Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên

Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên

Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competitive Index – PCI) được xây dựng, khảo sát và phân tích nhằm đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp địa phương, thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân của một đất nước. Báo cáo thường niên về chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) là kết quả hợp tác giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) thông qua Dự án Sáng kiến Cạnh tranh Việt Nam (USAID/VNCI), đã được nghiên cứu và thực hiện gần 13 năm, kể từ năm 2005. Đến nay, thông qua các nghiên cứu khoa học, PCI đã trở thành công cụ quan trọng cung cấp thông tin hữu ích, khách quan, nhờ sử dụng các công cụ kỹ thuật tiên tiến để phân tích, đánh giá giúp các nhà hoạch định tìm ra các chính sách mới mang lại hiệu quả tối ưu và mang đến cho doanh nghiệp và người dân một nguồn thông tin cần thiết. Đặc biệt đối với những doanh nghiệp có ý định đầu tư, PCI được xem là chỉ số vô cùng quan trọng đảm bảo nguồn thông tin xác thực nhất giúp họ hiểu rõ hơn về môi trường kinh doanh tại địa phương đó và so sánh vớicác địa phương khác ở Việt Nam khi đưa ra quyết định đầu tư.

Trải qua chặng đường dài, Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) giờ đây không chỉ là nỗ lực của riêng mỗi chính quyền tỉnh mà đã chính thức trở thành vấn đề cốt lõi mà chính quyền trung ương yêu cầu phải thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Thật vậy, năm 2014, Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính Phủ đặt ra vấn đề về nâng cao chỉ số PCI, yêu cầu chính quyền các địa phương phải đưa ra các giải pháp cần thực hiện để góp phần nâng cao, cải thiện môi trường kinh doanh,thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước,đặt tiền đề cho nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cũng như các địa phương khác, đối với tỉnh Phú Yên, cải thiện điểm số của các chỉ số thành phần và nâng cao chỉ số PCI là một trong những giải pháp đẩy mạnh công tác cải cách hành chính của tỉnh được ban hành thông qua Chương trình hành động 06-CTr/TU của Tỉnh ủy và Kế hoạch 84/KH-UBND của UBND tỉnh.

Trong 5 năm gần đây, điểm số PCI của tỉnh nhìn chung có nhiều cải thiện song không đáng kể. Xét trong tương quan so sánh với toàn quốc thì thứ hạng PCI của tỉnh lại không có sự ổn định; đặc biệt khi so sánh với các tỉnh/thành trong khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ thì vị trí PCI của tỉnh Phú Yên hầu như đứng ở cuối bảng xếp hạng qua nhiều năm liên tiếp. Sau khi đạt được vị trí 47/63 – thứ hạng cao nhất mà tỉnh đạt được – trong năm 2014 thì tỉnh lại phải nhận một “cú sốc” khi bị giảm 8 bậc trong năm tiếp theo. Năm 2016, điểm số PCI của tỉnh tăng nhẹ (tăng 0,4 điểm) giúp thứ hạng được cải thiện (tăng 4 bậc) và được xếp vào nhóm khá; tuy nhiên có đến 5/10 chỉ số thành phần giảm điểm: chỉ số tiếp cận đất đai (giảm 0,571 điểm), thiết chế pháp lí (giảm 0,762 điểm), hỗ trợ DN (giảm 0,3 điểm), tính năng động (giảm 0,243 điểm) và chi phí thời gian (giảm 0,51 điểm). Điều đó phần nào cho thấy, công tác cải thiện TTHC của địa phương mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng nhưng còn không ít hạn chế, bất cập dẫn đến kết quả chỉ số PCI của tỉnh chưa được cải thiện nhiều và thường xuyên rơi vào nhóm các tỉnh/thành phố xếp thứ hạng thấp của bảng.

Thực tế cho thấy kết quả điểm số PCI không cao của tỉnh Phú Yên phần nào gây cản trở đến ý định đầu tư, kinh doanh vào tỉnh của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Giai đoạn 2011 – 2015, số doanh nghiệp thành lập mới trên toàn tỉnh khoàng 1.539 doanh nghiệp, chỉ đạt 57% so với kế hoạch là 2.684 doanh nghiệp. Hầu hết quy mô các doanh nghiệp vừa và nhỏ; tổng vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là 5,12 tỷ đồng. Về thu hút đầu tư (FDI) tính đến cuối năm 2015, toàn tỉnh có 41 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký là 4,66 tỷ USD – số lượng dự án khiêm tốn, quy mô đầu tư nhỏ lẻ đang là điều dễ nhận ra trong lĩnh vực thu hút đầu tư vào Phú Yên so với các địa phương khác ở khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thu hút đầu tư chưa thực sự tạo được những bước chuyển căn bản để khai thác tiềm năng, lợi thế, thúc đẩy kinh tế của tỉnh.

Thực trạng nêu trên đang đặt ra cho lãnh đạo chính quyền của tỉnh một câu hỏi là liệu môi trường kinh doanh,đầu tư vào tỉnh đã thực sự thông thoáng, thu hút đối với các nhà đầu tư, những tồn tại, bất cập chủ yếu nằm ở đâu, và cần có những biện pháp cơ bản cũng như quyết liệt như thế nào để giải quyết được bài toán này? Theo VCCI/USAID để bảo đảm cho sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương được bền vững và dài hạn thì chỉ có tích cực nỗ lực nâng cao,cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh thực chất. Hơn nữa, việc cải thiện, nâng cao kết quả điểm số và thứ hạng chỉ số PCI sẽ giúp quảng bá hình ảnh Phú Yên đến với cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và quốc tế cũng như khẳng định cam kết sẽ tạo điều kiện và ưu đãi để các doanh nghiệp phát triển từ chính quyền tỉnh nhà. Nhằm phát huy những tiềm năng, lợi thế và chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, mục tiêu đưa Phú Yên đến năm 2020 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp và dịch vụ, việc triển khai nghiên cứu đề án “Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên” đáp ứng cả yêu cầu về mặt lý luận lẫn thực tiễn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu chung

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cùng thực tiễn về chỉ số năng lực cạnh tranh (NLCT) PCI cấp địa phương tạo cơ sở cho việc đánh giá thực trạng từ đó tìm ra giải pháp hướng tới nâng cao chỉ số NLCT cho tỉnh Phú Yên những năm tới.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Đánh giá tổng hợp chỉ số PCI của tỉnh Phú Yên tìm ra nguyên nhân thấp điểm trong từng chỉ số thành phần trong sự đánh giá tương quan với các cơ chế chính sách phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

– Nghiên cứu PCI của tỉnh Phú Yên nhằm đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường kinh doanh của tỉnh; đồng thời tìm hiểu và học tập kinh nghiệm ở các địa phương tốt hơn từ đó đề xuất các giải pháp, chính sách phù hợp nhằm cải thiện chất lượng điều hành kinh tế của tỉnh.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng

Các vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm cải thiện chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) cho tỉnh Phú Yên.

3.2 . Phạm vi

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Đánh giá môi trường kinh doanh của tỉnh Phú Yên trên cơ sở hai nguồn dữ liệu chính gồm dữ liệu PCI Phú Yên giai đoạn 2011-2016 của VCCI và nguồn dữ liệu điều tra khảo sát các doanh nghiệp, chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Phú Yên để đánh giá môi trường kinh doanh tỉnh năm 2017 do nhóm nghiên cứu thực hiện.

+ Giải pháp cải thiện chỉ số PCI Phú Yên được xây dựng đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025.

4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu:

Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp cho phân tích đánh giá. Số liệu thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Phú Yên, Các báo cáo của các sở ban ngành của tỉnh, Báo cáo và số liệu PCI hàng năm của Phòng Công nghiệp Việt Nam VCCI.

Phương pháp phân tích: Đề tài sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng chủ yếu là phân tích thống kê. Các phương pháp bao gồm:

  • Phương pháp kế thừa: Tổng hợp kết quả các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến NLCT cấp tỉnh, đồng thời xem xét các điều kiện để có thể áp dụng và rút ra những điểm có thể kế thừa trong quá trình phân tích nghiên cứu.
  • Phương pháp diễn dịch trong suy luận: là nghiên cứu tiến hành xem xét NLCT tỉnh Phú Yên từ khái quát đến cụ thể, những thành công và hạn chế cùng với các nguyên nhân của quá trình này trong từng điều kiện cụ thể của tỉnh, có so sánh với các địa phương khác trong cả nước. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sẽ phân tích những ảnh hưởng của những thay đổi này.
  • Phương pháp phân tích thống kê:

Phương pháp này được sử dụng để xem xét những biến động, xu hướng thay đổi của các chỉ số thành phần cũng như các yếu tố trong mỗi thành phần qua đó đánh giá những diễn biến của môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh dưới đứng ở góc độ của các doanh nghiệp trong tỉnh.

5. Bố cục Đề tài

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH (PCI) CẤP TỈNH.

Chương II: THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH (PCI) CỦA TỈNH PHÚ YÊN

Chương III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH (PCI) TỈNH PHÚ YÊN

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên
Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ ĐO LƯỜNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI)

    1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI)
      1. Chỉ số năng lực cạnh tranh

Vũ Thành Tự Anh (2008), “Năng lực cạnh tranh của Việt Nam, một số vấn đề đặt ra từ năm 2007”, giáo trình nêu rõ: ba cấp độ phổ biến thường được xem xét, phân biệt và đánh giá là NLCT cấp quốc gia, NLCT cấp địa phương và năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp. NLCT đo lường mức độ hiểu quả và khả năng trong việc tạo ra gia tăng, được phân biệt, xem xét ở nhiều phạm vị nhiều cấp độ khác nhau.[8].

Nguyễn Viết Lâm (2014), “Bàn về phương pháp xác định năng lực cạnh tranh của DN Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 206 tháng 8/2014 (tr47-53), Năng lực cạnh tranh, khả năng cạnh tranh hay sức cạnh tranh là thuật ngữ có cùng một nội dung. Thuật ngữ này có liên quan mật thiết với cạnh tranh và ngày càng được sử dụng rộng rãi, nhưng đến nay vẫn là một khái niệm khó hiểu và khó đo lường.[9].

Tác giả chọn đề tài: Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tỉnh Phú Yên, thuộc NLCT cấp địa phương (hay còn gọi là NLCT cấp tỉnh).

Viện nghiên cứu và Phát triển Kinh tế – xã hội Hà Nội (2014) cho rằng NLCT địa phương là khả năng của các tỉnh sử dụng nguồn lực hiện có nhằm thu hút các nhà đầu tư vào địa phương nhằm phát triển KT – XH trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan hệ liên kết những địa phương khác trong phạm vi quốc gia. Hiện nay, chỉ số mới nhất dùng để đánh giá NLCT cấp tỉnh là chỉ số PCI. Chỉ số này được nghiên cứu xây dựng để lý giải nguyên nhân tại sao trên cùng một quốc gia, các địa phương khác nhau lại có tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế tốt hơn các địa phương của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.

      1. Đo lường Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh bằng chỉ số PCI

Đo lường NLCT ở nước ta được thực hiện từ trung ương đến địa phương. Chỉ số PCI được công bố vào năm 2005 của 42 địa phương, đây là chỉ số đánh giá xếp hạng chính quyền các địa phương ở Việt Nam về điều hành, xây dựng môi trường kinh doanh cởi mở, minh bạch và chất lượng, tạo cơ hội cho việc phát triển doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế. Ở Việt Nam, hầu như các địa phương thông qua phân tích số liệu đều được đánh giá xếp hạng. Kết quả cho thấy sự cải thiện hơn trong bộ chỉ số thành phần đều đạt kết quả khả quan . Đây là bộ chỉ số để đánh giá chất lượng và đo lường mức độ điều hành cũng như nỗ lực cải cách TTHC của bộ máy chính quyền cơ sở từ trung ương đến địa phương trong kinh tế cũng như tạo ra môi trường thuận lợi, dễ thích ứng cho các nhà đầu tư

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh bao gồm 10 tiêu chí thành phần, được chấm theo thang điểm 100 và trong có 110 chỉ số xếp hạng cấp tỉnh về chất lượng điều hành PCI cũng được xem là một chỉ số nhằm đánh giá chính sách và các vấn đề còn tồn đọng, các vấn đề thực tiễn.

      1. Khái niệm về nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI)

Nâng cao chỉ số NLCT (PCI) cấp tỉnh là các nỗ lực thực hiện các giải pháp khác nhau của chính quyền các tỉnh để cải thiện các các mặt như: chi phí gia nhập thị trường; khả năng tiếp cập đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; tính minh bạch và cải thiện khả năng tiếp cận thông tin cho DN; chi phí không chính thức cho DN, môi trường cạnh tranh bình đẳng cho DN; dịch vụ hỗ trợ DN và chất lượng đào tạo lao động nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển tốt, ổn định và tăng trưởng

  • Chi phí gia nhập thị trường tương đối thấp;
  • Khả năng tiếp cận đất đai và sử dụng đất dễ dàng,ổn định;
  • Tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin cho DN được tăng cường, nâng cao;
  • Chi phí không chính thức thấp;
  • Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của NN cho DN giảm, hay nói cách khác thời gian DN thực hiện các TTHC của NN nhanh chóng, hiệu quả;
  • Môi trường cạnh tranh bình đẳng;
  • Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp tương đối ổn định, chất lượng;
  • Đào tạo lao động có trình độ cao, năng lực giỏi
      1. Vai trò nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI)

Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh có các vai trò sau:

Thứ nhất, Giúp DN cải thiện chi phí gia nhập thị trường và chi phí không chính thức cho DN, chi phí thời gian để thực hiện các quy định của NN các nhờ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh

Thứ hai, Giúp DN tiếp cập đất đai và sự ổn định mặt bằng kinh doanh nhờ đó có thể ổn định sản xuất

Thứ ba, Tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, hiệu quả, tăng khả năng tiếp cận và xử lý thông tin cho doanh nghiệp;

Thứ tư, Tạo sự bình đẳng trong kinh doanh ở địa phương tránh tình trạng phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp tạo cơ hội cho tất cả có thể thành công;

Thứ tư, Hình thành và cải thiện chất lượng các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp trong kinh doanh.

    1. NỘI DUNG NÂNG CAO CHỈ SỐ NLCT CẤP TỈNH PCI
      1. Giảm chi phí gia nhập thị trường

Giảm chi phí gia nhập thị trường được nghiên cứ thực hiện nhằm đo lường các khoảng thời gian tương ướng mà DN phải chờ đợi ứng với các mức độ từ khó tới dễ để hoàn tất thủ tục xin cấp giấy phép đăng ký kinh doanh từ khi bắt đầu thực hiện thủ túc đăng ký kinh doanh đến khi đi vào hoạt động SXKD. Chỉ số này đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các DN mới thành lập và giữa các địa phương với nhau. Nó bao gồm có các chỉ tiêu thành phần sau: Thời gian thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; Thời gian đăng ký doanh nghiệp; % DN phải chờ hơn một tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động; % DN phải chờ hơn ba tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động; % DN đăng ký hoặc sửa đổi đăng ký kinh doanh thông qua bộ phận Một cửa; Thời gian chờ đợi để được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất.

Giảm chi phí gia nhập thị trường là các hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ công, rút ngắn thủ tục hành chính qua đó cải thiện thời gian và tăng mức độ nhanh chóng để hoàn tất GPĐKKD và hoàn thiện quy trình đăng ký kinh doanh cho đến khi DN bắt đầu đi vào hoạt động SXKD. Giảm chi phí này nhanh chóng đưa nguồn lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế.Việc cải thiện cần tập trung hướng vào các tiêu chí sau: giảm thời gian thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; giảm thời gian đăng ký doanh nghiệp; giảm thời gian DN phải chờ hơn một tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động; giảm thời gian DN phải chờ hơn ba tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động; giảm thời gian DN đăng ký hoặc sửa đổi đăng ký kinh doanh thông qua bộ phận Một cửa; không ngừng nâng cao chất lượng trong việc tiếp nhận và trả kết quả TTHC tại tổ một cửa; giảm thời gian chờ đợi để được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất; Ứng dụng CNTT vào việc thực hiện giải quyết các TTHC.

      1. Nâng cao khả năng tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sử dụng đất

Chỉ số chỉ ra 02 vấn đề đất đai mà DN phải đối mặt đó là: thứ nhất, DN có được tiếp cận đất đai dễ dàng không và (2)Khi có được mặt bằng kinh doanh, DN có cảm thấy an tâm và ổn định hay không là một chỉ tiêu cực kỳ quan trọng của chỉ số thành phần này. Chỉ số này gồm một số chỉ tiêu thành phần sau: % DN có mặt bằng kinh doanh (vốn là tài sản của cá nhân/gia đình hoặc do nhà nước giao, có thu tiền sử dụng đất hoặc DN nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất) và có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất; % diện tích đất trong tỉnh có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (BTNMT); DN đánh giá rủi ro bị thu hồi đất (1: rất cao đến 5: rất thấp); Nếu bị thu hồi đất, DN sẽ được bồi thường thỏa đáng (% luôn luôn hoặc thường xuyên); Sự thay đổi khung giá đất của tỉnh phù hợp với sự thay đổi giá thị trường (% Đồng ý); DN ngoài quốc doanh không gặp cản trở về tiếp cận đất đai hoặc mở rộng mặt bằng kinh doanh (% Đồng ý); % DN thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai trong vòng 2 năm qua nhưng không gặp bất kỳ khó khăn nào về thủ tục; % DN có nhu cầu được cấp GCNQSDĐ nhưng không có do thủ tục hành chính rườm rà/ lo ngại cán bộ nhũng nhiễu.

Nâng cao khả năng tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sử dụng đất là hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm cải thiện thủ tục hành chính về đất đai để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có mặt bằng kinh doanh ổn định và lâu dài khi tiếp cận đất đai có dễ dàng không và cảm thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi có được mặt bằng kinh doanh. Theo đó tập trung vào đạt được các tiêu chí sau: tăng tỉ lệ DN có mặt bằng kinh doanh và có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất; tăng diện tích đất trong tỉnh có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất; Giảm rủi ro DN bị thu hồi đất; Nếu DN nếu bị thu hồi đất, họ sẽ được bồi thường thỏa đáng và cũng được giới thiệu đất ở vị trí khác, Rà soát, thăm dò ý kiến của DN khi chính quyền tỉnh thay đổi khung giá đất phù hợp với sự thay đổi giá thị trường; Giảm thời gian DN thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai và các TTHC liên quan khác.

      1. Tăng cường tính minh bạch và nâng cao khả năng tiếp cận thông tin cho DN

Chỉ số này đo lường khả năng DN có thể tiếp cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của DN một cách công bằng hoặc việc ban hành các chính sách và quy định mới có tham khảo ý kiến của DN và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với DN là một tiêu chí đánh giá của PCI. Chỉ số này gồm có một số chỉ tiêu thành phần sau: Tiếp cận tài liệu quy hoạch; Tiếp cận tài liệu pháp lý; Cần có “mối quan hệ” để có được các tài liệu của tỉnh (% quan trọng hoặc rất quan trọng); Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh doanh (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý); Khả năng có thể dự đoán được trong thực thi của tỉnh đối với quy định pháp luật của Trung ương (% luôn luôn hoặc thường xuyên); Vai trò của các hiệp hội DN địa phương trong việc xây dựng và phản biện chính sách, quy định của tỉnh (% quan trọng hoặc vô cùng quan trọng); Điểm số về độ mở và chất lượng trang web của tỉnh; % DN truy cập vào website của UBND; Các tài liệu về ngân sách đủ chi tiết để DN sử dụng cho hoạt động kinh doanh (% Đồng ý); Các tài liệu về ngân sách được công bố ngay sau khi cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phê duyệt (% Đồng ý).

Tăng cường tính minh bạch và nâng cao khả năng tiếp cận thông tin cho DN là các hoạt động của các cơ quan chính quyền nhằm thực hiện các tiêu chí sau: Cho phép DN được công khai tiếp cận tài liệu quy hoạch; các tài liệu pháp lý; DN được công bằng, minh bạch có được các tài liệu của tỉnh mà không cần dựa trên các “mối quan hệ”; Thương xuyên thanh tra, kiểm tra công tác của các cán bộ thuế, tránh trường hợp không minh bạch, gây bức xúc cho DN; Khả năng có thể dự đoán được trong thực thi của tỉnh đối với quy định pháp luật của Trung ương từ đó thông tin các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước cho DN nắm rõ, tránh thụ động; Nâng cao vai trò các hiệp hội DN địa phương trong việc xây dựng và phản biện chính sách, quy định của tỉnh; Nâng cao chất lượng trang web của tỉnh, đồng thời công khai kịp thời các thông tin, các tài liệu về ngân sách đủ chi tiết để DN sử dụng cho hoạt động kinh doanh.

      1. Giảm thiểu chi phí thời gian để thực hiện các quy định của NN cho DN

Đo lường thời gian DN phải bỏ ra để thực hiện các TTHC cũng như mức độ thường xuyên và thời gian DN phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan NN của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra là chỉ tiêu của PCI. Chỉ số này gồm có một số chỉ tiêu thành phần sau: % DN dành hơn 10% quỹ thời gian để tìm hiểu và thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước; Số cuộc thanh tra, kiểm tra trung vị (tất cả các cơ quan); Số giờ trung vị làm việc với thanh tra, kiểm tra thuế; Cán bộ nhà nước giải quyết công việc hiệu quả (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý); Cán bộ nhà nước thân thiện (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý); DN không cần phải đi lại nhiều lần để lấy dấu và chữ ký (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý); Thủ tục giấy tờ đơn giản (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý); Phí, lệ phí được công khai (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý); Không thấy bất kì sự thay đổi đáng kể nào (% hoàn toàn đồng ý hoặc đồng ý).

Giảm thiểu chi phí thời gian để thực hiện các quy định của NN cho DN là các hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh nhằm đạt được các tiêu chí sau: giảm quỹ thời gian để tìm hiểu và thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước; giảm số cuộc kiểm tra, thanh tra của các cơ quan có thẩm quyền; giảm thời gian làm việc với thanh tra, kiểm tra thuế; Nâng cao trình độ, khả năng giải quyết công việc hiệu quả của các cán bộ nhà nước; tăng cường sự thân thiện của các các bộ nhà nước khi làm việc với DN; Giảm thời gian DN phải đi lại nhiều lần để lấy dấu và chữ ký; Không ngừng rút ngắn đơn giản hóa thủ tục giấy tờ; Các khoản phí, lệ phí phải được công khai, minh bạch, được niêm yết rõ ràng.

      1. Giảm chi phí không chính thức cho DN

Doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian và chih phí vào những khoản chi không chính thức gây ra gây trở ngại cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN. Những chi phí không chính thức này do các cán bộ nhà nước sự dụng sự thiếu hiểu biết của DN và các quy định của chính quyền nhằm kiếm lợi cho bản thân. Vì vậy việc giảm các khoản chi phí không chính thức cho DN là yêu cầu mà chính quyền tỉnh phải thực hiện nhằm nâng cao chỉ số PCI. Chỉ số này gồm có 09 chỉ tiêu thành phần: Các DN cùng ngành thường phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý); % DN phải chi hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức; Hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho DN là phổ biến (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý); Công việc đạt được kết quả mong đợi sau khi đã trả chi phí không chính thức (% thường xuyên hoặc luôn luôn); Các khoản chi phí không chính thức ở mức chấp nhận được (% Đồng ý hoặc Hoàn toàn đồng ý).

Đây là các hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước để giảm chi phí không chính thức cho DN thông qua nỗ lực thực hiện các tiêu chí sau: Chấm dứt tình trạng các DN cùng ngành thường phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức; Xóa bỏ hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho DN; Khắc phục hiện tượng DN chỉ đạt được kết quả mong đợi sau khi đã trả chi phí không chính thức.

      1. Nâng cao môi trường cạnh tranh bình đẳng cho DN

Chỉ số này so sánh sự ưu ái của chính quyền tỉnh đối với Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và DNNN đã cổ phần hoá cụ thể như ưu đãi về chính sách đầu tư và vay vốn, miễn giảm thuế,… Chỉ số này gồm có các chỉ tiêu thành phần sau: Việc tỉnh ưu ái cho các DNNN gây khó khăn cho DN; DNNN thuận lợi hơn trong tiếp cận đất đai; DNNN thuận lợi hơn trong tiếp cận các khoản vay ; DNNN thuận lợi hơn trong cấp phép khai thác khoáng sản; DNNN thuận lợi hơn trong việc thực hiện các TTHC; DNNN thuận lợi hơn trong việc có được các hợp đồng từ CQNN; DN FDI được ưu tiên giải quyết các khó khăn hơn DN dân doanh; Tỉnh ưu tiên thu hút FDI hơn là phát triển khu vực tư nhân; DN FDI thuận lợi hơn trong tiếp cận đất đai; DN FDI có đặc quyền trong miễn/giảm thuế thu nhập DN; DN FDI thuận lợi hơn trong thực hiện các TTHC; DN FDI trong hoạt động nhận được nhiều quan tâm hỗ trợ hơn; Nguồn lực kinh doanh (hợp đồng, đất đai…) chủ yếu rơi vào DN thân quen cán bộ cơ quan; Ưu đãi DN lớn (NN và tư nhân) là trở ngại cho bản thân DN.

Cải thiện môi trường cạnh tranh bình đẳng cho DN là các nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước nhằm thực hiện các tiêu chí sau: Cắt giảm hiện tượng ưu ái cho các DNNN và gây khó khăn cho DN; Cắt giảm hiện tượng DNNN được ưu đãi hơn trong tiếp cận đất đai so với DN; Cắt giảm hiện tượng DNNN thuận lợi hơn trong tiếp cận các khoản vay so với DN; Cắt giảm hiện tượng DNNN thuận lợi hơn trong cấp phép khai thác khoáng sản; Cắt giảm hiện tượng DNNN thuận lợi hơn trong việc thực hiện các TTHC; Cắt giảm hiện tượng; Cắt giảm hiện tượng DNNN thuận lợi hơn trong việc có được các hợp đồng từ CQNN; Cắt giảm hiên tượng DN FDI được ưu tiên giải quyết các khó khăn hơn DN dân doanh; Cắt giảm hiện tượng Tỉnh ưu tiên thu hút FDI hơn là phát triển khu vực tư nhân; Cắt giảm hiện tượng DN FDI thuận lợi hơn trong tiếp cận đất đai; Cắt giảm hiện tượng DN FDI có đặc quyền trong miễn/giảm thuế thu nhập DN; Cắt giảm hiện tượng DN FDI thuận lợi hơn trong thực hiện các TTHC; Cắt giảm hiện tượng DN FDI trong hoạt động nhận được nhiều quan tâm hỗ trợ hơn; Cắt hiện tượng nguồn lực kinh chủ yếu rơi vào DN thân quen cán bộ cơ quan;

      1. Nâng cao dịch vụ hỗ trợ DN

Nâng cao các dịch vụ của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho DN là một chỉ số quan trọng của PCI. Chỉ số thành phần này có các chỉ tiêu thành phần sau: Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm vừa qua (BCT); Tỉ lệ DN cung cấp dịch vụ (CCDV) trên tổng số DN (%, TCKT); Tỉ lệ DN CCDV tư nhân và FDI trên tổng số DN CCDV (%, TCTK); DN từng sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin thị trường (TTTT) (%); DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ tìm kiếm TTTT(%); DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ tìm kiếm TTTT (%); DN từng sử dụng dịch vụ tư vấn về pháp luật (TVPL) (%); DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ TVPL (%); DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ TVPL(%); DN từng sử dụng dịch vụ tìm kiếm đối tác kinh doanh (ĐTKD)(%); DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ tìm kiếm ĐTKD (%); DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ tìm kiếm ĐTKD(%); DN từng sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại (XTTM) (%); DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ XTTM (%); DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ XTTM(%); DN từng sử dụng dịch vụ liên quan tới công nghệ (%); DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ liên quan tới công nghệ (%)

Đây là các hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm cải thiện các dịch vụ của tỉnh như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho DN, qua đó hoàn thành các tiêu chí sau: Tăng số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm vừa; Tăng tỉ lệ DN cung cấp dịch vụ (CCDV) trên tổng số; Tăng tỉ lệ DN CCDV tư nhân và FDI trên tổng số DN CCDV; Tỉ lệ DN từng sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin thị trường; Tỉ lệ DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ tìm kiếm TTTT; Tỉ lệ DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ tìm kiếm TTTT; Tỉ lệ DN từng sử dụng dịch vụ tư vấn về pháp luật (TVPL); Tỉ lệ DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ TVPL; Tỉ lệ DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ TVPL; Tỉ lệ DN từng sử dụng dịch vụ tìm kiếm đối tác kinh doanh (ĐTKD); Tỉ lệ DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ tìm kiếm ĐTK; Tỉ lệ DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ tìm kiếm ĐTKD(%); DN từng sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại (XTTM); Tỉ lệ DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ XTTM; Tỉ lệ DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ XTTM; Tỉ lệ DN từng sử dụng dịch vụ liên quan tới công nghệ; Tỉ lệ DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ liên quan tới công nghệ.

      1. Nâng cao chất lượng đào tạo lao động

Việc gia tăng các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm là một thành tố của PCI. Chỉ số này gồm gồm các chỉ tiêu thành phần sau: Tỉ lệ DN đánh giá Giáo dục phổ thông tại tỉnh có chất lượng Tốt; Tỉ lệ DN đánh giá Giáo dục dạy nghề tại tỉnh có chất lượng Tốt; DN từng sử dụng dịch vụ Giới thiệu việc làm (GTVL) tại tỉnh; DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ GTVL; DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ GTVL; Phần trăm tổng chi phí kinh doanh dành cho Đào tạo lao động; Phần trăm tổng chi phí kinh doanh dành cho Tuyển dụng lao động; Lao động tại tỉnh đáp ứng được nhu cầu sử dụng của DN; Tỉ lệ lao động qua đào tạo /số lao động chưa qua đào tạo; Tỉ lệ lao động qua đào tạo trên tổng lực lượng lao động; Tỉ lệ lao động qua đào tạo đang làm việc tại DN.

Đây là các hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Muốn vậy cần hoàn thành các tiêu chí sau: Nâng cao tỉ lệ DN đánh giá Giáo dục phổ thông tại tỉnh có chất lượng Tốt; Nâng cao tỉ lệ DN đánh giá Giáo dục dạy nghề tại tỉnh có chất lượng Tốt; Nâng cao tỉ lệ DN từng sử dụng dịch vụ Giới thiệu việc làm (GTVL) tại tỉnh; Nâng cao tỉ lệ DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ GTVL; Nâng cao tỉ lệ DN có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ GTVL; Giảm chi phí kinh doanh dành cho Đào tạo lao động; Phần trăm tổng chi phí kinh doanh dành cho Tuyển dụng lao động; Lao động tại tỉnh đáp ứng được nhu cầu sử dụng của DN; Tỉ lệ lao động qua đào tạo /số lao động chưa qua đào tạo; Tỉ lệ lao động qua đào tạo trên tổng lực lượng lao động; Tỉ lệ lao động qua đào tạo đang làm việc tại DN.

    1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ PCI

Có nhiều cách phân loại các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) như theo phạm vi ảnh hưởng, đối tượng ảnh hưởng, tính chất ảnh hưởng và cấp độ ảnh hưởng. Dưới đây tác giả sẽ đề cập các nhóm nhân tố theo cách phân loại theo đối tượng ảnh hưởng như sau.

      1. Năng lực của bộ máy quản lý nhà nước tỉnh

Nhân tố chủ quan là những nhân tố có thể tác động để cải thiện theo ý chí của mình. Năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý và chất lượng đội ngũ công chức cấp tỉnh có ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc nhất tới chỉ số NLCT cấp tỉnh.

Năng lực của bộ máy quản lý là khả năng thực hiện chức năng quản lý và phục vụ của bộ máy hành chính. Trong đó, bao hàm khả năng huy động tổng hợp các yếu tố: (i) Hệ thống tổ chức các cơ quan; (2i) Hệ thống thể chế, TTHC (đảm bảo tính hợp lý, khoa học và đồng bộ); (3ii) Đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất đạo đức, trình độ, kỹ năng hành chính với cơ cấu, chức danh, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu cụ thể của việc thực thi công vụ; (4i) Tổng thể các điều kiện vật chất kỹ thuật cần và đã đảm bảo hoạt động công vụ hiệu quả. Năng lực hoạt động phụ thuộc vào chất lượng các yếu tố này.

Trong những nội dung trên thì năng lực quyết định hiệu quả và hiệu lực hoạt động. Hiệu lực, hiệu quả là thước đo, tiêu chuẩn đánh giá năng lực. Các nguyên tắc hoạt động chủ yếu của bộ máy thể hiện ở các nội dung: Phục vụ; công khai; phối hợp trong hoạt động quản lý theo vùng, ngành, lãnh thổ; hiệu lực, hiệu quả; hiện đại, khoa học; phân định rõ chức năng.

Tác động ra bên ngoài của các cơ quan hành chính nhà nước đối với xã hội, công dân không chỉ phụ thuộc vào thể chế, TTHC mà còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực, kiến thức, cách tư duy của những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước. Một bộ máy chỉ hoạt động hiệu quả khi bộ máy ấy có hệ thống nhân lực đảm bảo yêu cầu về chất lượng và số lượng. Nếu những người tham mưu, giúp nhà nước thụ động, vô cảm, duy ý chí, không tư duy theo nguyên tắc sáng tạo, đổi mới, cải cách sẽ làm xấu đi mối quan hệ giữa công dân, nhà đầu tư với chính quyền, ảnh hưởng đến “mức độ hài lòng” của các nhà đầu tư và DN – những người tạo ra của cải cho xã hội.

      1. Nhóm nhân tố đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội

Nhân tố khách quan là tập hợp những nhân tố mà chính quyền tỉnh không có khả năng hoặc rất ít khả năng tác động thay đổi được. Như theo Marion Temple thì các vùng có các điều kiện tự nhiên, KT-XH, văn hoá,… khác nhau nên sức hấp dẫn đối với đầu tư từ bên ngoài khác nhau. Trong phạm vi một tỉnh, những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến chỉ số NLCT bao gồm:

Điều kiện tự nhiên, Các tỉnh khác nhau có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và văn hoá, tập quán khác nhau. Có những tỉnh ưu đãi lớn về điều kiện tự nhiên có thể phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn như du lịch – dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp… ngược lại, có những tỉnh không được thiên nhiên ưu đãi, hàng năm phải đối mặt với thiên tai hạn hán,…

Điều kiện kinh tế xã hội: Nền KTTT định hướng XHCN và xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá quốc tế: KTTT là một nền kinh tế “mở” và càng mở hơn trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá quốc tế, góp phần giải phóng mọi năng lực sản xuất, kích thích khả năng phát triển của mọi thành phần kinh tế. Nếu biết khai thác những yếu tố tích cực của nền KTTT thì sẽ phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cùng với sự điều chỉnh thống nhất của hệ thống chính sách, pháp luật của TW, có sự tương đồng về lợi thế, tiềm năng thì địa phương nào khai thác tối đa lợi thế về tự nhiên, KT – XH và các thế mạnh của KTTT, địa phương đó sẽ thu hút được đầu tư nhiều hơn, sản xuất kinh doanh phát triển hơn và nền kinh tế sẽ tiến nhanh hơn. Mặt khác, nền KTTT định hướng XHCN cũng không tránh khỏi có những tác động tiêu cực đến các mặt của đời sống KT – XH. Bản thân mỗi công chức nhà nước cũng như chính quyền cấp tỉnh không nằm ngoài những tác động hai mặt của cơ chế thị trường, khi nó là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tham nhũng, vô cảm và nhiều tệ nạn khác, cản trở sự phát triển KT – XH của tỉnh.

Các nhân tố trên đều có những tác động nhất định đến chỉ số NLCT cấp tỉnh và xếp hạng NLCT của một tỉnh. Để nâng cao chỉ số NLCT cấp tỉnh và cải thiện xếp hạng, mỗi tỉnh cần phải xác định rõ các nhân tố và mức độ ảnh hưởng, từ đó có những giải pháp tác động hiệu quả, hợp lý và kịp thời. 

    1. KINH NGHIỆM NÂN CAO PCI CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG
      1. Kinh nghiệm của Quảng Ninh

Những năm gần đây, với việc chủ động, sáng tạo thực hiện ba khâu đột phá chiến lược, trong đó tập trung đổi mới toàn diện, căn bản về cải cách hành chính, tỉnh Quảng Ninh đã đạt được những kết quả tích cực về môi trường kinh doanh, chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI). Năm 2015, chỉ số PCI của tỉnh Quảng Ninh đứng thứ 05 trong số 63 tỉnh, thành phố; đến năm 2016 và 2017, đã vươn lên đứng thứ 3 và thứ 2 trong cả nước. Đánh giá về những cách làm sáng tạo của Quảng Ninh, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc khẳng định: “Những năm gần đây, Quảng Ninh đã đi vào lịch sử kinh tế Việt Nam như cái nôi của những ý tưởng và mô hình cải cách táo bạo. Đặc biệt là những cách làm mới của Quảng Ninh, như xây dựng TTHC công để đưa chính quyền gần dân, phục vụ dân tốt hơn; thành lập Cơ quan xúc tiến và hỗ trợ đầu tư độc lập (IPA) năng động, thân thiện, hiệu quả; Quảng Ninh đang từng bước truyền được lửa cải cách xuống địa phương thông qua việc trao cho người dân và DN quyền đánh giá chính quyền, cơ quan quản lý thông qua Bộ chỉ số DDCI”.

Một trong những đột phá của Quảng Ninh đó là đổi mới tư duy, đồng hành cùng DN. Để thu hút được các nguồn lực, tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho DN, tỉnh Quảng Ninh đang nỗ lực triển khai một cách sáng tạo, hiệu quả “3 đồng hành, 5 hỗ trợ” theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và nâng cao tính minh bạch. Ngay từ năm 2015, Quảng Ninh đã triển khai mô hình “Cafe doanh nhân” nhằm gắn kết giữa cơ quan quản lý nhà nước với DN, tạo điều kiện để hỗ trợ và thúc đẩy DN trong tỉnh phát triển và mời gọi các nhà đầu tư ngoài tỉnh. Đây được coi là địa chỉ để các DN gặp gỡ với đại diện cơ quan quản lý nhà nước cùng nhau trao đổi, chia sẻ các vấn đề liên quan đến môi trường đầu tư, NLCT của tỉnh, đồng thời tạo điều kiện cho các nhà quản lý trực tiếp giải đáp thắc mắc, khó khăn của DN trong quá trình tìm kiếm cơ hội đầu tư và hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.

Không chỉ tổ chức tiếp xúc, tháo gỡ khó khăn cho DN chung trên địa bàn tỉnh định kỳ một quý một lần, mà tỉnh còn giao chủ tịch UBND các địa phương thường xuyên tổ chức hội nghị gặp gỡ, tiếp xúc DN trên địa bàn để kịp thời tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để DN sản xuất, kinh doanh hiệu quả

      1. Kinh nghiệp của Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc là tỉnh thuần nông, thu ngân sách năm 1997 dưới 100 tỷ đồng, thì đến nay tỷ trọng công nghiệp – xây dựng đã chiếm hơn 62,1%. Từ 2004, tỉnh tự cân đối được ngân sách và có đóng góp cho ngân sách TW. Đến năm 2015, thu ngân sách của Vĩnh Phúc đạt gần 25,5 nghìn tỷ đồng (Lê Tùng (2016) “Chuyện PCI ở Vĩnh Phúc: Không sợ tụt hạng, chỉ lo tụt hậu” http://daibieunhandan.vn) [8]. Tỉnh đã “lột xác” hoàn toàn nhờ biết tận dụng tối đa lợi thế nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng thủ đô Hà Nội và nhờ có các chính sách thu hút đầu tư đúng đắn. Để có được kết quả trên là nhờ Vình Phúc đã không ngừng nâng cao chỉ số PCI của mình. Từ vị trí thứ 43/63 tỉnh, thành phố vào năm 2012, đến năm 2015 Vĩnh Phúc đã vươn lên đứng thứ 4 cả nước. Để có được kết quả trên, lãnh đạo tỉnh cho triển khai ngay rất nhiều giải pháp cụ thể như: Cải cách TTHC, đặc biệt là TTHC về đầu tư, thành lập Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư (IPA Vĩnh Phúc) trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh. Ban này có bộ phận giải quyết TTHC về đầu tư theo cơ chế một cửa liên thông (MCLT), và xây dựng một loạt chương trình hành động để nâng cao chỉ số PCI, một trong những giải pháp mà lãnh đạo tỉnh tâm đắc nhất là đã giao nhiệm vụ cho IPA hai công việc song song: Một là, xúc tiến đầu tư; hai là, đóng vai trò chủ đạo là hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ DN hay gọi cách khác là xúc tiến đầu tư tại chỗ, trong đó việc tập hợp các vướng mắc của DN để báo cáo UBND tỉnh chỉ đạo giải quyết kịp thời. Bộ phận MCLT tư vấn, hướng dẫn cụ thể về quy trình, thủ tục đầu tư, nộp hồ sơ TTHC và nhận kết quả tại đây. Do vậy đã hạn chế tối đa sự phiền hà, nhũng nhiễu đối với DN. Sự có mặt của IPA giống như một mệnh lệnh, báo hiệu sự thay đổi mạnh mẽ của lãnh đạo tỉnh và tất cả sở, ngành liên quan và cấp huyện phải thay đổi cung cách làm việc. Thường trực Tỉnh ủy đã giao Ban cán sự Đảng UBND tỉnh khẩn trương làm rõ nguyên nhân, đồng thời tìm giải pháp đồng bộ mang tính đột phá nhằm nâng cao PCI của tỉnh. Quan điểm chung là phải cải thiện tư duy, nhận thức về PCI, về xúc tiến, thu hút đầu tư, hỗ trợ đầu tư. PCI chỉ là điều kiện cần, nhưng PCI cũng là thông tin ban đầu, dẫn đến những điều kiện đủ khác để nhà đầu tư tìm đến mình. Bài học mà tỉnh rút ra là phải luôn đồng hành với doanh nghiệp, coi thành công của doanh nghiệp là thành công và niềm tự hào của tỉnh, đồng thời xử lý triệt để những hạn chế, bất cập nảy sinh nhằm phát triển bền vững.

      1. Kinh nghiệm của Lào Cai

Là một tỉnh miền núi địa đầu đất nước với điều kiện kinh tế, xác hội khó khăn nhưng Lào Cai đã có nhiều nỗ lực để vươn lên và trở thành điểm sáng trong phát triển KT – XH của cả nước. Đặc biệt là trong vấn đề nâng cao chí số PCI. Năm 2017, Lào Cai xếp thứ 5, với tổng điểm là 63,49 điểm, xếp thứ nhất trong 14 tỉnh, thành phố khu vực miền núi phía Bắc. Đây là năm thứ hai liên tiếp Lào Cai xếp thứ 5 trong bảng xếp hạng NLCT cấp tỉnh. Để có được thành công này. Tỉnh Lào Cai triển khai cải cách đồng bộ của các cấp ngành địa phương. Ngành công thương đặt trọng tâm vào công tác thực hiện hiệu quả,phấn đấu giảm thời gian thực hiện TTHC ít hơn số ngày theo quy định tại các bộ phận một cửa. Thực hiện giảm thời gian tiếp cận điện năng từ 36 ngày xuống còn 25 ngày. Rút ngắn thời gian đối với việc tham gia ý kiến về các dự án đầu tư; việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và các thủ tục liên quan về xuất nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu phụ, lối mở. Nhờ việc thường xuyên gặp gỡ, nắm bắt tình hình hoạt động của DN mà các hoạt động khuyến công, khuyến thương của ngành được tiến hành một cách hiệu quả tạo nên một môi trường kinh doanh thân thiện, hấp dẫn tại Lào Cai. Sở Lao động – Thương binh và xã hội chỉ đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp kết hợp chặt chẽ với các Trường uy tín ở TW và DN, nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn đào tạo và nâng cao trình độ và kỹ năng của người lao động theo nhu cầu thực tế của phát triển sản xuất, kinh doanh. Sở cũng đã phối hợp với Hiệp hội doanh nghiệp, Hội doanh nhân trẻ tỉnh chỉ đạo các doanh nghiệp đầu tư tại tỉnh có phương án sử dụng lao động tại địa phương. Sở Tài chính liên tục kiểm tra, ra soát các quy định, các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực của sở, đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với giai đoạn mới. Sở tiếp tục đổi mới quy trình và nâng cao chất lượng ban hành các văn bản của cơ quan; đảm bảo tính công khai, minh bạch các thông tin về TTHC, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa trong giải quyết các TTHC tại đơn vị. Sở áp dụng có hiệu quả các phần mềm xử lý công việc như: Phần mềm theo dõi các văn bản chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh; phần mềm quản lý văn bản và điều hành VNPT-iOffice; phần mềm quản lý dự án đầu tư, quản lý tài sản, quản lý giá,…; thường xuyên nâng cao trình độ sử dụng trang thiết bị tin học cho đội ngũ cán bộ, công chức… nhờ đó giảm thiểu được thời gian chờ đợi, giảm phiền hà cho DN.

      1. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Phú Yên

Như vây, từ những kinh nghiệm nâng cao điểm số PCI cũng như những kinh nghiệm duy trì thứ hạng cao liên tiếp của các tỉnh/thành trong cả nước, những bài học kinh n ghiệm có thể rút ra cho Phú Yên trong xây dựng giải pháp nâng cao điểm số và xếp hạng PCI của Phú Yên trong thời gian đến như sau:

– Sự quan tâm chỉ đạo xuyên suốt, quyết liệt, kiên trì và quyết tâm của cả hệ thống chính trị từ lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh đến lãnh đạo các cấp, các ngành đóng vai trò tiên quyết dẫn đến thành công trong công tác cải cách hành chính của địa phương.

– Tập trung nguồn lực xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình tổng thể Cải cách hành chính nhà nước để xây dựng các kế hoạch cải cách cho từng giai đoạn 10 năm, 5 năm về công tác cải cách hành chính của tỉnh. Đặc biệt, trong đó phải xác định cụ thể nội dung công việc cần thực hiện, cơ quan chủ trì và phối hợp; xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc; dự kiến kết quả hoặc sản phẩm cụ thể sẽ đạt được cùng với việc dự toán và cấn đối các nguồn lực để triển khai. Phải xác định rõ trọng tâm, trọng điểm và tạo được điểm nhấn trong từng thời đoạn và thời điểm; có giải pháp cụ thể, mô hình mới, có tính đột phá, tạo ra hiệu ứng, sức lan tỏa và hiệu quả trên thực tế, tạo ra được những chuyển biến rõ nét và có sức thuyết phục. Có như vậy mới cụ thể hóa được những kết quả và sản phẩm như mong muốn trong công tác cải cách hành chính.

– Tập trung nguồn lực đầu tư nghiên cứu giải pháp có tính đòn bẩy, tạo động lực làm chuyển biến tích cực mạnh mẽ trong công tác cải cách hành chính. Cụ thể như việc mạnh dạn xây dựng Trung tâm hành chính công tập trung tại Bình Dương, Đà Nẵng và Quảng Nam hoặc việc “mạnh dạn” đề xuất những sáng kiến như cung ứng dịch vụ công tại nhà của Bình Dương, định kỳ hằng năm tổ chức chương trình “Gặp mặt doanh nhân” của Đà Nẵng hay sáng kiến của Quảng Ninh và Lào Cai trong việc xây dựng Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành (DCI).

– Xây dựng báo cáo riêng để đánh giá, nghiên cứu sâu về chỉ số PCI của Phú Yên qua nhiều năm liên tiếp nhằm tìm ra nguyên nhân thấp điểm, tụt điểm của tỉnh. Hay nói cách khác việc nghiên cứu sâu những kết quả khảo sát từ chính doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là nguồn thông tin hữu ích cho chính quyền địa phương hiểu được doanh nghiệp đang gặp phải những khó khăn, vướng mắc gì; từ đó có cơ sở đề xuất các giải pháp khắc phục kịp thời.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Mở đầu cho việc nghiên cứu đề tài, tác giả đã làm rõ một số nội dung liên quan đến Năng lực cạnh tranh, xem xét, phân biệt và đánh giá là năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp địa phương và năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp. Từ đó đã xây dựng được cơ sở lý thuyết về đánh giá NLCT địa phương, xác định vai trò của Chính phủ trong việc tạo dựng NLCT, của PCI đối với thu hút đầu tư của các địa phương thông qua các đo lường NLCT cấp tỉnh bằng chỉ số PCI…. Trên cơ sở đó, tác giả đã xây dựng được nội dung nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) cấp tỉnh, qua 08 chỉ số thành phần PCI.

Trên cơ sở đó đã nhận định các tiêu chí có tính chất quan trọng để có hướng, giải pháp nâng cao các tiêu chí đó nhằm thúc đẩy được các tiêu chí khác cùng nâng cao chỉ số thành phần cùng phát triển. Để triển khai các nội dung này, tác giả đã phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến PCI và nghiên cứu các kinh nghiệm nâng cao PCI của các địa phương (Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Lào Cai), qua đó rút ra bài học kinh nghiệm để đề xuất giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) tỉnh Phú Yên và đây là tiền đề để triển khai các bước tiếp theo của đề án được thể hiện ở các Chương tiếp theo.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA TỈNH PHÚ YÊN

    1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIỀN – KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NÂNG CAO CHỈ SỐ NLCT – PCICỦA TỈNH PHÚ YÊN
      1. Đặc điểm tự nhiên

– Vị trí địa lý: Điều kiện tự nhiên Phú Yên là tỉnh ven biển Nam Trung bộ, nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, có tọa độ địa lý: Điểm cực Bắc: 13041’28”; Điểm cực Nam: 12042’36”; Điểm cực Tây: 108040’40” và điểm cực Đông: 109027’47”.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tiếp giáp vùng Bắc Trung Bộ ở phía Bắc, vùng Tây Nguyên ở phía Tây, CHDCND Lào ở Tây Bắc, vùng Đông Nam Bộ ở phía Tây Nam, phía Đông là biển Đông. Vùng bao gồm lãnh thổ 4 tỉnh và thành phố thuộc vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định) ở phía Bắc và 4 tỉnh còn lại ở cực Nam Trung Bộ là Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.

– Về điều kiện tự nhiên: Là Tỉnh có địa hình khá đa dạng, đồng bằng đồi núi, cao nguyên, thung lũng xen kẽ nhau và thấp dần từ Tây sang Đông, phần lớn có độ dốc lớn. Phú Yên có 3 mặt là núi, phía Bắc có dãy Đèo Cù Mông, phía Nam là dãy Đèo Cả, phía Tây là mạn sườn đông của dãy Trường Sơn, và phía Đông là biển Đông.

Phú Yên được biết đến nơi có đồng bằng Tuy Hòa, được xem là vựa lúa của miền Trung.

.- Về khí hậu: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8. Nhiệt độ trung bình hằng năm 26,5 °C, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.600 – 1.700mm

– Rừng và tài nguyên rừngPhú Yên có sinh thái rừng đặc sắc, như Khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng Krông Trai. Đây là điều kiện rất thuận lợi để phát triển đa dạng dịch vụ du lịch sinh thái rừng.

– Khoáng sản: Phú Yên có nguồn khoáng sản dồi dào, trữ lượng lớn như đá Granite màu, Diatomite, Bauxit, Fluorit, nước khoáng, than bùn và vàng sa khoáng.

      1. Đặc điểm về kinh tế

Năm 2018, Phú Yên là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 45 về số dân, xếp thứ 43 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 30 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 25 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 961,1 nghìn dân, GRDP đạt 36.151 tỉ Đồng (tương ứng với 1,5790 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 39,749 triệu đồng (tương ứng với 1.736 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt7,5%.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TI

Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên  Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên   Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên   Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên Nâng cao Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) tỉnh Phú Yên

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *