Vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Đà Nẵng

Vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Đà Nẵng

Vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Kế toán có vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và kiểm soát hoạt động kinh tế tài chính. Tuy nhiên, để kế toán phát huy toàn diện chức năng thông tin và chức năng kiểm tra thì cần phải xây dựng một hệ thống kế toán hoàn chỉnh bao gồm cả hai phần là kế toán tài chính và kế toán quản trị. Trong đó kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ mang tính chất khách quan. Thông tin do kế toán quản trị cung cấp mang tính linh hoạt, phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo, có thể phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng kế hoạch tài chính phù hợp với mục tiêu đã được xác lập. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống kế toán hoàn chỉnh trong đó đề cao vai trò của kế toán quản trị là một vấn đề quan trọng cho mọi đơn vị kế toán.

Với xu thế ngày càng phát triển như hiện nay, Việt Nam đang đưa ra những giải pháp để cải cách tài chính, trong đó có Nghị định 16/2015/ND_CP có hiệu lực từ ngày 06/04/2015, nghị định này quy định các nguyên tắc, quy định chung về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực: Giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác, đồng thời Nghị định này ban hành đưa ra rõ lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước buộc các đơn vị sự nghiệp có thu phải tự chủ kinh tế đặc biệt là các đơn vị sử nghiệp có thu như Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng thì việc điều chỉnh quản lý các họat động thu chi một cách hợp lý trong thời gian cải cách các hoạt động của đơn vị sao cho phù hợp với Nghị định 16/2015/ND-CP là một điều còn rất khó khăn và nan giải. Vì vậy muốn chủ động kiểm soát thu chi hiện tại, chúng ta cần đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính. Tuy nhiên việc vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng còn có nhiều vấn đề, chưa cung cấp đầy đủ thông tin cho các chức năng khác nhau của quản lý.

Với đề tài “Vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Đà Nẵng” tác giả mong muốn góp phần tăng tính hiệu quả trong việc quản lý tài chính tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng nói riêng và các đơn vị thuộc hệ dự phòng nói chung.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Hệ thống hóa lý luận về vận dụng kế toán quản trị tại các đơn vị thuộc Hệ Y tế dự phòng.

– Nghiên cứu thực trạng vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng

– Đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính tại Trung tâm.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Nội dung kế toán quản trị được vận dụng cho Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng

– Phạm vi nghiên cứu: Công tác kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng trong năm 2015-2017

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp mô tả kết hợp với phương pháp so sánh, phân tích số liệu qua các năm tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng. Ngoài ra, luận văn còn kế thừa các kiến thức, kinh nghiệm tiếp thu được từ các tài liệu, công trình nghiên cứu về lĩnh vực có liên quan đến đề tài.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

– Về mặt lý luận: luận văn đã hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản của KTQT, làm rõ bản chất của KTQT, khẳng định vai trò của KTQT trong tổ chức. Làm rõ đặc điểm hoạt động, yêu cầu quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu.

– Về ý nghĩa thực tiễn:

+ Luận văn đã phản ánh, phân tích, đánh giá thực trạng công tác kế toán tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng

+ Vận dụng những nội dung KTQT phù hợp tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng, giúp hình thành hệ thống KTQT, cung cấp thông tin hữu ích, kịp thời cho nhà quản lý trong quá trình điều hành, kiểm soát các hoạt động tại Trung tâm.

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày thành 3 chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản về kế toán quản trị tại các đơn vị dự phòng.

Chương 2: Thực trạng công tác kế toán tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng

Chương 3: Vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng.

7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI

CÁC ĐƠN VỊ Y TẾ THUỘC HỆ DỰ PHÒNG

1.1. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

1.1.1. Khái niệm về kế toán quản trị

Có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị:

Theo Luật Kế toán Việt nam, Kế toán quản trị “là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” [15, tr.9]

Theo Viện nghiên cứu Kế toán quản trị của Mỹ, “Kế toán quản trị là một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược kinh doanh, hoạch định và kiểm soát hoạt động, ra quyết định kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế, cải tiến và nâng cao giá trị doanh nghiệp, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt chẽ việc quản trị và kiểm soát nội bộ”[2, tr.13].

Theo nhóm tác giả Robert S.Kaplan và Anthony A.Atkinson thì “Kế toán quản trị là hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý trong việc lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của đơn vị. Hoạt động của kế toán quản trị bao gồm việc thu thập, sắp xếp, phân loại, xử lý phân tích và báo cáo thông tin cho các nhà quản trị. Không như thông tin do kế toán tài chính cung cấp cho những người sử dụng bên ngoài đơn vị như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp và cơ quan thuế, thông tin kế toán quản trị giúp cho việc ra quyết định trong nội bộ đơn vị”[15, tr.1].

Tóm lại, tùy thuộc vào các quan điểm khác nhau, có thể có những định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị. Tuy nhiên sự khác nhau là không nhiều. Các định nghĩa trên đều nhìn nhận kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống kế toán, có nhiệm vụ tổ chức thông tin kế toán trong đơn vị, KTQT có quan hệ chặt chẽ với KTTC trong việc sử dụng số liệu kế toán chi tiết của KTTC, song KTQT không phải là kế toán chi tiết. Có thể nói, nhìn từ góc độ phục vụ cho việc quản lý và ra quyết định thì kế toán quản trị là công việc ghi chép, thu thập, đo lường, phân tích và xử lý các thông tin kinh tế tài chính nhằm phục vụ cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định kinh doanh.

1.1.2. Lịch sử phát triển của kế toán quản trị

Lịch sử phát triển của kế toán quản trị được chia làm 4 giai đoạn như sau:

-Giai đoạn 1: Trước năm 1950, Kế toán quản trị tồn tại duới hình thức kế toán chi phí. Cùng với sự phát triển của sản xuất và các doanh nghiệp, kế toán chi phí cũng phát triển với nhiều nôi dung khác nhau như áp dụng kỹ thuật phân bổ chi phí sàn xuất chung vào giá thành sản phẩm, đành giá sàn phẩm dở dang, đành giá hàng tồn kho,… Mục tiêu chủ yếu của kế toán quản trị là xác định chi phí và kiểm soát tài chính bằng cách sử dụng phương pháp lập dự toán và phương pháp tính giá thành sản phẩm. Tuy nhiện, giá thành sản phẩm đươc xác định trong giai đoạn này chủ yếu phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính. Trong giai đoạn này, kế toán quản trị được xem như là một hoạt động kế toán cần thiết nhằm đạt đươc mục tiêụ của tổ chức.

– Giai đoạn 2: Vào những năm 1960, Càc nhà kế toán nhận ra rằng các thông tin chi phí sử dụng cho muc đích quản trị có sự khác biệt với các thông tin chi phí cho mục đích lập báo cáo tài chính. Điều này dẫn đến sự chuyển hướng kế toán chi phí thành kế toàn quản trị, việc cung cấp thông tin cho các muc tiêu lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị bằng cách sử dụng các phương pháp như phân tích ra quyết định, kế toán trách nhiệm quản lý.

– Giai đoạn 3: Vào những năm 1980, khái niệm kế toán quản trị mới bắt đầu được sử dụng rộng rãi, trong giai đọan này kế tóan quản trị tập trung vào việc giảm thiểu hao phí nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh bằng cách sử dụng kỹ thật phân tích quá trình quản lý chi phí.

– Giai đoạn 4: Vào những năm 1990, kế toán quản trị chuyển qua quan tâm vào việc tạo ra giá trị gia tăng bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng và tổ chức, có thể nói từ giai đoạn 3 trở đi, kế toán quản trị được xem là một bộ phận cấu thành của quá trình quản lý vì tất cả những nhà quản trị đều có thể trực tiếp tiếp cận với thông tin.

Trong từng giai đoạn cả quá trình phát triển thể hiện sự thích nghi với những điều kiện mới đặt ra cho tổ chức, thể hiển bằng sự hoà nhập, kết cấu lãi. Mỗi giai đoạn là sự kết hợp giữa cái cũ và cái mới, trong đó cái cũ được kết cấu lại để phù hợp với cái mới.

Hiển nhiên, sự phát triển của kế toán quản trị sẽ được liên tục tiếp diễn. Cùng vởi sự phát triển như vũ bão của khoa hoc công nghệ, nhiều công cụ mạnh được áp dụng vào việc xây dựng hệ thống kế toán quản trị, giúp cho hệ thống ngày càng hoàn thiện và phát huy được hiệu quả trong điều kiện môi trường hoạt động luôn thay đổi.

1.1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị

– Mục tiêu của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho lãnh đạo ra quyết định quản trị có trọng tâm, giúp lãnh đạo có thể tham gia vào quá trình quản trị và điều hành hoạt động.

+ Cung cấp thông tin: Thu thập vả cung cấp thông tin cần thiết cho nhà quản trị mọi cấp nhằm hoạch định, đánh giá và quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh.

+ Tham gia vào quá trình quản trị: quá trình quản trị bao gồm ra quyết định chiến lược, chiến thuật vả tác nghiệp.

– Nhiệm vụ của kế toán quản trị:

+ Thống kê các nguồn lực của tổ chức với mục đích kiểm soát và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

+ Kiểm soát và phân tích hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ nhằm điều chỉnh các hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra.

+ Hoạch định : đây chính là quá trình xây dựng mục tiêu.

+ Dự báo và đánh giá dự báo.

1.1.4. Vai trò của kế toán quản trị

Kế toán quản trị là công cụ đánh giá việc thực hiện những mục tiêu thông qua việc phân tích chi phí, là công cụ kiểm tra quá trình thực hiện quá trình hoạt động theo kế hoạch đã đề ra, từ đó có những quyết định hợp lý để họat động ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.

– Vai trò của kế toán quản trị là cung cấp thông tin hữu ích liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức điều hành hoạt động, kiểm tra kiểm soát và đưa ra quyết định.

– Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế họach: Việc lập kế hoạch trong một tổ chức phụ thuộc vào 2 yếu tố là mục tiêu họat động của tổ chức và dự toán ngân sách. Do đó kế toán quản trị phải cung cấp thông tin liên quan đến từng họat động về chi phí, doanh thu, hiệu quả công việc cho nhà quản trị để lập kế hoạch trong tương lai nhằm phát triển tổ chức.

– Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành hoạt động: Kế toán quản trị phải tổ chức ghi chép, xử lý thông tin, sắp xếp thông tin phù hợp cho từng tình huống khác nhau để các nhà quản trị xem xét ra quyết định đúng đắn nhất trong quá trình điều hành hoạt động.

– Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: Để giúp các nhà quản trị có thể kiểm soát được hoạt động, kế toán quản trị sẽ cung cấp những báo cáo thực hiện và đánh giá việc thực hiện thông qua việc so sánh với dự toán.

– Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: Kế toán quản trị phải cung cấp thông tin linh hoạt, kịp thời cho nhà quản trị để ra các quyết định thích hợp.

– Mối liên hệ của các chức năng như sau: cung cấp thông tin cho việc lên kế hoạch, cung cấp thông tin cho tổ chức điều hành hoạt động, cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát, cung cấp thông tin cho quá trình đưa ra quyết định.

1.2. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ Y TẾ DỰ PHÒNG TẠI ĐÀ NẴNG

1.2.1. Đặc điểm của các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Hệ Y tế dự phòng

– Là một đơn vị sự nghiệp có thu do cơ quan thẩm quyền của nhà nước thành lập ra được cấp kinh phí và tài sản để thực hiện các chức năng do nhà nước đề ra, đồng thời đơn vị còn tự tạo được nguồn thu thông qua nguồn thu phí, lệ phí, thu dịch vụ.

– Là một đơn vị có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nước quy định;

– Có mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước và ngân hàng để ký gửi các khoản thu, chi tài chính.

1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của Hệ y tế dự phòng

Thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực y tế dự phòng, bao gồm: phòng, chống bệnh truyền nhiễm, bệnh chưa rõ nguyên nhân, bệnh xã hội; phòng, chống bệnh không lây nhiễm; sức khỏe trường học; dinh dưỡng cộng đồng; kiểm dịch y tế biên giới; hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu và nâng cao sức khỏe cho người dân tại cộng đồng; sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế; xét nghiệm thuộc lĩnh vực y tế dự phòng, an toàn sinh học trong xét nghiệm; quản lý nhà nước các dịch vụ công cộng thuộc lĩnh vực y tế dự phòng,

1.2.3. Đặc điểm hoạt động tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc hệ Y tế dự phòng

Đặc điểm hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc hệ Y tế dự phòng là việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế – xã hội do Sở Y tế và Bộ Y tế giao phó. Để hoàn thành nhiệm vụ trên đòi hỏi các đơn vị phải bảo đảm được nguồn kinh phí hoạt động của mình và công tác thu, chi ngân sách là yếu tố góp phần tạo nên nguồn kinh phí để hoạt động. Theo cơ chế quản lý tài chính hiện nay, đặc điểm hoạt động tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc hệ Y tế dự phòng được thể hiện như sau:

– Nguồn tài chính bao gồm: Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp; nguồn thu từ dịch vụ; nguồn thu phí, lệ phí.

– Nội dung chi của các đơn vị sự nghiệp có thu

+ Chi thường xuyên.

+ Chi không thường xuyên.

– Các đơn vị Y tế dự phòng được phân thành nhiều loại hình tự chủ khác nhau. Tuỳ thuộc vào mỗi đơn vị, hàng năm sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi hoạt động thường xuyên, đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau:

+ Đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên

  • Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
  • Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập: tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định;
  • Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
  • Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
  • Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.

+ Đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên:

  • Trích tối thiểu 15% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
  • Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định;
  • Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 2 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
  • Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
  • Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.
  • Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn vị được quyết định sử dụng theo trình tự sau: Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập; Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ khác (nếu có).

+ Đối với đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên

  • Trích tối thiểu 5% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
  • Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 01 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định;
  • Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 01 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
  • Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
  • Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn vị được quyết định mức trích vào các quỹ cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

– Việc lập dự toán, chấp hành dự toán, hạch toán kế toán và quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước được các đơn vị thuộc hệ y tế dự phòng thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật kế toán, các văn bản hướng dẫn luật.

1.3. VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU THUỘC HỆ Y TẾ DỰ PHÒNG

1.3.1. Sự cần thiết vận dụng kế toán quản trị vào các đơn vị thuộc hệ y tế dự phòng

Kế toán quản trị cần được áp dụng cho mọi thành phần kinh tế và mọi lĩnh vực kinh doanh, kể cả các đơn vị thuộc hệ y tế dự phòng hay bất kỳ đơn vị sự nghiệp có thu nào bởi vì bất cứ một tổ chức nào dù mục đích của họ là lợi nhuận hay phi lợi nhuận cũng đều phải tiến hành các hoạt động nhằm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng. Mọi tổ chức sẽ không tồn tại lâu dài nếu không đáp ứng được nhu cầu khách hàng nên các tổ chức đều mong muốn tối thiểu hóa chi phí đầu vào và tối đa hóa kết quả đầu ra để đạt được hiệu quả cao nhất.

Với cơ chế quản lý tài chính mà nhà nước mới ban hành như hiện nay là việc tự chủ tài chính theo nghị định 16/2015/ND-CP buộc các đơn vị dự phòng phải đưa ra các phương pháp để hoạt động có hiệu quả các nguồn lực hiện có đồng thời phát triển thêm các dịch vụ mới để tạo thêm nguồn thu. Các đơn vị dự phòng phải hoạch định, kiểm soát chi phí, đánh giá trách nhiệm cá nhân, đánh giá việc hoàn thành mục tiêu đề ra và ra các quyết định thích hợp. Hơn nữa, trong giai đoạn nền kinh tế mở cửa hội nhập, ngày càng nhiều đơn vị tư nhân được mở ra để phục vụ khách hàng do đó càng làm gia tăng sự cạnh tranh đã và đang diễn ra trong lĩnh vực y tế. Vì vậy để thu hút người dân và các nguồn tài trợ buộc các nhà quản lý phải xây dựng được thương hiệu riêng cho đơn vị của mình, nghĩa là chất lượng phục vụ khách hàng phải ngày càng tăng cao đạt chất lượng toàn diện, chứng tỏ được khả năng quản lý thật sự hiệu quả.

Như vậy, có thể nói việc vận dụng kế toán quản trị vào các đơn vị dự phòng với những nội dung phù hợp trong bối cảnh hiện nay là một tất yếu khách quan. Mặc dù việc vận dụng diễn ra có phần chậm hơn so với lĩnh vực sản xuất kinh doanh vì y tế không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng nó vẫn phải diễn ra cho phù hợp với xu thế phát triển hiện nay.

Với công cụ KTQT sẽ giúp các đơn vị dự phòng về:

– Dự toán nguồn thu và chi hoạt động của các đơn vị.

– Thực hiện kiểm soát chặt chẽ tình hình thực hiện so với dự toán.

– Cung cấp thông tin thích hợp để lãnh đạo các đơn vị có những quyết định mang lại hiệu quả tài chính cao.

Với những công cụ này việc vận dụng KTQT vào hoạt động của các đơn vị dự phòng là hoàn toàn phù hợp với xu thế hội nhập như hiện nay

1.3.2. Vận dụng kế toán quản trị trong việc lập dự toán

Dự toán là cách diễn đạt về lượng hóa các mục tiêu của quản lý và là một công cụ được dùng để phân tích quá trình hướng đến các mục tiêu kế hoạch đó. Một bảng dự toán hiệu quả phải gắn chặt với chức năng quản trị.

Dự toán là công cụ quan trọng cho việc hoạch định và kiểm soát. Thông qua dự toán, nhà quản trị tiến hành đánh giá tình hình thu, chi dựa theo kế hoạch và thực tế đạt được trong phạm vi ngân sách đã dự toán, thấy được những thay đổi so với dự toán.

Trong hoạt động của các đơn vị dự phòng, dự toán có các tác dụng sau:

– Là cơ sở để được xét duyệt và cấp kinh phí hoạt động hàng năm.

– Là cơ sở để tổ chức, xây dựng bộ máy biên chế, tính toán cụ thể chế độ đãi ngộ đối với CBVC.

– Là cơ sở để tính toán đầu tư cơ sở vật chất nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu phục vụ khách hàng.

Cách tiến hành lập dự toán:

a) Dự toán nguồn thu sự nghiệp

Dự toán các khoản thu sự nghiệp được lập đầu tiên và là căn cứ để xây dựng các dự toán khác.

Dự toán các khoản thu sự nghiệp là một hoạt động rất quan trọng đối với các các đơn vị dự phòng, song theo nghị định 16/2015/NĐ-CP buộc các đơn vị phải chủ động hơn cho trong việc chi tiêu, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn thu NSNN. Dự toán này cần được thực hiện một cách nghiêm túc và đúng quy định của Luật ngân sách.

Dự toán thu phí, lệ phí: Dự toán thu phí, lệ phí được tính dựa vào số lượng khách hàng năm trước để làm kế hoạch lập dự toán cho năm nay.

Đối với các khoản thu này thì căn cứ vào nhu cầu tài chính của đơn vị, căn cứ vào chi phí bỏ ra và dựa vào quy định của nhà nước để xây dựng dự toán với các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp chi phí và có tích lũy

b) Dự toán chi sự nghiệp

– Dự toán chi hoạt động thường xuyên của đơn vị: theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao và chi các hoạt động sự nghiệp. Dự toán chi bao gồm chi từ ngân sách nhà nước và chi từ nguồn thu dịch vụ và nguồn thu phí, lệ phí được để lại.

+ Dự toán chi thanh toán cá nhân được xây dựng dựa vào số lượng cán bộ CNV hiện có, các dự toán còn lại được xây dựng chủ yếu vào số thực hiện của năm trước và nhu cầu cụ thể của năm dự toán

+ Dự toán nhóm chi cho con người (nhóm thanh toán cá nhân): bao gồm các khoản chi về lương, phụ cấp về lương (được tính theo chế độ hiện hành, kể cả nâng bậc lương hàng năm trong từng đơn vị hành chính sự nghiệp), tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản nộp theo lương: Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn. Đây là khoản bù đắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động cho y bác sỹ, y tá, cán bộ công nhân viên của Trung tâm.

+ Dự toán nhóm chi về hàng hóa, dịch vụ, bao gồm các khoản chi: tiền điện, tiền nước, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc, hội nghị, đoàn ra, đoàn vào, xăng xe, chi mua hàng hoá, vật tư dùng cho công tác chuyên môn; trang thiết bị kỹ thuật; sách, tài liệu chuyên môn y tế…Nhóm này nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy quản lý của Trung tâm và phụ thuộc vào cơ sở vật chất và quy mô hoạt động của Trung tâm.

+ Dự toán nhóm các khoản chi khác: Bao gồm chi các khoản lệ phí cầu đường, sân bay, bến bãi, bảo hiểm phương tiện, chi phí tiếp khách, chi lập quỹ bổ sung thu nhập, chi lập quỹ phúc lợi, khen thưởng, chi lập quỹ phát triển sự nghiệp và các chi phí khác.

+ Dự toán nhóm chi hỗ trợ vốn cho đơn vị, các quỹ và đầu tư vào tài sản: Bao gồm chi mua sắm, sửa chữa tài sản. Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố định dùng cho hoạt động chuyên môn cũng như quản lý nên thường phát sinh nhu cầu kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã xuống cấp.

+ Chi hoạt động chuyên môn quản lý: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

– Dự toán chi hoạt động không thường xuyên: Đơn vị chi theo quy định của Luật NSNN và pháp luật hiện hành với từng nguồn kinh phí như: chi các khoản sửa chữa phát sinh đột xuất, chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, chi dự án …Đối với chi hoạt động không thường xuyên này, Trung tâm lập kế hoạch chi theo đúng nội dung mục chi được Nhà nước giao dự toán.

c) Dự toán kết quả hoạt động tài chính

Dự toán kết quả hoạt động tài chính là phần chênh lệch thu lớn hơn chi giữa tổng dự toán thu và tổng dự toán chi của đơn vị. Đây là phần dôi ra để trích lập 4 quỹ: Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ phúc lợi, Quỹ khen thưởng, Quỹ bổ sung thu nhập.

d) Dự toán phân phối kết quả hoạt động tài chính

Được xây dựng sau khi đã có dự toán kết quả hoạt động tài chính thu lớn hơn chi. Dự toán phân phối kết quả hoạt động tài chính được xây dựng và sử dụng tuỳ theo mỗi loại hình đơn vị và được thực hiện theo nghị định 16/2015/NĐ-CP. Các quỹ được sử dụng như sau:

– Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp; chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho người lao động trong đơn vị; góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (đối với đơn vị được giao vốn theo quy định) để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các khoản chi khác (nếu có).

– Quỹ bổ sung thu nhập: Để chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong năm và dự phòng chi bổ sung thu nhập cho người lao động năm sau trong trường hợp nguồn thu nhập bị giảm.

Việc chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác. Hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị.

– Quỹ khen thưởng: Để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng) theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị. Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

– Quỹ phúc lợi: Để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi; chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động thực hiện tinh giản biên chế.

Việc sử dụng Quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

1.3.3. Vận dụng kế toán trong việc kiểm tra đánh giá thực hiện dự toán

Vận dụng kế toán quản trị kiểm tra bằng cách tiến hành so sánh kết quả thực hiện với dự toán được lập. Thông qua kết quả so sánh đó cho thấy sự khác nhau giữa thực hiện và dự toán để từ đó nhà quản trị Trung tâm chủ động có biện pháp để điều chỉnh kịp thời, tránh rơi vào tình trạng dư thừa dẫn đến lãng phí hay bị thiếu hụt kinh phí.

Dự toán, kiểm tra và đánh giá hoạt động tài chính là công cụ chủ yếu để điều hành và quản lý các hoạt động thu – chi tài chính của Trung tâm nhằm đạt các mục tiêu, chương trình, kế hoạch hoạt động đã đề ra. Về mặt thủ tục nó là kiểm tra giữa thu, chi thực tế với thu, chi dự toán để đánh giá, xem xét tiến độ cũng như có cơ sở lập dự toán cho kỳ đến.

a) Kiểm tra công tác thu

Hàng năm Trung tâm xây dựng kế hoạch thu tài chính của từng nguồn kinh phí: NSNN, nguồn dịch vụ, nguồn thu phí lệ phí. Kế hoạch tài chính này được xây dựng dựa vào tình hình thu thực tế của năm trước để làm căn cứ xây dựng kế hoạch cho năm sau.

Sau khi được cơ quan chủ quản giao kế hoạch thu chi tài chính, Trung tâm triển khai tổ chức thực hiện việc thu tài chính của đơn vị làm sao thu đúng, thu đủ theo pháp luật của nhà nước, cụ thể:

Nguồn kinh phí Ngân sách nhà nước:

+ Nguồn kinh phí thường xuyên. Trung tâm nhận dự toán giao hàng năm của cơ quan chủ quản về việc chi tiền lương và các hoạt động chuyên môn của Trung tâm;

+ Nguồn kinh phí không thường xuyên: nguồn kinh phí này được cấp chi tiết theo từng danh mục mua sắm, sửa chữa, chống dịch mà đơn vị đã xây dựng dự toán đầu năm, số kinh phí mà đơn vị đề xuất sẽ được cơ quan chủ quản cân đối trong phần ngân sách của thành phố để cấp cho đơn vị. Đơn vị căn cứ trên từng danh mục cụ thể để triển khai thực hiện.

Nguồn thu sự nghiệp: Trung tâm thực hiện thu đúng, thu đủ các nguồn thu phí, lệ phí theo thông tư 240/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ tài chính quy định giá tối đa dịch vụ kiểm dịch y tế, y tế dự phòng tại cơ sở y tế công lập.

Nguồn thu dịch vụ: mức thu các dịch vụ như tiêm chủng được thực hiện theo Thông tư 56/2014/TT-BTC ngày 28/4/2014 và Thông tư 233/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ tài chính.

Đến khoảng cuối quý III Trung tâm kiểm tra cân đối lại số thực nhận và thực chi nguồn kinh phí không thường xuyên của NSNN theo từng danh mục nếu có thừa, thiếu cần thay đổi, bổ sung thì làm tờ trình gửi Sở y tế để xin điều chỉnh danh mục để chuyển từ những mục thừa sang sử dụng cho những khoản kinh phí bị thiếu hoặc bổ sung thêm những danh mục mới phát sinh theo nhu cầu hoạt động chuyên môn. Việc kiểm soát các nguồn thu của Trung tâm do bộ phận Tài chính kế toán phụ trách, bộ phận kế toán có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thu các khoản cho đúng, đủ theo đúng quy định về giá đã niêm yết hoặc giá theo quy định của Bộ tài chính.

b) Kiểm tra công tác chi

Tiết kiệm chi là yêu cầu cần thiết đối với bất cứ một đơn vị có thu nào trong điều kiện hiện nay. Tiết kiệm chi làm giảm chi phí không cần thiết, tăng thu để có điều kiện đầu tư cơ sở vật chất, tăng thu nhập cho người lao động để từ đó nâng cao tinh thần làm việc và phục vụ khách hàng. Đồng thời theo Thông tư số 37/2015/TTLT-BYT-BTC từ 01/03/2016 các chi phí liên quan đến chi phí trực tiếp ( thuốc men, tiền điện, tiền nước…) và các khoản phục cấp đặc thù sẽ được tính vào nguồn viện phí, đến ngày 01/07/2016 tiền lương cũng sẽ được tính vào nguồn viện phí, theo thông tư mới này hướng tới việc tự chủ tài chính, với xu hướng như hiện này buộc các đơn vị phải đưa ra các chính sách để quản lý nguồn chi sao cho hợp lý.

Kiểm soát chi là việc phân tích tình hình chi thực tế so với dự toán để đảm bảo chi đúng theo dự toán đã phê duyệt và để cân đối thực hiện mục tiêu chi, tránh tình trạng có mục chi thì quá nhiều dẫn đến lãng phí hoặc mục chi thì quá ít do thiếu hụt kinh phí. Đồng thời phải xác định rõ nội dung, nguyên nhân làm thay đổi dự toán, nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện chi không đúng với tổng dự toán và dự toán chi tiết đã được phê duyệt.

Các khoản chi được lập kế hoạch định mức chi hàng năm theo từng nhóm mục chi trên cơ sở tình hình tài chính của năm trước. Để thực hiện tốt các khoản chi không sai mục đích thì Trung tâm phải có định mức chi từng tháng, quý. Các khoản chi được phòng Kế hoạch Tài chính lập và theo dõi chi cho đúng mục chi theo bảng kế hoạch đề ra.

Những khoản chi đã xây dựng theo kế hoạch đầu năm không sử dụng đến thì phải điều chỉnh qua mục chi khác cho hợp lý, hạn chế tình trạng dư thừa kinh phí cuối năm.

Giám sát các khoản chi: Trung tâm xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ căn cứ trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước để đảm bảo hoạt động thường xuyên cho phù hợp với hoạt động đặc thù của Trung tâm, đồng thời tăng cường công tác quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả trong phạm vi nguồn tài chính cuả mình.

c) Đánh giá tình hình hoạt động giữa thực hiện và dự toán

Dự toán, kiểm tra và đánh giá hoạt động tài chính là công cụ chủ yếu để điều hành và quản lý các hoạt động thu, chi tài chính của Trung tâm nhằm đạt các mục tiêu chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng, chương trình, kế hoạch hoạt động đã đề ra. Về mặt thực hiện thì nó là kiểm soát giữa chi thực tế với chi dự toán để đánh giá, xem xét cũng như có cơ sở lập dự toán cho kỳ tiếp theo.

Nội dung chủ yếu của việc đánh giá là:

– Đánh giá và tính toán hiệu quả của các hoạt động chuyên môn về y tế dự phòng các hoạt động dịch vụ khác.

– Kiểm tra và giám sát tình hình thực hiện các chỉ tiêu so với kế hoạch, dự toán và so với các năm trước.

– Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, phát hiện tiềm năng và đề ra biện pháp khai thác hiệu quả.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\MAI THI XUAN BINH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *