Đạo đức và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp trong quá trình hội nhập. Nhưng ở nước ta hiện nay vấn đề này còn khá mới mẻ và ít được quan tâm đúng mức từ các doanh nghiệp. Hàng loạt các vụ việc vi phạm môi trường, vi phạm quyền lợi lao động, xâm phạm lợi ích người tiêu dùng… đã và đang khiến cộng đồng mất lòng tin vào các doanh nghiệp.
Những năm gần đây, Việt Nam đã tạo ra những thành quả kinh tế ấn tượng, mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội có nhiều thay đổi sâu sắc, toàn diện, song cũng đặt ra nhiều thách thức mới cho các doanh nghiệp. Những đòi hỏi từ các công ty quốc tế, các nhà nhập khẩu hàng hóa Việt Nam và người tiêu dùng đối với các doanh nghiệp trong việc tuân thủ các chuẩn mực toàn cầu về an toàn lao động, chăm sóc sức khỏe người lao động, bảo vệ môi trường ngày càng gia tăng. Luật chơi trong thời hội nhập đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải tuân thủ các vấn đề trên nếu không muốn rời khỏi
“cuộc chơi”. Điều đó gắn liền với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bởi nó bao hàm toàn bộ những khía cạnh trên.
Nghiên cứu mới đây của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho thấy, đa phần các doanh nghiệp Việt Nam chưa hiểu đúng về trách nhiệm xã hội. Các doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa và ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội tới bản thân doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam. Theo thống kê của Viện này thì mới chỉ có 36% doanh nghiệp được hỏi trả lời có bộ phận giám sát thực hiện trách nhiệm xã hội, khoảng 2% doanh nghiệp nói họ hiện đang là thành viên của nhóm thực hiện các tiêu chuẩn CS (tiêu chuẩn Việt Nam). Trong hai năm 2011 và 2012, 28% số doanh nghiệp chấp hành bảo vệ môi trường, 5% DN thừa nhận có đóng góp cho sự nghiệp chăm sóc y tế… Đó là thực trạng buồn về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam.
Năm 2009, Việt Nam đã trở thành một trong những nước đạt mức thu nhập trung bình và từng bước thoát nghèo, là thành viên của nhiều tổ chức trong khu vực và quốc tế và hiện đang đàm phán hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Sự hội nhập quốc tế một cách toàn diện và sâu rộng sẽ đem lại nhiều thách thức mới cho doanh nghiệp Việt Nam, nhất là trong bối cảnh ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tái cấu trúc và chuyển dịch nền kinh tế. Ở nước ta hiện nay có 97% trong tổng số doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ, ở đó còn tồn tại nhiều hạn chế trong việc đảm bảo môi trường lao động, phúc lợi lao động cho người lao động và thực hiện những trách nhiệm cần thiết của doanh nghiệp đối với xã hội.
Hiện nay, một số nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã nhận ra tầm quan trọng của trách nhiệm xã hội đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, cũng như gia tăng lợi thế cạnh tranh của mình. Các doanh nghiệp đi đầu trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội một cách bài bản, có chiến lược tại Việt Nam đa phần là các doanh nghiệp đa quốc gia và một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam có thể được coi là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ, theo cách có lợi cho doanh nghiệp, cũng như sự phát triển chung của xã hội, đó cũng chính là đạo đức của doanh nghiệp.
Ý thức được vấn đề này, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là đòi hỏi khách quan và cấp thiết đối với các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay, vì thế chúng tôi chọn đề tài “Đạo đức và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
– Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu đạo đức, đạo đức trong kinh doanh, từ thực trạng việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, luận văn xây dựng các giải pháp nhằm phát huy một cách có hiệu quả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững trong sản xuất, kinh doanh.
– Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Trình bày khái quát lý luận về đạo đức, trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.
+ Phân tích thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
+ Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp ở Việt Nam trong quá trình thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm xã hội của mình.
– Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc xem xét quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; những phương pháp, cách thức của các công ty xây dựng các tiêu chuẩn, Bộ quy tắc ứng xử và phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp để tổng hợp, so sánh, đánh giá thực tiễn.
* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành triết học, phục vụ trong học tập và nghiên cứu môn Triết học, Triết học xã hội.
Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục nghiên cứu lựa chọn các giải pháp nhằm thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở Việt Nam
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về đạo đức và trách nhiệm xã hội
Chương 2: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở nước ta hiện nay
Chương 3: Các giải pháp thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay

1.1. ĐẠO ĐỨC LÀ MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, là sự phản ánh tồn tại xã hội, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật. Trong xã hội có giai cấp, tư tưởng đạo đức thống trị trong xã hội là tư tưởng đạo đức của giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế. Giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế dựa vào bộ máy nhà nước để tuyên truyền, giáo dục và thể chế hoá tư tưởng đạo đức của mình thành những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, biến nó trở thành thước đo đánh giá, điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong xã hội, phù hợp với lợi ích của nó.
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, các tư tưởng đạo đức đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử. Ngay trong chế độ cộng sản nguyên thủy, ý thức đạo đức đã được hình hình và phụ thuộc chặt chẽ vào những điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt vật chất. Trong xã hội nguyên thủy con người cùng nhau hái lượm, xã hội không có sự phân chia giai cấp, không tranh lợi, không có hiện tượng người bóc lột người… mọi nguyên tắc của xã hội được duy trì bằng sức mạnh của phong tục, của dư luận xã hội, bằng uy tín và sự tôn kính đối với người phụ nữ, người tộc trưởng. Trong giai đoạn lịch sử này chưa xuất hiện các tư tưởng đạo đức. Đến thời kỳ lịch sử chiếm hữu nô lệ, khi có sự phân chia giai cấp, bất công xã hội nảy sinh, các tư tưởng về đạo đức xuất hiện trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại.
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos (moris) – lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là “Ethicos” nghĩa là lề thói; tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, “moral” là đạo đức, còn “Ethicos” là đạo đức học.
Trong triết học Trung Quốc cổ đại, các học thuyết về đạo đức xuất phát từ cách hiểu về đạo đức của họ. Theo người Trung Quốc thì “Đạo” là con đường, phạm trù này về sau được sử dụng trong các tư tưởng triết học để chỉ con đường của tự nhiên, chẳng hạn như khái niệm “Đạo” trong tư tưởng của Lão Tử. Ngoài ra, đạo cũng còn được hiểu như là con đường sống của con người trong tự nhiên và xã hội. Đối với phạm trù “Đức” dùng để chỉ đức nhân, đức tính…đó là sự biểu hiện của “Đạo”, là đạo nghĩa, nguyên tắc của luân lý. Khái niệm đạo đức được đề cập đầu tiên trong kinh văn của nhà Chu và sau đó thì được người Trung Quốc sử dụng nhiều, theo họ đạo đức là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra và buộc con người phải tuân theo. Trong các học thuyết triết học ở Trung Quốc thời kỳ cổ đại, tư tưởng về đạo đức xuất hiện rõ nhất trong học thuyết Nho giáo. Đạo làm người được Khổng Tử đề cập khá nhiều, ông cho rằng xã hội loạn do con người không làm đúng chức phận, không làm theo danh của mình. Ông xây dựng học thuyết “Chính danh” nhằm đưa xã hội từ loạn thành trị. Bên cạnh đó, Khổng Tử và các học trò của ông đã đề cập đến nhiều phạm trù đạo đức như: Nhân, lễ, nghĩa, tín… Ngoài ra, tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo cũng đã đề cập sâu sắc đến đạo và học thuyết “Vô vi”, Mặc Tử có học thuyết “Kiêm ái”…
Trong triết học phương Tây, vấn đề đạo đức được đề cập khá nhiều trong triết học cổ đại, cận đại và hiện đại. Trong triết học Hy Lạp cổ đại, các nhà triết học thường đề cập các vấn đề liên quan đến đạo đức, và cho rằng các vấn đề đó là đạo đức. Đối với Democritus thì đạo đức chính là con người có cuộc sống vui vẻ. Ông nói rằng: “Cách sống tốt nhất của một con người là làm thế nào để được vui vẻ càng nhiều càng tốt và đau khổ càng ít càng tốt” [22, tr.93]. Socrates thì cho rằng, đạo đức là con người biết làm điều thiện. Nhưng thế nào là thiện và làm sao biết đó là điều thiện? Socrates giải thích rằng: con người thiện là một con người có tri thức, một con người biết tri thức thì sẽ hiểu thế nào là thiện và sẽ hành động theo điều thiện. Và như thế, con người chỉ cần hiểu biết đạo đức thì đủ để trở thành người có đạo đức. Socrates đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của những định kiến duy lý, đã đồng nhất giữa lý luận và thực tiễn khi xem xét vấn đề đạo đức. Triết học thời kỳ Hy Lạp sau Socrates cũng có nhiều nhà triết học bàn về vấn đề đạo đức. Plato nghĩ rằng đạo đức chính là hạnh phúc và công bằng. Trong tác phẩm “Cộng hòa”, Plato nói rằng: đạo đức là nguyên nhân tất yếu dẫn đến hạnh phúc. Arittotle tin rằng, tri thức đạo đức là những tri thức tổng quát. Người có đạo đức không đơn giản rằng người ta hiểu được đạo đức là gì mà còn phải thực hành đạo đức giỏi, phải trở thành người lương thiện. Thánh Augustine cho rằng: cái thiện cao nhất chính là đạo đức, cái thiện cao nhất đó chính là tình yêu Thiên chúa, là sự hạnh phúc nhất. Nhưng đối với Immanuel Kantơ để có giá trị đạo đức thì chúng ta phải hành động vì bổn phận của chúng ta, tất nhiên đó không phải vì một mục đích ích kỷ mà đó phải là một ý chí tốt, nó dựa trên các nguyên tắc của ý chí chứ không phải vì kết quả. Chủ nghĩa vị lợi của John Stuart Mill thì khẳng định: Sung sướng là một nguyên tắc của hạnh phúc nhiều nhất. Ông chấp nhận nguyên tắc: “lợi ích hay hạnh phúc lớn nhất làm nền tảng đạo đức là tín điều cho rằng các hành động là đúng nếu chúng đem lại hạnh phúc, là sai nếu chúng đem lại điều đối nghịch với hạnh phúc”. [42, tr.529] Lịch sử triết học trước Mác đã có nhiều quan niệm về đạo đức dưới những góc nhìn xã hội khác nhau. Nhưng tựu chung đều hướng đến cái thiện, cái tốt đẹp và đều cho rằng đó là đạo đức. Cuộc sống tốt đẹp, vui vẻ và làm điều thiện chính là đạo đức. Nhưng xét cho đến cùng thì mọi học thuyết đạo đức đã có từ trước cho đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Trong các xã hội có sự phân chia giai cấp, tư tưởng đạo đức mang tính giai cấp, mỗi giai cấp có đạo đức riêng của giai cấp mình, nó phản ánh các quan hệ thực tiễn làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình. Ngày nay, đạo đức được hiểu và định nghĩa như sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. [21, tr.215]
Khi phân tích khái niệm về đạo đức cần chú ý các điểm sau:
Thứ nhất, đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của các quan hệ xã hội. Có đạo đức của xã hội nguyên thuỷ, đạo đức của chế độ chủ nô, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản. Lợi ích của giai cấp thống trị là duy trì và củng cố những quan hệ xã hội đang có. Trái lại, giai cấp bị bóc lột tuỳ theo nhận thức về tính bất công của những quan hệ ấy mà đứng lên đấu tranh chống lại và đề ra quan niệm đạo đức riêng của mình. Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp. Đồng thời, đạo đức cũng có tính kế thừa nhất định. Các hình thái kinh tế – xã hội thay thế nhau, nhưng xã hội vẫn giữ lại những điều kiện sinh hoạt, những hình thức cộng đồng chung. Tính kế thừa của đạo đức phản ánh “những luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kì cộng đồng người nào”. Đó là những yêu cầu đạo đức liên quan đến những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người. Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội… và biểu dương cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn… Ph.Ănghen từng nói rằng, không ai nghi ngờ được rằng nói chung đã có một sự tiến bộ về mặt đạo đức cũng như về tất cả các ngành tri thức khác của nhân loại. Quan hệ giữa người với người ngày càng mang tính nhân đạo cao hơn. Ngay trong xã hội nguyên thuỷ đã có những hình thức đơn giản của sự tương trợ và không còn tục ăn thịt người. Với sự xuất hiện của liên minh bộ lạc và nhà nước, tục báo thù của thị tộc dần dần mất đi. Xã hội chủ nô coi việc giết nô lệ là việc riêng của chủ nô, đến xã hội phong kiến, việc giết nông nô bị lên án. Đạo đức phong kiến bóp nghẹt cá nhân dưới uy quyền của tôn giáo và quý tộc; đạo đức tư sản giải phóng cá nhân, coi trọng nhân cách. Nhưng chúng ta vẫn chưa vượt được khuôn khổ của đạo đức giai cấp. Cho nên
“một nền đạo đức thực sự có tính chất nhân đạo phải đặt lên trên sự đối lập giai cấp và lên trên mọi hồi ức về sự đối lập ấy. Nền đạo đức như vậy chỉ có thể có được khi nào xã hội đã tiến tới một trình độ mà người ta không những đã thắng được mà lại còn quên đi sự đối lập giai cấp trong thực tiễn của cuộc sống”. [2, tr.156]
Đó là trình độ của xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Thứ hai, đạo đức là một phương thức để điều chỉnh hành vi của con người. Trong cuộc sống của mình, con người không ngừng sáng tạo ra các phương thức để chế ngự và điều chỉnh hành vi của mình. Đó là tập quán, phong tục, tôn giáo, pháp luật, đạo đức… Riêng với đạo đức, con người đã tạo ra những khuôn phép chuẩn mực và các quy tắc đạo đức đã biểu hiện thành khái niệm về điều thiện và điều ác, đúng và sai, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa…Trong bất kỳ thời đại nào con người cũng soi mình vào các giá trị đó để được đánh giá. Trong quá trình tồn tại và phát triển, các khái niệm của đạo đức thay chịu sự tác động của lịch sử và thay đổi trong từng thời đại, từng dân tộc, nó biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định. Những chuẩn mực đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của giai cấp nhất định đề ra cho mỗi cá nhân. Nó bao gồm những quy tắc thể hiện mối quan hệ giữa con người với quê hương đất nước, với giai cấp, nhà nước…và giữa con người với nhau. Tất cả những chuẩn mực đạo đức, những quy tắc đạo đức ấy được dư luận xã hội, một giai cấp, một dân tộc thừa nhận. Nó cho phép con người được làm những điều không trái với những giá trị đạo đức đã được công nhận và ngăn cản thực hiện những hành vi được cho là phi nhân tính, phi nghĩa… Xã hội sẽ trừng phạt tất cả những ai vi phạm bằng dư luận xã hội, bằng luật pháp.
Thứ ba, đạo đức là một hệ thống các giá trị. Giá trị đạo đức, nhìn từ góc độ cấu thành hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội, là một hình thái của giá trị tinh thần, có quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau với các giá trị khoa học, giá trị thẩm mỹ, giá trị chính trị… Về bản chất, giá trị đạo đức mang tính xã hội. Trong đời sống đạo đức từ cổ đại cho đến cận đại hay hiện đại, dù ở phương Đông hay phương Tây thì vẫn có thể tìm thấy sự tương đồng của những giá trị đạo đức cơ bản, như yêu lao động, trung thực, nhân ái… Lợi ích xã hội là tiêu chuẩn khách quan của các giá trị đạo đức, và vì vậy, chỉ khi nào những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi con người phù hợp với lợi ích xã hội, được dư luận đồng tình ủng hộ thì mới có giá trị. Giá trị đạo đức nằm trong hoặc luôn gắn với những phẩm chất, chuẩn mực cụ thể. Theo Phạm Văn Nhuận, “các giá trị của đạo đức được biểu hiện tập trung trong hệ thống phẩm chất, chuẩn mực đạo đức cơ bản dùng để điều chỉnh thái độ, hành vi của con người mang ý nghĩa xã hội của nó”. [60] Chúng ta không thể nói đến giá trị đạo đức mà lại tách rời các quan niệm, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức, không thể nhận thức giá trị đạo đức mà không dựa trên cơ sở những quan niệm, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cụ thể.
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển. Sống trong xã hội, người ta ai cũng phải suy nghĩ về những vấn đề đạo đức để tìm ra những con đường, cách thức và phương tiện hoạt động nhằm kết hợp lợi ích của mình và cộng đồng, từ đó bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và cộng đồng.
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Kinh tế thị trường đã từng bước hình thành và phát triển, đạo đức tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bên cạnh vai trò to lớn của kinh tế, chính trị… thì đạo đức ngày càng giữ một vai quan trọng đối với xã hội
Thứ nhất, đạo đức được xem là gốc rễ, là cội nguồn của mỗi con người. Với thực trạng cuộc sống hiện nay, khi cơ chế thị trường với tác động của những quy luật kinh tế khách quan, đặc biệt là quy luật cạnh tranh đã tạo ra những hiệu ứng nhất định về xã hội – đạo đức. Ở đây hiệu quả kinh tế và lợi nhuận là mối quan tâm đầu tiên của mỗi người. Do đó, người ta xem “thương trường là chiến trường” tìm mọi cách sao cho làm ra nhiều tiền của. Trong cuộc chiến ấy có thể người ta sẽ gạt bỏ mọi chuẩn mực đạo đức, chỉ tôn thờ một thứ duy nhất – đồng tiền, gắn hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống với nó. Sự sùng bái đồng tiền có thể trở thành một nguyên tắc xử thế và chuẩn mực hành vi của nhiều người, là nguyên nhân của không ít hành vi trái đạo đức, thậm chí là vi phạm pháp luật. Đạo đức sẽ giúp bài trừ phần nào lối sống thực dụng trên, xã hội phát triển và vấn đề đạo đức trong xã hội cũng phát triển theo chiều hướng tích cực trong sự phát triển ấy thì con người sẽ giàu tình thương hơn.
Thứ hai, đạo đức giúp con người đối xử với nhau theo đúng chuẩn mực cần có. Chúng ta thấy qua các trang báo hoặc phóng sự trên tivi, YouTube hàng ngày, hàng giờ những vấn đề đối nhân xử thế của con người luôn được bàn cãi. Nếu như trong mỗi người có ý thức đầy đủ về việc cần làm, về những hành vi ứng xử cần có thì sẽ không có các hiện tượng như câu chuyện xảy ra ở Thẩm mỹ viện Cát Tường, một người bác sĩ thường được ví là “từ mẫu” lại đặt lợi ích của bản thân hơn cả mạng sống của một con người [62] hoặc tình trạng học sinh vô lễ với thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy các em, không chỉ cách ứng xử với thầy cô mà ngay với bạn bè cũng đang nổi cộm tình trạng học sinh nữ cũng đánh nhau, đạo đức trong học đường hiện nay đang là tiếng chuông cảnh báo vai trò của đạo đức trong học đường cần được xem trọng hơn nữa. Xã hội sẽ tốt đẹp nếu con người chúng ta biết đối xử với nhau nhân ái, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau, loại bỏ những thói hư tật xấu, sự vô lễ trong cách ăn nói, có sự lịch thiệp trong cách giao tiếp và đạo đức phải làm nhiệm vụ ấy.
Thứ ba, đạo đức góp phần làm giàu tính người trong các quan hệ xã hội. Trong các mối quan hệ xã hội phức tạp, sự phát triển của đời sống xã hội, khi mà đồng tiền điều khiển đời sống của con người, tình cảm con người giành cho nhau ngày càng mờ nhạt, mọi thứ đều được đem ra cân, đo, đong đếm ngay cả đến tình cảm thì cần phải làm sao tình cảm được đặt lên trên tất cả. Chúng ta biết có rất nhiều chương trình từ thiện diễn ra, có rất nhiều nhà hảo tâm sẵn sàng bỏ ra một số tiền lớn của bản thân để hỗ trợ cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn, gần đây nhất là chương trình “Điều ước thứ 7” trên VTV3 – đài truyền hình Việt Nam cũng là nơi chắp cánh cho bao ước mơ, gieo niềm tin vào cuộc sống cho con người nhiều hơn nữa, nhà báo Lại Văn Sâm đã từng nói khi chương trình này được phát sóng:
“Chúng tôi chỉ muốn khơi lại sự nhân văn trong mỗi con người trong một xã hội mà có vẻ như đồng tiền đang ngự trị ở mọi ngóc ngách. Tuy nhiên, chúng tôi không kêu gọi lòng thương của ai, không xin ai, không cho ai, chỉ đánh động lòng nhân ái trong mỗi con người”. [63]
Nếu không có lòng yêu thương thật sự thì không thể có được những điều ý nghĩa như vậy.
Thứ tư, đạo đức giúp con người sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và xã hội. Đã là con người ai cũng mong muốn mình có một cuộc sống tốt đẹp, ai cũng muốn góp phần nhỏ bé công sức của mình vào sự phát triển của gia đình, xã hội. Để mong muốn đó trở thành hiện thực thì họ sẽ có trách nhiệm đối với chính bản thân mình, phải ra sức học tập, rèn luyện đạo đức, tạo dựng cho mình một nền tảng kiến thức vững vàng. Khi đã có một nền tảng tri thức thì sẵn sàng phục vụ, cống hiến cho xã hội. Ở Việt Nam, chúng ta đang vấp phải một trở ngại vô cùng lớn trong quá trình phát triển đất nước đó là thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao. Việt Nam có tiềm lực để phát triển kinh tế nhưng nguồn nhân lực đang bị chảy máu chất xám sang các nước có nguồn thu nhập cao hơn. Nếu như nhiều cá nhân có tài năng, như giáo sư Nguyễn Văn Thuận, trường Đại học Konkuk – Hàn Quốc mong muốn trở về nước xây dựng cơ sở khoa học trong nước, họ chấp nhận làm việc trong môi trường còn thiếu thốn và nguồn thu nhập chưa cao. Mọi người Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một phần nào đó lợi ích của mình để làm việc trong nước, họ thấy được trách nhiệm của bản thân với Tổ quốc thì chắc chắn trong tương lai gần Việt Nam sẽ là một nước phát triển. Một thực trạng đang nổi cộm hiện nay là tình trạng thừa thầy thiếu thợ đang là vấn đề đáng lo ngại của toàn xã hội. Hằng năm với một số lượng lớn sinh viên, thạc sĩ tốt nghiệp mà vẫn thất nghiệp, thay vì trở về làm một người lao động có tay nghề thì họ sẵn sàng chấp nhận tình trạng thất nghiệp, chúng ta thử so sánh nếu như trong một thời gian thất nghiệp, sống phụ thuộc vào gia đình tạo nên gánh nặng cho xã hội thì việc họ chấp nhận có một công việc, là một công nhân lành nghề, với sự hiểu biết sẵn có thì họ sẽ tạo ra nguồn thu nhập đảm bảo cho cuộc sống của bản thân, giảm đi gánh nặng cho gia đình, xã hội chắc hẳn sẽ tốt hơn rất nhiều, điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân mỗi người mà còn thể hiện trách nhiệm, tinh thần đạo đức với xã hội.
Thứ năm, đạo đức sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội về mọi mặt. Con người sống trong cộng đồng xã hội nếu mong muốn xã hội ngày càng văn minh, phát triển họ sẽ biết đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân, trình độ lao động ở những người không có năng lực sẵn sàng nhường bước, học tập và ủng hộ người có tài đức hơn mình làm những công việc quan trọng, xã hội cần những người thực sự có năng lực cống hiến. Do vậy, hiện nay trong việc tuyển dụng cán bộ công chức, viên chức được thực hiện công khai trên các kênh thông tin đại chúng, có sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan thanh tra, để những người được đào tạo qua trường lớp, có sự hiểu biết đảm nhận vào các công việc phù hợp, giảm tình trạng “con vua rồi lại làm vua, con sải ở chùa lại quét lá đa”. Tinh thần, trách nhiệm của mỗi các nhân trong công việc là một yếu tố đạo đức cần thiết trong xã hội.
Trên đây chưa phải đã phản ánh hết được vai trò của đạo đức đối với con người và xã hội nhưng đã phần nào làm rõ tầm quan trọng của đạo đức đối với cuộc sống. Hiện nay, đạo đức luôn được xem như một phạm trù mở rộng và đạo đức kinh doanh được đề cập và nghiên cứu ngày càng nhiều, là một phần trong nghiên cứu về triết học đạo đức.
Từ phạm trù đạo đức vừa được trình bày ở trên, đạo đức kinh doanh chỉ bắt đầu được nghiên cứu nghiêm túc và phát triển thành một môn khoa học, cả về lý luận và thực hành vào nửa sau thế kỷ XX ở các nước công nghiệp phát triển phương Tây.
Đạo đức trong kinh doanh là sự vận dụng, thực thi những giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu, biểu tượng đạo đức của cộng đồng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Về bản chất, đạo đức kinh doanh là đạo đức nghề nghiệp được thể hiện trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể, đó là lĩnh vực kinh doanh. Xét về mặt lịch sử, thuật ngữ “Đạo đức kinh doanh” mới chính thức được gọi tên khoảng hơn 40 năm trở lại đây. Vào khoảng 1974, một nhà nghiên cứu đạo đức kinh doanh rất nổi tiếng là Norman Bowie (sinh năm 1942), là giáo sư danh dự tại Đại học Minnesota đã có những phát ngôn quan trọng trong các cuộc tranh luận đang diễn ra về đạo đức kinh doanh, “trong các quan điểm của mình ông đã chứng tỏ mình ủng hộ quan điểm của Kant về đạo đức”. [50, tr.34] Tuy nhiên, sự hình thành những tư tưởng về đạo đức kinh doanh đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử. Ngay từ thời cổ đại, ở cả phương Đông và phương Tây. Những tư tưởng về đạo đức kinh doanh đã tồn tại dưới dạng những điều răn trong các bộ luật của các tôn giáo như: Thiên chúa giáo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo… và cho đến ngày nay những lời răn ấy vẫn còn những tác dụng cụ thể. Ngoài ra, tư tưởng đạo đức kinh doanh còn tồn tại dưới dạng triết lý ẩn chứa trong nhiều tác phẩm triết học của các nhà triết học cổ đại. Plato được biết đến thông qua những cuộc thảo luận về pháp luật của ông trong tác phẩm “Cộng hòa” và Aristotle đã bàn luận thật rõ ràng những mối quan hệ kinh tế, thương mại và mậu dịch dưới nhan đề “hộ gia đình” trong tác phẩm “Chính trị luận”. Nhận định của Aristotle về mậu dịch, trao đổi, sở hữu, trưng thu, tiền tệ và tài sản hầu như cũng còn ảnh hưởng đến ngày nay. Ông đưa ra nhiều điều phán xét về sự tham lam và việc lạm dụng quá đáng sức lực con người để theo đuổi sự giàu có. Ông cũng chỉ trích việc cho vay nặng lãi vì nó liên quan đến lợi nhuận của bản thân tiền tệ hơn là từ quá trình trao đổi mà trong đó đồng tiền chỉ là một phương tiện. Aristotle cũng đưa ra định nghĩa cơ bản về sự công bằng, theo ông thì những người cùng đẳng cấp phải được đối xử công bằng, sòng phẳng trong mua bán và được hưởng tiền công xứng đáng với những gì mà công sức đã bỏ ra. Sau khi La Mã suy tàn, giáo lý Cơ Đốc trở thành tư tưởng chủ đạo, và dù đã có nhiều sự thảo luận khác nhau về sự giàu nghèo, về chủ quyền và sở hữu, vấn đề kinh doanh vẫn chưa được nói đến một cách có hệ thống, ngoại trừ trong nội dung của pháp lý và dựa theo sự thành thật trong việc mua bán. Điều này được trình bày trong lập luận của Thomas Aquinas về việc bán hàng hóa đắt hơn giá trị thật của chúng với giá bán cao hơn là giá mua. Dựa trên lập luận của Aristotle, Aquinas chỉ trích vấn đề cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, ông cũng biện minh cho sự vay mượn hợp lý từ những người sẵn sàng cho vay lấy lời. Luther, Calvin và John Wesley là ba trong số những người theo chính sách cải cách cũng đã bàn thảo về vấn đề mậu dịch và kinh doanh và đã đi tiên phong trong việc phát triển quy luật đạo đức trong công việc (lương tâm nghề nghiệp) của người tín đồ đạo Tin lành… Quá trình phát triển tư tưởng đạo đức kinh doanh gắn liền với sự phát triển của ngành thương mại và sự phát triển của kinh tế thế giới qua các thời kỳ lịch sử.
Từ khi được chính thức sử dụng, thuật ngữ “Đạo đức kinh doanh” đã trở thành chủ đề tranh luận không ngừng nghỉ của các nhà lãnh đạo trong giới kinh doanh, người lao động, các cổ đông, người tiêu dùng và cả các giáo sư đang giảng dạy tại nhiều trường đại học trên thế giới. Cho đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về đạo đức kinh doanh. Về cơ bản có hai xu hướng sau:
Một là, những quan điểm cho rằng đạo đức cũng như trách nhiệm xã hội, nó không cần phải gắn với vấn đề kinh doanh của các doanh nghiệp. Điển hình cho những quan điểm này là M. Fridmann (1912 – 2006), ông cho rằng, các doanh nghiệp không có trách nhiệm nào khác ngoài việc kiếm tiền và khi lòng tốt nổi lên, các doanh nghiệp chỉ đảm nhận những trách nhiệm thứ yếu và làm như vậy đem lại nhiều điều xấu hơn là điều tốt.
Nhà triết học P.Ricoeur cũng cùng quan điểm này, ông cho rằng “việc đưa đạo đức vào kinh doanh chỉ là mánh khóe của tư tưởng coi trọng sản xuất khi nó gắn nhu cầu hòa nhập với những giá trị của doanh nghiệp do ban giám đốc đề ra”. [46, tr.167] Đối với nhà triết học J. P. Le Goff thì việc chúng ta đưa đạo đức vào trong kinh doanh chẳng khác nào chúng ta tạo ra một bóng dáng gia trưởng trong doanh nghiệp. Theo ông, đưa đạo đức vào trong kinh doanh chỉ là một phương thức đặc biệt để gắn chặt người lao động vào doanh nghiệp mà thôi, ngoài điều đó ra nó không còn ý nghĩa. Cực đoan hơn trong quan điểm của mình, “H. Arendt phê phán các hoạt động kinh tế bằng cách là gán cho doanh nghiệp một chức năng duy nhất là chức năng sinh học, nghĩa là duy trì cuộc sống con người và đảm bảo sức khỏe cho anh ta”. [26, tr.38]
Hai là, các tư tưởng ủng hộ việc đưa đạo đức gắn kết với quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Họ cho rằng đây là việc cần thiết song lại chưa hoàn toàn nhất trí với nhau về nhiều khía cạnh như về phạm vi ứng dụng, nội dung của đạo đức kinh doanh… Chính vì vậy mà có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức kinh doanh. Theo Phillip V. Lewis thuộc Đại học Abilene Christian – Hoa Kỳ. Trong khoảng thời gian từ năm 1961 đến năm 1985, trên các sách giáo khoa và tạp chí đã có khoảng 185 định nghĩa về đạo đức kinh doanh. Sau một quá trình tổng hợp các điểm chung của 185 định nghĩa, Ông đã xác định đạo đức kinh doanh như là nguyên tắc, tiêu chí, chuẩn mực để đánh giá hành vi của các chủ thể kinh doanh. Ông viết: “Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực và sự trung thực (của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định”. [46, tr.108] Đây là một định nghĩa đã chỉ ra được nội dung, chủ thể, không gian và thời gian của đạo đức kinh doanh.
Nhưng trên thực tế, nghiên cứu các vấn đề lý luận về đạo đức nói chung và đạo đức kinh doanh nói riêng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc xác định cái gì là đúng và cái gì được cho là sai. Trong khi đó, cái được cho là đúng đối với người này, trong lúc này thì lại không đúng với người khác, trong lúc khác. Trong những trường hợp như vậy buộc chúng ta phải có những lựa chọn dựa trên sự nhất trí của dư luận xã hội hiện tồn. Để giải quyết khó khăn mà các nhà nghiên cứu trước đây đã định nghĩa cũng như những khó khăn vấp phải trong quá trình nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu hiện nay thường sử dụng đến định nghĩa của Ferrels và John Fraedrich, khi các ông chú ý đến phương diện điều chỉnh hành vi đạo đức kinh doanh đối với hành vi của chủ thể kinh doanh. Các ông cho rằng:
“Đạo đức kinh doanh bao gồm những nguyên tắc cơ bản và tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi trong thế giới kinh doanh. Tuy nhiên, việc đánh giá một hành vi cụ thể là đúng hay sai, phù hợp với đạo đức hay không sẽ được quyết định bởi nhà đầu tư, nhân viên, khách hàng, các nhóm có quyền lợi liên quan, hệ thống pháp lý cũng như cộng đồng”. [46, tr.168]
Đây được xem là định nghĩa rõ ràng và thường được vận dụng trong thực tiễn đạo đức kinh doanh, nhất là ở những khía cạnh liên quan đến sự tuân thủ pháp luật, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội, những vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ về mặt đạo lý giữa doanh nghiệp và những cổ đông. Theo đó, đạo đức kinh doanh không chỉ có việc tuân thủ luật pháp mà doanh nghiệp còn phải quan tâm đến việc phải bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng hữu quan cũng như quyền lợi của cộng đồng.
Qua phân tích và luận giải một số quan điểm về đạo đức kinh doanh trên thế giới. Chúng ta thấy rằng, đạo đức kinh doanh không phải là một vấn đề đòi hỏi phải xác định rõ về mặt lý luận mà còn đòi hỏi được cụ thể hóa và vận dụng trong thực tiễn. Trên phương diện triết học, nhiều nhà triết học đã có nhiều nghiên cứu và góp phần lý giải nhiều vấn đề cơ bản liên quan đến đạo đức kinh doanh, đặc biệt là cơ sở đạo đức của các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các đặc trưng của những mối quan hệ đó.
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề đạo đức kinh doanh vẫn được xem là vấn đề còn khá mới mẻ, các giáo trình phục vụ dạy học cũng như sách liên quan không có nhiều. Một số sách được dịch từ Hoa Kỳ ra tiếng Việt nhưng với số lượng phát hành còn khá hạn chế. Trong thời gian gần đây, đã xuất hiện nhiều bài báo viết về đạo đức kinh doanh dưới nhiều góc nhìn khác nhau. Số lượng bài viết về đạo đức kinh doanh chủ yếu đăng tải trên internet ngày càng tăng, nội dung khá phong phú và mang tính thực tiễn cao, đã góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về đạo đức kinh doanh có cái nhìn thực tế về những vấn đề quan trọng này.
Trong các giáo trình giảng dạy về đạo đức kinh doanh ở nước ta hiện nay đều đưa ra định nghĩa dưới dạng khái quát và đơn giản như sau:
Đạo đức kinh doanh là những quy tắc được xã hội chấp nhận để phân định hành vi của chủ thể doanh nghiệp là đúng hay sai, là có đạo đức hay không có đạo đức để trên cơ sở đó nhằm điều chỉnh hành vi của các nhà kinh doanh.
Theo định nghĩa này, thì “đạo đức kinh doanh lại có nhiều điểm chung với sự tuân thủ luật pháp, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”. [46, tr.109] Điều này đồng nghĩa với việc đạo đức kinh doanh không chỉ là việc tuân thủ pháp luật mà còn quan tâm đến các vấn đề bảo vệ quyền lợi cho những đối tượng liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp và cộng đồng.
Đạo đức và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay Đạo đức và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay Đạo đức và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2015\TRIET\Thanh


