Xây dựng mô hình quản lý CTR nông thôn theo hướng bền vững

Xây dựng mô hình quản lý CTR nông thôn theo hướng bền vững tại huyện Hòa Vang

Xây dựng mô hình quản lý CTR nông thôn theo hướng bền vững tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Tinh cấp thiết của đề tài

Hiện nay, chất thải rắn (CTR) nông thôn đã và đang trở thành vấn đề nổi cộm. Lượng CTR nông thôn phát sinh ngày càng nhiều, đa dạng về thành phần và tính chất độc hại. Công tác thu gom và xử lý còn lạc hậu, thô sơ, chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, công tác quản lý còn nhiều bất cập. Ước tính, lượng CTR sinh hoạt nông thôn phát sinh khoảng 18.210 tấn/ngày tương đương với 6.646 triệu tấn/năm [25]. Theo thống kê của Cục BVTV, kể từ năm 2008, lượng thuốc BVTV nhập khẩu lên tới hơn 100.000 tấn. Ngoài ra, hàng năm, đàn vật nuôi ở Việt Nam thải vào môi trường khoảng 73 triệu tấn CTR (phân khô, thức ăn thừa) [27]. Tuy nhiên, việc thu gom CTR tại nông thôn chưa được coi trọng, nhiều thôn, xã, chưa có các đơn vị chuyên trách trong việc thu gom CTR nông thôn. Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn mới đạt khoảng 40 – 55%, chỉ có khoảng 40 – 70% CTR nông nghiệp, chăn nuôi được xử lý [26].

Huyện Hòa Vang với tổng thể 11 xã, trong đó có 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới, các xã còn lại đang trên đường xây dựng nông thôn mới cụ thể là Phú Sơn 1 là một trong hai thôn đang tiến tới xây dựng mô hình làng sinh thái.

Hơn nữa quá trình đô thị hóa ngoài việc mang lại cho huyện Hòa Vang một diện mạo mới, tích cực hơn nhưng đồng thời cũng tạo ra các vấn đề về môi trường như ô nhiễm, tích tụ chất thải và vệ sinh môi trường kém.

Từ những lý do nêu trên, tôi chọn hướng nghiên cứu “Xây dựng mô hình quản lý CTR nông thôn theo hướng bền vững tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Xây dựng mô hình quản lý CTR phù hợp tình hình thực tế của nông thôn huyện Hòa Vang.

3. Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu

a. Đối tượng nghiên cứu

– CTR tại thôn Phú Sơn 1, xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng bao gồm:

+ CTR sinh hoạt.

+ CTR nông nghiệp

+ CTR chăn nuôi.

b. Phạm vi nghiên cứu

Thôn Phú Sơn 1, xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp thu thập và tra cứu số liệu;

– Phương pháp điều tra, tham vấn cộng đồng;

– Phương pháp mô hình thực nghiệm;

– Phương pháp xác định thành phần rác thải;

– Phương pháp phân tích mẫu;

– Phương pháp kế thừa;

– Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu.

5. Ý nghĩa đề tài

– Ý nghĩa khoa học: Mô hình quản lý CTR có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường nông thôn.

– Ý nghĩa thực tiễn:

+ Tận dụng chất thải tối đa để tái sử dụng, tái chế.

+ Giảm thiểu tối đa lượng CTR phát thải vào môi trường.

+ Nâng cao nhận thức cho người dân nông thôn trong việc quản ký CTR theo hướng thân thiện với môi trường.

6. Bố cục đề tài

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan

Chương 2: Đối tượng nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Chương 1

TỔNG QUAN

1.1. Khái niệm, nguồn gốc và phương pháp xử lý CTR

1.1.1. Khái niệm

CTR được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa [20].

Tích hợp quản lý CTR có thể được định nghĩa như là lựa chọn và áp dụng các kỹ thuật phù hợp, công nghệ và chương trình quản lý để đạt được mục tiêu và mục tiêu cụ thể trong quản lý chất thải [23].

1.1.2. Nguồn gốc phát sinh và thành phần của CTR

a. Nguồn gốc CTR

CTR có thể phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau, ở nhiều nơi khác nhau.

b. Thành phần CTR

CTR từ các nguồn phát thải khác nhau cũng khác nhau về thành phần lý, tỷ lệ và các chất hóa học.

1.1.3. Các phương pháp xử lý CTR

a. Phương pháp xử lý CTR sinh hoạt

b. CTR nông nghiệp

c. CTR chăn nuôi

1.2. Tình hình quản lý CTR vùng nông thôn việt nam

1.2.1. Nguồn gốc phát sinh, thành phần CTR

Có thể phân loại CTR nông thôn theo 3 nhóm chính là CTR sinh hoạt, CTR nông nghiệp, chăn nuôi và CTR làng nghề.

1.2.2. Thu gom và xử lý CTR

a. CTR sinh hoạt

b. CTR nông nghiệp

c. CTR chăn nuôi

Xây dựng mô hình quản lý CTR nông thôn theo hướng bền vững tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Xây dựng mô hình quản lý CTR nông thôn theo hướng bền vững tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

1.3. Tình hình thu gom và xử lý CTR trên địa bàn nghiên cứu

1.3.1. Giới thiệu khu vực nghiên cứu

a. Giới thiệu huyện Hòa Vang

Hình 1.3. Bản đồ hành chính huyện Hòa Vang

b. Giới thiệu về thôn Phú Sơn 1

Hình 1.4. Ranh giới thôn Phú Sơn 1

1.3.2. Tình hình thu gom và xử lý CTR trên địa bàn huyện Hòa Vang nói chung và thôn Phú Sơn 1 nói riêng

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

– CTR tại thôn Phú Sơn 1, xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng bao gồm:

+ CTR sinh hoạt.

+ CTR nông nghiệp.

+ CTR chăn nuôi.

2.2. Phạm vi nghiên cứu

Thôn Phú Sơn 1, xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp thu thập và tra cứu số liệu

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu thực địa

– Tiến hành khảo sát tại một số địa điểm thu gom, vận chuyển tại thôn.

– Chụp hình hiện trạng môi trường tại địa bàn nghiên cứu.

– Điều tra thực địa bằng bảng câu hỏi:

2.3.3. Phương pháp mô hình thực nghiệm

a. Mô hình ủ phân compost

Hình 2.1. Quy trình ủ phân compost

Thành phần nguyên liệu đầu vào phối trộn trong hai ô ủ được thể hiện trong bảng 2.2 dưới đây:

Bảng 2.2. Thành phần khối lượng CTR đem đi ủ
Thành phầnKhối lượng ủ (kg)
Ô 1Ô 2
Rác hữu cơ dễ phân hủy16,518
Phụ phẩm nông nghiệp: rơm22
Phân bò1,50
Tổng cộng2020

Bước 4: Chuẩn bị ô ủ.

Bước 5: Tiến hành ủ.

Bước 6: Chế biến phân hữu cơ sinh học

b. Mô hình đệm lót sinh học

+ Bước 1: Rải trấu hoặc mùn cưa lên toàn bộ nền chuồng dày 15cm,sau đó thả gà vào.

+ Bước 2: Sau 3 ngày, quan sát trên bề mặt chuồng khi nào thấy phân rải kín, dùng cào cào sơ qua lớp mặt đệm lót.

+ Bước 3: Sau khi cào lớp mặt xong thì rắc đều chế phẩm BALASA – N01 lên toàn bộ bề mặt chất độn.

2.3.4. Phương pháp Xác định thành phần rác thải

Tiến hành lấy mẫu CTR sau khi vận chuyển về bãi tập kết và trộn đều mẫu theo phương pháp môt phần tư.

2.3.5. Phân tích mẫu

Mẫu sau khi ủ, để đánh giá chất lượng phân sau khi ủ được phân tích theo các phương pháp trong bảng 2.3 dưới đây:

Bảng 2.3. Phương pháp phân tích các mẫu nguyên liệu
Chỉ tiêuPhương pháp phân tích
pHTCVN 5979:2007
Hàm lượng chất hữu cơTCVN 9294:2012
VSV phân giải P khó tanTCVN 96167:1996
VSV phân giải cố định NitơTCVN 6166:2002
VSV phân giải XenluloseTCVN 6168:2002

2.3.6. Phương pháp kế thừa

Kế thừa các số liệu từ các báo cáo tình hình kinh tế xã hội của huyện Hòa Vang. Và những nghiên cứu, đề tài đã thực hiện có liên quan đến CTR.

2.3.7. Phương pháp so sánh

Để đánh giá chất lượng phân sau khi ủ, đề tài dừng lại ở việc sử dụng QCVN về đánh giá chất lượng phân bón vi sinh, Tiêu chuẩn ngành về phân hữu cơ làm từ rác sinh hoạt CTR.

2.3.8. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

Sử dụng các phần mềm phổ biến như Exel để tổng hợp và thống kê số liệu, thông tin thu thập được biểu diễn ở dạng bảng biểu, biểu đồ minh họa cho các vấn đề trong đề tài.

Chương 3

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đánh giá thực trạng công tác thu gom, xử lý CTR của thôn

3.1.1. Tình hình thu gom và xử lý CTR sinh hoạt

a. Thành phần và khối lượng CTR sinh hoạt

– Thành phần CTR: Quá trình phân loại được thực hiện 4 lần và kết quả được thể hiện trong bảng 3.1 dưới đây:

Bảng 3.1. Thành phần CTR thôn Phú Sơn 1
Thành phầnPhần trăm theo khối lượng %
Ngày 7/5Ngày 14/5Ngày 21/5Ngày 28/5Trung bình
Thực phẩm thừa và rác vườn30,529483736,1
Nilong12,520161415.6
Carton, giấy2487.5711.6
Nhựa1115112315,0
Kim loại712968,5
Thành phần khác15168,51313,1
Tổng cộng100100100100100

– Khối lượng CTR: bình quân khoảng là 0,54 kg/người/ngày.

Tình hình phát sinh khối lượng rác hữu cơ và vô cơ tại thôn được thể hiện trong bảng 3.2 như sau:

Bảng 3.2. Kết quả khảo sát lượng CTR sinh hoạt phát sinh tại thôn Phú Sơn 1
Địa điểmThời điểm cân rácThành phần rácTổng cộng
Vô cơ (kg)Hữu cơ (kg)
Thôn Phú Sơn 1Lần 1 ( 07/05/2016)10547591813
Lần 2 (14/05/2016)168012542934
Lần 3 ( 21/05/2016)129715262823
Lần 4 (28/05/2016)204716623709
Tổng cộng6078520111279

Dựa vào bảng 3.2 ta có thể thấy được khối lượng chất hữu cơ trong chât thải của thôn Phú Sơn 1 chiếm khoảng 46%. Như vậy, thành phần hữu cơ trong rác thải của thôn Phú Sơn 1 thấp hơn so với thành phần hữu cơ trong rác thải của thành phố Đà Nẵng (74,65%).

b. Thu gom và vận chuyển xử lý CTR sinh hoạt

Rác sinh hoạt phát sinh từ các hộ dân, được phân loại tại nguồn sau đó được tổ thu gom vận chuyển về bãi tập kết và chờ xe của xí nghiệp môi trường Hòa Vang đến thu gom; 75 hộ nằm trên trục đường 14B, đối với CTR của các hộ này được xí nghiệp môi trường Hòa Vang đặt thùng thu gom riêng. Còn những hộ giáp ranh với Thôn Phú Sơn 2, được tổ thu gom của thôn Phú Sơn 2 thu gom.

Theo kết quả điều tra, số hộ trả phí cho việc thu gom xử lý rác chiếm 46%; số hộ xử lý bằng phương pháp đốt chiếm 34%; chôn lấp trong vườn chiếm 9%, còn lại 11% chọn phương án khác như thải ra bãi đất trống hoặc kênh mương.

3.1.2. Kết quả khảo sát công tác thu gom và xử lý CTR nông nghiệp

a. Nguồn gốc phát sinh và khối lượng CTR nông nghiệp

Lượng phụ phẩm từ quá trình trồng trọt của thôn Phú Sơn 1, khối lượng được thể hiện trong bảng 3.4 như sau:

Bảng 3.4. Phát thải từ các phụ phẩm nông nghiệp ở thôn Phú Sơn 1
TTTên phụ phẩmDiện tích

(ha)

Khối lượng (tấn/ha/năm)
1Rơm rạ25166,5
2Lõi ngô, cây ngô721,49
3Dây lạc58,9
Tổng cộng37196,89

Với diện tích sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thôn khoảng 37 ha, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 68,3 – 81,9 kg bao bì thuốc BVTV.

b. Thu gom và xử lý CTR nông nghiệp

Theo kết quả điều tra, 55% phụ phẩm từ quá trình trồng trọt được dùng làm thức ăn cho gia súc, 15% bán cho các cơ sở sản xuất, còn lại 30% người dân đốt ngay tại vị trí đất canh tác.

Kết quả điều tra phương pháp xử lý bao bì thuốc BVTV được thể hiện theo hình 3.4 như sau:

Hình 3.4. Tỷ lệ phương án xử lý vỏ bao bì thuốc BVTV

3.1.3. Kết quả khảo sát công tác xử lý CTR chăn nuôi

a. Nguồn gốc phát sinh và khối lượng CTR chăn nuôi

Lượng chất thải hàng ngày phát sinh từ việc chăn nuôi gia súc gia cầm của thôn và được thể hiện trong bảng 3.6 dưới đây:

Bảng 3.6. Tải lượng CTR chăn nuôi ở thôn Phú Sơn 1
TTLoạiSố lượng

(con)

Khối lượng CTR (kg/ngày)
1Trâu48720
2Bò78780
3Lợn260520
4Gia cầm2890578
Tổng cộng32762598

b. Tình hình xử lý CTR chăn nuôi

Kết quả điều tra 100 hộ dân thì có 90 hộ có chăn nuôi, trong đó 83% hộ chưa có biện pháp xử lý CTR chăn nuôi, 17% hộ đã có xử lý bằng hầm biogas.

3.1.4. Cân bằng CTR tại thôn Phú Sơn 1

Với tổng lượng CTR phát sinh tại thôn Phú Sơn 1 được mô tả theo phương trình sau :

(3.1)

(3.1)

Phương trình cân bằng vật chất CTR được biểu diễn như sau[8]:

(3.2)

(3.2)

(3.1)

Theo phương trình cân bằng vật chất thì khối lượng CTR còn lại của mỗi loại bên trong môi trường sẽ được tính toán bằng lượng CTR phát sinh đi vào hệ thống của mỗi loại trừ đi lượng CTR đã được thu gom xử lý và phần phát sinh bên trong xem như không đáng kể và cho bằng không.

Vậy phương trình (3.2), có thể được viết lại như sau:

(3.3)

(3.3)

(3.1)

Ta có :

– CTR sinh hoạt vào hệ thống trong một năm được tính toán như sau:

(3.1)

Tổng lượng CTR ra khỏi hệ thống được tính dựa vào tỷ lệ thu gom của thôn :

(3.1)

Vậy khối lượng CTR sinh hoạt còn lại trong môi trường khoảng 129,6 tấn/năm.

– Tương tự tổng lượng CTR nông nghiệp còn lại trong hệ thống khoảng 59,10 tấn/năm.

– CTR chăn nuôi còn lại trong môi trường khoảng 692 tấn/năm.

Vậy tổng lượng CTR hiện nay đưa vào môi trường chưa được thu gom và xử lý khoảng 880,7 tấn CTR/năm, chiếm 54% tổng lượng CTR phát sinh của thôn.

3.1.5. Đánh giá công tác quản lý CTR hiện tại trên địa bàn thôn Phú Sơn 1

a. CTR sinh hoạt

Nhìn chung công tác quản lý CTR sinh hoạt đã đạt được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm hạn chế như :

– Rác vẫn chưa được phân loại mà thải chung vào một bao nilong.

– Công tác quản lý rác chưa được chặt chẽ.

– Số hộ đóng phí cho công tác thu gom rác khoảng 49%.

– Tần suất thu gom hiện tại của thôn 1 lần/tuần, so với yêu cầu thì tỷ lệ thu gom hiện nay của thôn còn thấp.

– Kinh phí cho tổ thu gom còn thấp.

b. CTR nông nghiệp

– Các phương pháp xử lý phụ phẩm chưa đúng cách.

– Bao bì thuốc BVTV còn vứt bừa bãi.

c. CTR chăn nuôi

Hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thì hầu như chưa chú trọng đến chất thải.

3.2. Đề xuất mô hình quản lý CTR theo hướng bền vững cho thôn Phú Sơn 1

3.2.1. Cơ sở của việc đề xuất

Mô hình quản lý CTR cho thôn Phú Sơn 1 được xây dựng nhằm khắc phục những vấn đề còn tồn đọng trong công tác quản lý CTR của thôn.

3.2.2. Đề xuất mô hình quản lý CTR theo hướng bền vững

– Mô hình quản lý chất thải rắn bền vững là một hệ thống quản lý CTR phấn đấu thu hồi CTR tối đa thông qua việc tái chế, tái sử dụng nhằm hạn phát sinh chất thải đến mức thấp nhất (không chất thải).

Từ những cơ sở và lý do nêu trên, mô hình quản lý CTR theo hướng bền vững được đề xuất như hình 3.6 dưới đây :

Hình 3.6. Mô hình quản lý CTR tại thôn Phú Sơn 1

3.3. Triển khai mô hình thực nghiệm

3.3.1. Mô hình ủ phân compost

a. Xác định khối lượng phân sau khi ủ

– Khối lượng ban đầu đem đi ủ là mỗi ô 20kg.

– Kết thúc chu kỳ ủ 40 ngày khối lượng còn lại trong ô 1 là 9kg và ô 2 là 10,5kg.

– Ô 1: hàm lượng HC dễ phân hủy chiếm 30,5 %; 9,5 % HC khó phân hủy và 5,0% còn lại là VC do phân loại chưa triệt để.

– Ô 2: hàm lượng HC dễ phân hủy chiếm 25%; HC khó phân hủy chiếm 19,5% và còn lại là VC còn lẫn chiếm 8%.

b. Sự biến đổi nhiệt độ theo thời gian

Nhiệt độ được đo theo thời gian hai ngày liên tiếp nhau, trong vòng 40 ngày cho đến khi nhiệt độ ổn định và biến thiên gần với nhiệt độ môi trường thì ngưng theo dõi và kết quả được thể hiện trong hình 3.10 dưới đây:

Hình 3.10. Sự biến thiên nhiệt độ theo thời gian

c. Sự thay đổi độ ẩm và lượng nước rỉ rác

Đề tài xác định độ ẩm theo hàng tuần và kết quả được thể hiện như trong hình 3.11 dưới đây:

Hình 3.11. Sự biến thiên độ ẩm theo thời gian

Trong cả hai ô ủ chỉ có ô ủ 1 đạt được độ ẩm tối ưu cho quá trình ủ trong tuần thứ nhất, còn các tuần còn lại đều không đạt độ ẩm thích hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển.

Lượng nước rỉ rác sinh trong hầm thu hầu như không có.

d. pH

Kết thúc quá trình ủ, ô 1 có pH tương đương là 7,8 và ô ủ 2 có pH tương đương là 7,3.

e. Sự biến đổi màu sắc theo thời gian

– Về màu sắc: cả hai khối ủ đều có màu nâu sẫm. Ô ủ 1 cho màu nâu tối hơn ô 2.

– Về độ mịn: Ô ủ 1 cảm giác mềm mịn hơn ô 2.

f. Kết quả phân tích chất lượng phân

Kết quả được trình bày trong bảng 3.7 sau:

Bảng 3.7. Kết quả phân tích chất lượng phân HC
Chỉ tiêuĐơn vịÔ 1Ô 2TCVNSo sánh
Hàm lượng HC tổng số%65,556,222(*)Đạt
VSV cố định NitơCFU/g3,3 x 1071,3 x 106(**)Đạt
VSV phân giải photpho khó tanCFU/g1,1 x 1071,5 x 106Đạt
VSV phân giải xenluloseCFU/g1,7 x 1078,5 x 106Đạt

Từ kết quả phân tích bảng 3.7 cho thấy, hàm lượng HC tổng số trong bảng 3.8 ô ủ 1 và ô ủ thứ 2 so với TCVN 7185:2002 đều cao hơn quy định 2 – 3 lần; Mật độ vi sinh vật VSV cố định Nitơ, VSV phân giải photpho khó tan, VSV phân giải xenlulose của hai ô ủ khi so với 10TCN 526:2002 đều có giá trị lớn hơn 106.

3.3.2. Mô hình đệm lót sinh học

Đề tài thực hiện thí điểm tại hộ Bà Nguyễn Thị Hồng.

a. Đánh giá khảo sát mùi hôi trước và sau khi áp dụng mô hình đệm lót sinh học

– Kết quả điều tra 10 hộ dân sống lân cận hộ bà Nguyễn Thị Hồng được thể hiện ở biểu đồ 3.12 dưới đây:

Hình 3.12. Kết quả điều tra về mùi hôi trước và sau khi thực hiện

mô hình đệm lót sinh học

b. Hiệu quả kinh tế khi áp dụng mô hình đệm lót sinh học

Theo như ý kiến của Bà Hồng, trong thời gian áp dụng mô hình đệm lót sinh học số lượng gà chết giảm đi rất nhiều. Đơn cử, số gà ban đầu là 300 con; sau 2,5 tháng số lượng gà còn lại là 288 con, vậy tỉ lệ gà chết khoảng 4%.

3.3.3. Thảo luận mô hình quản lý CTR tại thôn Phú Sơn 1

Để đánh giá tính khả thi và hiệu quả mô hình, cần phải xem xét đến các yếu tố về kỹ thuật, cơ sở vật chất, tài chính nguồn lực thực hiện và đặc biệt là sự tham gia hưởng ứng của người dân trong thôn.

– Một khi công tác phân loại rác CTR được đảm bảo, thì các thành phần như nhựa 15%; giấy và carton 11,6%; kim loại 8%; các thành phần này sẽ được thu hồi lại để tái chế tái sử dụng ngay tại hộ gia đình hoặc thông qua các cơ sở phế liệu.

– Mô hình ủ phân compost sẽ giảm được 46 % lượng CTR.

– 30% phụ phẩm thay vì sử dụng phương pháp đốt sẽ được làm nguyên liệu cho quá trình ủ phân.

Đối với bao bì thuốc BVTV, theo đề xuất của đề tài tăng lượng bi thu rác lên 6 bi, có thể tăng khả năng thu gom CTR này lên trên 41% như hiện tại.

– Còn các hộ chăn nuôi gia súc nhỏ lẻ và gia cầm ngoài, nhờ việc áp dụng mô hình đệm lót sinh học mà mùi hôi sẽ được giảm thiểu.

3.4. Đề xuất ứng dụng cho huyện Hòa Vang

Để giải quyết bài toán CTR của huyện Hòa Vang, đề tài đề xuất phương thức thu gom và xử lý lượng CTR như sau:

– Đối với xã có cung đường vận chuyển và giao thông đi lại thuận lợi thì sau khi phân loại tại nguồn để tái, tái sử dụng chất thải; phần còn lại sẽ do xí nghiệp môi trường Hòa Vang kết hợp với tổ thu gom rác của thôn tiến hành thu gom và vận chuyển về bãi rác Khánh Sơn để xử lý.

– Trường hợp một số thôn miền núi điều kiện thu gom chưa đến nơi có thể áp dụng mô hình quản lý (CTR sinh hoạt, CTR nông nghiệp, CTR chăn nuôi) như trên (hình 3.6) nhưng thay vì ủ phân tập trung thì tiến hành ủ phân tại hộ gia đình .

Để mô hình quản lý được hoạt động hiệu quả, ngoài những giải pháp trên cần phải đẩy mạnh một số giải pháp đi kèm về cơ chế chính sách dưới đây:

Các giải pháp về cơ chế, chính sách

Các giải pháp quản lý

  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường bằng cách
  • Đề xuất các giải pháp kinh tế

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Qua thời gian khảo sát; thu thập thông tin và triển khai đề tài của luận văn, tác giả xin rút ra những kết luận sau:

1. Nguồn CTR phát sinh trên địa bàn thôn Phú Sơn 1 gồm CTR sinh hoạt, CTR nông nghiệp, CTR chăn nuôi.

– Trong đó chiếm tỷ lệ lớn nhất là các CTR chăn nuôi (2598 kg/ngày);

– Tiếp đến là CTRsinh hoạt (660 kg/ngày); Khối lượng CTR phát sinh khoảng 0,54 kg/người/ngày, trong đóthành phần HC chiếm khoảng 46%, thành phần VC chiếm khoảng 54 %;

– CTR từ trồng trọt do đặc tính phát thải theo mùa vụ nên lượng CTR được tính cho một năm khoảng 196,96 tấn/ năm (phụ phẩm nông nghiệp và bao bì hóa chất BVTV).

2. Hiện tại, trên địa bàn thôn đã đã có tổ phụ nữ của thôn đứng thu gom rác thải sinh hoạt từ hộ dân đến bãi tập kết. Sau đó, hợp đồng với xí nghiệp môi trường Hòa Vang để thu gom, vận chuyển về bãi rác của thành phố để xử lý. Tỷ lệ thu gom CTR trên địa đàn cho đến hiện tại ước tính đạt khoảng 46%.

– Các phụ phẩm nông nghiệp đa phần được đốt tại đất canh tác hoặc dùng làm thức ăn trong chăn nuôi. Bao bì hóa chất BVTV vẫn còn vứt bừa bãi trên đồng ruộng và kênh mương mặc dù trên diện tích đất canh tác đã bố trí ống bi thu gom rác. Có 41% hộ dân bỏ rác vào bi, 27% bỏ rác ngay tại vị trí sử dụng, 20% thu gom chung với rác sinh hoạt còn lại 12% xử lý bằng phương pháp như đốt, chôn tại vườn.

– CTR chăn nuôi có 83% hộ chưa xử lý CTR chăn nuôi, còn lại 17% tổng số hộ đã có biện pháp xử lý.

3. Mô hình thực nghiệm

a. Mô hình ủ phân compost

– Chất lượng phân compost ở cả hai mô hình đáp ứng về tiêu chuẩn ngành của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 10TCN 625-2002 về phân bón hữu làm từ rác thải sinh hoạt về chỉ tiêu như mật độ VSV và hàm lượng chất HC trong phân compost làm từ rác thải sinh hoạt. Trong đó có chỉ tiêu về nhiệt độ chênh lệch hơn vài độ so với Tiêu chuẩn Việt Nam về ủ phân.

– Phân có thể dụng làm phân bón cho cây trồng.

– Đối với những hộ dân có hàm lượng rác nhà bếp cao có thể áp dụng mô hình này tại nhà để sản xuất phân vi sinh.

b. Đệm lót sinh học

Sau khi áp dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi, tình hình môi trường đã được cải thiện rất nhiều. Trong đó, 90% hộ dân đồng ý với mô hình đệm lót sinh học cho rằng mô hình đã làm giảm thiểu mùi hôi và lông trong chăn nuôi, 10% còn lại cho rằng vẫn còn mùi hôi nhưng không đáng kể.

4. Hiệu quả mô hình quản lý

Việc áp dụng mô hình quản lý có thể góp phần giảm thiểu hàm lượng CTR trên địa bàn thôn cụ thể như sau:

– Các thành phần như nhựa 15%; giấy và carton 11,6%; kim loại 8%; các thành phần này sẽ được thu hồi lại để tái chế tái sử dụng ngay tại hộ gia đình hoặc thông qua các cơ sở phế liệu.

– Áp dụng mô hình ủ phân compost sẽ giảm được 46 % chất HC dễ phân hủy. Ngoài ra, sản phẩm phân compost có thể sử dụng làm phân bón cho cây trồng.

– 15% phụ phẩm nông nghiệp còn lại, thay vì trước đây người dân đốt thì sẽ sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình ủ phân.

– Việc tăng cường ống bi thu gom bao bì hóa chất BVTV sẽ tăng tỷ lệ thu gom lên trên 41% như hiện tại

– Hộ chăn nuôi quy mô nhỏ áp dụng mô hình đệm lót sẽ giảm thiểu được mùi hôi trong quá trình chăn nuôi.

2. Kiến nghị

Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTR trên địa bàn huyện nói chung và tại các thôn xã nói riêng, ngoài kiến nghị áp dụng mô hình quản lý trên thì đề tài có một vài kiến nghị như sau:

– Về kỹ thuật nâng cao công tác phân loại CTR tại nguồn.

­- Dọn vệ sinh thường xuyên điểm tập kết rác.

– Đầu tư trang thiết bị, phương tiện, dụng cụ bảo hộ lao động, cũng như nhân lực để phục vụ tốt cho công tác thu gom nhằm đáp ứng nhu cầu cho toàn huyện.

– Về giải pháp công nghê:

+ Ủ phân compost: Cần bổ sung thường xuyên chế phẩm sinh học và nước để đảm bảo độ ẩm trong quá trình ủ phân.

+ Đệm lót sinh học: Mùa hè cần phải nuôi gà ở mật độ thấp và có phương pháp tạo độ thông thoáng cho chuồng nuôi để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển của gà.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\KY THUAT MOI TRUONG\HO THI NHU NGOC

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *