Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, TNXH của DN là lĩnh vực đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội và nhà quản lý. Bởi lẽ, trong thực tế, xuất hiện khá nhiều những hiện tượngliên quanđến hìnhảnhtiêu cực của các doanh nghiệp trong hoạt động, từ các thông tin về việc sử dụng thực phẩm bẩn, với hàng tấn cá chết được vận chuyển vào miền nam làm nước mắm, các xe khách chở đầy thịt bẩn tuồn vào các nhà hàng, các cửa hàng chế biến thức ănsẵn,… đếnsựviệc các công ty khôngxử lý chất thải nhà máy gâyônhiễm, cácvụvi phạm lao

động, an toàn lao động, sử dụng lao động trẻ em trái phép… Liệu điều này có tiếp tục diễn ra nếu như các doanh nghiệp, công ty ý thức được trách nhiệm và vai tròcủa mình đối với xã hội, đối với cộng đồng và từng khách hàng sử dụng sản phẩm?

Tuy nhiên, TNXH của DN vẫn chưa thựcsựđược quan tâm thỏa đáng ở Việt Nam, cảvề quan điểm, nộidung và cách thức thực hiện. Phầnlớndoanh nghiệp Việt Nam chưa có nhận thức đầy đủ về TNXH của DN cũng như vai trò của nó đối với việc nâng cao nănglựccạnh tranh và sự phát triển bềnvững của doanh nghiệp mình, thậm chí mộtsốcòn coi TNXHcủaDN là gánh nặng chi phí. Vì vậy, cần phảisớmtạo lập được nhận thức lý luậnđầy đủvề TNXH của DN, đặc biệt phần trách nhiệm có liên quan đến vấn đề QCN nhằm tuyên truyền, phổ biến về TNXH của DN một cách mạnh mẽ hơn với phạm vi và đối tượng rộng hơn.

TNXH của DN trong việcbảođảmTNXH của DN có liên quanđến cảnhận thức và hành động của doanh nghiệp, cả vai trò và trách nhiệm của nhà nước. Về phía doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần phải tôn trọng TNXH của DN và chủ động trong việc bảo đảm TNXH của DN trong hoạt động kinh doanh của mình. Về phía nhà nước, cầncósựgiám sát, quản lýcủanhànướcđểxửlý các vi phạmvềQCN do doanh nghiệp gây ra. Theo đó, cần phân tích rõ vai trò, trách nhiệm của nhà nước, nhận diện rõtrách nhiệm của doanh nghiệp để thúc đẩy việc bảo đảm QCN tối đa nhất.

Các doanh nghiệp và các bên liên quancầnnhận thứcmộtcách tíchcựcvềTNXH của DN, nhất là trong bối cảnh hội nhập ngày càng rộng và sâu hơn. Cùng với sự phát triển không ngừng của các tập đoàn xuyên quốc gia, đa quốc gia, hoạtđộng của các doanh nghiệp đã vượt ra ngoài biên giới quản lý của quốc gia. Ngoài vai tròtích cực trong kinh tế quốc tế và mang lại phúc lợi kinh tế và xã hội tại các quốc gia nơi doanh nghiệp hoạt động, quá trình sản xuất kinh doanh của các tập đoàn kinh tếcũng làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực như: khuyến khích việc bán phá giá, gián tiếp vi phạm tiêu chuẩn lao động, khai thác tài nguyên thiên nhiên tại các nướcđang phát triển… Bên cạnh đó, do đặc thù hoạt động kinh doanh của tập đoàn diễn ra ở nhiều quốc gia khác nhau, dẫnđếncósự xungđộtpháp luật, hoặc các tiêu chuẩn pháp lý quốc gia mà các công ty con hoạt động không bảo đảm được QCN. Do đó, vai trò của TNXH của DN, bản chất pháp lý và các công cụ TNXH của DN có thể trở thành một khuôn khổ quan trọng để bảo đảm QCN trong luật pháp quốc tế và quốc gia. Đồngthời, TNXHcủaDN cũng là mộtcánh cửa dẫncác doanh nghiệp trongnước hộinhập quốc tế và góp phần nâng cao vịthếcạnh tranh, đem lại lợi nhuận và sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp.

ỞViệt Nam hiện nay, xétcảtrên phương diện nhận thức lý luận và hànhđộng thựctiễn vẫn đang tồn tại nhiều vướng mắc,bấtcập liên quan đếnTNXH của DN trong việcbảođảmQCN. Các doanh nghiệphầunhư vẫnxem trách nhiệm trongbảođảmQCN thực chấtchỉđơnthuần là trách nhiệmđạođức, khía cạnh pháp lý chưa được chú ý đúng mức. Hệ quả rõ ràng là QCN trong mối quan hệ với hoạtđộngcủa doanh nghiệp chưađược quan tâm thoả đáng, nhiều trường hợp QCN bị xâmhạitừ phía các doanh nghiệp trong quá trình doanh nghiệp triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong bối cảnh đó, việc làm rõ các khía cạnh lýluận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp pháp lý nhằm tăng cường TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN là một nhiệm vụ quan trọng và thời sự hiện nay của khoa học pháp lý Việt Nam. Trong khi đó, đặt trong tương quan với tình hình nghiên cứu về vấn đề này, hiện vẫn còn nhiều khoảng trống.

Yêu cầu và bối cảnh nói trên là lý do và động lực thúc đẩy NCS lựa chọn đềtài “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ởViệt Nam hiện nay” để triển khai nghiên cứu trong quy mô luận án tiến sĩ luật học, với mong muốn tập trung làm rõ các khía cạnh lý luận cơ bản về TNXH của DN, đánh giá mộtcách toàn diện thực trạng hoạtđộngvà tácđộngcủa quá trìnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tới QCN, xác định những hạn chế, bấtcập và đềxuất đổi mới nhận thức cũng như cơ chế pháp lý về TNXN của DN trong bảo đảm QCN ở nước ta hiện nay.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án có mục đích tổng quát là xây dựng cơ sở khoa học cho việcđề xuất các giải pháp nhằm tăngcườngTNXH của DN trong việcbảođảmQCNởViệt Nam hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, nghiên cứu làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận cơ bản liên quan đến khái niệm, đặc điểm, vai trò TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN.

Thứ hai, nghiên cứulàm rõnộidung, tiêu chí nhận diện TNXHcủaDN trong việcbảođảmQCN. Từ đó, xácđịnhkhung pháp lýđiềuchỉnh TNXH của DN trong bảo đảm QCN.

Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng TNXH của DN trong việc bảo đảm QCNởViệt Nam, trongđóđiểmnhấn là thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luậtvềTNXH của DN trong bảo đảm QCN ở Việt Nam hiện nay.

Thứ tư, xây dựngđịnhhướng vàđề xuất các giải pháp tăngcườngTNXH của DN trong việc bảo đảm QCN ở Việt Nam, trong đó đặc biệt chú ý các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luậtvề TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứucủaluận án

3.1. Đối tượng nghiên cứu

– Các quan điểm khoa học liên quan đến TNXH của DN, QCN, TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN;

-Hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến TNXH của DN trong bảo đảm QCN thuộc hai lĩnh vực: lao động và môi trường;

– Thực trạng thực hiện TNXH của DNởViệt Nam trongbảođảmQCN trong hai lĩnh vực: lao động và môi trường;

– Pháp luật quốc tế và thực tiễn thực hiện TNXH của DN ở một số quốc gia trên thế giới.

3.2. Phạm vi nghiên cứu – Phạm vi nội dung

TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN là một chủ đề rất rộng, không thểgiải quyết trọn vẹn trong một luận án tiến sĩ.

Trách nhiệm của doanh nghiệpđốivới xãhộibaogồmcảtrách nhiệmđạođức và trách nhiệm pháp lý. TNXH của DN có thể nảy sinh trong toàn bộ quá trình hình thành, hoạtđộngvà giảithểcủa doanh nghiệp. TNXHcủaDNđốivới bảođảmQCN có thể ảnhhưởng, tácđộngđốivới tấtcảcác nhóm quyền cơbảncủa con người và ở các mứcđộ khácnhau, trực tiếp hoặc gián tiếp. TNXH của DN đối với bảo đảmQCN có thể diễn ra trên bình diện quốc gia và quốc tế, liên quan tới vai trò của nhiều chủ thể khác nhau….

Luận án “Trách nhiệm xãhộicủa doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay” tiếp cận nghiên cứu từ góc độ của khoa học pháp lý, lĩnh vực chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, do vậy, trên cơ sởlàm rõ các khía cạnh lý luận cơ bảnvề TNXH của DN, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến điều chỉnh pháp luật về TNXH của DN trong việcbảođảmQCN ở Việt Nam hiện nay. Nhóm lĩnh vựcđược lựa chọn để đánh giá thực trạng TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN ở Việt Nam baogồmlĩnh vực laođộngvà môi trường với các QCN có liên quan trực tiếp tới hoạtđộngsản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, chịu tácđộngmạnh mẽ từ tháiđộ trách nhiệmcủadoanh nghiệp. Các lĩnh vực khác và TNXH của DN trong việc bảo đảmcác nhóm quyền khácsẽ được đề cập ở mứcđộ kháiquát, mang tính chất so sánh để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu chủ đạo của luận án.

– Phạm vi không gian

Luận án nghiên cứuTNXH của DN trong việcbảo đảmQCNởViệt Nam, trong phạm vi cảnước.Luận án có chú ý thích đáng đến việc tìm hiểu TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN ở một số quốc gia trên thế giới, xem đó là cơ sở để nhận diện các tiêu chí xác định TNXH của DN và gợi mở một số kinh nghiệm cho điều chỉnh và thực thi pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

– Phạm vi thời gian

Luận án nghiên cứu TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN ở Việt Namtừkhi bắt đầu đổi mới đất nước. Tuy nhiên, liên quan đến giới hạn về nội dung, luận án tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2012 đến nay, gắn với việc ban hành các LuậtĐầutư 2020, Luật Doanh nghiệp 2014, LuậtBảovệmôi trường 2014,BộLuật Lao động 2012 và 2019, Luật BVMT năm 2020 …

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiêncứu

4.1. Phương pháp luận

Luận án được thực hiện bằng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật và trách nhiệm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển đấtnước,về vai trò và trách nhiệmcủadoanh nghiệp, về bảo đảm QCN trong giai đoạn hiện nay.

Cơ sở lý thuyết của luận án là học thuyếtvề quảntrịquốc gia, học thuyết phúc lợi chung, học thuyết kinh tế phát triển, học thuyết quyền con người…

Luận án tiếp cận nghiên cứu từ góc độ khoa học pháp lý, đồng thời sử dụng cách tiếp cận dựa trên quyền.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích được sử dụng khi đánh giá, bình luận các học thuyết, quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở nước ta hiện nay trong mối tương quan, liên hệ với QCN.

Phương pháp tổnghợpđượcsửdụng khi đánh giá nhằm rút ra những kết luận tổng quan, những quan điểm, các đề xuất, kiến nghị.

Phương pháp so sánh được sử dụng khi phân tích, đánh giá về tính pháp lý trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong mối tương quan với QCN, xu thế nhìn nhận tính pháp lý của TNXH của DN của các nước trên thế giới nhằm làm sáng tỏ những điểm chung, sự khác biệt trong hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước về TNXH của DN.

Phương pháp phân tích logic quy phạmđược sử dụng khi đánh giá thực trạng, xem xét về tính thống nhất, phát hiện mâu thuẫn trong nội dung quy định vềvề TNXH của DN và bảo đảm QCN.

Phương pháp trao đổi với chuyên gia được sử dụng khi xâydựng đề xuấtvàxây dựng chính sách (bộ nguyên tắc ứng xử chung) về TNXH của DN ở nước ta.

Phương pháp liên ngành và đa ngành khoa học xãhộiđược sửdụng trong toàn bộ luận án nhằm làm sáng tỏ các mối quanhệ chủ đạo giữaphát triển kinh tếvà bảo đảmQCN.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Là công trình chuyên khảo về TNXH của DN trong việcbảo đảmquyền con người ở Việt Nam, luận án có những điểm mới chủ yếu sau:

– Luận án tiếptụcphát triển nhận thức lý luậnvềTNXHcủaDN,vềQCN trong mối liên quan với sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp, về trách nhiệm của doanh nghiệp trong bảo đảm QCN. Khái niệm và đặc điểm TNXH của DN trong bảođảm QCN, nội dung điều chỉnh pháp luật liên quan đến nghĩa vụ của doanh nghiệp vàcủa nhà nước trong quản lý doanh nghiệp nhằm bảo đảm QCN, các yếu tố ảnh hưởngđếnTNXH của DN trong bảo đảm QCN là những khía cạnh lý luận mang tính mới của luận án.

– Luận án xây dựngđượcbứctranh tươngđốiđầyđủvề TNXHcủaDN trong việcbảo đảmQCN ở Việt Nam thuộc hai lĩnh vực chủ đạo: lao động và môi trường. Luận án chỉ ra những ưu điểm và hạn chế cũng như nguyên nhân của thực trạng điều chỉnh và thực thi pháp luật về TNXH của DN trong bảo đảm QCN thuộc hai lĩnhvựcnói trên chính là phát hiện mới, có ýnghĩa thực tiễn quan trọng của luận án.

– Luận án xácđịnhrõđịnhhướngthực hiện TNXH của DN trong bảo đảm QCNmộtcách hiệu quả, manglạinhững lợi ích lâu dài, bền vững cho doanh nghiệp và sự phát triển chung của toàn xã hội. Luận án đề xuấtđượccác giải pháp tươngđốitoàn diệnđể hiện thực hoá các địnhhướng. Các giải pháp có tính mới,được luận giảisâu sắc hơn, có tính khả thi chính là đóng góp quan trọng, thể hiện mục đích tổng quát của luận án.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

Kếtquả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm hệ thống lýluận cơ bản trong khoa học pháp lý và khoa học nhân quyền về trách nhiệm của các chủthểtrongbảođảmQCN, trướchếtlà quyền của người laođộng,quyền con người với môi trường.

Kếtquả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng trong xây dựng các phươngán lập pháp và thực tiễn quản lý nhà nước, quản lý điều hành doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và đào tạo luật học và nhân quyền. Luận án cũng có thể là tài liệu tham khảo cho bấtcứai quan tâmđến bảo đảmQCN, vai trò và khả năng nâng cao TNXH của DN trong bảo đảmQCN ở Việt Nam hiện nay.

7. Cấu trúc của Luận án

Ngoài phầnMở đầu, Kếtluận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án cókết cấu bốn chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án

Chương 2: Nhữngvấnđề lý luậnvề trách nhiệm xã hộicủa doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người

Chương 3: Thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việcbảođảm quyền con người ở Việt Nam

Chương 4:Địnhhướngvà giải pháp tăngcườngtrách nhiệm xã hộicủa doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu đề tài luận án

1.1.1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận của luận án

1.1.2. Tình hình nghiên cứu thực trạng trách nhiệm xãhộicủadoanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

1.1.3. Tình hình nghiên cứu đề xuất các giải pháp về trách nhiệm xã hội củadoanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người

1.2. Nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.2.1. Những vấn đề đã được nghiên cứu, luận án có thể và cần phải kế thừa

Thứ nhất, về lý luận,một sốcông trình nghiên cứu về TNXH của DN đã giải quyếtmột sốvấn đề lý luận chung về TNXH của DN, đề cập đến các khái niệm cơ bản, lợi ích và các tiêu chí đánh giá. Các công trình này đi sâu vào nghiên cứu TNXH của DN theo công ước quốc tế, pháp luậtmột sốnước trên thế giới và pháp

20

luật Việt Nam. Tuy nhiên, do mục đích,đốitượng, phạm vi và thời điểmnghiên cứukhác nhau nên các công trình này khôngđề cậpđếnlý luận việc TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN. Có thể khẳng định rằng, đây là các công trình cốt lõi, là cơ sở để nghiên cứu sinh kế thừa, tiếp thu để giải quyết vấn đề lý luận, thực tiễn và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TNXH của DN. Các kết quả của những công trình nghiên cứu này là những giá trị khoa học quan trọng để luận án kế thừa trong quátrình nghiên cứu về TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Hơn thế nữa, những kết quả nghiên cứu đó cũng sẽ gợi mở để Luận án đánh giá sâu sắc hơn trên quan điểm cá nhân nhằm giải quyết một cách hệ thống các nhiệm vụ đặt ra trong quá trình nghiên cứu.

Thứ hai, vềthực trạng, các nghiên cứuđãchỉ ra rấtnhiều hạnchế từ thực trạng TNXH của DN ở Việt Nam như: i) Nhiều luật và văn bản luật chưa được ban hành nên thiếu chế tài xử phạt, các doanh nghiệp thờ ơ và thiếu hiểu biết về nghĩa vụ thựcthi pháp luật cũng như trách nhiệm của mình đối với xã hội, đặc biệt trong lĩnhvựcQCN; ii)Rấtnhiều DN trongnước vẫnchưa nhận thứcđược tầmảnh hưởng của việc thực hiện TNXH của DN trong việcbảođảmQCN, những lợi ích mà DN cóthể đạt được từ việcthực hiện TNXH của DN; iii) Các doanh nghiệp còn gặp nhiều lúng túng, khó khăn trong việc xây dựng bộ quy tắc thực hiện TNXH của DN trongbảođảmQCN và áp dụngbộquytắcnày vào hoạtđộngkinh doanh, cũng như đưa nó trở thành chiến lược,sứ mạnghay tầm nhìn lâu dài của công ty; iv) Các nhà quản trị, lãnhđạodoanh nghiệp chưa thựcsự quan tâm nhiềuđến TNXH của DN trong bảo đảm QCN, chưa nắmđượccác tiêu chí đánh giá TNXH của DN nênbị hạn chế rấtnhiều khi đưa doanh nghiệp tham gia vào các Giao ước,

Hiệp hộingành nghề quốc tế… Tuy nhiên, TNXH của DNgắnvới việcbảođảm QCN mang tính đa ngành, liên ngành, các công trình nghiêncứuthường chỉ tập trung chuyên sâu vào một vài khía cạnh tiêu biểu và cũng chưa tiếp cận dướigócđộluậthọcnên thực trạng thực hiệnvề TNXH của DN trong việcbảođảmQCN nói chung chưađược đề cập nhiều.

Thứ ba, về đề xuất các quan điểm và giải pháp:Một số giảipháp đã được đềxuất như: vai trò điều tiết của nhà nước đối với TNXH của DN, nâng cao nhận thức của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tổ chức các diễn đàn và hội thảo cho cáctổ chứcphi chính phủ, các doanh nghiệp nhằm chia sẻsáng kiến và kinh nghiệm thực hành lao động, cảithiệnđiều kiện làm việc, môi

21

trường làm việc và hệ thống sức khoẻ cho người lao động trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau, tăng cường truyền thông trách nhiệm xã hội thông qua các giải

thưởng cho các doanh nghiệp có sản phẩm thân thiện với môi trường…

1.2.2. Những vấn đề còn tranh luận hoặc chưa đặt ra nghiên cứu, luận án cần triển khai nghiên cứu

Từ những kết quả nghiên cứu được kế thừa, luận án sẽ tập trung làm rõ nội dung quan điểm luật học về TNXH của DN trong lĩnh vực QCN như khái niệm, đặcđiểm, vai tròvề TNXH của DN trong việcbảođảmQCN. TNXH của DN có rất nhiều phương diện và trên rất nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, theo tác giả luận án có 2 lĩnh vực đặc thù về bảo đảmQCN là: lao động và môi trường.

Luận án làm rõ nội dung về khái niệm luật mềm, một xu hướng nghiên cứu mới trong pháp luật hiện nay và có vị trí riêng trong học thuyết pháp lý quốc tế vàtrong thực tiễn của pháp luật quốc gia. Bản chất của TNXH CỦA DN vốn là những cam kết tự nguyện và không có tính ràng buộc pháp lý nên việcđưaluậtmềmvàođể giảiquyết các cam kết không thực hiện hoặc vi phạm cam kếtđã được áp dụng vào nhiều trường hợp trên thế giới.

Luận án làm rõ căn cứđể thựchiện TNXH của DN trong việc bảo đảm QCNở Việt Nam như quan điểm, đường lốicủa Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước,các côngước quốc tế và chương trình nghịsựmà Việt Nam phê chuẩn và tham gia, các bộ quy tắc ứng xử phù hợp với doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.

Luận án sẽ đánh giá những thành tựu đạt được của doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện TNXH của DN trong lĩnh vực QCN như văn bản pháp quy và cam kết của doanh nghiệp về 2 nội dung nêu trên.

Bên cạnh những thành tựu thực hiện TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN, luận án sẽ chỉ ra những hạn chế và từ đó sẽ làm rõ những nguyên nhân của những tồn

tại như nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động, những sức ép cần thiết từ phía nhà nước, từ người lao động và xã hội, những yêu cầu của thị trường đối với TNXH của DN về bảo đảm QCN, về quan điểm và chính sách của doanh nghiệp, về hệ thống quản lý thực hiện TNXH của DN.

Đặcbiệttừ những phân tích trên, luận án giải quyết những mâu thuẫn giữa việc lợi ích kinh tế với bảo đảm QCN, về vấn đề rà soát QCN trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp, các biện pháp khắc phục,bồithường của doanh nghiệpđối

22

với cácvụ việcvi phạm QCN. Phân tích các quy định pháp luật ở phương diện các văn bản quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc (luật cứng) và cácđiềuước, quy phạm không mang tính bắt buộc (luật mềm). Từ đó chỉ ra tính hiệu lựccủacác quyđịnh pháp luật này trong thực tiễn đạt được đến đâu.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu về đề tài luận án 1.3.1. Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi tổng quát của luận án: Cơ sở khoa học nào luận chứng cho việc tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bảo đảm QCN ở Việt Nam hiện nay?

Để trả lời câu hỏi tổng quát nói trên, luận án đặt ra một số câu hỏi cụ thể:

– Cần hiểu thế nào về khái niệm, nội hàm, tính tất yếu thực thi TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN?

– Pháp luật cần điều chỉnh những nội dung nào liên quan đến TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN?

– Pháp luật và thực thi pháp luật trong các lĩnh vực xã hội quan trọng và đặc thù thể hiện TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN ở Việt Nam hiện nay đang cónhững ưu điểm và hạn chế nào? Nguyên nhân nằm ở đâu?

– Cần có những giải pháp gìđể phát huy ưu điểm, khắc phục các hạnchếnhằm tăngcườngTNXH của DN trong việc bảođảmQCN trongmộtsốlĩnh vực quan trọng và đặc thù ở Việt Nam hiện nay?

1.3.2. Giả thuyết nghiên cứu

Luận án đưara giả thuyết rằng: trongmộtthời gian dài, các doanh nghiệpở Việt Nam chưa thựcsự chú ý đếntrách nhiệm xã hội do chưa hiểu rõ về TNXH của DN, cũng chưa thấy được sự cầnthiết tham gia bảo đảmQCN vì mục đích phát triển doanh nghiệp vàsự phát triển bền vững của xã hội. Cùng với quá trìnhđổi mới đấtnước và nhận thức ngày càng đầy đủ về quyền con người, TNXH của DN trong việcbảođảmQCN có những chuyển biến nhất định, tuy vẫn cònrấtnhiều hạnchế trêncảphương diệnđiềuchỉnh pháp luật và thực thi pháp luật. Chođến nay, nhìn từ góc độ pháp lý, chưa có một hệ thống giải pháp toàn diện nhằm tăng cường TNXH của DN trong bảo đảm QCN ở Việt Nam. Xu thế tiếp theo sẽ là sự gia tăng đáng kể yêu cầu đối với doanh nghiệp khi thực thi trách nhiệm xã hội vàtheo đólà sựcốgắng áp dụng nhiều giải pháp nhằm tăngcườngTNXH của DN trong việcbảo đảmQCN trên bình diện toàn thế giới cũng như ở Việt Nam.

23

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Đề tài luận ánchỉcó thể triển khai có kếtquả nếuxácđịnhrõ trạng thái nghiên cứu đề tài, từ đó xác định rõ những vấn đề liên quan đếnđề tàiđã được giải quyết triệtđể,trọnvẹnmà luận án có thể tiếp thu, nhữngvấnđềđang còn nhiều tranh luận khoa học mà luận áncầntham gia giải quyết cũng như nhữngvấnđề chưa được đề cập nghiên cứu mà luận án phảiđặtra nghiên cứu. Từ đó, tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài sẽ giúp xác định rõ những điểm mới, đóng góp mới của luận án trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.

Chương 1 của luận ánđã tậptrung thực hiện nhiệmvụnêu trên theo hướng tập hợpcác công trình nghiên cứuvề chủđề “ Trách nhiệm xãhộicủa doanh nghiệp trong việcbảođảmquyền con ngườiở Việt Nam hiện nay theo ba nhóm vấn đề:(i)Tình hình nghiên cứu những vấnđề lý luậnvề TNXH của DN trong việc bảođảmQCN; (ii) Tình hình nghiêncứunhữngvấnđề về thực trạng TNXH của DN trong việcbảođảm QCN; (iii) Tình hình nghiên cứu đề xuất các giải pháp vềTNXH của DN trong việcbảođảmQCN. Trên cơ sở đó, luận ánđã xácđịnhrõnhững vấn đề còn tranh luận hoặc chưa được nghiên cứu và phải được xem là nội dung cần triển khai của luận án.

Tạichương 1, trên cơ sở nhận xét tình hình nghiên cứu và chỉ ra khoảng trống trong hoạtđộngnghiên cứuvề TNXHcủaDN trong việcbảođảmQCNở Việt Nam hiện nay,luận án đã đặtra câu hỏi tổng quát: cơ sở khoa học nào luận chứng cho việc tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con ngườiở ViệtNam hiện nay? Từ đó, luận án đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu vàtrả lời cho 04 câu hỏi cụ thể: (1) Hiểu thế nào về khái niệm, nội hàm, tính tất yếu thực thi TNXHcủaDN trong việcbảođảmQCN? (2) Pháp luậtcầnđiềuchỉnh những nội dung nào về TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN? (3) Pháp luật vàthực thi pháp luật trong các lĩnh vực xã hội quan trọng và đặc thù thể hiện TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN ở Việt Nam có những ưu điểm và hạn chế nào? Nguyên nhân nằm ở đâu? (4) Cần có những giải pháp gì để tăng cường TNXH của DN trong việcbảo đảmQCN trongmộtsốlĩnh vực quan trọng và đặcthù ở Việt Nam hiện nay?

Giải quyết trọn vẹn 04 câu hỏi nêu trên là đích đến của luận án và là cơ sở đểđịnh khung bố cục của luận án

Chƣơng 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH

NGHIỆP TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI

2.1. Khái niệm, đặcđiểm, vai tròcủatrách nhiệm xãhộicủadoanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con ngƣời

2.1.1. Khái niệm

2 1 1 1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trách nhiệm, trong tiếng Anhđược biểu đạtdướihai thuật ngữ tươngđốiđồng nghĩa: “responsibility và “accountability”. Hai thuậtngữnàythường được dùng thay thế cho nhau, tuy nhiên giữa chúng cómộtsự khác biệt nhấtđịnhvềphạm vi. Trách nhiệm với nghĩa là “responsibility”thường đượchiểu là việc phải làm, như là bổn phận, nghĩa vụ. Còn “accountability” có nghĩa rộng hơn responsibility, không chỉ có nghĩa là những việc phải làm, mà còn baogồmviệcđứng ra nhận và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện những việc đó. Accountability có thể được hiểu là tổng hợp của Trách nhiệm (responsibility),Khảnăng biện minh (answerability) và Nghĩa vụ pháp lý (liability) [79, tr. 45]. “Trách nhiệm theo nghĩa là accountability thể hiện khả năng của mộtcá nhân/tổ chức thừa nhận về những gì mìnhđã làm khi thực hiện mộtviệc nàođó;đồngthời, nóbao hàm nghĩa vụgiải thích, báo cáo, thông tin, biện giảivề những việcđóvànhững hệ quả, cũng như việc sẵn sàng chịu sự đánh giá, phán xét, thậm chí là trừng phạt cả về mặt pháp lý và đạo đức đối với những hệ quả đó.

Trong tiếng Việt, thuật ngữ “ trách nhiệm cũngđượchiểu tương đốiđa nghĩa.Ởnghĩa rộng, trách nhiệm có thể được hiểu là khả năngcủacon người ýthứcđược những kếtquả hoạt động của mình, đồng thời là khả năng thực hiện một cách tự giác những nghĩa vụđược đặtra cho mình, là nghĩa vụ, nhiệm vụ, bổn phận, quyền hạn phải làm, nên làm, được làm hoặc không được làm, có thể từ sựtự nguyện, tự giác hay buộc phải thực hiện do yêu cầu, đòi hỏi của các quy phạm xã hội (pháp luật, đạo đức…). Ở nghĩa hẹp hơn, trách nhiệm gắn liền với tính “ chịu trách nhiệm với hàmýlà phải gánh chịumộthậu quả bấtlợi nào đó, là sự phảnứng mang tính trừng phạt của nhà nước mà cá nhân phải gánh chịu khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, tứclà khi vi phạm trách nhiệm theo nghĩa tích cực. Như vậy, trách nhiệm có thể nhìn nhận từ khía cạnh tích cực hoặc từkhía cạnh tiêu cực.Từ phương diện pháp lý, cách hiểu thông dụng hiện nay xác định“trách nhiệm là chịu trách nhiệm, là sự gánh chịu phầnhậuquả về những việc đã làm, với hàm nghĩa rằng chủ thể trách nhiệm phải chịu một thiệt hại nào đó.

Nói cách khác, từ phương diện pháp lý, trách nhiệm được hiểu theo nghĩa tiêu cực–trách nhiệm pháp lý – đồng nghĩa với hậuquả bấtlợi phải gánh chịu, là chịu trách nhiệm khi thực hiện không đúng trách nhiệm theo nghĩa là nghĩa vụ, nhiệm vụ, bổn phận, quyền hạn. Ví dụ, là công chức, nếu vi phạm pháp luật về công vụ, công chức sẽ phải chịu các hình thứcxử lýkỷluật hành chính (như khiển trách, cảnh cáo,

buộc thôiviệc…)hay phải chịu trách nhiệm dân sự,trách nhiệm hìnhsự… tùy thuộc vào mức độ, tính chất của hành vi vi phạm.

Trách nhiệm xã hội là phạm trù được hình thành từ khái niệm trách nhiệm. Trong tiếng Anh, cụm từ trách nhiệm xã hội được biểu đạt là là Social

Responsibility. Giới nghiên cứu ở Anh – Mỹ thiên về khuynh hướng hiểu TNXH làmột sự cam kết (mang tính tự nguyện), trong khi giới nghiên cứu ở khu vực ChâuÂu lục địa lạithiênvề cách giải thích TNXH như mộtnghĩa vụ(mang tính bắt buộc). Một bên thì tin tưởng vào những hành động mang tính tự nguyện; còn phía bên kia thìlạiđòihỏiphải có các quyđịnhchung. Tuy nhiên, chođến nay, cách hiểu phổ biếnvề trách nhiệm xã hộiđược thừa nhận chung là“c trách nhiệm vềmặt xã hội không chỉ là thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý c hiệu lực, mà còn phải đi xa hơn và đầu tư nhiều hơn cho ngu n vốn con người, cho môi trường vàcho các mối liên hệ với các thành phần c liên quan . [79, tr.46]. Trên cơ sở đó,Tổchức tiêu chuẩn h a quốc t (International Organization for Standardization – viết tắtlà ISO ) đã đưa ra hướng dẫn về trách nhiệm xã hội trong tiêu chuẩn ISO 26000, theo đó, trách nhiệm xã hội là trách nhiệm của tổ chức/doanh nghiệpđối với xã hội và môi trường thông qua sự minh bạch và hành vi đạo đức nhằm:

1. Đóng góp cho sự phát triển bềnvững, baogồmcảsựlành mạnh và thịnh

vượng của xã hội;

2. Tính đến những mong muốn của các bên liên quan;

3. Phù hợp với luật pháp và nhất quán với chuẩn mực ứng xử quốc tế;

4. Tích hợp trong toàn bộ tổ chức và thực thi trong các mối quan hệ của tổ chức.

Các doanh nghiệp có thể thực hiện trách nhiệm xã hộicủa mình bằng cáchđạtmộtchứng chỉ quốc tế hoặc áp dụng nhữngbộquytắcứngxử (Code of Conduct – COC). Trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ mà một doanh nghiệp phải thực hiện đối với xã hội. Có trách nhiệm với xã hội là tăngđến mứctối đa các tác dụng tích cực và giảm tới tối thiểu các hậu quả tiêu cực đối với xã hội.

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái niệm tuy vẫn còn ít nhiều tranh luận nhưng trên những nét chung nhất được xem làmộtyếu tốquan trọng và được lồng ghép trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp, trở thành điều kiện bắtbuộcđểdoanh nghiệptồntạivà phát triển trongbốicảnh cạnh tranh của nền kinh tế hội nhập quốc tế. Theo các chuyên gia của Ngân hàng thế giới, TNXH của DN (Corporate Social Responsibility hay TNXH của DN), được hiểu là “Cam k t của doanh nghiệp đ ng g p cho việc phát triển kinh t bền v ng, thông qua việc tuân thủchuẩnmựcvềbảovệ môi trường, b nhđẳngvềgiới, an toàn laođộng,quyềnlợilao động,trảlương công b ng,đàotạovà phát triển nhân viên, phát triển cộng đ ng,… theo cách c lợichocảdoanh nghiệp c ng như phát triển chungcủaxãhội”[104]. Nhiều lãnh đạo của doanh nghiệp cho rằng, TNXH của DN là tham gia vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ người tàn tật, trẻ em mồ côi, xây dựng nhàtình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt và thiên tai… Điều đó là đúng nhưng hoàn toàn chưađủ, mặc dù các hoạt động xã hội là một phần quan trọng trong trách nhiệm của một công ty. Quan trọng hơn, một doanh nghiệp phải dự đoán được và đo lường được những tácđộng về xã hội vàmôi trường hoạt động của doanh nghiệp và phát triển những chính sách làm giảm bớt những tác động tiêu cực. TNXH của DN còn là cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, hợp tác cùng người lao động, giađình họ, cộng đồng và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ sao cho vừa tốt cho doanh nghiệp vừa ích lợi cho phát triển.

Trên thực tế, để đưa ra khái niệm đầy đủ, bao quát về TNXH của DN cần nhìn nhận TNXH của DN trên 4 khía cạnh liên quan đến toàn bộ quá trình vận hành của một doanh nghiệp:

Khía cạnh kinh t

Khía cạnh kinh tế đòi hỏi doanh nghiệp phải sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà xãhội cần và muốn với một mức giá có thể duy trì doanh nghiệp ấy và làm thỏa mãn nghĩa vụcủadoanh nghiệpvớicác nhàđầutư; là tìm kiếm nguồn cungứnglaođộng,phát hiện những nguồn tài nguyên mới, thúc đẩy tiến bộ công nghệ, phát triển sản phẩm; làphân phối các nguồn sản xuất như hàng hoá và dịch vụ như thế nào trong hệ thống xã hội…Trong khi thực hiện các công việc này, các doanh nghiệp thực sự góp phần vào tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Đối với người lao động, khía cạnh kinh tế của doanh nghiệp là tạo công ăn việc làmvớimứcthù lao xứng đáng cơhộiviệc làm như nhau, cơhộiphát triển nghề vàchuyên môn, hưởng thù lao tương xứng, hưởngmôi trường lao độngan toàn, vệsinh và đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơi làm việc.

Đối với ngườitiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là cung cấp hàng hoá và dịch vụ, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp còn liên quan đếnvấnđề về chấtlượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối, bán hàng và cạnh tranh.

Khía cạnh kinhtế trong trách nhiệm xã hộicủa mộtdoanh nghiệp là cơ sởcho các hoạtđộngcủa doanh nghiệp. Phầnlớncác nghĩa vụkinhtế trong kinh doanh đều được thể chế hoá thành các nghĩa vụ pháp lý.

Khía cạnh pháp lý

Khía cạnh pháp lýđòihỏidoanh nghiệp phải thực hiệnđầy đủnhững quyđịnh về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan. Những điều luật như thế này sẽ điềutiếtđược cạnh tranh, bảovệkhách hàng, bảovệ môi trường, thúc đẩysựcông bằng và an toàn và cung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi sai trái. Các nghĩa vụ pháplý đượcthể hiện trong luật dân sự và hình sự. Về cơ bản, nghĩa vụ pháp lý bao gồm năm nội dung:

(1) Điều tiết cạnh tranh

(2) Bảo vệ người tiêu dùng (3) Bảo vệ môi trường

(4) An toàn và bình đẳng

(5) Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái.

Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các hành vi được chấp nhận. Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách nhiệm pháp lý của mình

Khía cạnh đạo đức

Khía cạnhđạođứclà những hành vi và hoạtđộngmà xã hộimongđợi ởdoanh nghiệp nhưng khôngđược quyđịnhtronghệ thống luật pháp, khôngđược thể chế hóa thành luật. Khía cạnh này liên quan tới những gì các công ty quyếtđịnh là đúng, công bằng vượt qua cả những yêu cầu pháp lý khắc nghiệt, nó chỉ những

28

hành vi và hoạt động mà các thành viên của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi từ phía các doanh nghiệp dù cho chúng không được viết thành luật.

Khía cạnhđạođức của mộtdoanh nghiệp thườngđược thể hiện thông qua những nguyên tắc, giá trịđạo đứcđược tôn trọng trình bày trongbảnsứ mệnh vàchiến lược của công ty. Thông qua các công bố này, nguyên tắcvà giá trị đạo đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên trong công ty và với các bên hữu quan.

Khía cạnh từ thiện

Trách nhiệmtừ thiện là những hành vicủadoanh nghiệpvượtra ngoàisự trông đợi của xã hội, đóng góp cho các dự án của xã hội ngaycảkhi họ không liên quan tới một doanh nghiệp cụ thể như quyên góp ủng hộ cho người nghèo, tàitrợ học bổng, đóng góp cho cácdự án cộng đồng… Điểm khácbiệt giữa trách nhiệm từ thiện và trách nhiệmđạođứcsovớicác trách nhiệm khác là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu họ không thực hiện TNXH của DN mứcđộ này, họ vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi.

Các khía cạnh trêndựatrên mô hình kimtự thápvề TNXH của DN của Archie Carroll và được sử dụng rộng rãi hơn cả. Theo lý thuyết của Caroll, các yếu tố này hình thành nên mô hình “kim tự tháp TNXH của DN với các nghĩa vụ nằmở các tầng khác nhau và thứ tự ưu tiên thựchiện sẽ lần lượttừ dướiđáy lên đỉnh. Theo đó, bấtkể các câu hỏikhác nhauvềcách hànhđộngthích hợp, TNXH của DN đềuyêucầu mọidoanh nghiệp phảinắmgiữ bốnloại nghĩa vụvà phảiđápứng chúng theo thứ tự: kinh tế, pháp lý, đạo đức và cuối cùng là từ thiện.

Hình 1. Mô hình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

của Caroll Archie (1999) [51]

Từ cách phân tích nói trên, một cách chung nhất, có thể hiểu TNXH của DN là sựcam k t và hành động thực t của doanh nghiệp đ ng g p cho việc phát triển kinh t bền v ng, thông qua việc nâng cao chất lượng đời sống cho người lao động và các thành viên trong gia đ nh họ; cho cộng đ ng và cho toàn xã hội theo cách c lợi cho cả doanh nghiệp c ng như phát triển chung của xã hội.

2.1.1.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *