Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của người chưa thành niên phạm tội từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng là một thành phố nằm ở trung bộ của đất nước, là động lực của Vùng kinh tế trọng điểm miền trung, nằm trên cửa ngõ phía Đông của hành lang kinh tế Đông – Tây, là cửa vào của các di sản và di sản thiên nhiên của thế giới. Thành phố Đà Nẵng có một sự thuận lợi đặc biệt cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững. Cùng với sự phát triển chung của đất nước, Đà Nẵng đã phát triển một cách vượt bậc với tốc độ đô thị hóa cao nhất nước. Mặt trái, đó là một bộ phận không nhỏ giới trẻ lại chạy theo lối sống thực dụng, hư hỏng, sa đọa, đặc biệt là tình hình người chưa thành niên phạm tội diễn biến hết sức phức tạp và khôn lường. Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung đang chung tay góp sức từng ngày cho việc giải quyết vấn đề về người chưa thành niên phạm tội, là việc làm cần thiết để giữ nghiêm ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội nhưng cũng gặp không ít khó khăn và trở ngại.
Trước hết, người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, tinh thần và nhân cách cũng như chưa có nhận thức đúng đắn, có sự hạn chế về kinh nghiệm sống, kiến thức pháp luật, tâm sinh lý chưa vững vàng, ổn định nên dễ bị tác động, không có ý thức rõ ràng và toàn diện về những hành vi mà mình thực hiện, một số người đã có hành vi phạm tội mà không nhận thức được hậu quả nguy hiểm gây ra cho xã hội và hệ quả mà mình phải gánh chịu. Nguyên nhân có thể do sự thiếu giáo dục, chăm lo của gia đình nhà trường và xã hội hoặc những tác động của hoàn cảnh khách quan như sự dụ dỗ, kích động, lừa dối vào những hành vi trái pháp luật… Vì vậy mà tình hình tội phạm do người chưa thành niên ngày càng gia tăng về mức độ và tính chất nguy hiểm không chỉ Đà Nẵng nói riêng mà cả nước nói chung. Nhằm mục đích giảm bớt tội phạm cũng như ngăn ngừa tội phạm mới do người chưa thành niên gây ra, trên cơ sở niềm tin vào khả năng cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách pháp luật mang tính nhân đạo sâu sắc, là cơ sở pháp lý để xử lý người chưa thành niên phạm tội.
Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự do người chưa thành niên gây ra tại thành phố Đà Nẵng cho thấy, các Tòa án đã chú trọng hơn đối với công tác xét xử người chưa thành niên phạm tội. Những người tiến hành tố tụng có ý thức hơn trong việc trau dồi kiến thức về tâm sinh lý của người chưa thành niên, đồng thời nghiên cứu kỹ các quy định pháp luật để có thể áp dụng đúng các hình phạt, biện pháp tư pháp đối với họ. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động xét xử này vẫn còn những hạn chế và bất cập. Có một số vụ án bị tòa cấp trên sửa hoặc hủy, quyền của người chưa thành niên phạm tội đôi lúc chưa được bảo vệ toàn diện. Nguyên nhân là do việc hướng dẫn áp dụng pháp luật chưa thống nhất, năng lực, trình độ của đội ngũ Thẩm phán và hội thẩm nhân dân chưa cao… Do vậy, việc nghiên cứu sâu vào quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của người chưa thành niên phạm tội từ thực tiễn xét xử để tìm ra những nguyên nhân, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp bảo vệ người chưa thành niên trong hoạt động tố tụng. Từ những lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài luận văn Thạc sỹ cho mình là: “Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của người chưa thành niên phạm tội từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật, nhằm đưa ra các giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của NCTN phạm tội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ:
Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội: trong đó tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm của người chưa thành niên phạm tội; những vấn đề chung về việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, các quy định pháp luật về việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.
Hai là, từ thực tiễn xét xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội tại thành phố Đà Nẵng, tác giả đã đánh giá thực trạng pháp luật, tìm ra nguyên nhân dẫn và những bất cập trong các quy định của pháp luật khi áp dụng vào thực tiễn.
Ba là, trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật trong việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với NCTN phạm tội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật có liên quan đến việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Đà Nẵng.
Trong phạm vi đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu sâu vào việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng và các quy định của pháp luật có liên quan đến việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với NCTN phạm tội, giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015. Tuy nhiên, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu nội dung về người chưa thành niên phạm tội với địa vị pháp lý là bị cáo là người chưa thành niên.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như những đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước khi xử lý người chưa thành niên phạm tội.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê… lồng ghép vào nhau nhằm đánh giá thực trạng pháp luật, đưa ra kiến nghị và các giải pháp hoàn thiện pháp luật.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần hoàn thiện phong phú hơn về mặt lý luận và hoàn thiện pháp luật trong việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với NCTN phạm tội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài cung cấp những thông tin có giá trị giúp cho việc áp dụng những quy định của pháp luật về việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với NCTN phạm tội vào thực tiễn xét xử của Tòa án có hiệu quả hơn.
Đề tài có thể làm tài liệu nghiên cứu cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu một số vấn đề liên quan cũng như làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác xét xử trong ngành Tòa án.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận và quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.
Chương 2: Thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội tại thành phố Đà Nẵng.
LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.1. Khái niệm, đặc điểm cơ bản của người chưa thành niên phạm tội
1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
- Khái niệm người chưa thành niên phạm tội có quan điểm khác nhau, theo tác giả cách hiểu có sự thống nhất là: Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm và đã bị Tòa án xét xử bằng bản án đã có hiệu lực thi hành.
Dựa trên đặc điểm tâm sinh lý NCTN, pháp luật quốc tế và pháp luật mỗi quốc gia đã đưa ra giới hạn về độ tuổi làm cơ sở xác định một đối tượng là NCTN. Theo từ điển tiếng Việt thì:“Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân”.
Theo Điều 1 Thông tư liên tịch số: 01/2011/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 của VKSNDTC, TANDTC, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, thì: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, là những đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi họ tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án… ”. BLLĐ năm 2012, Luật Trẻ em năm 2016 cũng có quy định về khái niệm trẻ em, người chưa thành niên …
Điều 68 BLHS năm 1999 và Điều 90 BLHS năm 2015 quy định độ tuổi phải chịu TNHS của NCTN phạm tội là từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. BLDS năm 2005, Tóm lại, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, chưa phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.
Điều 50 BLTTHS năm 2003 quy định: “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”.
Từ đó, hiểu bị cáo là người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
1.1.2. Đặc điểm người chưa thành niên phạm tội
1.1.2.1. Về mặt pháp lý
1.1.2.2. Về tâm, sinh lý
Về mặt thể chất
Về mặt tâm lý, tình cảm và nhận thức
1.2. Những vấn đề chung về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
1.2.1. Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân các cấp đối với người chưa thành niên phạm tội
Theo quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014: Tòa chuyên trách Tòa án gia đình và người chưa thành niên ở hai cấp xét xử sơ thẩm sẽ có thẩm quyền giải quyết các vụ án hình sự do NCTN thực hiện như đã phân tích ở trên.
1.2.2. Nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội
Thứ nhất, bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện đối với NCTN, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của họ; các quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Thứ hai, bảo đảm giữ bí mật cá nhân của NCTN phạm tội hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển sau này của họ.
Thứ ba, bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người chưa thành niên phạm tội, nhà trường, Đoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi họ học tập, lao động và sinh hoạt.
Thứ tư, tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người chưa thành niên phạm tội.
Thứ năm, bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của NCTN phạm tội.
Thứ sáu, bảo đảm các nguyên tắc xử lý của BLHS đối với người chưa thành niên phạm tội.
1.2.3. Xác định luật áp dụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Việc áp dụng những quy định đối với NCTN phạm tội được quy định tại Chương X của BLHS năm 1999 căn cứ vào độ tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội được quy định tại Chương XXVII của BLTTHS năm 2003 là căn cứ vào độ tuổi tại thời điểm tiến hành tố tụng. Trường hợp có xung đột nhau về cùng một vấn đề, khi các chương khác của hai bộ luật này cũng đều quy định thì ưu tiên áp dụng quy định tại hai chương này. Trường hợp cả hai chương của hai bộ luật trên không có quy định nhưng chương khác của hai bộ luật có quy định thì áp dụng quy định của chương đó nhưng không được trái với các quy định chung của hai chương.
1.2.4. Một số lưu ý trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Thứ nhất, xác định thẩm quyền xét xử.
Thứ hai, xác định thời hạn chuẩn bị xét xử.
Thứ ba, xem xét áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.
Thứ tư, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đối với NCTN phạm tội Thẩm phán cần tuân thủ các quy định của BLTTHS cả về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án.
Thứ năm, đảm bảo việc ra các quyết định kịp thời, đúng pháp luật.
Thứ sáu, căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa theo đúng quy định.
Thứ bảy, giao các quyết định của Tòa án theo quy định.
Thứ tám, kiểm tra các công việc trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội.
1.3. Những quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
1.3.1. Các quy định về các chủ thể tiến hành, chủ thể tham gia tố tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
1.3.1.1. Người tiến hành tố tụng
Theo quy định BLTTHS năm 2003 thành phần HĐXX vụ án hình sự đối với NCTN phậm tội phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm cụm từ người tiến hành tố tụng là “người đã được đào tạo” tức là có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ về NCTN.
1.3.1.2. Người giám sát đối với người chưa thành niên phạm tội
Người đại diện của NCTN phạm tội có nghĩa vụ giám sát để bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
1.3.1.3. Việc tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường, tổ chức
Thành phần này bao gồm thầy giáo, cô giáo, đại diện nhà trường, đoàn thanh niên, tổ chức khác nơi NCTN phạm tội học tập, lao động và sinh hoạt vừa là quyền và nghĩa vụ. Khi tham gia phiên tòa những người trên có quyền đưa ra các tài liệu, đồ vật, yêu cầu nhằm để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo; đề nghị thay đổi những người tiến hành tố tụng; tham gia tranh luận; khiếu nại các hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các quyết định khác của Tòa án.
Luật sư, người đại diện hợp pháp của bị cáo là NCTN và bào chữa viên nhân dân, BLHS năm 2015 bổ sung thêm trợ giúp viên pháp lý có thể là người bào chữa cho NCTN phạm tội. Người đại diện hợp pháp của bị cáo là NCTN có quyền tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Bị cáo là NCTN hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa. Mọi trường hợp không có người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án có bị can, bị cáo là NCTN là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trừ trường hợp họ hoặc đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa.
1.3.2. Những vấn đề cần làm rõ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
– Tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của bị cáo tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội.
– Điều kiện sinh sống và giáo dục của bị cáo.
– Có hay không có người đã thành niên xúi giục.
– Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
1.3.3. Thành phần của Hội đồng xét xử
Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì HĐXX có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Thành phần xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với NCTN phạm tội phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người chưa thành niên.
1.3.4. Cách bố trí phiên tòa
Cách bố trí phiên tòa phải thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, cần sắp xếp phòng xử án một cách thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức của bị cáo.
1.3.5. Thủ tục bắt đầu phiên tòa
Trước khi HĐXX vào phòng xử án, Thư ký Tòa án phổ biến nội quy phiên tòa; yêu cầu những người đã được triệu tập nộp giấy triệu tập, nếu có người vắng mặt thì nêu rõ lý do và hướng dẫn họ ngồi theo đúng vị trí.
Sau khi đọc xong quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà yêu cầu Thư ký Toà án báo cáo danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa, ai có mặt, ai vắng mặt nêu rõ lý do.
Chủ toạ phiên toà kiểm tra lại căn cước của những người được triệu tập đến phiên toà đã có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Đồng thời, giải thích quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng.
Chủ toạ phiên toà hỏi bị cáo đã nhận được bản cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử hay chưa để tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
Chủ toạ phiên toà hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc tài liệu, chứng cứ ra xem xét hay không, có ý kiến gì về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng khác (nếu có). Không ai có ý kiến gì chuyển qua phần xét hỏi.
1.3.6. Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa
Đề nghị Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có).
Trình tự xét hỏi: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Khi xét hỏi, HĐXX xem xét những vật chứng có liên quan trong vụ án. HĐXX phải cân nhắc ngôn ngữ khi hỏi.
Chỉ công bố lời khai khi cần thiết. Khi có người yêu cầu nếu xét thấy cần thiết thì Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà quyết định tiếp tục việc xét hỏi “nếu không có yêu cầu xét hỏi thì kết thúc việc xét hỏi”.
1.3.7. Thủ tục tranh luận
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội; bị cáo, người bào chữa, trình bày lời bào chữa; bị cáo, người đại diện của họ trình bày bổ sung lời bào chữa; người bị hại, đương sự, người đại diện của họ trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nếu có người bảo vệ quyền lợi cho họ thì người này trình bày, bổ sung ý kiến.
Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, chỉ điều khiển phiên tòa.
Nếu qua tranh luận, nếu thấy có những tình tiết vụ án chưa được hỏi và chưa làm rõ thì HĐXX có thể quyết định trở lại việc xét hỏi, hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.
1.3.8. Thủ tục nghị án và tuyên án
Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án. Việc nghị án phải được tiến hành tại phòng nghị án. Khi nghị án, các thành viên HĐXX phải giải quyết theo đa số từng vấn đề Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Căn cứ để nghị án là dựa trên kết quả của hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ của thủ tục tranh tụng tại phiên tòa. Quá trình nghị án, HĐXX cần cân nhắc và dựa trên chính sách hình sự của nhà nước ta khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo là NCTN.
Khi tuyên án, HĐXX phải yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy. Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của HĐXX đọc bản án. Sau khi tuyên án xong, nếu xét thấy cần thiết thì HĐXX giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo bản án sơ thẩm.

THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TẠI
Trong thời gian 05 năm từ 2011 đến 2015, TAND hai cấp của thành phố Đà Nẵng đã thụ lý sơ thẩm vụ án hình sự tổng cộng 3.666 vụ/6.669 bị cáo, đã đưa ra xét xử được 3.403vụ/5.972 bị cáo, đạt tỷ lệ chung là 92,8 % số vụ và 89,54% số bị cáo. Trong số những vụ án đưa ra xét xử, có 235vụ/321 bị cáo là NCTN.
Mức độ tổng quan của tình hình tội phạm có bị cáo là NCTN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng bình quân tỷ lệ chênh lệch giữa số bị cáo với số vụ án có bị cáo là NCTN trong 05 năm từ 2011 đến năm 2015 là 1,35 tức là cứ 01 vụ án có 1,35 bị cáo là NCTN. Tỷ lệ này tăng giảm thất thường qua các năm.
Theo số liệu thống kê của TAND thành phố Đà Nẵng thì từ năm 2011 đến năm 2015 trên địa bàn có 05 tội danh có mức độ vi phạm cao, chiếm tỷ lệ 83,82 % số vụ và 84,73 % số bị cáo phạm tội. Đó là: Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS năm 1999), Tội cố ý gây thương tích (Điều 104 BLHS năm 1999), Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS năm 1999), Tội giết người (Điều 93 BLHS năm 1999), Tội cướp giật tài sản (Điều 136 BLHS năm 1999).
Về việc áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc các hình phạt khác đối với người chưa thành niên phạm tội tại Đà Nẵng tỷ lệ không cao.
2.2.1. Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội
Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng đã thực hiện tốt công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội. Đó là xác định đúng thẩm quyền xét xử, thời hạn xét xử, chưa có vụ án nào quá hạn và kéo dài, ra các quyết định đúng pháp luật. Trong vòng 05 năm (2011-2015) chưa có vụ án xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội bị hủy, sửa do các lỗi vi phạm thủ tục tố tụng.
Việc chuẩn bị phiên tòa xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội chưa được chú trọng: cách sắp xếp phòng xử án, thiếu cơ sở vật chất…
2.2.2. Về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa
Hầu hết các Thẩm phán đã chú trọng và quan tâm nhiều về tâm sinh lý, độ tuổi của bị cáo các câu hỏi đối với bị cáo phù hợp và dễ hiểu. Các vụ án xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội tại Đà Nẵng chưa có vụ án nào bị oan sai.
Việc áp dụng biện pháp xử lý hình sự phù hợp đối với người chưa thành niên phạm tội, xác định đúng nguyên nhân và điều kiện phạm tội, động cơ, mục đích, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo.
Chủ tọa phiên tòa hỏi chính trong suốt quá trình tố tụng, chưa đảm bảo cho các chủ thể khác tham gia xét hỏi. Luật chưa quy định cho những người tham gia tố tụng được hỏi lẫn nhau, khi họ muốn hỏi lại gặp nhiều khó khăn. Thực tiễn xét hỏi nặng về tố tụng thẩm vấn.
2.2.3. Thủ tục tranh luận tại phiên tòa
Về cơ bản, các quy định về thủ tục tranh luận tại phiên tòa là phù hợp và thực tiễn áp dụng cũng không có gì vướng mắc.
Tuy nhiên, một số điểm hạn chế, Thẩm phán thường ít quan tâm đến tranh luận giữa người bào chữa với Kiểm sát viên, quá phụ thuộc vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và đường lối xét xử; Kiểm sát viên ít tranh luận với người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác…
2.2.4. Vai trò của các bên trong tố tụng
Thứ nhất, Thẩm phán với chức năng là giám sát, kiểm tra, bảo đảm sự bình đẳng và các điều kiện khác để các bên thực hiện các quyền của mình.
Thứ hai, Hội thẩm nhân dân chưa thực hiện hết nhiệm vụ và trách nhiệm, quá phụ thuộc vào ý kiến của Thẩm phán.
Thứ ba, một số Thư ký Tòa án vẫn chưa đạt được yêu cầu.
Thứ tư, một số Kiểm sát viên còn hạn chế về năng lực; việc nghiên cứu hồ sơ, chứng cứ một số vụ án chưa đầy đủ và toàn diện,…
Thứ năm, việc bảo đảm các quyền của bị cáo là NCTN phạm tội trong suốt quá trình tố tụng: quyền được giữ bí mật thông tin cá nhân, quyền được nói lời nói sau cùng, quy định pháp luật về xét xử kín…
Ngoài ra, pháp luật Việt Nam chưa có quy định về quyền của người chưa thành niên phạm tội được tiếp cận kỹ năng làm việc thân thiện, quy định về người bào chữa cho bị cáo chưa đầy đủ, số lượng Luật sư còn thiếu, hạn chế về trình độ nghiệp vụ…
2.2.5. Việc ra bản án, quyết định của Tòa án
Thứ nhất, HĐXX chưa đảm bảo được nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội: nặng về trừng trị mà chưa chú ý nhiều đến giáo dục.
Thứ hai, không hiểu đúng quy định tại Điều 47 BLHS năm 1999.
Thứ ba, việc áp dụng biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng Thẩm phán còn lúng túng và áp dụng chưa đúng quy định pháp luật.
Thứ tư, quyết định hình phạt trong trường hợp NCTN chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chưa có quy định cụ thể.
Thứ năm, áp dụng quy định của pháp luật về miễn TNHS và án treo.
Thứ sáu, về bồi thường thiệt hại và trách nhiệm bồi thường.
Thứ nhất, hoạt động giải thích pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa kịp thời, thường xuyên, liên tục.
Thứ hai, do đời sống thực tế đa dạng và biến đổi không ngừng, nhiều quy định của pháp luật về NCTN phạm tội khi áp dụng vào thực tiễn không phù hợp.
Thứ ba, năng lực, kỹ năng xây dựng pháp luật của một số chủ thể có thẩm quyền về NCTN phạm tội chưa cao.
Thứ tư, hệ thống cơ quan bảo vệ và chăm sóc trẻ em chưa đáp ứng được nhu cầu vấn đề đặt ra với NCTN và NCTNPT.
Thứ năm, năng lực, trình độ của HĐXX chưa thực chất. Hội thẩm nhân dân chưa thực hiện hết vai trò, trách nhiệm của mình khi tham gia xét xử… Kế hoạch tổ chức hoạt động xét xử, tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử của các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện chưa cao.
Thứ sáu, chưa giải quyết nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
Thứ bảy, pháp luật hình sự quy định đối với NCTN phạm tội còn nặng về giam giữ, (hình phạt giam giữ chiếm 80,4%, hình phạt không giam giữ chiếm 19,6%).
Thứ tám, do năng lực, trình độ, bản lĩnh, đạo đức nghề nghiệp của những người tiến hành tố tụng
Hầu hết, các Thẩm phán chưa được đào tạo hoặc bồi dưỡng về các kỹ năng xét xử bị cáo là NCTN. Tòa án nhân dân hai cấp của thành phố Đà Nẵng chưa có đội ngũ cán bộ chuyên trách trong công tác xét xử sơ thẩm các vụ án liên quan đến NCTN phạm tội nên thực tiễn xét xử người chưa thành niên phạm tội chưa đảm bảo hiệu quả.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. Giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật
– Cần bổ sung quy định về thành phần HĐXX sơ thẩm “phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là người đương nhiệm tại thời điểm xét xử hoặc là thành viên của Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em”.
– Điều 101 BLHS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung như sau:
1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu khung hình phạt hoặc điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà khung hình phạt hoặc điều luật quy định;
2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu khung hình phạt hoặc điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà khung hình phạt hoặc điều luật quy định.”
– Cần có một điều luật riêng quy định cụ thể NCTN chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt. Nội dung như sau:
“Điều… Quyết định hình phạt trong trường hợp NCTN chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thì quyết định hình phạt theo quy định sau đây:
1. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều khoản được áp dụng có quy định về hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 06 năm tù; nếu điều khoản được áp dụng là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần tư mức cao nhất của khung hình phạt.
2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt, nếu điều khoản được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 10 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì bị áp dụng mức hình phạt không quá một phần ba mức cao nhất của khung hình phạt.
3. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt, nếu điều khoản được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì bị áp dụng mức hình phạt cao nhất không quá 15 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì bị áp dụng mức hình phạt không quá một phần hai mức cao nhất của khung hình phạt”.
– Cần phải bổ sung thêm vào Điều 103 BLHS năm 2015 như sau: “Đối với người phạm nhiều tội, nếu tất cả các tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 74 của Bộ luật này”.
– Hoàn thiện quy định pháp luật về hình phạt cải tạo không giam giữ; xét hỏi tại phiên tòa; tranh tụng tại phiên toà; bổ sung nguyên tắc suy đoán vô tội; cần động viên đội ngũ Luật sư thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp …
– Về trình tự phát biểu khi tranh luận của đại diện gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức, cần ghi rõ: “2. Bị cáo trình bày lời bào chữa; người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo; bị cáo; đại diện của gia đình, đại diện của nhà trường, tổ chức cho bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa”.
– Quy định rõ ai là người đại diện gia đình, người đại diện theo pháp luật từ trên xuống dưới, quy định rõ tư cách tham gia tố tụng quyền và nghĩa vụ của thầy cô giáo, đại diện nhà trường, Đoàn thanh niên, tổ chức khác…; bổ sung thêm các biện pháp tư pháp đối với NCTNPT; các hình phạt không tước tự do đối với NCTN phạm tội như: lao động bắt buộc…; quy định về thời hiệu truy cứu TNHS và thời hiệu thi hành bản án đối với NCTN phạm tội chỉ bằng một nửa so với người đã thành niên phạm tội; quy định mở rộng án treo.
– Khoản 2 Điều 423 BLTTHS năm 2015 sửa đổi thành: “Trong mọi trường hợp không xét xử công khai, không xét xử lưu động các vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên. Không được tiết lộ thông tin cá nhân có thể ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của bị can, bị cáo là NCTN, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cho phép”.
– Cần bổ sung và mở rộng các quy định pháp luật liên quan đến người chưa thành niên phạm tội: mở rộng chương XII của BLHS năm 2015 và Chương XVIII của BLTTHS năm 2015.
3.2.1. Nâng cao năng lực xét xử của đội ngũ Thẩm phán
Tăng cường tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán chuyên xét xử các vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Kiện toàn đội ngũ Thẩm phán, xây dựng người Thẩm phán có đủ trình độ, kỹ năng và tinh thần, trách nhiệm, đảm bảo tính độc lập, chuyên nghiệp… trong quá trình xét xử như đổi mới thủ tục xét hỏi và tranh tụng.
3.2.2. Nâng cao năng lực xét xử của Hội thẩm nhân dân
Thứ nhất, đề cao tiêu chuẩn lựa chọn Hội thẩm nhân dân có hiểu biết về pháp luật, có kiến thức xã hội phong phú.
Thứ hai, nâng cao trình độ pháp lý của Hội thẩm.
Thứ ba, tăng cường quản lý, đánh giá kết quả hoạt động của Hội thẩm.
Thứ tư, nâng cao nhận thức pháp luật, kỹ năng xét xử của Hội thẩm.
Thứ năm, đề cao vai trò, chức năng của Hội thẩm.
Thứ sáu, quan tâm hơn về chế độ đãi ngộ đối với Hội thẩm.
3.3. Kiện toàn bộ máy
Tác giả có một số đề xuất sau đây để mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên đưa vào hoạt động có hiệu quả:
Thứ nhất, về tổ chức và thẩm quyền: Tòa gia đình và người chưa thành niên một tòa chuyên trách nằm trong hệ thống Tòa án.
Thứ hai, về hạ tầng và phương tiện hỗ trợ: Cần cung cấp trụ sở và phương tiện hỗ trợ.
Thứ ba, cải thiện các thiết chế liên quan.
3.4. Các giải pháp khác
– Những biện pháp về tổ chức quản lý xã hội nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự đối với NCTN phạm tội: Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về luật hình sự; tổng kết thi hành BLHS, BLTTHS để sửa đổi, bổ sung kịp thời những nội dung còn hạn chế, bất cập trong quá trình xét xử sơ thẩm do NCTN thực hiện, đảm bảo đường lối xử lý đối với NCTN được thống nhất.
– Nâng cao năng lực trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức soạn thảo các quy phạm pháp luật hình sự về xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội.
KẾT LUẬN
Ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi tội phạm ra khỏi đời sống xã hội là mục tiêu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Tuy nhiên, tình hình tội phạm về NCTN trên cả nước nói chung thành phố Đà Nẵng nói riêng trong thời gian qua diễn biến khá phức tạp, tăng giảm không ổn định và có chiều hướng gia tăng, với tính chất ngày càng tinh vi và tính nguy hiểm ngày càng cao.
Giáo dục và ngăn chặn NCTN vi phạm pháp luật là nhiệm vụ hàng đầu trong chính sách phát triển của mỗi quốc gia. Trong những năm qua, việc giải quyết tình hình NCTN vi phạm pháp luật đặc biệt là công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện đã được triển khai ở nhiều địa phương trong đó có thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên tình hình tội phạm do NCTN thực hiện vẫn còn đáng báo động, nhất là sự sa sút đạo đức, lối sống, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng. Do vậy, công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm vị thành niên cần tiếp tục được đẩy mạnh. Đảng và Nhà nước ta cần phải có trách nhiệm và tăng cường xây dựng các chính sách pháp luật trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người NCTN, đặc biệt là NCTN phạm tội.
Trước tình hình này, bản thân tôi xét thấy cần thiết có sự nghiên cứu một cách toàn diện về xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội, từ việc phân tích các quy định của pháp luật hình sự liên quan, sau đó tìm ra những sai sót, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự về xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội để từ đó có những giải pháp để nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ luật học: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của người chưa thành niên phạm tội từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.
Luận văn đã nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự liên quan đến xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội, thực tiễn công tác xét xử NCTN phạm tội, diễn biến, cơ cấu của tình hình tội phạm ở thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015, đánh giá những tồn tại, vướng mắc, tìm ra nguyên nhân của những sai sót trong xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội thời gian qua, từ đó có những đề xuất đưa ra các giải pháp khắc phục trong thời gian tới. Những giải pháp này nếu được tiến hành đồng bộ và có chiều sâu, có trách nhiệm sẽ mang lại hiệu quả tích cực trong nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội, góp phần bảo đảm quyền của NCTN phạm tội tối ưu.
Trong quá trình thực hiện đề tài, vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, thiếu sót là điều không thể tránh khỏi, mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến chân thành từ phía các nhà khoa học để luận văn được hoàn thiện tốt hơn. Xin chân thành cảm ơn!
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HINH SU\TRAN THI TUYET NHUNG\SAU BAO VE


