Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi sinh vật chịu mặn để xử lý môi trường nền đáy tại khu vực âu thuyền Thọ Quang thành phố Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biển và các thủy vực nước ven bờ đóng vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống, kinh tế và văn hóa của mỗi quốc gia, hiện nay ô nhiễm ven biển đang diễn ra theo chiều hướng ngày càng trầm trọng hơn tại Việt Nam.
Khu trú bão và neo đậu tàu thuyền Thọ Quang (gọi tắt là Âu thuyền Thọ Quang) được hình thành và đưa vào hoạt động từ năm 2004 nhằm giúp cho tàu thuyền vào neo đậu trú bão an toàn. Ngoài ra, tàu thuyền có thể vào neo đậu để bốc dỡ hàng hóa, bán cá, mua lương thực thực phẩm, ngư lưới cụ, sửa chữa tàu thuyền và khai thác các hoạt động dịch vụ khác. Trong thời gian vừa qua, chất lượng nguồn nước tại đây ngày càng suy giảm rõ rệt. Nước thải từ các nhà máy trong khu công nghiệp dịch vụ thủy sản Thọ Quang, chợ đầu mối thủy sản, cảng cá, nước thải sinh hoạt từ khu dân cư… xả vào âu thuyền đã gây lên tình trạng ô nhiễm nặng nề, mùi hôi nồng nặc, đặc biệt là vào những ngày thời tiết nắng nóng, làm ảnh hưởng tới mỹ quan đô thị, môi trường và sức khỏe của người dân nhiều năm qua.
Xuất phát từ những định hướng lớn, chủ trương đúng đắn của thành phố Đà Nẵng và nhận thấy nghiên cứu và làm sạch môi trường là một trong những nhiệm vụ mang lại lợi ích cho chính mình và cộng đồng, nên tôi xin đề xuất thực hiện đề tài: Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi sinh vật chịu mặn để xử lý môi trường nền đáy tại khu vực âu thuyền Thọ Quang thành phố Đà Nẵng. Đề tài có thể là nền tảng cơ sở thực tiễn để xây dựng giải pháp giảm thiểu ô nhiễm tại âu thuyền Thọ Quang – một điểm nóng về ô nhiễm môi trường của thành phố Đà Nẵng.
2. Mục tiêu nghiên cứu
– Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước tại âu thuyền Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng;
– Đánh giá hiệu quả xử lý bùn đáy âu thuyền Thọ Quang bằng chế phẩm vi sinh vật (gồm các nhóm vi sinh vật bản địa được phân lập từ mẫu bùn và mẫu nước âu thuyền) trong phòng thí nghiệm;
– Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm góp phần cải thiện chất lượng môi trường tại âu thuyền Thọ Quang.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Hiện trạng chất lượng môi trường nước tại âu thuyền Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng;
– Mô hình nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi sinh vật chịu mặn trong việc xử lý các chất ô nhiễm trong bùn đáy âu thuyền tại PTN.
Khu vực âu thuyền Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng và mô hình ứng dụng chế phẩm vi sinh vật chịu mặn trong phòng thí nghiệm tại Trung tâm Công nghệ môi trường tại Đà Nẵng.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát;
- Phương pháp thu thập thông tin;
- Phương pháp kế thừa;
– Phương pháp lấy mẫu ngoài hiện trường;
– Phương pháp phân tích tại phòng thí nghiệm;
– Phương pháp mô hình tại phòng thí nghiệm;
– Phương pháp xử lý số liệu;
5. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học:
Những kết qủa nghiên cứu của luận văn sẽ là những căn cứ mang tính nền tảng cơ sở khoa học bước đầu để tìm ra các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước tại khu vực âu thuyền Thọ Quang.
Ý nghĩa thực tiễn:
– Hỗ trợ cho Ban Quản lý Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang, các cơ quan chức năng trong công tác kiểm soát cũng như hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường tại khu vực âu thuyền Thọ Quang.
– Cải thiện chất lượng môi trường cho người dân sống xung quanh khu vực âu thuyền, đem lại hiệu ứng tích cực về cảnh quan môi trường cho thành phố Đà Nẵng.
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn bao gồm 03 chương như sau:
Chương 1 – TỔNG QUAN: giới thiệu sơ lược về vai trò của vùng biển ven bờ, về hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ ở nước ta và thành phố Đà Nẵng. Giới thiệu đôi nét về âu thuyền Thọ Quang cũng như hiện trạng môi trường tại đây;
Chương 2 – ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP: nêu rõ đối tượng của nghiên cứu, các nội dung mà nghiên cứu thực hiện và phương pháp sử dụng trong quá trình hoàn thiện luận văn;
Chương 3 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN: nêu rõ các kết quả mà luận văn đã đạt được. Bao gồm việc đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước tại âu thuyền Thọ Quang; về hiệu quả xử lý ô nhiễm bùn đáy bằng chế phẩm vi sinh vật chịu mặn và các giải pháp khả thi nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm tại âu thuyền.
Chương 1 – TỔNG QUAN
1.1.1. Vai trò của các vũng vịnh ven bờ
Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3200 km, với cảnh quan đa dạng, có nhiều cửa sông lớn và các dãy núi chạy ra tới biển. Có thể nhận thấy dọc bờ biển Việt Nam 3 loại thủy vực tiêu biểu: cửa sông, đầm phá và vũng vịnh. Các dạng thuỷ vực này có phân bố xen kẽ lẫn nhau dọc theo bờ biển, trong đó các vũng vịnh tập trung nhiều ở vùng ven bờ phía Bắc và miền Trung – Nam Trung bộ, phía Nam ít hơn. Mặc dù diện tích mặt nước các vũng vịnh ven bờ biển chỉ bằng khoảng 1,1% diện tích đất liền và khoảng 0,4% diện tích vùng biển, nhưng là các vị trí trọng điểm, vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước [14].
1.1.2. Hiện trạng chất lượng nước ven bờ ở nước ta
Theo Báo cáo Hiện trạng Môi trường quốc gia giai đoạn 2011 – 2015, chất lượng nước biển ven bờ nước ta còn khá tốt với hầu hết giá trị các thông số đặc trưng cho chất lượng nước biển nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 10-MT:2015/BTNMT [5]. Tuy nhiên do ảnh hưởng từ khu vực cửa sông và sự tiếp nhận chất thải của các hoạt động phát triển kinh tế ven biển, một số vùng biển có hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) cao. Bên cạnh đó, sự gia tăng hàm lượng chất hữu cơ và dầu mỡ cũng là những vấn đề cần quan tâm đối với chất lượng nước biển ven bờ nước ta trong những năm gần đây.
1.1.3. Hiện trạng chất lượng trầm tích biển ven bờ
Chất lượng trầm tích biển ven bờ theo số liệu năm 2002 của các trạm quan trắc biển cho thấy [15]:
– Hàm lượng kẽm (Zn) biến đổi trong khoảng 63,32 – 162,48 ppm ở khu vực biển phía Bắc. Ở khu vực biển miền Trung, giá trị Zn biến đổi trong khoảng 35,40 – 77,50 ppm; ở khu vực biển phía Nam: 3,45 – 59,49 ppm.
– Hàm lượng đồng (Cu) biến đổi trong khoảng 14,48 – 44,57 ppm ở khu vực biển phía Bắc, trong khoảng 1,94 – 65,35 ppm ở khu vực biển miền Trung và 2,46 – 15,48 ppm ở khu vực biển phía Nam.
– Hàm lượng chì (Pb) biến đổi trong khoảng 7,50 – 51,29 ppm ở khu vực biển phía Bắc, trong khoảng 1,01- 40,10 ppm ở khu vực biển miền Trung và 4,22 – 30,29 ppm ở khu vực biển phía Nam.
– Hàm lượng Cadimi (Cd) biến đổi trong khoảng 0,57 – 1,68 ppm ở khu vực biển phía Bắc, 0,35-1,26 ppm ở vùng biển miền Trung và từ vết – 0,15 ppm ở vùng biển phía Nam.
– Hàm lượng thuỷ ngân (Hg) biến đổi trong khoảng 0,074 – 0,291 ppm ở vùng biển phía Bắc, trong khoảng 0,019 – 0,170 ppm ở vùng biền miền Trung và 0,20 – 0,93 ppm ở vùng biển phía Nam.
– Hàm lượng dầu biến đổi trong khoảng 7,54 – 752,85 ppm ở vùng biển phía Bắc, trong khoảng 0,11 – 16,70 ppm ở vùng biển miền Trung và 76,8 – 480,9 ppm ở khu vực biển phía Nam.
1.2. Vi sinh vật trong xử lý môi trường

1.2.1. Vai trò của vi sinh vật trong xử lý môi trường
Vi sinh vật là mắt xích quan trọng trong các chu trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tự nhiên, chúng tham gia vào việc gìn giữ tính bền vững của hệ sinh thái và bảo vệ môi trường, là đối tượng lí tưởng trong công nghệ di truyền, công nghệ sinh học. Trong bùn đáy các chất hữu cơ không ngừng bị phân hủy bởi vi khuẩn dị dưỡng và nấm mốc. Các VSV này cần các hợp chất hữu cơ để làm thức ăn. Khi ấy, hợp chất hữu cơ được VSV biến đổi thành các chất vô cơ ban đầu và vô cơ hóa các hợp chất hữu cơ là chức năng chủ yếu của vi khuẩn và nấm trong việc biến đổi vật chất trong thủy vực.
1.2.2. Giới thiệu về phương pháp sử dụng chế phẩm vi sinh trong xử lý ô nhiễm môi trường
Chế phẩm vi sinh vật xử lý môi trường là sản phẩm có chứa các sinh vật sống có mục đích phân hủy, tiêu thụ, làm giảm nồng độ các chất ô nhiễm có trong môi trường. Xử lý ô nhiễm bằng chế phẩm vi sinh là phương pháp đang thịnh hành, được ưu tiên sử dụng vì những ưu điểm nổi trội như chi phí thấp, thân thiện với môi trường, không ảnh hưởng đến đời sống thủy sinh.
1.3. Giới thiệu về âu thuyền Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng
Theo kết quả quan trắc 5 năm (2005 – 2009) của Sở Tài nguyên và môi trường thành phố, nước biển tại khu vực âu thuyền Thọ Quang có hàm lượng dầu mỡ và phenol vượt tiêu chuẩn lên đến 9,83 lần, có năm cao hơn đến 53 lần (06/2008) [12]. Cũng theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 thì hàm lượng dầu mỡ khoáng trung bình trong nước biển ven bờ tại âu thuyền Thọ Quang có nồng độ cao nhất trong các điểm quan trắc, vượt giới hạn cho phép nhiều lần [5]. Như vậy, ô nhiễm môi trường biển ở thành phố Đà Nẵng đang ở mức khống chế, nếu không có các giải pháp phát triển kinh tế hợp lý thì sẽ dẫn đến hậu quả khó lường.
Âu thuyền Thọ Quang là khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, bao gồm: vùng nước đậu tàu, luồng vào, hệ thống phao neo, trụ neo, phao tiêu dẫn luồng, biển báo và vùng đất đê bao, bờ kè chắn sóng, chắn cát. Cảng cá Thọ Quang là cảng chuyên dùng cho tàu cá, bao gồm vùng đất cảng và vùng nước đậu tàu. Vùng đất cảng bao gồm: cầu cảng, kho bãi, nhà xưởng, khu hành chính, dịch vụ hậu cần, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản.
Bao quanh âu thuyền còn có 12 xưởng sản xuất nước đá, 04 cây xăng dầu và 19 tàu cung ứng dầu của các doanh nghiệp hoạt động thường xuyên tại vùng nước âu thuyền. Khu công nghiệp dịch vụ thủy sản Thọ Quang với khoảng 34 doanh nghiệp trong đó đa số hoạt động trong lĩnh vực chế biến, xuất khẩu thủy hải sản cũng nằm sát ngay âu thuyền.
Chính vì việc quy tụ quá nhiều hoạt động tại đây đã khiến cho âu thuyền Thọ Quang trở thành điểm nóng về môi trường của thành phố Đà Nẵng. Nguồn nước thải từ khu công nghiệp (KCN) Dịch vụ thủy sản Đà Nẵng, chợ cá Thọ Quang, nước thải và chất thải từ các tàu thuyền neo đậu và nước thải từ khu dân cư… xả ra âu thuyền gây nên tình trạng ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng tới mỹ quan đô thị, môi trường và sức khỏe của người dân nhiều năm qua.
Hiện nay, vấn đề kiểm soát chất lượng môi trường tại cảng cá vẫn là bài toán nan giản của Ban quản lý âu thuyền nói riêng và chính quyền thành phố nói chung. Dù là một điểm nóng về ô nhiễm môi trường của thành phố, nhưng việc đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường tại âu thuyền vẫn chưa được đầy đủ và chi tiết. Các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường vẫn chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quát
Chương 2 – ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong khuôn khổ luận văn, học viên tập trung vào 02 đối tượng nghiên cứu:
– Hiện trạng chất lượng môi trường nước tại khu vực âu thuyền Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng;
– Xây dựng mô hình nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi sinh vật chịu mặn trong việc xử lý nền đáy cải thiện chất lượng môi trường tại phòng thí nghiệm.
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Nội dung 1: Khảo sát đánh giá hiện trạng môi trường nước tại âu thuyền Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng
Việc khảo sát, đánh giá hiện trạng môi trường nước tại âu thuyền được thực hiện với khối lượng các công việc như :
– Khảo sát, điều tra, thu thập thông tin về các nguồn xả thải vào âu thuyền.
– Thực hiện việc lấy mẫu đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước và bùn đáy tại âu thuyền tại 08 vị trí cửa xả nước thải (CX1 – CX8), 04 vị trí bên trong âu thuyền (N1 – N4) và 01 vị trí bên ngoài âu thuyền (N5) được chỉ ra tại Hình 2.1.

Hình 2.1. Vị trí lấy mẫu quan trắc chất lượng môi trường nước và bùn đáy tại âu thuyền Thọ Quang
+ Thời gian lấy mẫu: các mẫu nước mặt và bùn đáy được lấy vào ngày 21/04/2015. Mỗi vị trí lấy 3 mẫu dưới dạng mẫu tổ hợp, mẫu thứ nhất bắt đầu từ 0 giờ đến 8 giờ, mẫu thứ hai bắt đầu từ 8 giờ đến 16 giờ và mẫu thứ ba bắt đầu từ 16 giờ đến 24 giờ.
+ Các chỉ tiêu phân tích mẫu nước gồm: pH, độ mặn, COD, BOD, TSS, N-NH4+, tổng Phốt pho, tổng Nitơ và Coliform.
+ Các chỉ tiêu phân tích mẫu bùn đáy gồm: Cadimi (Cd), chì (Pb), kẽm (Zn) và thủy ngân (Hg).
– Thực hiện việc lấy mẫu để phân tích các thông số phục vụ cho đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước và bùn đáy tại âu thuyền trong khoảng thời gian 10 tháng, từ tháng 04/2015 đến tháng 01/2016:
+ Tiến hành lấy mẫu nước và bùn đáy tại 05 vị trí trong đó có 04 vị trí trong vùng nước âu thuyền và 01 vị trí bên ngoài âu thuyền (N1 – N5, xem Hình 2.1).
+ Tần suất và thời gian lấy mẫu: việc lấy mẫu được tiến hành trong vòng 10 tháng từ tháng 04/2015 đến tháng 01/2016 bao gồm 05 tháng mùa mưa (tháng 08 – 12/2015) và 05 tháng mùa mưa (tháng 04 – 07/2015 và tháng 01/2016) với tần suất 01 lần/tháng.
+ Thời điểm lấy mẫu: 9 giờ sáng bởi đây là thời gian “cao điểm” của các nguồn thải đổ vào âu thuyền.
+ Các thông số được sử dụng làm cơ sở cho việc đánh giá diễn biến chất lượng môi trường nước trong nghiên cứu bao gồm: BOD5, COD, TSS, NH4+ và Coliform.
+ Các chỉ tiêu phân tích mẫu bùn đáy gồm: các kim loại nặng: Cadimi (Cd), chì (Pb), kẽm (Zn) và thủy ngân (Hg).
– Đánh giá, nhận xét chung về hiện trạng chất lượng môi trường nước tại vùng nước âu thuyền.
2.2.2. Nội dung 2: Xây dựng mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh vật chịu mặn để XLMT nền đáy âu thuyền tại PTN
a. Giới thiệu về chế phẩm vi sinh chịu mặn sử dụng:
Chế phẩm vi sinh sử dụng ở dạng nước gồm các chủng vi sinh vật có hoạt lực phân hủy protein, tinh bột, xenlulo và kitin mạnh, được phân lập tuyển chọn từ mẫu bùn thu nhận tại khu vực âu thuyền Thọ Quang, sau đó được nuôi cấy và phối trộn để có chế phẩm với mật độ vi sinh hữu ích ≥ 108 CFU/g hay ≥ 108 CFU/ml. Các chủng vi sinh có trong chế phẩm: Bacillus suptilis (DN13), Bacillus amyloquenfacciens (TQ10), Bacillus amyloquenfacciens (TQ12) và Bacillus licheniformis (TQ21).
b. Bố trí mô hình thí nghiệm sử dụng chế phẩm vi sinh vật để xử lý môi trường nền đáy âu thuyền tại phòng thí nghiệm
Việc sử dụng chế phẩm vi sinh vật để đánh giá hiệu quả xử lý bùn đáy âu thuyền Thọ Quang trong phòng thí nghiệm được thực hiện bằng mô hình như sau:
– Mẫu bùn tươi và nước được lấy tại âu thuyền Thọ Quang rồi chuyển về phòng thí nghiệm tại TT CNMT tại Đà Nẵng.
– Chế tạo các bể thí nghiệm bằng thủy tinh có kích thước dài, rộng, cao của mỗi bể là 50 × 50 × 40 cm.
- Cho vào mỗi bể 05 kg bùn và 05 lít nước (và để ổn định trong vòng 24 giờ (xem Hình 2.8);
- Bổ sung chế phẩm vi sinh vật vào các bể ➀, ➁, ➂ với thể tích tương ứng là 10, 5, 1 ml; bể số ➃ là bể đối chứng nên không bổ sung chế phẩm.
- Theo dõi thí nghiệm trong vòng 60 ngày, 07 ngày lấy mẫu phân tích một lần.
![]() |
| Hình 2.8. Mô hình sau khi cho bùn và nước vào |
- Các chỉ tiêu cần theo dõi đánh giá đối với mẫu bùn: mật độ của 04 chủng vi sinh vật có trong chế phẩm vi sinh: vi sinh vật phân giải protein, kitin, tinh bột và xenlulu; tổng cacbon hữu cơ (TOC), tổng nitơ (T-N) và tổng photpho (T-P);
- Các chỉ tiêu theo dõi, đánh giá đối với mẫu nước: COD, BOD5 và NH4+;
– Đánh giá hiệu quả xử lý của mô hình dựa trên kết quả phân tích các thông số đã lựa chọn.
- Thời gian bắt đầu thực hiện mô hình: ngày 22/01/2016;
Thời gian kết thúc mô hình: ngày 25/03/2016.
2.2.3. Nội dung 3: Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm góp phần cải thiện chất lượng môi trường tại âu thuyền Thọ Quang
Trên cơ sở kết quả điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước tại âu thuyền Thọ Quang và kết quả nghiên cứu thử nghiệm mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý ô nhiễm bùn đáy âu thuyền trong phòng thí nghiệm, từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm góp phần cải thiện ô nhiễm môi trường tại đây.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, học viên đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
2.3.1. Phương pháp điều tra khảo sát
Sử dụng phương pháp này để xác định:
– Các nguồn xả thải vào âu thuyền;
– Hiện trạng hệ thống thu gom chất thải quanh âu thuyền;
– Cảm quan đánh giá chất lượng môi trường tại âu thuyền.
2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin
2.3.4. Phương pháp lấy mẫu ngoài hiện trường
– Lấy mẫu nước; Lấy mẫu bùn
2.3.5. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
Phân tích các chỉ tiêu môi trường theo Tiêu chuẩn Việt Nam, theo EPA và theo Standards Method.
– Xây dựng và thực hiện mô hình cải thiện chất lượng môi trường của khu vực âu thuyền Thọ Quang trong phòng thí nghiệm.
2.3.7. Phương pháp xử lý số liệu
– Số liệu trình bày trong các bảng biểu và hình được thống kê và vẽ đồ thì bằng phần mềm Microsoft Excel. Toàn bộ kết quả của quá trình thực nghiệm đều được lấy giá trị trung bình và có độ lặp lại ba lần.
Chương 3 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng chất lượng môi trường nước tại âu thuyền Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng
3.1.1. Các nguồn xả thải vào âu thuyền Thọ Quang
a. Từ các cửa cống xả đổ vào âu thuyền:
Hiện nay có 08 cửa xả đổ vào vùng nước của âu thuyền Thọ Quang trong đó có 03 cửa xả ở phía Đông, 03 cửa xả ở phía Nam và 02 cửa xả ở phía Tây.
b. Từ hoạt động của KCN DVTS Đà Nẵng:
Theo báo cáo của Công ty phát triển và khai thác hạ tầng KCN Đà Nẵng – đơn vị đang quản lý KCN DVTS Đà Nẵng, đến nay đã có 34 doanh nghiệp đăng ký hoạt động tại đây [6]. Trong số này chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy hải sản với các sản phẩm chính là cá phi lê, tôm đông lạnh, cá đông lạnh, mực, cá nục, cá ngừ, hải sản đóng hộp…chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và châu Âu. Nước thải từ các hoạt động trong KCN bao gồm nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất và nước mưa [10,11].
c. Từ các doanh nghiệp đóng, sửa chữa tàu thuyền:
Tại bờ Tây âu thuyền có 11 doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện đóng mới, sửa chữa tàu thuyền với hơn 600 lượt chiếc mỗi năm, đồng nghĩa với việc một lượng rác thải sản xuất không nhỏ chưa qua xử lý vô tình hoặc cố ý được đẩy xuống âu thuyền Thọ Quang.
d. Từ hoạt động của chợ đầu mối thủy sản Thọ Quang:
Lượng nước thải phát sinh ở chợ là khoảng 60 m3 /ngày.đêm. Nguồn nước thải này có tính chất tương tự nước thải chế biến thủy sản nhưng nồng độ các chất ô nhiễm thường thấp hơn do chỉ sơ chế, rửa hải sản. Trạm XLNT chợ đầu mối hiện chỉ hoạt động với gần 1/3 công suất (60 – 80 m3/ngày.đêm) tuy nhiên hiệu quả không ổn định.
e. Từ hoạt động của các cảng cá:
Mỗi ngày trong vùng nước âu thuyền có khoảng 350 – 450 tàu thuyền neo đậu, những ngày có gió bão, áp thấp nhiệt đới có khoảng 800 – 1.000 chiếc. Lượng chất thải phát sinh, nước thải và dầu thải từ các tàu cá được bơm một phần lên trạm thu nước thải tại cầu cảng và phần lớn “được: trực tiếp đổ vào khu vực âu thuyền theo thói quen.
f. Các nguồn thải khác:
– Do mưa bão , lũ lụt, ..; Do tác động của quá trình đô thị hóa.
3.1.2. Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước tại âu thuyền Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng
a. Chất lượng nước âu thuyền tại vị trí cửa xả:
Kết quả phân tích chất lượng nước ở các cổng xả từ trạm XLNT vào âu thuyền so sánh với QCVN 40:2011/BTNMT, cho thấy chỉ có pH, nhiệt độ và TSS là nằm trong giới hạn cho phép. Các giá trị còn lại thể hiện rõ chất lượng nước ở khu vực gần 02 cửa xả từ trạm XLNT đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hàm lượng chất hữu cơ tính theo BOD5 và COD vượt 3,3 và 1,4 lần ở cửa xả số 2 (CX2; vượt 3,4 và 2,0 lần ở cửa xả số 4 (CX4).
So sánh kết quả phân tích chất lượng nước ở các cổng xả nước thải sinh hoạt vào âu thuyền với QCVN 14:2008/BTNMT thì hàm lượng chất hữu cơ tính theo BOD5 vượt 1,1 lần ở cửa xả số 3 (CX3), vượt 1,2 lần ở cửa xả số 4 (CX4) và vượt 1,3 lần ở cửa xả số 1 (CX1). Hàm lượng chất dinh dưỡng tính theo Amoni chỉ đạt tại vị trị cửa xả số 7 (CX7), các vị trí còn lại vượt từ 1,2 ÷3,5 lần.
b. Chất lượng nước tại vị trí ở giữa âu thuyền:
So sánh kết quả phân tích chất lượng nước tại các vị trí ở giữa âu thuyền với giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT có thể thấy đa số chỉ tiêu đều nằm trong giới hạn cho phép trừ thông số amoni tại vị trí N1, N2 và Coliform tại vị trí N2, N3 và N4.
Kết quả phân tích so với giới hạn cho phép theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT có thông số amoni và coliform không đảm bảo trong đó coliform vượt ở 5/5 điểm quan trắc.
c. Chất lượng bùn đáy âu thuyền:
So với QCVN 43: 2012/BTNMT hì tại vị trí CX3: giá trị Cd là 6,5 mg/kg, vượt 1,5 lần; giá trị Pb tại vị trí CX6 vượt 15,8 lần. Nồng độ kẽm (Zn) và thủy ngân (Hg) vẫn đảm bảo giới hạn cho phép.
3.1.3. Diễn biến chất lượng môi trường nước tại âu thuyền
a. Diễn biến chất lượng môi trường nước:
- Thông số COD và BOD5 (xem Hình 3.16 và 3.17)
![]() | ![]() |
| Hình 3.16. Diễn biến chất lượng nước qua chỉ tiêu BOD5 | Hình 3.17. Diễn biến chất lượng nước qua chỉ tiêu COD |
- Thông số tổng chất rắn lơ lửng (TSS): xem Hình 3.18
- Thông số Amoni (NH4+): xem Hình 3.19
- Thông số Coliform: xem Hình 3.20
![]() | ![]() | ||
| Hình 3.18. Diễn biến chất lượng nước qua chỉ tiêu TSS | Hình 3.19. Diễn biến chất lượng nước qua chỉ tiêu NH4+ | ||
![]() | |||
| Hình 3.20. Diễn biến chất lượng nước qua chỉ tiêu Coliform | |||
Như vậy, diễn biến chất lượng nước tại khu vực âu thuyền nhìn chung vẫn tiếp tục ô nhiễm do các nguồn tác động đã được nêu ra ở phần trên và có xu hướng biến động phức tạp.
b. Diễn biến chất lượng môi trường bùn đáy:
Kết quả phân tích nồng độ kẽm trong bùn đáy âu thuyền ở mùa mưa và mùa khô trong 10 tháng nghiên cứu vẫn đảm bảo theo giới hạn cho phép được quy định trong QCVN 43:2012/BTNMT. Các kim loại: thủy ngân, chì và cadimi có giá trị nhỏ hơn so với giới hạn phát hiện của phương pháp phân tích, đây cũng có thể là hệ quả việc nạo vét bùn đáy của âu thuyền.
3.2. Hiệu quả của mô hình sử dụng chế phẩm sử dụng chế phẩm vi sinh vật chịu mặn để xử lý bùn đáy âu thuyền Thọ Quang tại phòng thí nghiệm
3.2.1. Sự thay đổi của các thông số hóa lý
Trong suốt quá trình thí nghiệm các thông số hóa lý: nhiệt độ, pH và nồng độ muối được đo nhanh hằng tuần. Giá trị nhiệt độ dao động trong khoảng từ 25 đến 30 °C, pH trung bình của các mẫu là 7,8 và độ muối trung bình là 23,5‰.
3.2.2. Sự thay đổi mật độ chủng VSV có trong chế phẩm
a. Sự thay đổi mật độ vi sinh vật tại Bể 1:

Hình 3.22. Sự thay đổi mật độ vi sinh vật tại Bể 1
Đối với VSV phân giải protein và kitin tăng khá nhanh; mật độ nhóm vi sinh vật phân giải tinh bột và xenlulo cũng tăng lên nhưng mức độ tăng thấp hơn.
b. Sự thay đổi mật độ vi sinh vật tại Bể 2 và 3:
Đối với các bể số 2 và số 3 nên mật độ các nhóm vi sinh vật bổ sung thấp hơn nhiều so với bể số 1.
Hình 3.23. Sự thay đổi mật độ vi sinh vật tại Bể 2
Hình 3.24. Sự thay đổi mật độ vi sinh vật tại Bể 3
- Sự thay đổi mật độ vi sinh vật tại Bể 4:
Kết quả từ Hình 3.25 cho thấy mật độ của 04 nhóm vi sinh vật trong bể đối chứng rất ít biến động trong thời gian thử nghiệm.
Hình 3.25. Sự thay đổi mật độ vi sinh vật tại Bể 4
3.2.3. Đánh giá hiệu quả xử lý một số thông số ô nhiễm đặc trưng trong mẫu bùn đáy của chế phẩm
a. Hiệu quả xử lý tổng cacbon hữu cơ:
Hiệu quả loại bỏ tổng cacbon hữu cơ tăng dần sau 7 ngày và quá trình phân hủy dần dần sau 49 đến 63 ngày (xem Hình 3.26).

Hình 3.26. Hiệu quả xử lý TOC của mô hình
b. Hiệu quả xử lý tổng nitơ:
Kết thúc quá trình sau 63 ngày thử nghiệm vi sinh đã phân hủy tổng nitơ qua quá trình nitrat hóa và khử nitơ trong bể thí nghiệm, đã mang lại kết quả tích cực, hiệu quả xử lý hàm lượng tổng nitơ trong các bể thử nghiệm lần lượt là 45, 31, 21, 12 và 13% (xem Hình 3.27).

Hình 3.27. Hiệu quả xử lý T-N của mô hình
c. Hiệu quả xử lý tổng photpho:
Hiệu quả phân hủy tổng phốt pho được thể hiện trong Hình 3.28. Có sự khác biệt giữa các bể có bổ sung chế phẩm vi sinh và không bổ sung chế phẩm vi sinh. Các đường phân hủy phốt pho trong thí nghiệm này là tuyến tính với đường phân hủy tổng cacbon hữu cơ và tổng nitơ. Hiệu quả xử lý tổng phốt pho là 33,7; 24; 17và 15% tương ứng với M1, M2, M3 và M4. Tuy vậy, trong môi trường tự nhiên có các vi sinh vật tồn tại nhưng số lượng hạn chế đây là lý do chính cho sự giảm tổng phốt pho tại M4.

Hình 3.28. Hiệu quả xử lý T-P của mô hình
3.2.4. Sự thay đổi của hàm lượng COD, BOD5 và NH4+ trong mẫu nước
Từ Hình 3.29 và Hình 3.30 cho thấy, chất lượng nước của các mẫu có bổ sung chế phẩm có sự thay đổi rõ rệt.

Hình 3.29. Diễn biến hàm lượng COD theo thời gian xử lý

Hình 3.30. Diễn biến hàm lượng BOD5 theo thời gian xử lý
Hàm lượng COD, BOD5 của các mẫu giảm dần theo thời gian kể từ khi bổ sung chế phẩm. Tại bể 1, hiệu quả xử lý các thông qua các thông số COD và BOD5 tăng lên rõ rệt sau 4 tuần lần lượt là 68,2% và 72,9%.
Đối với chỉ tiêu NH4+, từ Hình 3.31 cho thấy tại bể 1 và bể 2 với lượng chế phẩm bổ sung tương ứng là 10 và 5 ml thì trong khoảng thời gian 2 tuần kể từ khi bổ sung chế phẩm, nồng độ NH4+ tăng lên đáng kể.

Hình 3.31. Diễn biến hàm lượng NH4+ theo thời gian xử lý
Như vậy, qua 63 ngày thử nghiệm việc sử dụng chế phẩm vi sinh vật chịu mặn để xử lý chất ô nhiễm có trong bùn đáy âu thuyền Thọ Quang tại PTN đã đem lại kết quả hết sức khả quan.
Căn cứ vào kết quả của việc điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường âu thuyền và hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm vi sinh trong xử ô nhiễm bùn đáy trong phòng thí nghiệm, nghiên cứu sẽ đề xuất một số nhóm biện pháp như dưới đây để có thể góp phần vào việc cải thiện chất lượng môi trường tại âu thuyền Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng.
3.3.1. Giải pháp về mặt kỹ thuật
3.3.2. Giải pháp về mặt quy hoạch
3.3.3. Giải pháp về mặt quản lý
3.3.4. Giải pháp sử dụng chế phẩm vi sinh vật chịu mặn
Như đã nêu ở những phần trước, sử dụng chế phẩm vi sinh trong xử lý môi trường là phương pháp thân thiện với môi trường và đem lại hiệu quả khá cao.
Để góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại âu thuyền bằng phương pháp này, sẽ căn cứ hiệu quả xử lý của mô hình trong phòng thí nghiệm để làm cơ sở tính toán lượng chế phẩm cần thiết phải sử dụng.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
- KẾT LUẬN
Sau khi thực hiện luận văn, có thể rút ra kết luận như sau:
– Việc điều tra, khảo sát, lấy mẫu quan trắc chất lượng môi trường nước tại âu thuyền Thọ Quang có thể nhận định rằng môi trường ở đây đang bị ô nhiễm:
+ Môi trường nước đang bị ô nhiễm chất hữu cơ, chất dinh dưỡng đặc biệt ở các vị trí cửa xả thải từ các trạm xử lý nước thải tập trung;
+ Sự thay đổi về nồng độ các chất ô nhiễm trong mùa mưa và mùa khô về cơ bản là không đáng kể, có thể nhận thấy rằng ở bất cứ thời điểm nào, âu thuyền vẫn là điểm nóng về ô nhiễm môi trường.
– Việc ứng dụng chế phẩm vi sinh vật chịu mặn để xử lý bùn đáy âu thuyền tại phòng thí nghiệm đã đem lại kết quả khá khả quan:
+ Hiệu quả xử lý TOC là khoảng 50% trong bể M1 bổ sung 10ml chế phẩm vi sinh, trong các bể M2 và M3 thấp hơn bể M1, với giá trị đạt được 34% và 20%. Trong khi đó, TOC tại bể M4 giảm nhẹ 10% trong quá trình thử nghiệm. Hiệu quả xử lý TOC chênh lệch giữa bể M1 đến M4 là 5 lần.
+ Hiệu quả xử lý hàm lượng T-N trong 04 bể thử nghiệm lần lượt là 45, 31, 21 và 12%.
+ Hiệu quả xử lý tổng T-P là 33,7; 24; 17 và 15% tương ứng với các bể M1, M2, M3 và M4.
- Các giải pháp đề xuất để giảm thiểu ô nhiễm tại âu thuyền Thọ Quang được xây dựng dựa trên hiện trạng môi trường thực tế tại âu thuyền. Luận văn đã đề xuất được 04 nhóm giải pháp cơ bản: về mặt kỹ thuật, quy hoạch, quản lý và sử dụng chế phẩm vi sinh vật.
KIẾN NGHỊ
Các doanh nghiệp hoạt động trong KCN DVTS Đà Nẵng cần tiếp tục nâng cao hiệu suất xử lý nước thải sản xuất; các cá nhân, tổ chức hoạt động trong chợ đầu mối thủy sản cần phải có ý thức giữ gìn vệ sinh, dọn dẹp, đảm bảo không có nước ứ đọng, rác vất bừa bãi để hạn chế việc phân hủy tạo mùi hôi; các tàu thuyền, các phương tiện, cá nhân hoạt động tại các cảng cá cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, chung tay góp sức bảo vệ môi trường chung;
Riêng đối với vấn đề mùi hôi tại khu vực âu thuyền, sẽ có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội tại đây, chính vì vậy cần phải nghiên cứu giải pháp nhằm giảm thiểu mùi hôi, cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ cuộc sống của người dân;
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\KY THUAT MOI TRUONG\LE XUAN THANH THAO\SAU BAO VE








