Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

  1. 1. Tính cấp thiết của đề tài

Quyết định hình phạt là hoạt động rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, có vai trò quyết định sự đúng đắn, chính xác của bản án hình sự. Nếu như hoạt động định tội danh nhằm làm rõ ai có tội hay không có tội thì quyết định hình phạt chỉ ra mức độ tính chất nguy hiểm như phạm tội, từ đó có những biện pháp và hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm mà phạm tội gây ra nhằm giáo dục, răn đe giúp người phạm tội cải tạo trở về với cộng đồng.

Phạm nhiều tội là một chế định rất phức tạp trong chế định nhiều tội phạm. Hiện nay, trong BLHS 1999 chưa có quy định riêng về khái niệm phạm nhiều tội mà chỉ được nhắc đến trong quy định tại Điều 50 BLHS: “Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội”. Mặt khác, về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng quy định này còn tồn tại những quan điểm khác nhau về các yếu tố định tội danh, căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội.

BLHS lần đầu tiên của nước ta, thông qua ngày 27/06/1985 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1986. Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự để phục vụ kịp thời công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng giai đoạn cụ thể. Nhà nước ta đã 4 lần sửa đổi, bổ sung bộ luật này. Đến ngày 21/12/1999, Quốc hội nước ta đã thông qua BLHS mới thay thế BLHS năm 1985. Muốn định tội danh và quyết định hình phạt đúng và chính xác trong từng giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải xác định đầy đủ chính xác các tình tiết khách quan của vụ án, nhận thức, áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự. Qua thực tế giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cho thấy việc định tội danh và quyết định hình phạt thường gặp khó khăn và có nhiều sai sót. Trong đó có quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

Thực tiễn xét xử của các Tòa án ở nước ta hiện nay cho thấy còn có những thiếu sót, hạn chế nhất định nhất là trong hoạt động quyết định hình phạt trong nhiều trường hợp định tội danh sai hoặc bỏ lọt tội phạm dẫn đến việc quyết định hình phạt không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội (quá nặng hoặc quá nhẹ) hoặc oan sai, trong đó số vụ án bị áp dụng hình phạt không chính xác trong trường hợp đặc biệt (nhiều tội phạm, trong đó có phạm nhiều tội) chiếm tỷ lệ cao hơn so với quyết định hình phạt trong trường hợp thông thường.

Trước sự đòi hỏi mới của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, việc nghiên cứu về chế định phạm nhiều tội trong luật hình sự Việt Nam hiện nay có ý nghĩa quan trọng không những về mặt lý luận mà còn là đòi hỏi của thực tiễn áp dụng nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện chế định này trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Chính vì vậy việc nghiên cứu Đề tài “Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, thực tiễn áp dụng quy định các quy định này, từ đó đề xuất ý kiến hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự và một số giải pháp khác góp phần nâng cao chất lượng quyết định hình phạt trong thực tiễn.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:

– Làm rõ những vấn đề chung về phạm nhiều tội, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội;

– Phân tích các quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội;

– Đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội ở Đà Nẵng.

– Đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu đề tài dưới góc độ Luật hình sự, chủ yếu dựa trên cơ sở của BLHS năm 1999, có cập nhật BLHS năm 2015 và khái quát quy định của pháp luật hình sự trước 1999. Đồng thời Luận văn nghiên cứu thực tiễn quyết định hình phạt của các Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ 2011 đến năm 2015.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách hình sự; quan điểm, đường lối xử lý tội phạm;

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp, khảo sát thực tiễn dựa trên những bản án, quyết định, báo cáo tổng kết của Tòa án các cấp. Đồng thời, Học viên cũng sử dụng phương pháp so sánh pháp luật để tham khảo trong việc đưa ra các kiến nghị khoa học của mình.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Việc nghiên cứu thành công Đề tài có ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn quan trọng. Luận văn góp tiếng nói khoa học vào lý luận về chế định nhiều tội phạm, về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo cũng như áp dụng pháp luật hình sự về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Là tài liệu tham khảo cho hoạt động lập pháp hình sự các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án trong việc quyết định hình phạt, giải quyết vụ án hình sự được đúng đắn.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội ở thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP

PHẠM NHIỀU TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

    1. 1.1. Phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam
      1. 1.1.1. Khái niệm phạm nhiều tội

Bộ luật hình sự Việt Nam quy định về tội phạm và trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Tội phạm quy định trong BLHS Việt Nam là tội phạm riêng lẻ và các tội phạm được thực hiện có thể mang tính chất độc lập hoặc liên quan đến nhau. Thực tế cho thấy rằng, trường hợp phạm nhiều tội xảy ra rất nhiều trên thực tế với tính chất và mức độ nguy hiểm cao hơn rất nhiều so với trường hợp phạm tội đơn lẻ. Do sự khác nhau về tính chất mức độ nguy hiểm dẫn đến sự khác nhau về trách nhiệm hình sự giữa trường hợp phạm nhiều tội và phạm tội đơn lẻ mà không đơn thuần chỉ là phép cộng hình phạt thông thường.

Qua nghiên cứu và thực tiễn đã có tổng kết về khái niệm phạm nhiều tội, “phạm nhiều tội” gồm hai khái niệm “phạm tội” và “nhiều”. Trong đó phạm tội là hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm được mô tả trong các quy định của BLHS, nhiều được hiểu là từ hai trở lên.

Từ những phân tích trên, có thể nêu lên khái niệm về phạm nhiều tội một cách đầy đủ nhất là: Trường hợp một chủ thể phạm từ hai tội trở lên hoặc khi hành vi của người phạm tội có dấu hiệu của từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại các điều luật khác nhau (hoặc các khoản các khác nhau của cùng một điều luật nếu các đối tượng của tội phạm khác nhau) được quy định trong phần các tội phạm của BLHS và người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong số tội ấy.

1.1.2. Đặc điểm của phạm nhiều tội

– Đặc điểm thứ nhất: Về số lượng, người phạm tội có thể thực hiện một hay nhiều hành vi phạm tội.

– Đặc điểm thứ hai: Các tội phạm đó phải được quy định trong các điều luật khác nhau của BLHS.

– Đặc điểm thứ ba: Các tội phạm đó còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và được đưa ra xét xử cùng một lần.

Từ những đặc điểm trên, ta có thể nhận thấy tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội trong trường hợp phạm nhiều tội. Nên cần phải xác định chính xác được người phạm tội có phạm nhiều tội hay không để áp dụng đúng các quy định của pháp luật một cách phù hợp.

    1. 1.2. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
      1. 1.2.1. Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo nghĩa hẹp là việc “Tòa án lựa chọn ra hình phạt cụ thể bao gồm hình phạt chính và có thể có cả hình phạt bổ sung tùy mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm nhiều tội”. Hay nói cách khác, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo nghĩa hẹp là quyết định hình phạt chính và quyết định hình phạt bổ sung. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo nghĩa rộng bao gồm: Quyết định hình phạt chính, quyết định hình phạt bổ sung, quyết định biện pháp chấp hành hình phạt, quyết định các biện pháp tư pháp với mục đích thay thế hoặc hỗ trợ cho hình phạt. Một số tác giả còn cho rằng, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội có thể được hiểu theo nghĩa rộng hơn nữa là quyết định biện pháp xử lý đối với người phạm nhiều tội.

Từ những sự phân tích trên, khái niệm quyết định hình phạt cần được hiểu toàn diện như sau: “Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là quyết định hình phạt trong trường hợp bị cáo đã phạm từ hai tội trở lên mà các tội được đưa ra xét xử cùng một lần. Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội trong trường hợp này, Tòa án quyết định hình phạt cho từng tội, sau đó Tòa án tổng hợp hình phạt chung theo quy định của BLHS”.

      1. 1.2.2. Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội (Điều 69)

Người chưa thành niên là một chủ thể đặc biệt, vì vậy việc quyết định hình phạt nói chung và tổng hợp hình phạt nói riêng đối với người chưa thành niên cũng là một trường hợp đặc biệt. Tính chất đặc biệt ở chỗ ngoài việc phải tuân thủ các quy định chung khi quyết định hình phạt hay tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Tòa án còn phải căn cứ vào các quy định trong chương X Bộ Luật Hình Sự. Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án phải tuân thủ nguyên tắc được quy định tại điều 69 BLHS.

Đối với trường hợp người chưa thành niên phạm tội, việc tổng hợp hình phạt được quy định tại điều 75 Bộ Luật Hình Sự.

      1. 1.2.3. Nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội phải tuân theo nguyên tắc chung và các nguyên tắc đặc thù của quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

Việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội phải tuân theo một trình tự nhất định, các hình phạt đối với từng tội danh phải được xác định riêng rồi sau đó mới được tổng hợp lại với nhau thành một hình phạt chung.

Khi thực hiện việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, việc tổng hợp hình phạt phải dựa vào quy định của Điều 50 BLHS. Trong mỗi trường hợp, mỗi loại hình phạt đều có những các tổng hợp khác nhau dựa trên các nguyên tắc của pháp luật Việt Nam.

Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án. Quyết định một hình phạt đúng pháp luật, công bằng, hợp lý là tiền đề, điều kiện cho việc đạt được các mục đích của hình phạt. Để đạt được điều đó, khi áp dụng các chế tài luật hình sự Tòa án phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc đó được gọi là nguyên tắc quyết định hình phạt.

Khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, Tòa án phải có các nguyên tắc chung và các nguyên tắc đặc thù. Trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ phân tích các nguyên tắc đặc thù của quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

1.2.3.1. Nguyên tắc thu hút hình phạt

Theo nguyên tắc thu hút, hình phạt chung là hình phạt nặng nhất trong các hình phạt đã tuyên. Nguyên tắc này được áp dụng trong hai trường hợp.

– Trường hợp thứ nhất là trường hợp không thể cộng được vì một hình phạt là loại hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình phạt hoặc đã ở mức cao nhất;

– Trường hợp thứ hai là trường hợp có thể cộng được nhưng không cộng vì các hình phạt khác so với hình phạt nặng nhất là không đáng kể hoặc tính chất và mức độ nguy hiểm của tội nhẹ so với tội nặng nhất là không đáng kể.

1.2.3.2. Nguyên tắc cộng toàn bộ hình phạt

Theo nguyên tắc cộng toàn bộ, hình phạt chung bằng tổng các hình phạt đã tuyên. Điều kiện cho phép áp dụng nguyên tắc này là các hình phạt đã tuyên phải cùng loại (hoặc có thể quy về cùng loại), đơn vị tính của hình phạt cho phép cộng được và kết quả cộng không được vượt mức tối đa cho phép.

1.2.3.3. Nguyên tắc cộng một phần hình phạt

Theo nguyên tắc cộng một phần, hình phạt chung bằng hình phạt cao nhất cộng với một phần của hình phạt còn lại. Nguyên tắc này được áp dụng trong hai trường hợp.

– Trường hợp thứ nhất là trường hợp không thể cộng được toàn bộ vì mới cộng một phần đã đạt mức tối đa cho phép.

– Trường hợp thứ hai là trường hợp xét thấy không cần thiết phải cộng toàn bộ mặc dù có thể cộng được toàn bộ.

1.2.3.4. Nguyên tắc cùng tồn tại

Theo nguyên tắc cùng tồn tại, các hình phạt khác loại nhau như hình phạt tù giam và phạt tiền, trục xuất… đều cùng đồng thời được áp dụng đối với người phạm tội.

Các nguyên tắc trên thể hiện rõ nét tổng hợp hình phạt tuân thủ các nguyên tắc, căn cứ chung của quyết định hình phạt như phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội đã thực hiện, nguyên tắc cá thể hoá hình phạt, nguyên tắc nhân đạo, công bằng trong quyết định hình phạt…

    1. 1.3. Khái quát pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
      1. 1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 cho đến trước khi có Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985

Trong giai đoạn này nhìn chung quy định quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội chưa được quy định trong các văn bản pháp luật mà mới chỉ được đề cập đến trong các bản báo cáo tổng kết công tác của ngành Tòa án và các công văn của TANDTC hướng dẫn các Tòa án địa phương việc xét xử.

      1. 1.3.2. Giai đoạn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985

Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời đánh dấu bước ngoặt phát triển của lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, cũng do đây là BLHS đầu tiên nên xét về mặt kỹ thuật lập pháp còn có nhiều hạn chế trong đó có những hạn chế khi quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

Tóm lại, trong BLHS Việt Nam năm 1985 quy định quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đã được quy định chi tiết hơn giai đoạn trước khi có Bộ luật nhưng các quy định đó cũng chưa được hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp. Mặt khác, có một số quy định đã được sửa đổi nhưng không kế thừa được những quy định hợp lý của giai đoạn trước do vậy đã dẫn đến nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng. Đây cũng là một nguyên nhân đòi hỏi sự bổ sung cần thiết trong BLHS mới – BLHS năm 1999.

Bước vào thập niên 90, hoàn cảnh kinh tế – xã hội nước ta có nhiều thay đổi lớn. Sự thay đổi đó khiến cho BLHS năm 1985 bộc lộ nhiều hạn chế cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp. BLHS Việt Nam năm1999 ra đời thay thế cho BLHS 1985 là một tất yếu khách quan. BLHS năm 1999 đã có nhiều quy định thể hiện sự thay đổi về chính sách hình sự của Nhà nước ta và cũng thể hiện được sự tiến bộ về mặt kỹ thuật lập pháp. Quy định quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội cũng có những thay đổi. Được quy định cụ thể hơn các giai đoạn trước đó, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, những quy định đó cũng chưa thật hoàn thiện nên thực tiễn áp dụng còn gặp phải những vướng mắc đòi hỏi có sự sửa đổi bổ sung cho phù hợp hơn.

    1. 1.4. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự của một số nước

Qua nghiên cứu Bộ luật hình sự của một số nước cho thấy nguyên tắc thu hút và nguyên tắc cộng hình phạt được sử dụng khá phổ biến, nhất là hai nguyên tắc cộng hình phạt, mỗi nước sử dụng những nguyên tắc riêng và áp dụng trong mỗi trường hợp cụ thể khác nhau để tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, tuỳ theo điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội… mà mỗi nước pháp luật lại quy định theo một cách riêng.

Như vậy, nhìn chung pháp luật hình sự nước ngoài đều quy định các nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội mà pháp luật hình sự Việt Nam đã từng quy định và áp dụng. Đó là thu hút toàn bộ, cộng một phần, cộng toàn bộ hình phạt của các tội hoặc không tổng hợp mà đồng thời được chấp hành. Các nguyên tắc đó mang tính nhân đạo sâu sắc, thể hiện nguyên tắc cá thể hoá hình phạt và đáp ứng mục đích giáo dục, phòng ngừa của hình phạt. Theo chúng tôi, kinh nghiệm đó của các nước cần được tham khảo trong hoàn thiện pháp luật hình sự nước ta.

Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM NHIỀU TỘI

Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Đánh giá chung về tình hình phạm nhiều tội trên địa bàn Đà Nẵng

Thực hiện chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm, hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trên cơ sở pháp luật đã được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất. Chất lượng định tội danh và quyết định hình phạt của các cơ quan tiến hành tố tụng trong những năm gần đây đã được nâng lên.

Quá trình định tội danh trong thực tế về phạm nhiều tội có nhiều loại hành vi khác nhau, khi định tội danh các cơ quan tiến hành tố tụng đã phân biệt các hành vi đặc trưng trong phạm nhiều tội như:

– Các loại hành vi khác nhau cấu thành các tội khác nhau;

– Một hành vi phạm tội cấu thành các tội khác nhau;

– Hành vi phạm tội cấu thành một tội phạm và thủ đoạn của hành vi phạm tội đó cấu thành thêm một tội phạm khác.

Có thể nói rằng trong những năm gần đây hiện tượng phạm nhiều tội là một biến động mạnh mẽ và theo xu hướng tăng lên rõ rệt. Nếu như trước đây, người phạm tội ở mức độ ít nghiêm trọng, thì hiện nay mức độ nguy hiểm cao hơn, thủ đoạn phạm tội tinh vi, xảo quyệt, hành động liều lĩnh hơn, tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng xuất hiện ngày càng nhiều, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn và nguy hiểm cho xã hội lớn hơn.

Bảng 2.2. Thống kê số vụ án phạm nhiều tội phổ biến trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (2011- 2015)

Tội danhNhóm Điều luậtSố liệu

xét xử 5 năm

Số bị cáo phạm nhiều tộiTỷ lệ phạm nhiều tội (%)
Giết người + Cướp tài sản93 + 133972121.6
Giết người + Gây rối trật tự công cộng93+254852327.0
Cướp tài sản + Cưỡng đoạt tài sản133+1354965611.2
Trộm cắp tài sản + Lừa đảo chiếm đoạt tài sản138+1393397916.5
Cướp giật tài sản + Cố ý gây thương tích136+1046298613.6
Tàng trữ, vận chuyển, mua bán ma túy + Giết người194+934136716.2
Đánh bạc + Tổ chức đánh bạc248+2492786322.6
Đánh bạc + Trộm cắp tài sản138+2483698222.2

(Nguồn: Văn Phòng Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng )

Qua nghiên cứu bảng 2.2, tình hình tội phạm trong các năm và số án phạm nhiều tội biến đổi tăng giảm theo từng năm.

Trong quá trình giải quyết, xét xử án hình sự nói chung và các vụ án phạm nhiều tội nói riêng, Tòa án nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã tuân thủ các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn luật…, đưa các vụ án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng ra xét xử.

    1. 2.2. Kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Trong thời gian qua, việc áp dụng pháp luật để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã được cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nghiêm chỉnh, đúng quy định của pháp luật. Đối với những vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử nhiều tội, khi quyết định hình phạt Tòa án đã áp dụng Điều 50 BLHS để quyết định hình phạt chính, cũng như quyết định hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Nhìn chung hầu hết các vụ án được định tội danh và quyết định hình phạt chính xác.

    1. 2.3. Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và nguyên nhân
      1. 2.3.1. Những bất cập, hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm đã đạt được thì quá trình giải quyết, xét xử án hình sự không thể tránh khỏi một số thiếu sót trong cả quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, trong đó có quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Nhận xét về quyết định hình phạt của Tòa án cả nước trong những năm gần đây, Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ ra nguyên nhân của việc quyết định hình phạt còn chưa đúng: “Việc quyết định hình phạt có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu là không thực hiện đúng các quy định tại Điều 45 BLHS 1999” nghĩa là thực hiện không đúng các căn cứ quyết định hình phạt.

Đối với việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội còn gặp những bất cập, vướng mắc sau đây:

– Liên quan đến việc quyết định hình phạt đối với các tội ghép quy định tại các Điều như 274, 275, 194, 195, thực tiễn xét xử có khó khăn trong trường hợp bị cáo thực hiện hai hành vi được quy định thì định một tội để quyết định hình phạt hay định thành nhiều tội rồi tổng hợp hình phạt?

– Liên quan đến người chưa thành niên phạm nhiều tội, thực tiễn xét xử án hình sự đã có một số vướng mắc như: Vụ án đối với người chưa thành niên phạm tội, khi xét xử có bị cáo phạm nhiều tội, có tội thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi.

      1. 2.3.2. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế

2.3.2.1. Những nguyên nhân trong quy định pháp luật và nhận thức pháp luật

– Quy định của BLHS về tổng hợp hình phạt cũng còn thiếu tính hệ thống, tính thống nhất.

– Trong thực tiễn, việc tổng hợp hình phạt bổ sung cũng còn có nhận thức chưa chính xác.

– Việc quy định các tội phạm kép trong BLHS cũng làm cho việc nhận thức và áp dụng việc định tội danh cũng như quyết định hình phạt gặp khó khăn; nhất là khó phân biệt trong trường hợp nào thì định danh kép và quyết định một hình phạt, trong trường hợp nào thì định các tội danh độc lập và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

2.3.2.2. Nguyên nhân về tố tụng và công tác tổ chức xét xử

– Số lượng các loại vụ án và đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm mà hệ thống Tòa án nhân dân phải thụ lý giải quyết trong thời gian qua là rất lớn, áp lực công việc ngày càng tăng, trong khi đó số lượng cán bộ, Thẩm phán của một số Tòa án chưa đủ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

– Một số quy định liên quan đến công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án có sửa đổi, bổ sung. Theo quy định của pháp luật tố tụng thì Hội đồng giám đốc thẩm không còn thẩm quyền sửa các bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới; Do đó, khi phát hiện có sai lầm nghiêm trọng thì chỉ có thẩm quyền hủy các bản án, quyết định đó để giải quyết lại vụ án, nên tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy nhiều hơn.

2.3.2.3. Các nguyên nhân về con người

– Chế độ chính sách đối với cán bộ Tòa án nhân dân còn nhiều khó khăn, chưa giúp cho Tòa án có thể tuyển dụng cán bộ có trình độ, năng lực vào công tác trong ngành, đặc biệt là những nơi vùng sâu, vùng xa thiếu nguồn tuyển dụng cán bộ, thời gian gần đây cũng đã xuất hiện một số trường hợp cán bộ Tòa án xin nghỉ việc hoặc chuyển công tác vì thu nhập quá thấp và áp lực công việc nặng nề.

– Năng lực chuyên môn của người định tội danh và quyết định hình phạt còn hạn chế. Tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ, công chức Tòa án, kể cả một số lãnh đạo Tòa án nhân dân địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay, dẫn tới hiệu quả công tác xét xử về chuyên môn của đơn vị chưa cao.

– Việc tổ chức công tác xét xử, quản lý điều hành các công tác khác ở một số Tòa án chưa hợp lý. Công tác đào tạo lại, bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân vẫn còn hạn chế, hiệu quả chưa cao.

– Đạo đức nghề nghiệp của một số Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân chưa tốt. Nếu như năng lực chuyên môn là điều kiện cần thì đạo đức nghề nghiệp là điều kiện đủ để tạo nền tảng giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn.

Tuy nhiên, hiện nay cũng có một số cán bộ, công chức khi giải quyết vụ án đã mang tình cảm cá nhân vào công việc, chỉ vì lợi ích các nhân mà làm sai lệch phần nào vụ án; Cũng có trường hợp không quyết đoán tìm ra sự thực cho đến cùng mà bàng quan, thiếu trách nhiệm. Dẫn đến vụ án bị oan sai, xử không đúng người đúng tội, gây mất lòng tin ở nhân dân.

Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM NHIỀU TỘI

    1. 3.1. Hoàn thiện bộ luật hình sự quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và nâng cao chất lượng áp dụng

Việc hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật hình sự nói chung, chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội nói riêng xuất phát từ các yêu cầu khác nhau.

– Một là, hoàn thiện BLHS và nâng cao chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền con người theo tinh thần Hiến pháp 2013 của nước ta.

– Hai là, yêu cầu cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả của hoạt động tư pháp hình sự.

– Ba là, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới.

– Bốn là, yêu cầu khắc phục những yếu kém của việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm nhiều tội.

    1. 3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
      1. 3.2.1. Hoàn thiện Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

– Đưa khái niệm phạm nhiều tội vào quy định trong Bộ luật hình sự.

– Hoàn thiện Điều 50 Bộ luật hình sự

– Hoàn thiện quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội

      1. 3.2.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

3.2.2.1. Giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ

Xây dựng các yêu cầu chung đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp để tăng cường trách nhiệm nghề nghiệp của họ.

Tăng cường hơn nữa trách nhiệm và sự quan tâm của Nhà nước và xã hội đối với những người làm công tác đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.

Nâng cao phẩm chất nghề nghiệp, năng lực công tác và trình độ chuyên môn của Thẩm phán với tư cách là người bảo vệ công lý.

Đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức chỉ đạo, điều hành và thủ tục hành chính – tư pháp trong các Tòa án theo hướng nhanh, gọn, hiệu quả, thuận lợi cho công dân; …

Kiện toàn về tổ chức, tăng cường hơn nữa công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án trong sạch, vững mạnh.

Tăng cường việc đào tạo, đào tạo lại hoặc bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, Thẩm phán và Hội thẩm.

Làm tốt hơn nữa công tác tổng kết thực tiễn xét xử và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong công tác xét xử.

3.2.2.2. Giải pháp về tổ chức cán bộ

Tăng cường hơn nữa công tác xây dựng ngành, đảm bảo đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án trong sạch, vững mạnh, có ý thức tổ chức kỷ luật, có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng.

Tiếp tục đổi mới cơ chế thi tuyển chọn, giới thiệu người để bổ nhiệm Thẩm phán theo hướng mở rộng nguồn bổ nhiệm thẩm phán đối với những người là Hội thẩm nhân dân, cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật và các đối tượng khác nếu họ đáp ứng đủ tiêu chuẩn để bổ nhiệm Thẩm phán.

Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức; Phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ Đảng địa phương trong công tác quản lý cán bộ; Khen thưởng kịp thời, xứng đáng các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích trong công tác; Xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi lợi dụng nghề nghiệp, chức vụ, quyền hạn để tham nhũng, lãng phí.

Các đơn vị trong hệ thống Tòa án cần khẩn trương xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quản lý và sử dụng tài sản công của các đơn vị theo đúng hướng dẫn của Chính phủ.

Coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua trong toàn hệ thống Tòa án nhân dân.

3.2.2.3. Một số giải pháp khác

Một là, giải pháp về xây dựng hệ thống thu thập số liệu, thống kê theo dõi việc xử lý các vụ việc có liên quan đến trường hợp phạm nhiều tội.

Hai là, khẩn trương tuyển dụng và tuyển chọn đủ biên chế cán bộ, Thẩm phán Tòa án các cấp.

Ba là, đảm bảo thực hiện đầy đủ các chế độ về tiền lương, chế độ phụ cấp và ban hành các chính sách ưu đãi khác đối với Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án cho phù hợp với đặc thù công tác của ngành.

Bốn là, đảm bảo sự phối hợp trong hoạt động của hệ thống Tòa án và hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật nhằm mục đích tăng cường hiệu quả của hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt bằng việc điều chỉnh mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn của hệ thống các cơ quan này.

KẾT LUẬN

Quyết định hình phạt là hoạt động tư duy của Hội đồng xét xử, cụ thể là hoạt động tư duy của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngay sau khi xác định được tội danh đối với hành vi phạm tội của người bị kết án. Nếu định tội danh là tiền đề, là cơ sở cho việc QĐHP thì QĐHP là kết quả cuối cùng của hoạt động xét xử. QĐHP chính xác, đúng pháp luật và công bằng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Do vậy, ngoài việc định tội chính xác, Tòa án còn phải tuân theo những nguyên tắc, căn cứ về QĐHP được quy định trong BLHS và tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của từng địa phương nơi xảy ra tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.

Có thể nói, chế định đa (nhiều) tội phạm trong đó có phạm nhiều tội đã trở thành một xu hướng chung của tình hình tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và phạm nhiều tội nói riêng trong giai đoạn hiện nay là vấn đề phức tạp và khó khăn là trách nhiệm của toàn thể xã hội, đặc biệt là đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm trong các cơ quan bảo vệ pháp luật. Để phục vụ sự nghiệp này cần nhất vẫn là một hành lang pháp lý vững chắc để áp dụng pháp luật một cách có hiệu quả nhất. Vấn đề này đã được đề cập tại Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao, BLHS năm 1985, năm 1999, các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và các báo cáo Tổng kết công tác Tòa án hàng năm v.v… Tuy nhiên, Bộ luật hình sự hiện hành đến nay vẫn chưa ghi nhận định nghĩa pháp lý của chế định này trong BLHS. Vì vậy, quá trình thực hiện định tội danh và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội gặp khó khăn, lúng túng nên vấn đề chế định phạm nhiều tội cần được nghiên cứu một cách có hệ thống, đúng mức và cụ thể hơn trong thời gian sắp tới.

Chế định đa (nhiều) tội phạm trong đó có phạm nhiều tội là một vấn đề phức tạp và còn nhiều tranh luận về mặt lý luận cũng như thực tiễn của Luật hình sự. Việc nhận thức đúng đắn bản chất pháp lý và các quy định về định tội danh, quyết định hình phạt đối với chế định phạm nhiều tội và thực tiễn áp dụng là vấn đề rất cần thiết. Mặc dù ở mỗi địa phương có những đặc điểm tình hình tội phạm khác nhau, đối với những vướng mắc chưa có hướng dẫn thì đường lối giải quyết tại mỗi địa phương khác nhau và không thống nhất, nhưng trong cùng một hệ thống pháp luật không cho phép như vậy. Do đó, đặt ra vấn đề làm sao để có hướng dẫn, giải thích, áp dụng pháp luật đầy đủ, thống nhất đối với vướng mắc phát sinh từ qua trình thực tiễn áp dụng pháp luật. Chính những hạn chế nêu trên của BLHS hiện hành về chế độ phạm nhiều tội gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ cơ bản của khoa học Luật Hình sự Việt Nam trong giai đoạn hiện nay để từ đó xây dựng BLHS nước ta hoàn thiện hơn trong đó có chế định phạm nhiều tội.

Thực tiễn áp dụng pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội cho thấy, bên cạnh những ưu điểm đã đạt được thì quá trình giải quyết, xét xử vụ án hình sự không thể tránh khỏi một số thiếu sót về đánh giá chứng cứ, hoặc thiếu sót về việc áp dụng khung hình phạt dẫn đến việc quyết định hình phạt sai, hoặc quá nhẹ hoặc quá nặng. Vẫn còn nhiều vụ án chưa đánh giá đúng mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên vận dụng không đúng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS dẫn đến quyết định hình phạt chưa tương xứng với tính chất hành vi phạm tội. Qua tìm hiểu về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội cho thấy quy định của pháp luật hình sự về chế định phạm nhiều tội vẫn còn thiếu và yếu, bên cạnh đó năng lực chuyên môn của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng hạn chế. Vì vậy, để nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án phạm nhiều tội thì một mặt phải kịp thời ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật hình sự quy định về phạm nhiều tội, một mặt phải không ngừng đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ, chuyên môn đạo đức nghề nghiệp cũng như cải tiến phương pháp làm việc của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng giữ vai trò cực kỳ quan trọng.

Quá trình nghiên cứu, vận dụng chế định phạm nhiều tội cho thấy cần phải ban hành, sửa đổi bổ sung kịp thời như sau: Bổ sung khái niệm về phạm nhiều tội và sửa đổi, bổ sung Điều 50, Điều 74, Điều 75 BLHS quy định đối với người chưa thành niên phạm tội…

Luận văn đã tập trung giải quyết tương đối cơ bản những vấn đề lý luận và thực tiễn QĐHP trong trường hợp phạm nhiều tội; Tác giả hy vọng luận văn góp phần đưa BLHS nói riêng và pháp luật hình sự nói chung trở thành công cụ hữu hiệu trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm. Việc tiếp tục nghiên cứu đề tài này không chỉ có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong việc hoạch định và thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước trong thời gian tiếp theo, mà còn là nhiệm vụ của các nhà khoa học, những người đang làm việc trong cơ quan tư pháp.

Luận văn được hoàn thành là một quá trình nghiên cứu, làm việc nghiêm túc, bằng việc tổng hợp hệ thống hoá các quan điểm về mặt lý luận, hệ thống các văn bản hướng dẫn và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với chế định phạm nhiều tội. Tuy nhiên, chế định đa (nhiều) tội phạm trong đó có chế định phạm nhiều tội là một vấn đề khó, đặc biệt phức tạp và có nhiều tranh luận về áp dụng pháp luật trong thực tế giải quyết án hình sự. Với kinh nghiệm thực tiễn chưa phong phú và trong phạm vi của luận văn thạc sĩ, tác giả chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, rất mong được sự đánh giá, giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện được tốt và cao hơn nữa. Qua đây, tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS. TS. Trần Văn Độ đã tận tình hướng dẫn để hoàn thành đề tài nghiên cứu này.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HINH SU\VU HONG HAI\sau bao ve

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *