Xây dựng nhà nước pháp quyền (NNPQ) là xu thế phát triển tất yếu của thời đại, thể hiện qua sự đảm bảo cho nhà nước được tổ chức và hoạt động phù hợp với những tư tưởng chính trị tiến bộ của nhân loại, đó là công bằng, dân chủ, tự do và quyền con người. Mô hình tổ chức nhà nước theo NNPQ được coi là mô hình nhà nước lý tưởng của mọi thời đại.
Ở Việt Nam, yêu cầu xây dựng NNPQ được Đảng ta chính thức đưa vào Văn kiện Đại hội VII. Từ đó cho đến nay, lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (NNPQ XHCN) không ngừng được bổ sung và hoàn thiện. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã khẳng định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ số một, bao trùm, chi phối các nhiệm vụ khác”, là một trong những nhiệm vụ mang tính chiến lược trong quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội (KT – XH). Đây chính là quyết tâm chính trị của Đảng trong việc tiến hành đẩy mạnh công tác cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, đánh dấu một bước phát triển mới của sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới – một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đại hội X và Đại hội XI của Đảng đã chủ trương tiếp tục hoàn thiện NNPQ XHCN trên cơ sở xây dựng cơ chế vận hành nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nâng cao năng lực quản lý và điều hành của nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN)…
Sau gần 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận về lý luận và thực tiễn trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam, thì những năm gần đây đã bộc lộ nhiều vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết như: cần phải làm rõ những đặc trưng XHCN trong NNPQ, vấn đề dân chủ hóa đời sống xã hội trong NNPQ, phối hợp, phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước, vai trò lãnh đạo của Đảng trong NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân…
Trong dòng chảy xuyên suốt của lịch sử tư tưởng nhân loại, thời kỳ cận đại ở phương Tây nổi lên tư tưởng pháp quyền của các đại diện tiêu biểu như: J. Locke, Montesquieu, J. Rousseau. Các ông được đánh giá là những con người khơi nguồn tri thức cho phong trào Khai sáng. Trong hệ thống tư tưởng chính trị, tư tưởng pháp quyền giữ vị trí quan trọng và được trình bày trong một số tác phẩm như: “Khảo luận thứ hai về chính quyền – Chính quyền dân sự” (1689), “Tinh thần pháp luật” (1748), “Khế ước xã hội” (1762)… Những giá trị và ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng pháp quyền thời kỳ này đã thôi thúc nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều thế hệ trên thế giới khai thác và tìm cách luận giải để vận dụng trong quá trình tạo lập nhà nước hợp lý, có hiệu quả. Nó đã trở thành cơ sở nền tảng trong nghiên cứu lý luận để xây dựng NNPQ hiện đại.
Tuy nhiên, là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp, luôn không ngừng biến đổi, cho nên những tri thức, sự hiểu biết về chính trị, nhà nước vẫn chưa bao giờ được xem là đầy đủ, hoàn bị. Việc tạo lập một nhà nước thật sự hợp lý, có hiệu quả vẫn luôn là sự tìm tòi, thể nghiệm của các lực lượng cầm quyền và cũng là đòi hỏi, mong muốn của các cộng đồng dân cư ở mỗi quốc gia trong thế giới đương đại.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đối tượng nghiên cứu của luận văn thạc sĩ triết học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những giá trị của tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại, từ thực tiễn hoạt động của NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay, luận văn xây dựng các giải pháp nhằm phát huy những yếu tố tích cực của tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại nhằm hoàn thiện NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn sẽ là:
Thứ nhất, phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại
Thứ hai, phân tích thực trạng xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay
Thứ ba, xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện NNPQ XHCN ở Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài đã quy định phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài. Đối tượng nghiên cứu của đề là:
– Những nội dung tư tưởng, quan điểm pháp quyền phương Tây cận đại.
– Vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những quan điểm pháp quyền phương Tây cận đại thông qua một số đại biểu tiêu biểu và vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1. Cơ sở lý luận
4.2. Phương pháp nghiên cứu
* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được thực hiện gồm 3 chương (7 tiết).

1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Trong tiến trình phát triển của lịch sử, nhân loại luôn đặt ra những câu hỏi rằng: quyền lực nhà nước đã có nguồn gốc từ đâu, con người đã làm gì để quyền lực nhà nước không bị tha hóa, làm cách nào để tìm được một hình thức tổ chức và hoạt động nhà nước tốt nhất nằm đáp ứng được sự phát triển của xã hội. Thực tế, nhân loại đã tìm ra câu trả lời cho vấn đề nêu trên, đó là phải tổ chức nhà nước dưới hình thức NNPQ.
Vậy, NNPQ là gì ? Khái niệm này có được hiểu và sử dụng một cách nhất quán trong xây dựng nhà nước của các quốc gia hay không ?
Có thể nói rằng, “Nhà nước pháp quyền” là một thuật ngữ luật học xuất phát đầu tiên từ những học giả Đức, bắt nguồn từ các học thuyết của chủ nghĩa tự do ở Đức trong thời kỳ sơ khai, đó là việc họ đặt luật pháp của nhà nước trên nền tảng của lý trí. Theo ngôn ngữ của Đức, Recht có nghĩa là luật pháp, còn Staat có nghĩa là nhà nước, nên Rechtsstaat có thể hiểu là nhà nước luật pháp [108].
Năm 1829, Robert Von Mohl đã dùng khái niệm “Nhà nước luật pháp” trong cuốn sách Luật học mang tên “Staatsrecht des Königsreich Würtemberg” (Nhà nước và pháp luật của Königsreich Würtemberg). Kể từ đây, khái niệm “Nhà nước luật pháp” chính thức được các nhà nghiên cứu sử dụng phổ biến ở Đức. Về sau các học giả ở Đức vẫn tiếp tục nghiên cứu và bổ sung cho khái niệm theo hướng chú trọng về hình thức của luật pháp. Trong đó, Otto Mayer đã đưa ra định nghĩa NNPQ như sau: “Nhà nước pháp quyền là một nhà nước có được một hệ thống luật hành chính được quy định chặt chẽ, lấy hiến pháp làm cơ sở” [108].
Trong khi đó, ở nước Anh không có khái niệm “Nhà nước pháp quyền” chỉ được gọi là Rule of law (pháp quyền), phạm trù “nhà nước” dường như không hiện diện ở đây. Nó được hiểu ngắn gọn là pháp luật về quyền. Theo đó, luật pháp đứng ở địa vị cao nhất, mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật. Ở Hoa kỳ cũng có những quan niệm tương tự, NNPQ (due process of law) của người Mỹ được đề cập trong Hiến pháp thứ 14 (1868). Theo đó, NNPQ không phải chỉ là việc buộc chính quyền phải tôn trọng đúng thể thức khi áp dụng luật, mà còn buộc phải xem xét luật pháp về mặt nội dung.
Ở nước ta, trong từ điển Xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên, NNPQ được quan niệm như sau: NNPQ là:
“Nhà nước được xây dựng gắn với nền dân chủ, vận hành theo nguyên tắc dân chủ, các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp được bầu cử tự do với sự tham gia trực tiếp của mọi công dân và các quyền lực đó phải được tổ chức sao cho độc lập thật sự và những người được cử vào các cơ quan đó phải chịu trách nhiệm trước nhân dân – những người trực tiếp bầu ra họ.
Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật là thước đo, là cơ sở bảo đảm các quyền và tự do của mọi công dân, không ai được đứng trên pháp luật.
Nhà nước pháp quyền là loại hình nhà nước có nhiều khả năng nhất trong việc chống lại xu hướng độc quyền về quyền lực và xu hướng quan liêu hóa bộ máy quyền lực” [99, tr.205-230].
Với cách hiểu như trên, NNPQ là nhà nước bị hạn chế quyền lực, nhà nước ấy đối lập với nhà nước độc tài, chuyên chế, là nhà nước đảm bảo cho mọi công dân có được nhiều quyền nhất.
Đối với Trần Ngọc Liêu:
“Nhà nước pháp quyền là khái niệm dùng để chỉ xã hội tổ chức theo cách quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật và được đảm bảo thực thi bằng bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế chính trị – xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân” [50, tr.70].
Theo tác giả, đầu tiên cần phải hiểu NNPQ tồn tại với tư cách là một khái niệm, nó tồn tại trong tư duy, là sản phẩm của tư duy, không nên đồng nhất nó với một nhà nước nào đang hiện hữu. Thứ hai, nhà nước với tính cách nội dung khách quan được phản ánh trong khái niệm NNPQ là sự thống nhất giữa xã hội được tổ chức theo một cách thức xác định với bộ máy nhà nước. Thứ ba, bản chất của NNPQ được phản ánh trong khái niệm nói trên là “quyền lực của nhân dân được thể chế hoá thành pháp luật và đảm bảo thực thi bằng bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế chính trị – xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân”. Đây chính là nội hàm căn bản nhất của khái niệm “Nhà nước pháp quyền”.
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, NNPQ là mô hình nhà nước gắn liền với nền dân chủ, là nhà nước hoạt động dựa trên quyền lực của nhân dân. Nó không phải là mô hình nhà nước lý tưởng, mà chỉ là một công cụ, một phương tiện tổ chức, quản lý xã hội sao cho mối tương quan giữa nhà nước và pháp luật, nhà nước và công dân, pháp luật và công dân… cân bằng và hiệu quả nhất. Và như thế, tính pháp quyền của nhà nước không phụ thuộc vào chế độ chính trị mà chỉ phụ thuộc vào nền dân chủ và trình độ dân trí. Thế nên, nó Nó không phải là “cái đơn nhất” của nhà nước tư bản chủ nghĩa (TBCN), mà nhà nước XHCN cũng có thể xác lập cho mình một mô hình NNPQ thích hợp.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ĐCSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc các giá trị tinh hoa của nhân loại, trong đó có tư tưởng về NNPQ, về cách thức tổ chức quyền lực trong nhà nước vào xây dựng và củng cố nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân. Nhưng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” chỉ được sử dụng kể từ bài phát biểu của Tổng Bí thư Đỗ Mười tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (29/11/1991).
Bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến nay “là thời kỳ thể hiện sự tập trung nhất sự phát triển các quan điểm và đường lối của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [77, tr.109]. Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994) lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” và nêu khá cụ thể, toàn diện những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam với nội dung chủ yếu là:
“Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng ta lãnh đạo” [18, tr.56].
Đây là lần đầu tiên trong Văn kiện của Đảng chính thức nêu cụ thể, toàn diện quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng NNPQ Việt Nam. Điều này chứng tỏ tư tưởng về NNPQ Việt Nam đã có bước phát triển rõ nét và toàn diện, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Nhận thức lý luận và thực tiễn về xây dựng NNPQ Việt Nam không ngừng được sáng tỏ dần qua các kỳ Đại hội Đảng. Mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng NNPQ XHCN luôn được khẳng định và xem đây là chủ trương lâu dài có tính chiến lược. Gần đây nhất, Đại hội XI (1/2011) đã làm sâu sắc thêm nhận thức về xây dựng NNPQ XHCN và khẳng định phải tiếp tục “đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [28, tr.52], bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo, thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội, giải quyết đúng mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường.
Nghiên cứu và luận giải sáng tỏ khái niệm về NNPQ và NNPQ XHCN Việt Nam là việc làm cần thiết, góp phần làm rõ nội dung, nguyên tắc, mục đích… trong xây dựng nhà nước vì sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh. Từ những luận điểm trên, có thể đưa ra khái niệm mang tính tổng quát về NNPQ như sau:
Nhà nước pháp quyền là tổ chức quyền lực công khai trong hệ thống chính trị của xã hội công dân, được xây dựng trên nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại như: công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế, nhằm đảm bảo những giá trị xã hội được thừa nhận chung của nền văn minh thế giới – sự tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của con người, sự ngự trị, tính tối cao của luật pháp trong các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội, trong các lĩnh vực hoạt động nhà nước, sự phân công quyền lực và quyền làm chủ của nhân dân.
Nhìn trong toàn bộ lịch sử của loài người, “nhà nước chứa một dấu ngoặc đơn của lịch sử”. Vì rằng, xã hội loài người đã trải qua hàng triệu năm, song nhà nước thì mới xuất hiện chỉ có mấy nghìn năm. Nhưng ngay từ khi xuất hiện nhà nước lại là một tiêu điểm về sự quan tâm của con người và các cộng đồng người. Lịch sử các tư tưởng triết học qua các thời kỳ, có lẽ nổi rõ nhất vẫn là triết học phương Tây, từ thời cổ đại đến thời cận đại đã phản ánh trong đó những tri thức chung nhất của nhân loại về nguồn gốc, bản chất… và các loại hình tổ chức nhà nước.
– Cơ sở lý luận
Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, do những đòi hỏi của lịch sử xuất phát từ khát vọng về tự do, dân chủ, bình đẳng và quyền con người của nhân dân, đã có hai thời kỳ xuất hiện nhiều tư tưởng, quan điểm tích cực và tiến bộ về NNPQ. Đó là thời kỳ Hy Lạp, La Mã cổ đại và thời kỳ cận đại ở châu Âu.
Trong thời kỳ cổ đại ở phương Tây, những tư tưởng tích cực, tiến bộ về NNPQ được thể hiện khá rõ nét gắn liền với quá trình phát triển của xã hội chiếm hữu nô lệ và nền cộng hòa dân chủ ở Aten và La Mã, với các nhà tư tưởng tiêu biểu như Xolon, Pithagore, Heraclite, Democrite, Socrate, Platon, Aristotle…
Cùng với sự thể chế hóa nền dân chủ chủ nô, những mầm mống pháp quyền bắt đầu xuất hiện từ những cải cách của Xolon (638 – 559 trước Công nguyên (tr.CN). Chứng kiến tính chất quân chủ chuyên chế của nhà nước Hy Lạp đương thời, Xolon cho rằng: “luật pháp giống như cái mạng nhện; chúng làm cho kẻ yếu đuối sợ sệt, còn kẻ mạnh thì phá tan chúng” [85, tr.29]. Ông chủ trương cải cách triệt để nhà nước thành bang Hy Lạp và yêu cầu quyền lực phải được đặt ngang hàng với pháp luật, cả hai đều là phương tiện để đạt đến tự do và công bằng. Ông nói: “chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất” [68, tr.220]. Đến giữa thế kỷ thứ VI, Pithagore (580 – 500 tr.CN) đòi phải thực hiện mệnh lệnh của nhà nước, tức là phải tuân thủ pháp luật. Pháp luật phải đứng cao hơn các phong tục, tập quán truyền thống. Trên quan điểm duy vật biện chứng, Herodotes (480 – 425 tr.CN) được xem như người cha của chính trị học, ông là người đầu tiên đặt ra và so sánh ba hình thức cai trị cơ bản của thế giới cổ đại (quân chủ – quý tộc – dân chủ). Ông khẳng định, quyền lực trong xã hội không thuộc về tay người đứng đầu mà phải là của nhân dân, xã hội phải được quản lý công bằng trước pháp luật. Còn đối với Democritus (460 – 370 tr.CN) thì cho rằng:
“Nhà nước và pháp luật là sản phẩm của cuộc đấu tranh lâu dài của con người nhằm liên kết với nhau thành cộng đồng. Nhà nước là sự thể hiện quyền lực chung của công dân. Tự do của công dân nằm trong sự tuân thủ pháp luật” [77, tr.13].
Các nhà tư tưởng đã tiến thêm những bước dài khi tìm thấy được sự khác nhau giữa quyền tự nhiên và luật pháp của thị quốc. Trong số đó phải kể đến Socrates (469 – 399 tr.CN), ông đã xác định lý trí là bản nguyên của cả tự nhiên lẫn luật pháp, đạo đức và chính trị, thậm chí đồng nhất cái hợp lý, cái công bằng và cái hợp lệ. Socrates cho rằng không thể có dân chủ nếu không có pháp luật hoặc nếu có pháp luật nhưng pháp luật đã trở nên bất lực. Ông đánh giá thấp sự sáng suốt chính trị của Hội nghị nhân dân qua tuyên bố:
“Chẳng lẽ bạn không thấy xấu hổ trước những người bán len dạ, những nông dân, những thương gia, và những kẻ chợ, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mỗi một việc là làm sao mua rẻ bán đắt đó sao? Thế mà hội nghị nhân dân lại hình thành từ những hạng người ấy” [104, tr.50].
Có thể nói rằng, Socrates là người đã thực hiện bước ngoặt từ triết học tự nhiên sang triết học đạo đức, từ chủ nghĩa duy vật sang chủ nghĩa duy tâm. Sự lý tưởng hóa các quan hệ chính trị, thoát ly khỏi mảnh đất hiện thực, trần tục cũng chính là biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm về chính trị. Tuy nhiên, những phê phán của Socrates đối với sự tha hóa nhân cách của các thế lực núp bóng dân chủ để mưu lợi cho cá nhân luôn có ý nghĩa lịch sử tích cực.
Plato (427 – 347 tr.CN) và Aristoteles (384 – 322 tr.CN) là những tên tuổi lớn của thế giới cổ đại đã suy nghĩ về bước phát triển mới của xã hội, về hệ thống phân loại các hình thức tổ chức đời sống cộng đồng, quản lý xã hội. Tư tưởng của Plato về nhà nước, chính trị, pháp luật được đề cập trong các trước tác như: Phaedo (Đối thoại), The Republic (Cộng hòa), Laws (Luật pháp)… Plato đã lập luận rằng:
“những hệ thống chính trị thông thường (chế độ dân chủ, chế độ quân chủ, chế độ đầu sỏ, chế độ độc tài) vốn đã đồi bại, và nhà nước phải được cai trị bởi một giai cấp ưu tú gồm những nhà triết học được giáo dục từ nhỏ để trở thành người cai trị và được tuyển chọn trên cơ sở năng lực” [45, tr.140].
Đối với chế độ dân chủ, Plato đã không nêu lên hình thức xuyên tạc của dân chủ, mà cho rằng bản thân nó, một nền dân chủ thuần túy, đã là hình thức cai trị tồi tệ nhất từ tất cả các hình thức hiện tồn.
Trong khi liệt kê ra hình thức cai trị hiện có và phê phán chế độ dân chủ Athens, Plato chủ trương xây dựng một thể chế nhà nước mới mà theo ông sẽ đảm bảo sự bình đẳng và công bằng trong xã hội. Trong nhà nước lý tưởng của Plato, tính bền vững và nghiêm minh của định chế luật pháp được chú trọng đặc biệt. Ông nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của các nhà nước mà ở đó pháp luật không được đề cao và nằm dưới quyền lực của một ai đó. Ông cho rằng, “ở đâu có pháp luật được định ra, thì ở đó mới có chế độ nhà nước” [77, tr.13-14].
Sau sự sụp đổ của nền dân chủ Athens vào giữa thế kỷ IV tr. CN đã làm cho Aristoteles có những kết luận mới về nhà nước. Ông là người đầu tiên chỉ ra sự phân quyền trong bộ máy nhà nước thành lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo Aristoteles, nhà nước như một thực thể phức tạp, tập hợp những cá thể khác nhau về chức phận, về tình trạng của cải, phẩm chất đạo đức, địa vị, trình độ học vấn… Thể chế chính trị là một trật tự làm cơ sở cho sự phân chia quyền lực nhà nước và đảm bảo cho sức mạnh của luật pháp. Luật pháp không từ trên trời rơi xuống mà được xây dựng trên những giá trị truyền thống, phong tục, tập quán lâu đời… và vì thế luật pháp có tính chất bền vững và thiêng liêng.
Nếu như thời kỳ cổ đại, tư tưởng triết học chính trị nảy nở và chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ thì sang thời kỳ Trung cổ, kéo dài hơn 10 thế kỷ nhưng tư tưởng triết học chính trị dường như tiến rất chậm chạp, đôi khi còn thụt lùi so với thời kỳ cổ đại. Thời kỳ Trung cổ nổi lên tư tưởng chủ yếu của hai vị Thánh – Augustine và Thomas d’Aquinas. Augustine (354 – 430) – người bảo vệ trung thành những tín điều Ki–tô, ông chống lại tư tưởng “an phận” của người Hy Lạp cổ đại và cho rằng, công dân cần phải tuân theo lệnh của chính quyền và chiến đấu trong các cuộc chiến tranh chính nghĩa chứ không nên “trông chờ” hoặc “ỷ lại” vào nhà nước. Ông còn cho rằng, nhà nước của mọi công dân không phải là “Thành quốc lý tính” như các thành bang của Hy Lạp mà là “vương quốc vĩnh hằng” ở bên ngoài trần thế, nhà nước giúp duy trì hòa bình và thực thi luật pháp là do Thượng đế trao cho. Thomas d’Aquinas (1225 – 1274) đã thể hiện sự đồng tình với quan điểm của Aristote. Đối với ông, nhà nước là một thiết chế tự nhiên, không phải là thiết chế truyền thống, xã hội lý tưởng. Nhà nước mang tính tự nhiên, vì con người là động vật có tính xã hội và chính trị, có ước vọng được sống trong xã hội nên con người tất yếu sẽ tìm ra những nguyên tắc để cai trị. Ông cho rằng:
“Trật tự pháp luật đem đến cho mỗi người, cái thuộc về họ và làm cho họ có thể đạt tới sự dồi dào về vật chất và tinh thần, xã hội công dân trước sau cũng thay thế xã hội thần dân” [84, tr.91].
Như vậy, công lao của các nhà tư tưởng cổ đại Hy Lạp là đã xác lập và sử dụng trong các cuộc tranh luận học thuật về nhiều tư tưởng và học thuyết chính trị, cùng nhiều khái niệm, mà nhờ đó những thời đại sau xác định, đánh giá và tìm hiểu các hiện tượng chính trị. Các phạm trù triết học chính trị cơ bản là tự do, bình đẳng, công bằng, dân chủ, độc tài, bất công, quyền lực… được đề cập như một phần không thể thiếu trong tranh luận triết học. Bên cạnh đó, người Hy Lạp đã bước đầu tạo nên những mầm mống của những quan niệm về pháp quyền tự nhiên và nguồn gốc khế ước của nhà nước theo những cách hiểu khác nhau. Hơn mười thế kỷ trong “đêm trường trung cổ”, xã hội phát triển đi lên trong những bước nặng nề, chậm chạp và trì trệ. Tuy nhiên, mạch ngầm những tư tưởng vẫn len lỏi tuôn chảy, làm suy yếu dần cơ chế xã hội nặng nề răn đe hơn là kích thích tính độc đáo của cá nhân, tất cả chúng sẽ đạt đến hình thức hoàn thiện trong các hệ thống triết học và tư tưởng chính trị – xã hội cận đại.
Ở phương Đông, tư tưởng pháp quyền ít có điều kiện để nảy mầm và phát triển. Thay vào đó là những tư tưởng chính trị đạo đức của Nho giáo tồn tại dai dẳng trong xã hội phong kiến. Ngoài ra, tư tưởng pháp trị cũng có một thời kỳ thịnh trị, giúp nhà Tần thống nhất Trung Hoa. Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu vẫn cho rằng ở phương Đông chỉ có tư tưởng pháp trị chứ chưa có tư tưởng pháp quyền. Hiện nay, tất cả tư tưởng chính trị đó đều mang nhiều giá trị cả về lý luận và thực tiễn cho nghiên cứu và áp dụng trong xây dựng nhà nước văn minh.
– Cơ sở thực tiễn
Phong trào phục hưng văn hóa đã mở đầu cho một thời đại mới, đó là sự kết thúc đầy ý nghĩa của lịch sử Tây Âu trung đại, mở đầu cuộc hành trình tìm về với những giá trị xưa cũ và cũng đặt cơ sở cho sự vận động tiến lên phía trước. Phong trào phục hưng là phong trào văn hóa tinh thần, diễn ra vào cuối thế kỷ XIV và phổ biến rộng rãi vào thế kỷ XV – XVI tại nhiều quốc gia ở Tây Âu, đặc biệt là tại Italia, mà trung tâm là Florence, nhằm khôi phục, kế thừa và phát triển các giá trị văn hóa và khoa học của người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã từng bị lãng quên dưới thời trung cổ, trong đó có tư tưởng về pháp quyền. Lênin cho rằng, trong thời kỳ trung cổ “chủ nghĩa kinh viện và chủ nghĩa thầy tu Trung cổ đã làm cho con người bị lạc lối” [49, tr.390]. Xét từ góc độ nhân sinh, thời kỳ Phục hưng xứng đáng được xem như thời đại con người đã trở về với chính mình sau một cuộc hành trình đầy gian khổ suốt hơn mười thế kỷ.
Tư tưởng nhân văn đã trở thành trào lưu xuyên suốt trong sinh hoạt tinh thần Phục hưng, nó đã trở thành ngọn cờ tập hợp các lực lượng xã hội tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống lại thần quyền và tự do tín ngưỡng và khoan dung tôn giáo, mở đường cho khoan dung văn hóa, thể hiện đúng những tâm trạng, khát vọng của con người và gợi lên ở họ ý chí sáng tạo tự do. Trong thời kỳ này, chủ nghĩa nhân văn đã ngợi ca những giá trị đích thực của con người, lấy hình ảnh con người đấu tranh cho tự do và hướng đến xã hội lý tưởng, thay sự thống trị của Thượng đế bằng sự thống trị của con người.
Về đạo đức, chủ nghĩa thầy tu khổ hạnh bị lên án quyết liệt vì mọi người đã nhận ra rằng nó trái ngược với tinh thần của Jesus. Thay vì phụng sự Chúa mà quên đi bản thân mình, Ficino (1433 – 1499) cho rằng phụng sự con người cũng chính là phụng sự Chúa, bởi vì con người được tạo ra như hình hài của Chúa và theo tượng Chúa, đồng thời được Chúa ban quyền cai quản mọi tạo vật không phải con người. Ông ngợi ca người lao động và những giá trị do người lao động tạo ra. Ficino còn cho rằng con người còn đáng quý hơn cả thiên thần, bởi vì họ đạt được hạnh phúc và sự no đủ bằng mồ hôi của mình, bằng lao động vất vả suốt cả cuộc đời, trong khi các thiên thần chỉ biết rong chơi.
Bên cạnh đó, các khám phá, phát minh khoa học, tiêu biểu là Thuyết Nhật tâm của Copernic đề xướng, được Kepler, Galilei, Bruno bảo vệ, bổ sung, hoàn thiện đã phế bỏ Thuyết Địa tâm của Aristoteles và Ptolemei, làm lung lay nền chuyên chế tinh thần của nhà thờ, mở ra triển vọng khám phá vũ trụ không dựa vào uy quyền mà dựa vào ánh sáng của lý trí khoa học. Ăngghen nhận định:
“Đó là cuộc đảo lộn tiến bộ lớn nhất mà từ xưa đến nay, nhân loại đã trải qua; đó là một thời đại cần có những con người khổng lồ và đã sản sinh ra những con người khổng lồ; khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề về học thức sâu rộng” [54, tr.459-469].
Sự bùng nổ văn hóa và sự sáng tạo khoa học kỹ thuật thời phục hưng đã tác động mạnh mẽ và làm thay đổi cơ cấu xã hội và nhận thức chính trị. Phong trào cải cách tôn giáo đã trở thành đòn bẩy tạo ra những đột phá quan trọng. Chống lại mọi tham vọng của tòa thánh Vatican về tính phổ quát, bao trùm và duy nhất của nó ở mọi quốc gia, những người theo đạo Tin Lành đã đưa ra nguyên tắc mà theo đó mọi người có quyền tự giải quyết vấn đề hình thức thể hiện đức tin.
Về kinh tế, thời kỳ này ở Tây Âu đã hình thành các công trường thủ công thay thế cho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển, công cụ lao động được cải tiến, năng suất lao động tăng lên, thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh mẽ. Những cuộc phát kiến địa lý với việc tìm ra châu Mỹ và những miền đất mới đã tạo nhiều điều kiện để hình thành nền sản xuất TBCN.
Bắt đầu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, chế độ phong kiến ở Tây Âu bước vào thời kỳ tan rã. Sự phát triển của phương thức sản xuất TBCN đã trở thành một xu thế không gì ngăn cản nổi. Giai cấp tư sản từng bước lớn mạnh và không chịu khoan nhượng với chế độ chuyên chế phong kiến, họ đòi xóa bỏ đẳng cấp phong kiến, đòi tách vấn đề nhà nước, pháp quyền ra khỏi tôn giáo để thiết lập sự bình đẳng, bảo vệ quyền con người, xây dựng nền tảng của thể chế chính trị dân chủ tư sản. Trong cuộc đấu tranh chống lại các nền quân chủ chuyên chế, các nhà tư tưởng tư sản đã nêu lên các học thuyết, những tư tưởng về pháp quyền tự nhiên, về chủ nghĩa tự do… Cùng với sự thành công của các cuộc cách mạng tư sản đã làm cơ sở nền tảng hình thành thể chế chính trị dân chủ tư sản và NNPQ tư sản ra đời.
Tóm lại, NNPQ với tính cách là những giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ. NNPQ gắn liền với một nền dân chủ, tuy không phải là một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình thái KT – XH, nhưng không thể xuất hiện trong một xã hội phi dân chủ. Bên cạnh đó, để NNPQ ra đời thì xã hội loài người cần phải đạt đến một trình độ nhất định. Chính vì vậy mà, cho dù những tư tưởng về NNPQ xuất hiện rất sớm từ thời cổ đại, nhưng phải chờ đến khi các cuộc cách mạng tư sản nổ ra và thành công, với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản, NNPQ mới từ nhà nước ý tưởng dần trở thành nhà nước hiện thực.
1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN PHƯƠNG TÂY CẬN ĐẠI
Trong những năm cuối cùng của thế kỷ XVII, một trật tự mới đã thực sự bắt đầu. Sự phát triển của các yếu tố TBCN đến lúc đòi hỏi sự xác lập một cách chính thức các quan hệ sản xuất TBCN dựa trên cơ sở các quan hệ pháp lý tư sản. Học thuyết về NNPQ tư sản từng bước hình thành, nhà nước tư sản cũng từng bước được thiết kế theo mô hình NNPQ dựa trên cơ sở thế giới quan mới của giai cấp tư sản đang lên – thế giới quan pháp lý. Đó là sự phục hồi, kế thừa các giá trị tư tưởng về NNPQ thời cổ đại và đưa các giá trị đó lên tầm cao hơn phù hợp với đòi hỏi mới của lịch sử.
Trong các xã hội có giai cấp, nhà nước được xem là một nhân tố cơ bản của xã hội. Các nhà tư tưởng trong các thời kỳ lịch sử không thể không bàn đến vấn đề nhà nước. Trong lịch sử tư tưởng phương Tây thời kỳ cận đại, các nhà tư tưởng đã cắt nghĩa những vấn đề về nhà nước dưới nhiều góc cạnh khác nhau.
Trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền – Chính quyền dân sự”, Locke (1632 – 1704) đã nêu lên luận điểm về hai trạng thái xã hội. Trong trạng thái tự nhiên, con người được hoàn toàn tự do, “là chúa tể tuyệt đối của cá nhân mình và tài sản của riêng mình, bình đẳng với người vĩ đại nhất và không phục tùng đối với một ai” [51, tr.173], khi đó con người luôn bình đẳng, dân chủ và có quyền tư hữu. Ông khẳng định: con người được sinh ra
“với một địa vị tự do hoàn hảo và sự thụ hưởng không bị kiểm soát đối với tất cả các quyền và những ân huệ của luật tự nhiên, một cách bình đẳng như bất kỳ ai khác hay như với tất cả lượng người có trên thế giới này” [51, tr.124-125].
Đây được xem là quyền lực tự nhiên khi con người sống trong trạng thái tự nhiên. Nhưng cũng theo ông, mặc dù trong trạng thái tự nhiên con người chung sống với nhau bằng tình hữu ái và hòa bình, nhưng khi bước vào xã hội công dân thì mọi người phải rời bỏ “quyền lực tự nhiên của mình và trao vào tay cộng đồng” để thành lập nên nhà nước. Vì thế, Locke khẳng định: “mục đích cao quý và chủ yếu trong việc hợp nhất của con người thành cộng đồng quốc gia và đặt chính họ dưới một chính quyền, là sự bảo toàn đối với sở hữu của họ” [51, tr.174].
Theo Locke, con người sống trong trạng thái tự nhiên sẽ thiếu vắng ba thứ:
Một là, thiếu luật pháp được thiết định để điều chỉnh hành vi của mọi người theo những chuẩn mực chung.
Hai là, thiếu quan tòa được mọi người biết đến và có tính trung lập.
Ba là, thiếu quyền lực để hậu thuẫn và ủng hộ cho bản án đúng đắn và đem lại cho nó sự thi hành đích đáng.
Ba nhược điểm ấy làm cho con người sống trong trạng thái tự nhiên không còn an toàn và họ “thực hiện không có quy tắc và không chắc chắn cái quyền lực mà mỗi người có trong việc trừng phạt sự vi phạm pháp luật của người khác” [51, tr.175].
Do vậy, con người đã rời trạng thái tự nhiên đi vào xã hội công dân, họ thỏa thuận lập nên dựng nhà nước. Nhà nước thông qua các cơ quan của mình, sử dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp, trừng phạt người vi phạm, bảo toàn sở hữu của mọi người. Và như vậy, sự ủy quyền để lập nên nhà nước không làm cho con người mất đi quyền sở hữu mà ngược lại nó còn bảo toàn sở hữu của mọi người.
Trong khi đó, Montesquieu (1689 – 1755) coi sự ra đời của nhà nước là có tính lịch sử, đó là quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người đến một trình độ nhất định. Tiếp thu tư tưởng của Aristoteles, Montesquieu đưa ra quan điểm xác định bản chất của chính quyền bằng việc căn cứ vào số lượng người cầm quyền. Theo đó, chính thể nhà nước được chia làm ba loại: chính thể chuyên chế, chính thể quân chủ và chính thể dân chủ. Nói về về bản chất của ba chính thể này, Montesquieu viết:
“Chính thể dân chủ là chính thể mà dân chúng hoặc một bộ phận dân chúng có quyền lực tối cao. Chính thể quân chủ là một người cai trị, nhưng cai trị bằng pháp luật và được thiết lập hẳn hoi. Trong chính thể chuyên chế thì trái lại, chỉ một người cai trị mà không luật pháp gì hết, chỉ theo ý chí và sở thích của hắn ta thôi” [67, tr.47].
Ngoài ra, Montesquieu còn bàn đến chính thể quý tộc, ông xem nó cùng với chính thể dân chủ là hai hình thức của nhà nước cộng hòa. Ông cũng là người kịch liệt lên án chính thể chuyên chế và bày tỏ sự ủng hộ của mình đối với kiểu nhà nước quân chủ, trong đó quyền lực của một người được thực hiện trên cơ sở của luật pháp.
Nếu như Montesquieu dựa vào tư tưởng đại diện của nhân dân thì Rousseau (1712 – 1778) dựa vào tư tưởng chủ quyền nhân dân. Rousseau cho rằng, xã hội công dân nảy sinh cùng chế độ tư hữu và nhà nước được thiết lập sau đó. Theo ông, “Người ta sinh ra tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích” [78, tr.52]. Con người cần phải xóa bỏ áp bức, bất công bằng cách phải thiết lập một khế ước xã hội vì lợi ích chung của cộng đồng. Việc con người hướng đến một thỏa thuận như vậy là cơ sở của việc thành lập một chính quyền hợp pháp, thể hiện thông qua “khế ước xã hội”. Rousseau đã nhận thấy những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội là sự bất bình đẳng về giàu nghèo, sang hèn, kẻ đi tước đoạt và người bị tước đoạt, kẻ giàu có sẽ nắm quyền lực. Trong tác phẩm “Luận về khoa học và nghệ thuật” (1750), Rousseau tuyến bố: “giàu có kia gây ra nghèo khổ này”, ông phê phán thiểu số những người đã sử dụng thành quả văn minh để làm giàu trên nỗi đau khổ của nhân dân. Tác phẩm “Luận về nguồn gốc và bản chất của sự bất bình đẳng giữa người với người” (1755) đã đánh dấu bước phát triển mới về những quan điểm về chính trị Rousseau. Có hai điểm đáng lưu ý mà Rousseau đã đề cập là:
Thứ nhất, Rousseau đã phân biệt ba cấp độ của bất bình đẳng. Đầu tiên đó là những bất bình đẳng về tài sản và sở hữu. Cấp độ tiếp theo là bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Cuối cùng, bất bình đẳng đạt đến cấp độ cực đoan, khi mọi người trở thành nạn nhân của những kẻ chuyên quyền, những nhà độc tài.
Thứ hai, Rousseau đưa ra quan niệm về khế ước xã hội và sự tuyệt vọng của quần chúng trước kẻ phá hoại khế ước, thâu tóm quyền lực và tạo ra tình trạng tha hóa phổ biến.
Để giải quyết vấn để này, Rousseau cho rằng con người hãy trở về với trạng thái tự nhiên – một biểu hiện của chủ nghĩa bi quan lịch sử. Thay vì cần phải cải tạo xã hội, Rousseau lại chủ trương chối bỏ các giá trị do con người tạo ra. Chính vì vậy, trong “Khế ước xã hội”, Rousseau đã bày tỏ sự ủng hộ đối với thể chế cộng hòa, coi đó là hình thức cầm quyền tốt nhất, trong đó, các quan chức đều do nhân dân bầu ra. “Khế ước xã hội” là một học thuyết mang tính cách mạng. Theo đó, một khi nhà nước được thiết lập theo khế ước thì chế độ dân chủ được bảo đảm, mọi người đều được tự do. Ngược lại, khi nhà nước bị lạm quyền thì nhân dân chính là người bãi bỏ nhà nước đó để thành lập một nhà nước mới. Theo thuyết này, con người vốn dĩ có các quyền tự nhiên, nhưng các quyền đó thường xuyên bị xâm phạm, vì thế, con người đã đấu tranh với nhau để bảo vệ các quyền của bản thân mình. Tất yếu của điều này đã làm xuất hiện cái gọi là quyền lực xã hội. Quyền lực xã hội là kết quả của việc mỗi cá nhân mang một phần quyền của mình giao cho các cơ quan quyền lực xã hội nhằm mục đích điều chỉnh các hoạt động chung của con người và xã hội. Ở quan điểm này, Locke đã có sự tương đồng khi ông bàn về quyền lực chính trị. Theo đó, quyền lực chính trị là quyền lực mà mỗi người khi tham gia vào xã hội đã ủy thác hoặc ngầm ẩn hoặc công khai cho các nhà cai trị. Mục đích của quyền lực chính trị là nhằm bảo toàn sinh mạng, tự do và tài sản của các thành viên trong xã hội. Theo Locke, “căn nguyên của quyền lực này chỉ là từ sự giao ước và thỏa thuận, từ sự đồng thuận hỗ tương của những người đã làm nên cộng đồng” [51, tr.231].
Rousseau cho rằng, nhà nước là một hiện tượng vĩnh viễn đi cùng với xã hội loài người và không bao giờ tiêu vong. Quan điểm này đã phần nào khắc phục được cách giải thích thần bí, siêu tự nhiên về nguồn gốc của nhà nước, nhưng vẫn “bế tắc khi lý giải nhà nước chỉ như một kết quả của ý chí chung của con người, là một hiện tượng vĩnh cửu, và điều đó đã phần nào đó làm sai lệch bản chất của nhà nước” [8, tr.18].
Tóm lại, Rousseau giải thích sự hình thành xã hội và nhà nước trên quan điểm của thuyết quyền tự nhiên và thỏa thuận xã hội. Sự tự do và bình đẳng của những người tham gia khế ước là cái bảo đảm sự liên kết nhân dân vào một thực thể, và thực thể này không thể đi ngược với những quyền lợi của từng cá nhân. Con người liên kết qua khế ước và từ bỏ quyền tự do sống theo cảm xúc cá nhân. Khế ước xã hội giúp con người chống lại những nguy cơ bị áp bức, bóc lột bởi những kẻ mạnh hơn. Nhà nước ra đời trên cơ sở khế ước xã hội với mục đích, nhiệm vụ là bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, bình đẳng đó.
Quyền tự nhiên là khái niệm dùng để chỉ những quyền con người nảy sinh từ chính bản chất tự nhiên của loài mà không phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nào. Đó là quyền được sống, quyền tự do, quyền tư hữu… Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên hiệp quốc cũng khẳng định rằng: “Quyền con người là quyền bẩm sinh vốn có, bình đẳng ở tất cả mọi người. Nó không thể bị tước đoạt hay hạn chế tùy tiện bởi bất cứ ai, nhà nước nào” [14, tr.62-69].
Trong thời kỳ cận đại ở châu Âu, các nhà tư tưởng đều thừa nhận quan điểm về quyền tự nhiên của con người và lấy nó làm xuất phát điểm tư tưởng của mình. Lý thuyết pháp quyền tự nhiên ra đời đầu tiên do các nhà triết học Hà Lan là B. Spinoza (1632 –1677) và H. Grotius (1583 – 1645) sáng lập dựa trên cơ sở lý luận pháp quyền tự nhiên đã có từ thời cổ đại. Lý thuyết này tuyên bố tính độc lập của pháp quyền tự nhiên. Nhà nước và pháp luật không phải do Chúa tạo ra mà là do sự thỏa thuận giữa con người với nhau phù hợp với quyền tự nhiên vốn có của mình và phù hợp với “quy luật tự nhiên”. Nhà nước tốt nhất không phải là nhà nước quân chủ mà đó phải là nhà nước dân chủ.
Tiếp tục lý luận về pháp quyền tự nhiên, Locke cho rằng: “tình trạng tự nhiên ban đầu của con người là tự do và bình đẳng” [29, tr.247], mọi người đều bình đẳng với nhau và điều đó là do tự nhiên mang lại. Ông nói:
“Không có gì hiển nhiên hơn là những sinh vật của cùng một loài và một hạng, được sinh ra một cách ngẫu nhiên với cùng những thuận lợi tự nhiên, sử dụng cùng những năng lực, cũng phải là những sinh vật bình đẳng với nhau mà không có sự lệ thuộc hay khuất phục… Sự bình đẳng này của con người là do tự nhiên đem lại” [51, tr.33-34].
Theo Locke, bình đẳng có hai loại, bình đẳng tuyệt đối và bình đẳng tương đối. Bình đẳng tương đối xảy ra khi chúng ta so sánh giữa những cá nhân với nhau về một số yếu tố như tuổi tác, tài sản, đức hạnh, tài năng, phẩm chất, dòng dõi… tạo cho họ sự khác biệt tương đối, buộc người này phải tuân thủ hoặc kính trọng người kia. Còn bình đẳng tuyệt đối “là cái quyền ngang nhau mà mỗi người đều có đối với sự tự do đương nhiên có của mình, mà không phải khuất phục trước ý chí hay quyền uy của bất cứ ai khác” [51, tr.91]. Loại bình đẳng này không căn cứ vào bất cứ điều gì cả, mà chỉ vì tư cách con người là cùng đồng loại nên bình đẳng với nhau. Điều này được Locke bàn đến trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền – Chính quyền dân sự”. Ông cho rằng: quyền tự do của con người là một quyền thiên bẩm. Ông khẳng định và đề cao quyền sở hữu của con người như là một quyền tự nhiên bất khả xâm phạm, xét theo lẽ phải tự nhiên con người “có quyền bảo toàn đối với bản thân họ, và do đó, ăn, uống và những việc khác tương tự như thế, là những nỗ lực tự nhiên cho sự tồn tại của họ” [51, tr.61]. Tư tưởng về sở hữu của Locke, đặc biệt là sở hữu đất đai đã góp phần tôn vinh lao động của con người và đã kích thích sự siêng năng, cần cù, sáng tạo của con người trong lao động. Tư tưởng này được William Petty (1723 – 1790) kế thừa, nâng lên và khẳng định rằng: “đất đai là mẹ của mọi của cải”.
Khi bàn về các quyền tự nhiên bất khả xâm phạm của con người, Montesquieu cho rằng, trong trạng thái tự nhiên, con người sinh ra đã bình đẳng, con người mất bình đẳng khi con người bước vào xã hội công dân, và “chỉ trở lại bình đẳng khi có luật pháp”[67, tr.87]. Quan điểm này của Montesquieu đã có sự thống nhất với sự bình đẳng trong trạng thái tự nhiên của Hobbes, Locke và cả Rousseau sau này. Nhưng khác với họ, những quan niệm về bình đẳng mới sẽ được tạo lập bằng việc mọi người ký kết với nhau một khế ước xã hội, còn Montesquieu lại cho rằng bình đẳng mới chỉ có được khi có luật pháp, bình đẳng phải dựa trên luật pháp, được đảm bảo bằng luật pháp.
Montesquieu “đã xây dựng một lý luận hiện thực hóa sự tự do thành một quyền căn bản của con người” [44, tr.109]. Ông cho rằng, bình đẳng, tự do không thể thuộc về chế độ quân chủ hay chế độ chuyên chế, mà nó luôn đồng nhất với chính thể dân chủ, và “quyền của nhân dân” cũng chính là “tự do của nhân dân” [67, tr.99], và “Tự do, với ý nghĩa triết học là được thực hiện ý chí của mình, hoặc ít ra là được nói lên quan niệm về thực hiện ý chí ấy” [67, tr.119]. Montesquieu đã dẫn lại lời của Cicero (106 – 103 tr.CN), khi ông nói:
“Thật ra trong các nước dân chủ nhân dân có vẻ là làm được điều mình muốn. Nhưng tự do chính trị tuyệt đối không phải là muốn làm gì thì làm. Trong một nước có luật pháp, tự do chỉ có thể là được làm những cái nên làm và không bị ép buộc làm điều không nên làm”. Ông nói rõ rằng: “Tự do là quyền được làm tất cả những điều mà luật pháp cho phép” [67, tr.99].
Trong tự do chính trị của công dân, Montesquieu nói rằng nó đã bao hàm cả sự an ninh của công dân. Đây là điểm đồng thuận nhất quán hết sức cao, từ Hobbes, Locke, đến Montesquieu, Rousseau, và cả những người khai sáng sau này trong quan niệm về an ninh, an toàn của con người trong trạng thái tự nhiên và trạng thái xã hội. Theo đó, con người có quyền tự nhiên để bảo vệ bản thân mình, và trong trạng thái tự nhiên điều đó được thực hiện với tư cách cá nhân và mang tính tự phát. Khi tham gia vào khế ước xã hội thì nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho con người do nhà nước đảm nhiệm.
Trong khi đưa ra quan niệm về dân chủ, Montesquieu đã có sự phân biệt rõ ràng giữa nền dân chủ chân chính và dân chủ cực đoan. Nền dân chủ Montesquieu tôn vinh là nơi mà trong đó “mọi người đều bình đẳng với tư cách công dân”, đó không phải là một nơi vô chủ, “mà là do những con người bình đẳng làm chủ” [67, tr.87]. Do đó, ông chủ trương xây dựng một nền dân chủ mà ở đó có sự kết hợp được cả dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Cũng như Locke và Rousseau, Montesquieu cho rằng: “dân chúng có quyền lực tối cao” [67, tr.49]. Chính vì vậy, họ có thể tự làm lấy những gì mà họ có thể đảm nhận được.
Từ giả thiết con người sống trong trạng thái tự nhiên, Rousseau cho rằng con người luôn được bình đẳng. Khi đó, tư hữu và bất công chưa xuất hiện, nhưng khi ra khỏi trạng thái tự nhiên bước vào xã hội thì con người phải cần đến một khế ước hay một công ước xã hội. Sở dĩ như vậy là vì “Người ta sinh ra tự do nhưng rồi đâu đâu con người cũng phải sống trong xiềng xích” [78, tr.52]. Cần phải xóa bỏ áp bức bằng cách phải cùng nhau thiết lập một khế ước xã hội hướng đến quyền và lợi ích chung của cộng đồng. Rousseau nói: “Khi nhân dân bị áp bức mà họ cứ phục tùng, thế cũng phải thôi” [78, tr.52] vì “người ta chỉ bắt buộc phải phục tùng khi sức mạnh đã thành ra hợp pháp” [78, tr.57] và đó “là một cử chỉ bắt buộc, chứ đâu phải là một sự tự nguyện” [78, tr.56]. Chính vì vậy con người cần phải giành lại tự do, và “nếu có thể hất cái ách áp bức đó thì còn hay hơn nữa, vì thế họ giành lại tự do mà họ vốn có quyền được hưởng, có quyền giành lại và không ai được tước đoạt tự do của họ” [78, tr.52], “tự do là từ bản chất con người mà có” [78, tr.53], và “từ bỏ tự do của mình là từ bỏ phẩm chất con người, từ bỏ quyền làm người và cả nghĩa vụ làm người” [78, tr.59].
Trên phương diện khế ước và pháp quyền, Rousseau cho rằng “con người không đồng đều nhau về thân thể và trí tuệ vẫn được hoàn toàn bình đẳng ngang nhau” [78, tr.51]. Đây là điểm khác nhau cơ bản trong tư tưởng của Rousseau và Hobbes trong cách hiểu về thực chất quá trình con người chuyển từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái công dân. Rousseau lưu ý: “Cần phân biệt tự do thiên nhiên chỉ hạn chế chật hẹp trong khả năng sức của một cá nhân với quyền tự do công dân, mà giới hạn rộng rãi là ý chí chung của nhiều người” [78, tr.47]. Rousseau còn bày tỏ quan điểm của mình về dân chủ, thể hiện ở việc khẳng định quyền lực phải thống nhất với ý chí chung, “nếu không có một điểm chung nào đó để cho các lợi ích hài hòa được với nhau thì không một xã hội nào có thể tồn tại” [78, tr.53]. Bởi vì, ý chí chung luôn hướng đến những lợi ích chung nên nó trở thành luật cho tất cả, là cơ quan quyền lực tối cao, không thể chối bỏ.
Tóm lại, một trong những điểm nổi bật của thời kỳ cận đại là, các nhà tư tưởng từ Locke, Montesquieu đến Rousseau đều đưa lý luận về tự do, bình đẳng, dân chủ lên thành các quyền chính trị xã hội của con người. Và trong quan niệm của các ông, các quyền tự do, dân chủ, công bằng không phải là sự ban phát của Chúa cho con người với tư cách là thần dân, mà đó là cái mặc nhiên phải có từ sự quy định của luật pháp tồn tại hiện thực. Điều này đã khơi mở cho cả một tiến trình của nhân loại ngày càng nhận thức và hiện thực hóa sâu rộng các quyền của con người và quyền công dân trong xã hội dân sự.
Trong lịch sử tư tưởng pháp quyền, tư tưởng phân quyền đã được đề cập rất sớm. Ngay từ thời cổ đại, Aristote là người đã phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên, tư tưởng của Aristote chỉ mới dừng ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước, mà chưa chỉ rõ phương thức vận hành cũng như mối quan hệ bên trong giữa các thành tố đó.
Đến thời kỳ cận đại, các nhà tư tưởng đã có những bước tiến xa hơn trong vấn đề này. Locke cho rằng, quyền lực nhà nước là do nhân dân trao cho, để tránh tình trạng độc quyền, lạm quyền thì quyền lực đó phải được phân chia, tạo nên sự “kiềm chế và cân bằng”. Locke đã phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và liên hiệp. Đây là tư tưởng cơ bản trong lý luận phân quyền của Locke. Ông khẳng định: “Mục đích cao cả của việc con người gia nhập vào xã hội là việc thụ hưởng sở hữu của họ trong hòa bình và an toàn” [51, tr.183]. Trong trạng thái tự nhiên, con người hành xử với nhau theo những luật lệ bất thành văn, theo lý trí của cá nhân, thì khi tiến vào xã hội công dân con người phải hành xử với nhau theo “luật pháp đã được thiết định”. Để xây dựng được luật pháp xác thực, Locke yêu cầu phải thiết lập cơ quan quyền lực lập pháp – là quyền lực thiêng liêng, tối cao đã được xã hội chấp thuận và thừa nhận, “là cơ quan vạch nên đường hướng và sức mạnh của cộng đồng quốc gia” [51, tr.199]. Theo Locke, quá trình soạn thảo, xây dựng luật pháp chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn nên cơ quan lập pháp không nhất thiết phải duy trì thường xuyên. Để tránh việc thâu tóm quyền lực thì quyền lực lập pháp phải được đặt trong tay nhiều người.
Locke cho rằng, luật pháp tuy làm ra chỉ một lần nhưng lại được áp dụng lâu dài, chính vì như vậy mà nó cần đến một quyền lực giúp nó được thực thi và sử dụng công cụ bằng vũ lực để duy trì chúng. Việc này phải được giao cho cơ quan hành pháp và cơ quan này thường được tách rời khỏi cơ quan lập pháp.
Ngoài quyền lực lập pháp, hành pháp, Locke cho rằng mỗi cộng đồng quốc gia còn có quyền liên hiệp. Đây là “quyền lực về chiến tranh và hòa bình, tạo liên minh và lập đồng minh, cũng như tất cả những giao kết khác, với mọi cá nhân và cộng đồng bên ngoài cộng đồng quốc gia” [51, tr.201]. Theo đó, quyền liên hiệp cần trao tay cho một người thông thái và cẩn trọng thực hiện.
Cho dù tư tưởng phân quyền của Locke được trình bày khá sơ sài, nhưng nó đã tạo hứng thú to lớn cho nhiều nhà tư tưởng sau này, trong đó có Montesquieu. Montesquieu đã bắt đầu xuất phát từ nền tảng tư tưởng phân quyền của Locke, nghiên cứu bổ sung, phát triển hoàn chỉnh thành Học thuyết “Tam quyền phân lập” – nền tảng thiết kế nên hiến pháp và thể chế của nhiều quốc gia TBCN, trong đó rõ nhất là Hiến pháp Hoa Kỳ (1787). Montesquieu cho rằng, phân quyền chính là tự do chính trị trong quan hệ với hiến pháp. Nhưng làm thế nào để bảo đảm quyền tự do chính trị cho nhân dân và chính quyền không ức hiếp dân? Theo Montesquieu, khuynh hướng chung là những người nắm quyền thì thường hay lạm dụng quyền, điều đó không phải là đặc điểm riêng của chính thể chuyên chế mà là đặc điểm chung của mọi chính thể, dù đó là chính thể cộng hòa hay là chính thể dân chủ. Chính vì vậy, muốn cho chính quyền không lạm dụng quyền lực thì nhất thiết phải tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc “quyền lực ngăn cản quyền lực”. Khác với Locke, Montesquieu không phân chia bang giao quốc tế thành một quyền ngang hàng với quyền lập pháp và hành pháp. Ông phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, quyền lập pháp là quyền của nhà vua làm ra luật, sửa đổi hay hủy bỏ luật, là việc “Nhà vua quyết định việc hòa hay chiến, gửi đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược” [67, tr.105]. Quyền tư pháp là quyền của “Nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân” [67, tr.105]. Montesquieu cho rằng, mỗi cơ quan được giao một lĩnh vực và chỉ có thẩm quyền trong lĩnh vực của mình, và không có thẩm quyền trong các lĩnh vực khác, nhưng lại có quyền ngăn cản cơ quan khác.
Theo đó, cơ quan lập pháp bao gồm những đại biểu do nhân dân bầu ra, thay nhân dân làm ra luật, quá trình làm luật phải mang tính độc lập với nhân dân nhưng phải báo cáo với nhân dân. Về chức năng, cơ quan lập pháp là cơ quan làm ra luật và xem xét việc thực hiện luật. Để bảo đảm quyền lập pháp thể hiện được ý chí chung của nhân dân, Montesquieu đề nghị phân cơ quan lập pháp thành hai viện.
Một viện gồm đại biểu của quý tộc và một viện sẽ dành cho những đại biểu của nhân dân. Hai viện sẽ thảo luận riêng lẻ những vấn đề, quan điểm, lợi ích mà mình là người đại diện, và có quyền ngăn cản những dự định của nhau. Theo ông, làm như vậy thì luật pháp do hai viện thông qua sẽ mang lại ích lợi cho mọi công dân.
Đối với cơ quan hành pháp, “là cơ quan hành động chứ không phải cơ quan bàn cãi” [44, tr.101]. Cơ quan này không có quyền biểu quyết luật, nhưng có quyền ngăn cản cơ quan lập pháp biểu quyết những đạo luật không có lợi cho quốc gia, dân tộc. Ngược lại, cơ quan lập pháp có quyền kiểm soát cơ quan hành pháp. Ông nói:
“Không nên để cho quyền lực lập pháp có được chức năng ngăn cản quyền lực hành pháp, vì quyền hành pháp có những giới hạn theo bản chất của nó, bao giờ cũng giải quyết những công việc nhất thời… Nhưng trong một nước tự do, nếu cơ quan lập pháp không có quyền ngăn cản hành pháp thì nó phải có chức năng xem xét các đạo luật đã ban hành được thực hiện như thế nào” [67, tr.115].
Ngoài ra, cơ quan lập pháp không có quyền xét xử nhà vua – người đứng đầu cơ quan hành pháp, vì nếu điều ấy xảy ra thì “nó sẽ trở thành chuyên chế, và như vậy không còn tự do nữa” [67, tr.115]. Đối với cơ quan tư pháp, Montesquieu cho rằng không nên duy trì thường xuyên và cố định cơ quan tư pháp và các quan chức tư pháp như cơ quan lập pháp hay hành pháp, mà nên do đoàn thể bầu ra trong một thời hạn nhất định.
Cốt lõi trong quan điểm của Montesquieu là nói lên mối liên hệ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước. Theo đó, chúng cần độc lập với nhau. Toàn bộ tư tưởng này được Montesquieu viết như sau:
“Khi quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người, hay một Viện nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài.
Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán đối với quyền sống và quyền tự do của công dân, quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp.
Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền nói trên thì tất cả sẽ mất hết” [67, tr.116].
Tóm lại, Montesquieu yêu cầu ba cơ quan quyền lực nhà nước phải hoạt động độc lập với nhau nhưng cần có sự ràng buộc nhau, tạo nên sự vận động chung của toàn bộ hệ thống nhà nước.
Tiếp nối Montesquieu, Rousseau cùng với tác phẩm “Khế ước xã hội” đã đưa ra những quan điểm rất mới mẻ và tiến bộ về sự phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong tác phẩm “Khế ước xã hội”, Rousseau cho rằng: “Luật là những điều khoản của ý chí chung” mà kể cả các nguyên thủ cũng không được đứng trên luật “vì ông ta cũng chỉ là một thành viên của nhà nước”. “Luật trị vì tức là lợi ích chung trị vì”, và “Dân chúng tuân theo luật phải là người làm ra luật” [78, tr.96-97]. Như vậy, Rousseau cho rằng luật pháp phải phản ánh ý chí, lợi ích chung của nhân dân, do nhân dân tham gia xây dựng.
Từ quan điểm về luật pháp, Rousseau bày tỏ sự phản bác đối với học thuyết phân quyền. Ông cho rằng quyền lực thể hiện ý chí chung nên cần phải thống nhất. Quyền lực của nhân dân thì không có giới hạn, và tất cả quyền lực nhà nước nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao tức là phải thuộc về toàn thể công dân trong xã hội. Rousseau xem tư tưởng phân quyền là “trò ảo thuật chính trị”, là sự quái dị, sự ghép lại quyền lực tối cao bằng nhiều mảnh giống như trò chơi ghép hình người từ nhiều cơ thể, mặt của anh này, tay của chị nọ, chân lại là của người kia. Nhưng ông lại chỉ ra rằng, phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và tư pháp, giao chúng vào tay cơ quan quyền lực tối cao và chính phủ là cách thức hợp lý duy nhất để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả cho nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng lạm quyền.
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2015\TRIET\VUONG


