Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã nói: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà, thanh thiếu niên là bộ phận quan trọng của dân tộc“.

Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể chất và tinh thần, họ là người đang ở giai đoạn hình thành cũng như phát triển về nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình như những người đã thành niên. Do tư duy chưa được hoàn thiện nên họ nhận thức chưa đầy đủ, toàn diện về hệ quả và những tác động do hành vi của mình gây ra.

Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên, các cơ quan tiến hành tố tụng, mà đặc biệt là Tòa án phải có trách nhiệm bảo vệ người chưa thành niên theo đúng quy định của pháp luật. BLHS 2015 và BLTTHS 2015 có nhiều điểm mới quy định phù hợp với yêu cầu xét xử tội phạm do người chưa thành niên gây ra, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, để từ đó đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật đúng đối với người chưa thành niên phạm tội theo BLHS 2015 và BLTTHS 2015, nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác xét xử trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói chung và đạt hiệu quả giáo dục phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên phạm tội nói riêng. Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài luận văn Thạc sỹ cho mình là: “Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích mà đề tài hướng đến là trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật có liên quan đến việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên và thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó tìm và phát hiện ra các quy định pháp luật mới để áp dụng tốt hơn nhằm hoàn thiện công tác xét xử người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ đặt ra là phải nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong 5 năm qua để tìm ra những hạn chế, thiếu sót cần chú ý khi thực hiện theo quy định của BLHS 2015 và BLTTHS 2015 từ ngày 01/7/2016 và các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật đúng đối với người chưa thành niên.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung phân tích làm sáng tỏ những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của BLHS năm 1999, nhưng theo Bộ luật hình sự năm 2015 là người dưới 18 tuổi phạm tội và thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của BLTTHS năm 2003 và BLTTHS 2015, thực tiễn áp dụng trong thời gian qua..

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định tại giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi) phạm tội vừa theo quy định của BLHS 1999 và của BLTTHS 2003, vừa theo quy định của BLHS 2015 và BLTTHS 2015. Thực tiễn áp dụng các quy định này để xét xử sơ thẩm trong phạm vi tỉnh Quảng Nam, giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015. Những vướng mắc từ công tác xét xử trong thực tiễn và những quy định mới mang tính tháo gỡ, đổi mới, tiến bộ từ BLHS 2015 và BLTTHS 2015 có liên quan đến việc xử lý người chưa thành niên phạm tội.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn này được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội và những quy định của pháp luật có liên quan đến người chưa thành niên.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê hình sự… Các phương pháp nghiên cứu này được vận dụng một cách đan xen, linh hoạt để đạt được hiệu quả cao.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn có thể dùng làm tài liệu giảng dạy, tuyên truyền pháp luật liên quan đến hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự liên quan đến người chưa thành niên phạm tội của TAND

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở phân tích làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận sẽ góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử của Tòa án.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên

Chương 2: Thực tiễn xét xử hình sự sơ thẩm người chưa thành niên tại tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật đúng đối với người chưa thành niên

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

    1. 1.1. Những vấn đề lý luận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm cơ bản của bị cáo là người chưa thành niên

Có thể đưa ra khái niệm bị cáo là người chưa thành niên như sau: “Bị cáo chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, được cho là đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự và bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”.

Có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của bị cáo là người chưa thành niên như sau:

– Thứ nhất, về mặt pháp lý, người chưa thành niên là người chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Đặc điểm nổi bật nhất của bị cáo chưa thành niên là ở chỗ họ được pháp luật quy định nhiều quyền hơn so với bị cáo đã thành niên, đồng thời lại thực hiện ít nghĩa vụ hơn so với bị cáo đã thành niên.

– Thứ hai, dưới góc độ tâm, sinh lý, bị cáo chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể chất và tinh thần, họ là người đang ở giai đoạn hình thành cũng như phát triển về nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình như người đã thành niên.

1.1.2. Khái quát về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên

Xét xử sơ thẩm theo nghĩa của Từ điển luật học là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền. Tòa án là cơ quan duy nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền xét xử và đưa ra phán quyết để kết tội một người và quyết định áp dụng hình phạt đối với người đó thông qua hoạt động xét xử.

1.1.3. Những vấn đề cần phải xác định rõ khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên

– Độ tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của bị cáo tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội.

– Điều kiện sinh sống và giáo dục của bị cáo.

– Có hay không có người thành niên xúi giục:

– Nguyên nhân và điều kiện phạm tội

– Lựa chọn, xác định quy phạm pháp luật áp dụng:

– Quy định trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự :

    1. 1.2. Quy định pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên

1.2.1. Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội

1.2.1.1. Nguyên tắc xử lý

Tòa án phải tuân thủ các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định trong BLHS, ở đây cần nghiên cứu các quy định của BLHS 1999 để có cơ sở đối chiếu với phần thực tiễn xét xử ở Chương 2 luận văn và nghiên cứu các nguyên tắc mới bổ sung của BLHS 2015 để xác định những điểm mới.

– Trước hết BLHS 1999 đã quy định những nguyên tắc:

+ Mục đích chủ yếu của việc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

+ Chỉ trong trường hợp cần thiết mới truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ. Nếu trong trường hợp cần thiết phải truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội thì cũng không nhất thiết phải áp dụng hình phạt đối với họ mà có thể áp dụng các biện pháp tư pháp mang tính giáo dục, phòng ngừa quy định tại Điều 70 BLHS.

+ Nếu người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục thì có thể miễn TNHS cho họ.

+ Để truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Sau khi cân nhắc kỹ càng các yếu tố nêu trên, nếu xét thấy thật cần thiết thì Tòa án mới áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, nếu không thì áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc có thể miễn TNHS đối với họ, nếu có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

+ Không được áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Trong trường hợp cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với họ thì phải cân nhắc hạn chế tối đa việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Đồng thời, khi đã áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với họ thì Tòa án phải quyết định mức hình phạt nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội tương ứng

+ Trong mọi trường hợp không được áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Đồng thời, không được áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

+ Đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì án đã tuyên đối với họ không được xem là án tích để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

– Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung hoàn thiện chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:

+ Thứ nhất, bổ sung nguyên tắc, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội phải ” bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên” ( khoản 1 Điều 91 BL).

+ Thứ hai, quy định nguyên tắc: khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không bảo đảm hiệu quả giáo dục phòng ngừa ( khoản 4 Điều 91), thay vì quy định trước đây là phải đánh giá cân nhắc việc áp dụng hình phạt trước nếu xét thấy không cần thiết thì mới áp dụng các biện pháp giáo dục, phòng ngừa ( khoản 4 Điều 69 BLHS 1999).

+ Thứ ba, nhằm tăng cường tính minh bạch, qua đó nâng cao hiệu quả việc phòng ngừa tội phạm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, Bộ luật hình sự 2015 quy định rõ hơn trách nhiệm hình sự người chưa thanh niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi trong một số tội phạm cụ thể, mà không phải chịu trách nhiệm về các tội phạm chung chung như trong BLHS 1999. Cụ thể người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định trong các Điều: 143, 150, 151, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 285, 286, 287, 289, 290, 99, 303, 304 của BLHS 2015.

+ Thứ tư, đã bổ sung 03 biện pháp có tính chất giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội khi họ thực hiện tội phạm mà cơ quan có thẩm quyền xét thấy không cần thiết phải xử lý hình sự đối với họ, gồm: Khiển trách ( Điều 93), Hòa giải tại cộng đồng ( Điều 94), Giáo dục tại xã, phường, thị trấn ( Điều 95).

– Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể 07 nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi như sau:

+ Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi.

+ Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi.

+ Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, đoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt.

+ Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi.

+ Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi.

+ Bảo đảm các nguyên tắc xử lý của BLHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

+ Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi.

1.2.1.2. Chế tài áp dụng

Bộ luật hình sự 2015 đã quy định hệ thống chế tài áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:

– Các biện pháp giám sát giáo dục khi được miễn trách nhiệm hình sự:

+ Khiển trách (Điều 93)

+ Hòa giải tại cộng đồng (Điều 94).

+ Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 95)

– Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

– Các loại hình phạt: hình phạt cảnh cáo, hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn.

1.2.2. Xác định luật áp dụng đối với người chưa thành niên

Việc áp dụng những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội tại Chương X của BLHS 1999 (Chương XII của BLHS 2015) là căn cứ vào độ tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội. Còn việc áp dụng thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên tại Chương XXXII của BLTTHS 2003 (Chương XXVII của BLTTHS năm 2015) là căn cứ vào độ tuổi tại thời điểm tiến hành tố tụng.

Điều 413 BLTTHS năm 2015 quy định: “Thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này” [11].

1.2.3. Thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên

– Giám sát đối với người chưa thành niên: Theo quy định tại Điều 304 BLTTHS 2003 hay Điều 418 BLTTHS 2015 thì Tòa án có thể ra quyết định giao người chưa thành niên cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của Tòa án. Người được Tòa án giao nhiệm vụ giám sát đối với người chưa thành niên phạm tội phải giám sát chặt chẽ, theo dõi tư cách đạo đức và giáo dục họ.

Trường hợp người dưới 18 tuổi bỏ trốn hay có hành vi khác vi phạm pháp luật thì người được giao giám sát phải thông báo và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để ngăn chặn xử lý kịp thời.

– Bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên: Trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên, Tòa án cần xem xét, cân nhắc áp dụng các biện pháp giám sát, ngăn chặn khác. Nếu sau khi xem xét, cân nhắc mà xét thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn này đối với họ không hiệu quả thì Tòa án mới áp dụng các biện pháp bắt, tạm giam. Thời hạn tạm giam đối với người buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng 2/3 thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên được quy định trong BLTTHS 2015. Khi không còn căn cứ để tạm giữ tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.

– Việc tham gia tố tụng của người bào chữa, người đại diện, thầy giáo, cô giáo, đại diện nhà trường, đoàn thanh niên, tổ chức khác

Tại khoản 3 Điều 422 BLTTHS quy định: “Trong trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có người bào chữa…, Tòa án phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật này” [11]. Theo quy định tại Điều 420 BLTTHS 2015 thì “người đại diện của người dưới 18 tuổi, thầy giáo, cô giáo, đại diện nhà trường, đoàn thanh niên, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng…”. Đây là quy định mới có tính cụ thể và mở rộng hơn so với quy định “người đại diện hợp pháp, đại diện gia đình, nhà trường và tổ chức” được quy định tại khoản 1 Điều 306 BLTTHS 2003.

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm: Điều 307 BLTTHS 2003 hay khoản 1 Điều 423 BLTTHS 2015 đều quy định thành phần HĐXX vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thành niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi. Đối với Thẩm phán, đòi hỏi phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên.

– Phiên tòa xét xử sơ thẩm

Khi tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên, Tòa án có thể sắp xếp lại vị trí của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong phòng xử án được bố trí thân thiện nhằm làm giảm cảm giác căng thẳng, sợ hãi đối với người chưa thành niên [22]. Thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên về nguyên tắc chung được thực hiện theo quy định tại Phần thứ tư của BLTTHS 2015 và không trái với các quy định tại Chương XXVII của BLTTHS. Do đó, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên được tiến hành theo trình tự sau đây:

– Thủ tục bắt đầu phiên tòa;

– Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa;

– Thủ tục tranh luận;

– Thủ tục nghị án và tuyên án.

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 2

THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TẠI TỈNH QUẢNG NAM

    1. 2.1. Những nhân tố tác động đến thực tiễn xét xử hình sự sơ thẩm đối với người chưa thành niên tại tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam là tỉnh thuộc khu vực miền Trung, mới được thành lập do chia tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ từ năm 1997. Những đặc điểm của Quảng Nam về điều kiện vị trí địa lý tự nhiên, kinh tế – xã hội đã có những tác động đến thực tiễn xét xử vụ án hình sự đối với NCTN phạm tội cụ thể như sau:

+ Tác động do đặc thù về điều kiện địa lý tự nhiên và xã hội: Quảng Nam là tỉnh trung du – miền núi có diện tích tương đối rộng so với một số tỉnh ở cùng khu vực Trung bộ, dân cư được phân bổ tự nhiên cũng như trình độ dân trí, điều kiện kinh tế, văn hóa không đồng đều giữa các địa phương trong tỉnh với nhau. Nằm ở vị trí tiếp giáp với Thành phố Đà Nẵng và có các tuyến đường Quốc lộ đi qua nên tập trung nhiều thành phần trong xã hội. Vì thế các loại tội phạm về trật tự an toàn xã hội, ma túy, giao thông, kinh tế chiếm đa số và ngày càng tăng.

+ Tác động do điều kiện kinh tế đặc thù: Quảng Nam là tỉnh kinh tế nông nghiệp, công nghiệp phát triển còn nhiều hạn chế. Do đó lao động dôi dư rất nhiều, tình trạng thất nghiệp cũng ảnh hưởng xấu đến xã hội, từ đó tội phạm trộm cắp, lừa đảo luôn ở tỷ lệ cao.

+ Tác động do việc chia tách tỉnh: tỉnh Quảng Nam được thành lập do chia tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng từ năm1997. Thời điểm đó đến nay đội ngũ cán bộ, Thẩm phán luôn được kiện toàn, song do điều kiện kinh tế khó khăn nên chưa thu hút được nhiều cán bộ có năng lực, có kiến thức chuyên môn cao đến công tác nên ảnh hưởng đến chất lượng xét xử.

    1. 2.2. Tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên tại tỉnh Quảng Nam

Trong thời gian 5 năm từ 2011 đến 2015, TAND hai cấp của tỉnh Quảng Nam đã thụ lý sơ thẩm vụ án hình sự tổng cộng 4.475vụ/7.745 bị cáo, đã đưa ra xét xử được 3.972 vụ/6.573 bị cáo, có tỷ lệ xét xử chung là 88,75% số vụ và 84,86% số bị cáo, còn lại là giải quyết khác như: trả hồ sơ điều tra bổ sung, đình chỉ việc giải quyết vụ án. Trong số những vụ án đưa ra xét xử, có 531 bị cáo là người chưa thành niên, trong đó có 23 bị cáo chưa thành niên từ lứa tuổi đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, có 508 bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội.

Về cơ cấu theo tội danh mà người chưa thành niên phạm tội phần lớn là các tội “xâm phạm sở hữu“, “xâm phạm tính mạng sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người“, “vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ” và “xâm phạm trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính“. Rất ít hoặc nếu có cũng chỉ tham gia vai trò đồng phạm về các tội “xâm phạm an ninh quốc gia“, “tội phạm tham nhũng“.

Các loại tội phạm mà người chưa thành niên thực hiện phổ biến là:

– Loại tội có số lượng cao nhất là tội ” Trộm cắp tài sản” có 152/531 bị cáo, chiếm 28,62%.

– Tội cướp tài sản, cướp giật tài sản có số lượng 74/531 bị cáo, chiếm tỷ lệ chung 15,93%;

– Tội cố ý gây thương tích có 96/531 bị cáo, chiếm tỷ lệ 18,07%;

– Tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có 89/531 bị cáo, chiếm tỷ lệ 16,76%;

– Tội Hiếp dâm và Hiếp dâm trẻ em mà người chưa thành niên phạm tội mặc dù chiếm tỷ lệ thấp có 12/531 bị cáo, chiếm tỷ lệ 2,25% nhưng luôn có diễn biến phức tạp.

Theo nguyên tắc được quy định trong Điều 69 BLHS thì chỉ khi nào xét thấy không thể áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc các hình phạt khác đối với người chưa thành niên phạm tội thì Tòa án mới nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với họ. Đây cũng là một nguyên tắc QĐHP đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 69 BLHS. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử các Tòa án nói chung và các Tòa án trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng rất ít chú ý đến nguyên tắc này. Điều này được chứng minh bằng việc, trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, TAND hai cấp của tỉnh Quảng Nam rất ít khi áp dụng các biện pháp tư pháp quy định tại Điều 70 BLHS đối với người chưa thành niên, chỉ có 05 bị cáo trong tổng số 607 bị cáo bị đưa ra xét xử được áp dụng biện pháp Giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Đặc biệt, không có bị cáo nào được áp dụng biện pháp Đưa vào trường giáo dưỡng. Đồng thời, Tòa án cũng rất hạn chế áp dụng các hình phạt khác nhẹ hơn so với hình phạt tù có thời hạn, như: cảnh cáo (02 bị cáo), phạt tiền (không có bị cáo nào) hoặc cải tạo không giam giữ (14 bị cáo). Hơn nữa, số lượng bị cáo bị xử phạt tù cho hưởng án treo cũng chiếm tỷ lệ thấp so với bị cáo không được hưởng án treo (30,50% so với 65,53%).

    1. 2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên tại tỉnh Quảng Nam

Qua nghiên cứu các bản án xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cho thấy chất lượng xét xử của TAND hai cấp là tương đối tốt. Hầu hết, các bản án sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên khi họ tham gia tố tụng hình sự. Đồng thời, cũng đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Thông qua các vụ án thể hiện rõ tính chất của hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện có những đặc thù vốn có của lứa tuổi chưa trưởng thành; thể hiện hành vi có tính manh động, ít suy nghĩ là hành động phạm tội để được gì, có khi chỉ là cái lợi ích nhỏ nhoi, có khi chỉ vì thích thể hiện cái “tôi” và sự nhất thời. Cũng còn những bản án thiếu sót về mặt áp dụng pháp luật, chưa hợp lý về quyết định hình phạt, có thể nêu một số trường hợp như sau:

* Thể hiện tính chất phạm tội đặc biệt của lứa tuổi chưa thành niên về sự nông nỗi nhất thời nhưng hành vi lại rất manh động và nguy hiểm, hành động phạm tội chỉ vì lợi ích nhỏ nhoi, có khi chỉ vì thích thể hiện cái “tôi”, thiếu sự nhận thức xã hội và ý thức pháp luật

* Sai sót trong việc áp dụng BLHS và BLTTHS về định tội danh, về tình tiết định khung hình phạt, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, các tình tiết tăng nặng, biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội.

* Quyết định hình phạt quá nặng đối với người chưa thành niên phạm tội.

    1. 2.4. Những vướng mắc từ thực tiễn xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội tại tỉnh Quảng Nam và các quy định của luật mới có liên quan

– Về thủ tục bắt giữ, tạm giam: theo BLTTHS 2003 thì không có điều khoản nào đặc biệt liên quan đến việc người chưa thành niên phạm tội bị bắt giữ như thế nào ( ví dụ như hạn chế sử dụng vũ lực, biện pháp khống chế kiểm soát, còng tay….). Tại Điều 303 BLTTHS chỉ hạn chế những trường hợp mà người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 419 BLTTHS 2015 nêu rõ “Chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại Bộ luật này”.

– Về môi trường xét xử tại Tòa án: hiện tại tỉnh Quảng Nam chưa có phòng xét xử riêng cho người chưa thành niên phạm tội. Để khắc phục về vấn đề này, tại khoản 4 Điều 423 BLTTHS 2015 đã có quy định “Việc xét hỏi, tranh luận với bị cáo, bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi tại phiên tòa được tiến hành phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển của họ. Phòng xử án được bố trí thân thiện, phù hợp với người dưới 18 tuổi.”

– Về thời hạn tố tụng: Thời hạn tố tụng vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội không có quy định riêng đặc biệt nào. Để khắc phục tình trạng này, BLTTHS 2015 đã có quy định một nguyên tắc tiến hành tố tụng mới đối với người dưới 18 tuổi tại khoản 7 Điều 414 “Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi”.

– Về việc bắt buộc phải có mặt đại diện gia đình bị cáo là người chưa thành niên tại phiên tòa xét xử. Tuy nhiên có trường hợp bị cáo là người chưa thành niên mồ côi cha mẹ, không có họ hàng nhưng bị cáo vẫn được đi học.

Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã khắc phục tình trạng trên, quy định tại khoản 1 Điều 420 về việc tham gia tố tụng của người đại diện, cụ thể ” Người đại diện của người dưới 18 tuổi…có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng…”. Quy định này thay thế cho cụm từ ” đại diện của gia đình bị cáo” theo Điều 303 BLTTHS 2003.

– Về quyền tham gia tranh luận của đại diện gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức: khoản 3 Điều 306 BLTTHS quy định đại diện của gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức tham gia phiên tòa có quyền tham gia tranh luận. Tuy nhiên, Điều 217 BLTTHS lại không quy định trình tự phát biểu tranh luận của đại diện gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức.

Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã khắc phục được tình trạng trên bằng quy định tại khoản 2 Điều 320 cụ thể “Bị cáo trình bày lời bào chữa; người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo; bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa”; và tại khoản 1 Điều 322 luật mới cũng quy định “Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên…..” Như vậy về quyền tham gia tranh luận của người đại diện cho bị cáo chưa thành niên được bảo đảm theo tinh thần BLTTHS 2015.

– Về việc miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội: tại khoản 2 Điều 69BLHS 1999 quy định “người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự“. Thực tiễn ít trường hợp người chưa thành niên phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự.

Bộ luật hình sự 2015 tại Điều 91 đã quy định một số nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội như “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi…”. Đồng thời mở rộng việc miễn trách nhiệm hình sự với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi; quy định cụ thể điều kiện miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 rõ ràng, theo từng tội phạm cụ thể, bỏ điều kiện mang tính chung chung “gây hại không lớn“. Như vậy BLHS 2015 đã khắc phục được vướng mắc nêu trên.

– Đối với tình tiết tăng nặng “xúi giục người chưa thành niên phạm tội” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 48 BLHS thì trong trường hợp người đã thành niên xúi giục người chưa thành niên phạm tội mới áp dụng; còn người chưa thành niên là chủ mưu có hành vi xúi giục người chưa thành niên khác phạm tội thì có áp dụng hay không. Bộ luật hình sự 2015 vẫn giữ nguyên quy định như trên tại điểm o khoản 1 Điều 52 về tình tiết tăng nặng “xúi giục người chưa thành niên phạm tội“. Như vậy theo quan điểm của tác giả thì không áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với người chưa thành niên có hành vi xúi giục người chưa thành niên khác phạm tội.

– Về việc áp dụng biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng: tại khoản 3 Điều 70 BLHS có quy định một căn cứ để áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là “nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội” nhưng không có quy định tiêu chí để đánh giá tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội nên đôi khi Thẩm phán còn lúng túng và áp dụng chưa đúng. Về vấn đề này BLHS 2015 cũng không có quy định mới, vì vậy khi xét xử cần có sự nhận xét đánh giá của HĐXX bằng việc nghiên cứu hồ sơ vụ án và kiểm tra tại phiên tòa, nếu xét thấy áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng cũng đủ tính cải tạo giáo dục đối với bị cáo thì áp dụng.

– Khoản 5 Điều 69 BLHS 1999 quy định “khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù“. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các Tòa án chủ yếu áp dụng hình phạt tù.

Tại khoản 4 Điều 91 BLHS 2015 đã quy định rõ là khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát giáo dục hoặc biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không đảm bảo hiệu quả phòng ngừa.

– Vấn đề quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên đôi khi chưa hợp lý, thực tế là quá nặng so với chính sách hình sự về xử lý người chưa thành niên phạm tội.

Tại khoản 6 Điều 91 BLHS 2015 cũng có quy định bổ sung khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức áp dụng đối với người đủ 18 tuổi phạm tội tương ứng và “với thời gian thích hợp ngắn nhất”. Thời hạn tù cần được xác định sao cho vừa đủ để giáo dục, phục hồi với người dưới 18 tuổi phạm tội.

– Qua nghiên cứu các bản án xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên của TAND hai cấp tại Quảng Nam thì thấy, hầu hết các bản án mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá một cách chung chung về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS để QĐHP, chứ chưa đi sâu phân tích về trình độ phát triển về thể chất và tinh thần cũng như chưa làm rõ về điều kiện sống và giáo dục của bị cáo.

– Cũng giống như tình trạng chung của cả nước hiện nay, hầu hết các Thẩm phán của TAND hai cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam còn thiếu những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên.

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 3

CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐÚNG

ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

    1. 3.1. Dự báo tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện và phương hướng, nhiệm vụ của TAND hai cấp tỉnh Quảng Nam

Trong 5 năm qua, thực trạng người chưa thành niên phạm tội có diễn biến phức tạp bởi xu hướng trẻ hóa của tội phạm. Trên cơ sở số liệu đã phân tích trong 5 năm qua, đồng thời trên cơ sở nhận thức, đánh giá tình hình kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh cho thấy có thể dự báo tội phạm phổ biến do người chưa thành niên thực hiện như sau:

+ Tội phạm xâm phạm sở hữu;

+ Tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm;

+ Tội phạm về ma túy do số lượng người nghiện về ma túy hiện rất nhiều;

+ Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ;

+ Các tội về xâm phạm trật tự quản lý hành chính.

– Xác định phương hướng nhiệm vụ cho TAND tỉnh Quảng Nam trong việc xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội thời gian tới là:

Một là, Trong hoạt động xét xử đối với NCTN phạm tội của TAND phải quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về xử lý NCTN phạm tội đó là: Việc xử lý NCTN phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, giúp đỡ họ lấy lại niềm tin trong cuộc sống, tự cải tạo thành công dân có ích cho xã hội. Việc xử lý hình sự đối với NCTN phạm tội phải vì lợi ích tốt nhất cho họ.

Hai là, Hoạt động xét xử đối với NCTN phạm tội của TAND ở tỉnh Quảng Nam phải căn cứ vào tình hình tội phạm của NCTN và những yêu cầu của công tác giáo dục thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh trong điều kiện về kinh tế và văn hóa xã hội ở địa phương..

Ba là, Trong hoạt động xét xử vụ án hình sự sơ thẩm đối với NCTN phạm tội phải đảm bảo xu hướng hội nhập quốc tế.

    1. 3.2. Triển khai thi hành kịp thời các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự mới 2015

* Về việc triển khai thi hành Bộ luật hình sự nói chung phải thực hiện nghiêm túc 06 nội dung nhiệm vụ quy định tại Quyết định số 272/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch triển khai thi hành BLHS 2015.

* Hệ thống Tòa án nhân dân nhanh chóng tổ chức tập huấn chuyên sâu về thi hành BLHS 2015 và BLTTHS 2015.

    1. 3.3. Tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật Hình sự và Tố tụng hình sự mới

+ Đối với Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn giải thích pháp luật chính thức theo quy định của Hiến pháp cần tăng cường ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc điều chỉnh người chưa thành niên phạm tội.

+ Đối với TANDTC cần kịp thời ban hành các Thông tư, Nghị quyết hướng dẫn áp dụng pháp luật để thống nhất áp dụng.

+ Đối với TAND tỉnh Quảng Nam mà cụ thể là Ủy ban Thẩm phán cần hướng dẫn, nhắc nhở giúp cho các Tòa án nhân dân cấp huyện trong công tác tổ chức xét xử vụ án đối với người chưa thành niên phạm tội.

    1. 3.4. Tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử người dưới 18 tuổi

– Bộ luật hình sự 2015 và Bộ luật tố tụng 2015 là sự kế thừa và phát triển của các bộ luật đã xây dựng, sửa đổi bổ sung nhiều lần trước đây như Bộ luật hình sự 1985 đến Bộ luật hình sự 1999 và nay là Bộ luật hình sự 2015. Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự mới triển khai thi hành trong thực tiễn nên chưa thể phát hiện vướng mắc, bất cập. Do vậy trong quá trình thực thi xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội cần chú ý đánh giá tổng kết thực tiễn thi hành.

    1. 3.5. Nâng cao năng lực của cán bộ áp dụng pháp luật

Việc nâng cao năng lực cho cán bộ tiến hành tố tụng mà cụ thể là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán là vấn đề quan trọng bởi họ là những người sẽ tiến hành thực thi pháp luật trên thực tế.

    1. 3.6. Các giải pháp khác

Cần nhanh chóng tiến hành thành lập Tòa án gia đình và người chưa thành niên chuyên trách trong các Tòa án nhân dân địa phương theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Cần tăng cường phối hợp hoạt động giữa các cơ quan tiến hành tố tụng ( Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) trong giải quyết vụ án hình sự do người dưới 18 tuổi phạm tội.

Tăng cường cơ sở vật chất cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam và Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc tỉnh.

Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật.

KẾT LUẬN

Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội cần phải căn cứ trên đặc điểm thể chất, tâm sinh lý và điều kiện, hoàn cảnh của họ. Bộ luật hình sự 2015 quy định xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải đảm bảo đặt “lợi ích tốt nhất” làm trung tâm của chính sách hình sự, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế. Đảm bảo thể chế hóa chủ trương của Đảng “đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện”. Trên cơ sở đó Bộ luật hình sự 2015 đã quy định hệ thống chế tài đa dạng các loại hình ngoài hình phạt tù để Tòa án lựa chọn áp dụng khi xét xử.

Tuy nhiên, nếu đánh giá một cách toàn diện và khách quan thì việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên của TAND hai cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua đôi lúc vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn. Để khắc phục tình trạng này, đòi hỏi các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần phải sớm triển khai thi hành BLHS 2015 và BLTTHS 2015 với một tư duy và nhận thức mới.

Tóm lại, việc xét xử vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội đòi hỏi người Thẩm phán phải có kiến thức, kỹ năng và hiểu biết tâm sinh lý đối với từng độ tuổi của đối tượng này. Ngoài việc nắm vững quy định pháp luật, để có một bản án công bằng đối với người chưa thành niên, Thẩm phán còn phải có tâm huyết trong việc giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội. Do vậy, Thẩm phán xét xử án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội phải nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình không chỉ thực hiện việc xét xử với vai trò Thẩm phán nhân danh Nhà nước mà còn với vai trò là người thầy giáo dục thế hệ trẻ đi đúng con đường tốt đẹp trong tương lai.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HINH SU\NGUYEN TAN LONG\New folder (2)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *