực trạng trên của tỉnh Gia Lai, Cùng với những kiến thức, lý luận được Quý Thầy, Cô của Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Gia Lai, với mong muốn nghiên cứu về lý luận, thực trạng, đóng góp những đề xuất, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý lý nhà nước về bảo trợ xã hội cho địa phương, tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai” để làm đề tài luận văn của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu các cơ sở lý luận, khung lý thuyết về bảo trợ xã hội, quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội; phân tích, đánh giá thực trạng; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm từng bước khắc phụ những yếu kém trong công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội.

– Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai; từ đó tìm ra các thành công, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó.

– Đề xuất các giải pháp nhằm từng bước khắc phụ những yếu kém trong công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi không gian: Tỉnh Gia Lai.

+ Phạm vi thời gian: Luận văn phân tích thực trạng quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016-2020 và đề xuất giải pháp đến năm 2025.

+ Phạm vi nội dung: Công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu trên, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp sau:

– Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tài liệu thứ cấp được thu thập dựa vào các tài liệu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, niên giám thống kê, các báo cáo tổng kết của địa phương và trên các trang thông tin điện tử chính thức của các cơ quan, tổ chức. Các số liệu cơ bản liên quan đến luận văn được thu thập tại Phòng Bảo trợ xã hội – Sở Lao động Thương binh và xã hội tỉnh Gia Lai, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Gia Lai, Sở Tài Chính tỉnh Gia Lai, Cục Thống kê tỉnh Gia Lai.

– Phương pháp xử lý tài liệu: Các tài liệu thứ cấp được sắp xếp cho từng yêu cầu về nội dung nghiên cứu và phân thành các nhóm dữ liệu theo từng phần của đề tài, bao gồm: Những tài liệu về lý luận, những tài liệu tổng quan về thực tiễn nói chung, những tài liệu thu thập về thực trạng công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội tại tỉnh Gia Lai. Việc xử lý tài liệu giúp cho việc phân tích, đánh giá sát với nội dung yêu cầu cuat luận văn.

– Phương pháp so sánh: Phương pháp này sử dụng để so sánh việc thực hiện công tác quản lý nhà nước của tỉnh Gia Lai qua các năm có sự khác biệt và biến động các số liệu thực tế phản ánh sự ảnh hưởng của bảo trợ xã hội qua các năm để từ đó có căn cứ để nhận xét, đánh giá.

– Phương pháp phân tích thực chứng: Phương pháp này mô tả, giải thích các khái niệm cũng như nội dung liên quan về công tác quản lý hoạt động bảo trợ xã hội, qua đó đưa ra nhận định chung về bảo trợ xã hội. Từ đó đưa ra khung lý luận và đánh giá tốt hơn thực trạng về công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội của tỉnh Gia Lai.

– Phương pháp phân tích tổng hợp: Từ cơ sở số liệu và các tài liệu được xử lý, phương pháp này phân tích từng nội dung cụ thể, qua đó tổng hợp, nhận xét, đánh giá về nội dung nghiên cứu giúp chúng ta hiểu được các vấn đề liên quan đến bảo trợ xã hội.

– Kết hợp các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Sử dụng các phương pháp phân tích như số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, mức độ thực hiện nội dung quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai. So sánh các kết quả phân tích nhằm làm rõ sự khác biệt, sự thay đổi của các nhân tố, từ đó đưa ra những nhận định đánh giá. Trên cơ sở tổng hợp, so sánh với các chỉ tiêu trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và kết hợp với nhận định của tác giả để đề xuất giải pháp có tính khả thi nhất theo mục tiêu đề ra của luận văn.

Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai

5. Bố cục của đề tài:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, các danh mục có liên quan; nội dung chính của luận văn được trình bày trong 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Chương 3: Giải pháp tăng cường và đổi mới công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.1.1. Khái niệm bảo trợ xã hội và quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội:

Theo từ điển Tiếng Việt cụm từ “Bảo trợ” có nghĩa là giúp đỡ cho tổ chức hoặc cá nhân có khó khăn về vật chất trong cuộc sống. Còn cụm từ “Trợ giúp” có nghĩa giúp đỡ về vật chất cho đỡ khó khăn, thiếu thốn. Hai thuật ngữ “bảo trợ xã hội” và “trợ giúp xã hội” có nghĩa gần tương đồng nhau tuy nhiên trong các văn bản, sách báo và giáo trình hiện nay phần lớn sử dụng thuật ngữ “trợ giúp xã hội”. Các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội hiện hành sử dụng cụm từ “trợ giúp xã hội thường xuyên” thay cho “bảo trợ xã hội thường xuyên” hay “cứu tế xã hội thường xuyên”.

Theo khái niệm của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF): Bảo trợ xã hội bao gồm một loạt các chính sách và chương trình cần thiết để giảm hậu quả trong cuộc sống nghèo đói và khó khăn của người dân, hay những thiếu thốn không những về vật chất mà còn là tinh thần. Các chương trình hay được tổ chức như: chuyển tiền mặt hỗ trợ cho trẻ em khó khăn, giúp phát triển kỹ năng sống và hơn thế nữa giúp kết nối các gia đình với chăm sóc sức khỏe, thực phẩm bổ dưỡng và giáo dục chất lượng để cung cấp cho tất cả trẻ em, bất kể chúng sinh ra trong hoàn cảnh nào, một cơ hội công bằng trong cuộc sống.

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: Bảo trợ xã hội là việc cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp. Tổ chức nhấn mạnh vấn đề bảo hiểm và tạo cơ hội làm việc cho các đối tượng có nhu cầu.

Theo Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa: Bảo trợ xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó với và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập. Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh bảo trợ xã hội vừa là mạng lưới an toàn vừa là cơ sở để phát triển vốn con người.

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (1999), bảo trợ xã hội là “hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội” [2].

Ở tại Việt Nam bảo trợ xã hội có thể hiểu là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội, cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạn, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng  tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.

Như vậy, có thể hiểu bảo trợ xã hội là hệ thống các biện pháp, hoạt động trợ giúp bảo đảm của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội, những người bị thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống nhằm giúp họ giảm bớt phần nào những khó khăn trước mắt và lâu dài trong cuộc sống.

Qua các định nghĩa về bảo trợ xã hội, chúng ta nhận thấy cần có sự quan tâm chặt chẽ của tổ chức chính quyền đó chính là nhà nước trong việc đảm bảo sự an toàn về đời sống của người dân khi họ rơi vào hoàn cảnh rủi ro khó tự khắc phục được. Để làm rõ khái niệm quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội, trước hết cần làm rõ khái niệm quản lý nhà nước. 

Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập 1, trang 407: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. 

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa. 

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. 

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hướng dẫn chấp pháp, điểu hành, quản lí hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.

Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản dưới luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật. 

Từ những nghiên cứu nêu trên về bảo trợ xã hội và khái niệm về quản lý nhà nước, ta có thể hiểu: Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội là quá trình tác động có tổ chức và bằng các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước, thể hiện quyền lực của Nhà nước nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân khác nhau. 

1.1.2. Đặc điểm của bảo trợ xã hội ảnh hưởng đến công tác quản lý

– Bảo trợ xã hội mang tính nhân đạo, thể hiện truyền thống, tương thân, tương ái, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Hoạt động bảo trợ xã hội không nhằm bù đắp thu nhập mà chỉ hỗ trợ, giúp đỡ những người lâm vào tình trạng thực sự khó khăn, túng quẫn, cần có sự giúp đỡ về vật chất.

– Thực hiện mục đích xã hội vì cộng đồng, không vì lợi nhuận.

– Bảo trợ xã hội là quyền của mỗi thành viên trong xã hội, là trách nhiệm, nhiệm vụ của cộng đồng. Với quan niệm con người sinh ra có các quyền sống và bảo đảm các quyền cơ bản của con người, Nhà nước cần có biện pháp hỗ trợ những cá nhân không có năng lực thực hiện các quyền, tự bảo đảm nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống. Bảo trợ xã hội là sự can thiệp để các cá nhân thực hiện các nhu cầu cơ bản. Nhà nước là bảo vệ sự an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ bị suy giảm, hoặc bị mất nguồn thu nhập, trước các cú sốc về kinh tế – xã hội và đó thuộc về chức năng cơ bản của an sinh xã hội.

– Bảo trợ xã hội phụ thuộc vào nền kinh tế của địa phương, sự đóng góp của các bên, sự trợ giúp xã hội và sự chia sẻ của cộng đồng. Chính sách bảo trợ xã hội xây dựng trên cơ sở bảo đảm cho bộ phận dân cư khó khăn thực hiện các nhu cầu về đời sống (lương thực, thực phẩm), có nước sạch sinh hoạt, có nơi ở, bảo đảm vệ sinh cá nhân và môi trường, được chăm sóc y tế, được tiếp cận giáo dục, giao tiếp, các hoạt động cộng đồng. Đặc điểm này được các tổ chức xã hội vận dụng để huy động nguồn lực và thực hiện cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội tác động là giảm bớt sự thiếu thốn vật chất, sự tách biệt với môi trường và sự tổn thương cá nhân.

1.1.3. Ý nghĩa của quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội

Thứ nhất, quản lý nhà nước bảo trợ xã hội thực hiện chức năng bảo đảm an sinh xã hội của nhà nước. Thông qua luật pháp, chính sách, các chương trình bảo trợ xã hội, Nhà nước can thiệp và tác động giữ ổn định xã hội, ổn định chính trị, giảm phân hoá giàu nghèo, giảm phân tầng xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển. Để tạo ra sự phát triển bền vững, đòi hỏi Nhà nước càng phải phát triển mạnh mẽ bảo trợ xã hội để điều hoà các mâu thuẫn xã hội phát sinh trong quá trình phát triển. Từ đó, đời sống vật chất và tinh thần của người dân dần được cải thiện, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị – xã hội.

Thứ hai, quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội giúp thực hiện chức năng tái phân phối lại của cải xã hội. Bảo trợ xã hội sẽ điều tiết phân phối thu nhập, cân đối, điều chỉnh nguồn lực để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hoà giữa các vùng, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, nhóm dân cư.

Thứ ba, quản lý nhà nước bảo trợ xã hội có vai trò phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu và khắc phục rủi ro và giải quyết một số vấn đề xã hội nảy sinh. Bảo trợ xã hội trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến giảm thiểu rủi ro, hạn chế tính dẽ bị tổn thương và khắc phục hậu quả của rủi ro thông qua các chính sách và chương trình cụ thể nhằm giúp cho các thành viên xã hội ổn định cuộc sống, tái hoà nhập cộng đồng, bảo đảm mức sống tối thiểu cho dân cư khó khăn.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.2.1. Ban hành, tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội

a. Ban hành văn bản có liên quan đến bảo trợ xã hội

– Quan điểm, chủ trương của Đảng ta về vấn đề an sinh xã hội

Vấn đề an sinh xã hội là nội dung được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Ba trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội chính là bảo trợ xã hội. Bảo trợ xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” vốn là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc. Là một bộ phận của hệ thống chính sách an sinh xã hội, bảo trợ xã hội hướng tới những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người nhiễm HIV/AIDS, hoặc người gặp rủi ro do thiên tai,… nhằm giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Thời gian qua, chính sách bảo trợ xã hội đã và đang phát huy tác dụng là tấm lưới an toàn cho các đối tượng bảo trợ xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thúc đẩy tiến bộ xã hội và công bằng ở mỗi giai đoạn và trong suốt quá trình phát triển”.

Trong quá trình đổi mới đất nước, vấn đề đảm bảo công bằng xã hội luôn được đề cập từ Đại hội VI (1968) đến Đại hội VIII (1996), đến Đại hội IX (2001). Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng ta luôn đề cập và khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển” [tr.113]; Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX nhấn mạnh “ Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường… Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội…” [tr.104-107]. Đến Đại hội X và Đại hội XI một lần nữa Đảng ta khẳng định vấn đề an sinh xã hội phải được đảm bảo và phát triển đa dạng, mở rộng và hiệu quả. Gắn phát triển kinh tế – xã hội trong sự phát triển toàn diện các lĩnh vực và đặc biệt hơn, tại văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa XI Đảng ta ban hành Nghị quyết mà trong đó vấn đề chính sách xã hội được đề cập theo giai đoạn và nhấn mạnh cụ thể “Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người có công và đảm bảo an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội…” [tr.105-107].

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020:

  1. + Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người có công và bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
  2. + Chính sách ưu đãi người có công và an sinh xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội và khả năng huy động, cân đối nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; ưu tiên người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.
  3. + Hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng.

+ Nhà nước bảo đảm thực hiện chính sách ưu đãi người có công và giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia. Đồng thời tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh.

  1. + Tăng cường hợp tác quốc tế để có thêm nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

– Việc hoạch định và triển khai nhiều chính sách an sinh xã hội, chính sách bảo trợ xã hội quan trọng, huy động được nhiều nguồn lực của toàn xã hội để giúp các đối tượng khó khăn có điều kiện vươn lên trong cuộc sống.

Các cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền thực hiện việc quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội bằng công cụ là các quy định pháp luật, chính sách liên quan đến hoạt động bảo trợ xã hội. Ở các địa phương thì việc thực thi công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội được thực hiện bằng việc áp dụng các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách của cấp trên và tự xây dựng các chính sách trong phạm vi được cho phép để áp dụng, thực hiện.

Các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách của cấp trên thực chất là sự cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo trợ xã hội để tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai thực hiện trong thực tế. Các chính sách của địa phương thực chất là sự cụ thể hóa các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách của cấp trên có tính đến đặc thù, đặc điểm riêng có của từng địa phương trong phạm vi cho phép được điều chỉnh nhằm tạo ra định hướng rõ nét, thuận lợi, phù hợp hơn để triển khai thực hiện tại địa phương.

b. Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội

Tuyên truyền, phổ biến các chính sách, quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội là việc cung cấp thông tin về các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo trợ xã hội đến với người dân để họ biết, hiểu và thực hiện theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo trợ xã hội. Đồng thời, hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng góp phần giúp người dân có thông tin, hiểu biết để giám sát hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực thi chính sách, quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội.

Hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội thường được thực hiện thông qua việc tuyên truyền trên các kênh truyền thông của Bộ Lao đông, Thương binh và Xã hội, tạp chí Lao đông, Thương binh và Xã hội, tạp chí bảo trợ xã hội, các kênh truyền hình, phóng sự, pano, áp phích … hay tổ chức họp dân tại các tổ đoàn kết, tổ dân phố để tuyên truyền, phổ biến đến người dân.

Hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội thường tập trung nhấn mạnh vào một số nội dung như chủ trương, định hướng, chính sách của Đảng, các quy định mới của pháp luật về bảo trợ xã hội, các đối tượng bảo trợ xã hội…

c. Tiêu chí đánh giá

– Số lượng văn bản có liên quan đến bảo trợ xã hội được ban hành

Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội gồm trợ giúp xã hội ở cộng đồng, chăm sóc xã hội và trợ giúp đột xuất khi có thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn. Hệ thống chính sách này đã từng bước được hoàn thiện, đồng bộ và đã được quy định tại trên 10 Bộ luật, Luật; 7 Pháp lệnh và hơn 30 Nghị định, Quyết định của Chính phủ; hơn 40 Thông tư, Thông tư liên tịch và nhiều văn bản có nội dung liên quan.

Trong đó có những văn bản quan trọng như Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Luật Trẻ em, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 13/10/2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội, Quyết định số 488/QĐ-TTg ngày 14/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai đoạn 2017-2025 và tầm nhìn đến năm 2030”, Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/03/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020, Quyết định số 1215/QĐ-TTg ngày 22/07/2011 phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020, Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26/04/2013 phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020, Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/08/2012 phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020, Quyết định số 524/QĐ-TTg ngày 20/04/2015 phê duyệt Đề án củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2025, Quyết định số 565/QĐ-TTg ngày 25/4/2017 phê duyệt Chương trình mục tiêu Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020.

– Số lượng hoạt động tuyên truyền:

Ở các địa phương (huyện/thị xã) thì việc thực hiện hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo trợ xã hội đên người dân thường được thực hiện khi có sự thay đổi về chính sách, hay có văn bản chỉ đạo của cấp trên, của lãnh đạo cấp mình hay theo định kỳ hằng năm để triển khai thực hiện ngày càng tốt công tác bảo trợ xã hội. Đây có thể là hoạt động đột xuất hoặc theo định kỳ nhưng lâu nay vẫn có rất nhiều các địa phương không chú trọng thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về các chủ trương, chính sách nói chung, về bảo trợ xã hội nói riêng.

– Sự phối hợp giữa các cơ quan, báo chí: Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách trợ giúp xã hội được chú trọng thực hiện. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã giới thiệu văn bản và đăng tải toàn văn Nghị định và các Thông tư hướng dẫn trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Cổng Thông tin điện tử của Bộ. Đồng thời phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam trả lời hỏi đáp của đối tượng về các chế độ, chính sách, đối tượng hưởng lợi và quy trình thủ tục hồ sơ. Bộ cũng đã biên soạn tài liệu hướng dẫn, tổ chức các lớp tập huấn cán bộ ở 3 cấp tỉnh, huyện, xã, thành viên hội động xét duyệt trợ cấp xã hội, thành viên hội đồng xác định mức độ khuyết tật, cán bộ làm công tác trợ giúp xã hội và giảm nghèo.

– Tính đa dạng của nội dung và hình thức tuyên truyền: Phối hợp với các cơ quan báo chí, trung ương, địa phương thực hiện truyền thông, tuyên truyền sâu rộng, đa dạng hình thức như chuyên trang, chuyên mục, bài viết, phóng sự, tổ chức tọa đàm, games show, ấn phẩm, lưu động, trực quan,… Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền những nội dung cơ bản của các Luật về bảo trợ xã hội (Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người – HIV/AIDS), định hướng của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, kết quả thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đạt được trong thời gian qua.

– Tính kịp thời của các tuyên truyền: Một văn bản pháp luật để ban hành chính sách hay chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đều đòi hỏi phải được ban hành kịp thời với chủ trương của Đảng, với tình hình thực tế của khu vực, địa phương nơi áp dụng chính sách. Các địa phương cũng đã tổ chức hoạt động tuyên truyền phổ biến chính sách, tập huấn cán bộ, chỉ đạo rà soát, thống kê đối tượng, tổ chức thực hiện đồng bộ các chính sách trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách bảo trợ xã hội. Nhờ nâng cao tuyên truyền phổ biến chính sách, tập huấn cán bộ mà nhận thức của cán bộ, của một bộ phận người dân được nâng lên, góp phần vào triển khai thực hiện tốt các chế độ chính sách.

1.2.2. Tổ chức bộ máy nhà nước

a. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội

Đứng đầu là Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội, chỉ đạo xây dựng, ban hành, thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chế độ, chính sách về bảo trợ xã hội. Chính phủ quy định trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành trong việc quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội, cụ thể:

(1). Đối với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội, cụ thể tại Nghị định 136/NĐ-CP ngày 21/10/2013 và Nghị định 14/2017/NĐ-CP ngày 17/02/2017 của Chính phủ có quy định trách nhiệm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội như sau:

– Hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về giảm nghèo và trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội;

– Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về trợ giúp xã hội;

– Ứng dụng công nghệ thông tin quản lý đối tượng;

– Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thực hiện chính sách trợ giúp xã hội;

– Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội;

– Tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và các chương trình, đề án trợ giúp xã hội theo thẩm quyền.

(2). Đối với các bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm hương dẫn, tổ chức thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội.

(3). Đối với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh:

– Tổ chức thực hiện chế độ, chính sách trợ giúp xã hội cho đối tượng BTXH;

– Bố trí kinh phí bảo đảm thực hiện chế độ, chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng BTXH;

– Quyết định phương thức chi trả phù hợp với tình hình thực tế của địa phương theo hướng chuyển đổi chi trả chính sách trợ giúp xã hội từ cơ quan nhà nước sang tổ chức dịch vụ chi trả;

– Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội ở địa phương.

(4). Đối với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội:

– Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương về đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội và khả năng cân đối của ngân sách địa phương, xây dựng mức trợ cấp xã hội, mức trợ cấp nuôi dưỡng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các mức trợ giúp xã hội khác cao hơn các mức tương ứng quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ trình UBND cấp tỉnh quy định;

– Hướng dẫn, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn;

– Hàng năm, vào thời điểm lập dự toán, tổng hợp số đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên của các huyện, kinh phí trợ giúp đột xuất và dự kiến nhu cầu kinh phí thực hiện cùng với dự toán chi thường xuyên gửi Sở Tài chính xem xét, tổng hợp vào dự toán ngân sách địa phương, trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện;

– Trường hợp thiên tai, hỏa hoạn xảy ra trên diện rộng gây thiệt hại nặng và các nguồn kinh phí của địa phương không đủ để thực hiện trợ giúp đột xuất, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổng hợp trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh để báo cáo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hỗ trợ lương thực, kinh phí từ nguồn ngân sách Trung ương;

– Tổng hợp, báo cáo định kỳ về kết quả thực hiện chính sách trên địa bàn về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và UBND cấp tỉnh trước ngày 15 tháng 01 và 15 tháng 7 hàng năm;

– Quản lý cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội do cấp tỉnh thành lập;

– Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý đối tượng bảo trợ xã hội ở cấp tỉnh và cấp huyện; xây dựng cơ sở dữ liệu, tổng hợp và gửi thông tin của đối tượng đã được định dạng theo chuẩn XML về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Cổng thông tin điện tử của Bộ) định kỳ, đột xuất theo quy định.

(5). Đối với Sở Tài chính:

– Phối hợp với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương về đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội và khả năng cân đối của ngân sách địa phương, xây dựng mức trợ cấp xã hội, mức trợ cấp nuôi dưỡng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các mức trợ giúp xã hội khác cao hơn các mức tương ứng quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP trình UBND cấp tỉnh quy định;

– Tổng hợp dự toán kinh phí thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh vào dự toán ngân sách địa phương, trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện.

(6). Đối với Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội cấp huyện:

– Quản lý đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn bằng hồ sơ, sổ hoặc phần mềm vi tính;

– Hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát cấp xã trong việc xác định và quản lý đối tượng; tổ chức thực hiện chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn;

– Hàng năm, lập dự toán kinh phí chi trả trợ cấp hàng tháng; trợ giúp đột xuất; kinh phí chi cho công tác quản lý gửi Phòng Tài chính tổng hợp trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện và quyết toán kinh phí trợ cấp thường xuyên và đột xuất theo quy định hiện hành;

– Đối với những địa phương thực hiện chi trả chính sách trợ giúp xã hội thông qua tổ chức dịch vụ chi trả, hàng tháng gửi danh sách chi trả cho tổ chức dịch vụ chi trả; hướng dẫn, kiểm tra và giám sát tổ chức dịch vụ chi trả trong việc triển khai công tác chi trả cho đối tượng;

– Tổng hợp, báo cáo định kỳ kết quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn về Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và UBND cấp huyện trước ngày 30 tháng 6 và ngày 31 tháng 12 hàng năm;

– Quản lý cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội do cấp huyện thành lập.

(7). UBND cấp xã:

– Thành lập Hội đồng xét duyệt trợ giúp xã hội;

– Quản lý đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn;

– Cập nhật danh sách đối tượng trợ giúp hàng tháng (nếu có biến động, bổ sung đối tượng mới hoặc giảm đối tượng do chết hoặc không còn đủ điều kiện hưởng) gửi Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội để trình Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định;

– Tổng hợp, báo cáo định kỳ kết quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn về Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội và UBND cấp huyện trước ngày 15 tháng 6 và 15 tháng 12 hàng năm;

– Quản lý hoạt động cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội và phối hợp hoạt động với các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội trên địa bàn;

– Đối với chính sách trợ giúp đột xuất: Lập danh sách và tổ chức cứu trợ kịp thời, đúng đối tượng và hỗ trợ các đối tượng sớm khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định sản xuất và cuộc sống.

b. Tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động bảo trợ xã hội

Hoạt động BTXH là một bộ phận cấu thành của hệ thống ASXH, chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (theo ngành dọc) và tại địa phương chịu sự quản lý của UBND các cấp. Theo đó, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và UBND các cấp phối hợp tổ chức bộ máy nhà nước thực hiện công tác quản lý nhà nước về BTXH như sau:

– Ở Trung ương thì Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm thực hiện công tác quản lý nhà nước về BTXH;

– Ở cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương thì Sở Lao động, Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm thực hiện công tác quản lý nhà nước về BTXH;

– Ở cấp huyện/thị xã/thành phố thì Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm thực hiện công tác quản lý nhà nước về BTXH;

– Ở cấp xã/phường/thị trấn thì cán bộ phụ trách Lao động, Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm thực hiện công tác quản lý nhà nước về BTXH.

Các cơ quan thực hiện công tác quản lý nhà nước về BTXH theo từng cấp chịu sự quản lý của Chính phủ (ở Trung ương), UBND cùng cấp (UBND cấp tỉnh quản lý đối với Sở Lao động,Thương binh và Xã hội, UBND cấp huyện quản lý đối với Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội, UBND cấp xã quản lý đối với cán bộ, công chức phụ trách Lao động, Thương binh và Xã hội cấp xã).

Đối với các địa phương (huyện/thị xã) thì việc tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về BTXH thường được xem xét, đánh giá qua các tiêu chí như: Từ cấp huyện (phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện) đến cấp xã đã sử dụng bao nhiêu % nhân lực cho phép (biên chế cho phép, lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000, lao động hợp đồng được UBND huyện cho phép); bao nhiêu % nhân lực đã qua đào tạo trình độ đại học trở lên, cao đẳng, trung cấp, chưa qua đào tạo chuyên nghiệp), về tiêu chuẩn trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức cấp huyện là phải tốt nghiệp đại học trở lên (khoản 4, Điều 7 Thông tư số 11/2014/TT-BNV ngày 09/10/2014 của Bộ Nội vụ), đối với công chức cấp xã thì phải tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên (điểm c, khoản 1, Điều 2 Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ); kỹ năng thực hiện công việc, kiến thức nghiệp vụ về công việc được giao có đáp ứng được yêu cầu công việc hay không (do cấp trên trực tiếp thực hiện đánh giá hằng năm vào cuối năm); việc tổ chức bộ máy, bố trí công việc cho các cán bộ, công chức từ cấp huyện đến cấp xã trong thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về BTXH đã hợp lý chưa.

c. Mạng lưới hoạt động bảo trợ xã hội

– Đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác bảo trợ xã hội

– Dịch vụ công tác xã hội

– Hệ thống cơ quan liên quan đến bảo trợ xã hội

– Mô hình chăm sóc những người có hoàn cảnh khó khăn, người già, neo đơn tại cộng đồng

– Thôn, xã, trung tâm phát triển cộng đồng

– Các trung tâm bảo trợ xã hội.

d. Tiêu chí đánh giá

– Tính phù hợp của bộ máy quản lý

– Số lượng và chất lượng đội ngũ làm công tác quản lý

– Mạng lưới hoạt động bảo trợ xã hội

– Sự phối hợp của các phòng ban và cán bộ làm công tác quản lý

1.2.3. Dự toán thu, chi bảo trợ xã hội

Lập dự toán thu, chi ngân sách cho hoạt động BTXH là vấn đề rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về BTXH, là vấn đề đầu tiên, quyết định đến toàn bộ các khâu của quá trình thu, chi bảo trợ xã hội. Về bản chất, lập dự toán thu, chi là lập kế hoạch thu, chi trong một năm. Đó là việc lập kế hoạch thu, chi cho hoạt động BTXH trong một năm tài chính. Bảng dự toán thu, chi cho hoạt động BTXH cần phải phản ánh đầy đủ các nội dung thu, chi dự kiến sẽ phát sinh trong năm và dự phòng những khoản phát sinh đột xuất.

a. Dự toán thu

+ Thu từ NSNN;

+ Thu từ nguồn ủng hộ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong cộng đồng (doanh nghiệp, người có nguyện vọng góp phần đóng góp cho hoạt động BTXH);

+ Thu từ nguồn tài trợ quốc tế và ủng hộ của các tổ chức phi chính phủ khác.

­ b. Dự toán chi

Trên cơ sở các quy định của pháp luật sẽ dự toán các khoản chi cho hoạt động BTXH và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động BTXH, gồm:

– Trợ cấp hằng tháng cho các đối tượng BTXH: Theo quy định tại Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ thì mức trợ cấp chuẩn cho hoạt động BTXH là 270.000 đồng. Đây là mức chuẩn sẽ nhân với hệ số trợ cấp tương ứng với từng đối tượng BTXH. Nghị định này quy định có 06 nhóm đối tượng BTXH được hưởng trợ cấp hằng tháng, gồm:

+ Nhóm thứ nhất: Nhóm trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp sau: Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; mồ côi cả cha lẫn mẹ; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật; cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội; cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội; cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với trẻ em dưới 04 tuổi thuộc nhóm thứ nhất được hưởng trợ cấp hằng tháng với hệ số 2,5 và trẻ em từ 04 tuổi trở lên thuộc nhóm thứ nhất được hưởng trợ cấp hằng tháng với hệ số 1,5.

+ Nhóm thứ hai, người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong số những trường hợp liệt kê tại nhóm thứ nhất mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.

Đối tượng thuộc nhóm thứ hai này được hưởng mức trợ cấp hằng tháng với hệ số 1,5.

+ Nhóm thứ ba, trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác.

Trẻ em dưới 04 tuổi thuộc nhóm thứ ba được hưởng mức trợ cấp hằng tháng với hệ số 2,5; trẻ em từ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi thuộc nhóm thứ ba hưởng mức trợ cấp hằng tháng với hệ số 2,0 và những đối tượng từ 16 tuổi trở lên thuộc nhóm thứ ba hưởng mức trợ cấp hằng tháng với hệ số 1,5.

+ Nhóm thứ tư, người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ, có chồng hoặc vợ đã chết, có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.

Đối tượng thuộc nhóm thứ tư đang nuôi 01 con được hưởng mức trợ cấp hằng tháng với hệ số 1,0 và đối tượng thuộc nhóm thứ tư đang nuôi từ 02 con trở lên được hưởng mức trợ cấp hằng tháng với hệ số 2,0.

+ Nhóm thứ năm, người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau:

(1). Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng. Những người cao tuổi thuộc nhóm đối tượng này có độ tuổi từ đủ 60 tuổi đến 80 tuổi được hưởng mức trợ cấp hằng tháng với hệ số 1,5 và những người từ đủ 80 tuổi trở lên hưởng mức trợ cấp với hệ số 2,0.

(2). Người từ đủ 80 tuổi không thuộc diện hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng mà vẫn không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng. Những đối tượng này được hưởng mức trợ cấp hằng tháng với hệ số 1,0.

(3). Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng. Những đối tượng này được hưởng mức trợ cấp hằng tháng với hệ số 3,0.

+ Nhóm thứ sáu, người khuyết tật thuộc các trường hợp sau:

(1). Người khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng với hệ số 2,0 và hưởng hộ trợ kinh phí chăm sóc hằng tháng với hệ số 2,0. Nếu người khuyết tật đặc biệt nặng là người cao tuổi hoặc trẻ em thì được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng với hệ số 2,5.

(2). Người khuyết tật nặng được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng với hệ số 1,5; nếu người khuyết tật năng là người cao tuổi hoặc trẻ em thì hưởng theo hệ số 2,0. Ngoài khoản trợ cấp xã hội hằng tháng, nếu người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi một con nhỏ dưới 36 tháng thì được hưởng kinh phí chăm sóc hằng tháng với hệ số 1,5; nếu người khuyết tật năng đang mang thai và nuôi con nhỏ dưới 36 tháng hoặc nuôi từ hai con trở lên dưới 36 tháng thì được hưởng kinh phí chăm sóc hàng tháng với hệ số 2,0 [20].

– Trợ cấp không thường xuyên cho các đối tượng BTXH: Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định trợ giúp xã hội đột xuất cho các đối tượng BTXH như sau:

+ Hỗ trợ lương thực: Hỗ trợ 15 kg gạo/người đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong dịp Tết Âm lịch; hỗ trợ 15 kg/gạo/người/tháng trong thời gian không quá 03 tháng cho mỗi đợt trợ giúp đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong và sau thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác.

+ Hỗ trợ người bị thương nặng: Người bị thương nặng do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác tại nơi cư trú hoặc ngoài nơi cư trú được xem xét hỗ trợ với hệ số 10,0.

+ Hỗ trợ chi phí mai táng: Hộ gia đình có người chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn hay tai nạn giao thông, tai nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác được xem xét, hỗ trợ chi phí mai táng với hệ số 20,0; cơ quan, tổ chức, cá nhân tổ chức mai táng cho người chết trong các trường hợp nêu trên (thiên tai, hỏa hoạn hay tai nạn giao thông, tai nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác) không phải địa bàn cấp xã nơi cư trú của người đó thì được hỗ trợ chi phí mai táng theo chi phí thực tế nhưng không vượt quá 30 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội (tức không vượt quá mức hệ số 30,0).

+ Hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở: Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy hoàn toàn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn nơi ở thì được xem xét hỗ trợ chi phí làm nhà với mức hỗ trợ tối đa không quá 20.000.000 đồng/hộ; hộ phải di dời nhà ở khẩn cấp theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền do nguy cơ sạt lở, lũ, lụt, thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác được xem xét hỗ trợ chi phí di dời nhà ở với mức hỗ trợ tối đa không quá 20.000.000 đồng/hộ; hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị hư hỏng nặng do thiên tai, hoản hạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không ở được thì được xem xét hỗ trợ chi phí sửa chữa nhà ở với mức tối đa không quá 15.000.000 đồng/hộ.

+ Hỗ trợ khẩn cấp trẻ em khi cha, mẹ bị chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn người thân thích chăm sóc, nuôi dưỡng: Tiền ăn trong thời gian sống tại hộ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng với mức 40.000 đồng/người/ngày; chi phí điều trị trong trường hợp phải điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà không có thẻ BHYT; chi phí đưa đối tượng về nơi cư trú hoặc đến cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ BẢO TRỢ XÃ HỘI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *