Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý hành chính là chức năng cơ bản và là bộ phận quan trọng nhất của hoạt độngquản lý xã hội. Hội nghị lầnthứ8 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIIđã nhấnmạnh phải xây dựng “một nền hành chính trong sạch…từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của Nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội” [18, tr. 29]. Như vậy, so với các lĩnh vực khác trong xã hội thì quản lý hành chính là lĩnh vực rộng lớn và phức tạp nhất của quản lý nhà nước đối với xã hội. Các quy phạm về trật tự quản lý hành chính (TTQLHC) cũng rất đa dạng, có quy định do Chính phủ ban hành, có quy định do các Bộ ban hành; cũng có quy định do chính quyền địa phương ban hành… Do đó, để đánh giátrình độ phát triển củamột nền hành chính, sựổn định của trật tựhành chính cần dựa vào các tiêu chí sau: sựnăng động và phù hợp của tổ chức bộ máy nhà nước trong hoạtđộngquản lý xã hội… sự công bằng trong xã hộivà sựphát triển của nền kinh tế [59, tr. 21]. Trên cơ sở này, ở các mức độ khác nhau, để bảođảm sự ổn định, TTQLHC, Nhà nướcđã quyđịnh xửlý các hành vi xâm phạm đến TTQLHC vàtrách nhiệm của các chủ thể thực hiện từtrách nhiệm hành chính đếntrách nhiệm hìnhsự(TNHS). Trongđó,TNHSđốivớinhữngngườiphạm cáctộixâm phạm TTQLHC là trách nhiệm pháp lý cao nhất và nghiêm khắc nhất được pháp luật hình sự (PLHS) quy định để xử lý nhằm bảo đảm cho mọi hành vi xâm phạm TTQLHC phải được phát hiện nhanh chóng, kịp thời, xử lý công minh và đúng pháp luật.
Vì vậy, việc lựa chọnđề tài “Trách nhiệm hìnhsự đối vớicác tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính” để nghiên cứu ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học làcấp thiết cả về lý luận và thực tiễn như sau:
Thứ nhất, ý nghĩa về mặt chính trị, pháp lý, thực tiễn và xã hội.
Hiện nay, quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC đãđáp ứng đượcyêu cầu của thực tiễn xét xử, góp phần có hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảmxửlý
1
TNHS đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, tạo niềm tin vào công lý, pháp chếxã hội chủ nghĩa (XHCN) cho quần chúng nhân dân.Mặcdù vậy, công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm này vẫn còn một số hạn chế. Diễn biến tình hình các tội phạm xâm phạm TTQLHC vẫn phức tạp và có xu hướng tăng, giảm bất thường với số lượng bị cáo ngày càng tăng, đặc biệt trong đó là các tội phạm như: Tội chống người thi hành công vụ; tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan,tổ chức; tội tổchức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép… Ngoài ra, theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) nếu năm 2005, tổng số vụ và số bị cáo đã bị xét xửvề các tội xâm phạm TTQLHC là 896 vụ với
1.744 bị cáo, thì năm 2009 tổng số vụ và số bị cáo đã bị xét xử về các tội xâm phạm TTQLHC là 1.045 vụ với 1.900 bị cáo, năm 2012, tổng số vụvà số bị cáo đã bịxét xửvề các tội xâm phạm TTQLHC là 1.317 vụ với 2.404 bị cáo, năm 2013 tổng sốvụ và số bị cáo đã bị xét xửvề các tội xâm phạm TTQLHC là 1.385 vụ với 2.469 bịcáo, năm 2014 là 1.311 vụ với 2.484 bị cáo và năm 2015 là 1.064 vụ với 1.906 bịcáo… [94]. Như vậy, các tội xâm phạm TTQLHC diễn ra đã gây bức xúc cho nhân dân, tạo dư luận không tốt cho xã hội và làm ảnh hưởng tới TTQLHC của Nhà nước, giảm hiệu lực và hiệu quả quản lý xã hội.
Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống quy định PLHS Việt Namvề TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC, đánh giá tổng thể “bứctranh” thực tiễnáp dụng, từ đó đưa ra kiến nghị tiếp tục hoàn thiện BLHS nước ta và những giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định này chính là góp phần tôn trọng và bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, củng cố và tạo niềm tin vào công lý, pháp chế XHCN cho quần chúng nhân dân và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm đã nêu.
Thứ hai, sựcầnthiết tiếp tục hoàn thiện quy định BLHS Việt Nam về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC.
Nghiên cứu thực tiễn xét xử trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015) cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, thì một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước và phòng, chống các tội xâm phạm TTQLHC là việc một sốquy định của BLHS Việt Nam về TNHS đốivớicáctộiphạm này vẫn còn vướng mắc, tồn tại như: người phạm tội có mục đích chống lại người thi hành công vụ bị truy cứu TNHS theo khoản 1 Điều 257 BLHS lại có khung hình phạt ngang bằng người phạm tội có mục đích chống lại người thi hành công vụ nhưng gây thương tích nên bị truy cứu TNHS về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 BLHS. Lại có tội khung hình phạt quy định quá nhẹ chưa tương xứng với hành vi phạm tội như tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủycon dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức xãhội(Điều268 BLHS). Hoặc việc hướng dẫnthống nhất áp dụng tình tiếtđịnh khung tăng nặng “gây hậu quả nghiêm trọng” dẫn đến việc xửlý khó khăn như: Tội chống người thi hành công vụ (Điều 257), tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân (Điều 258); v.v… Mặc dù BLHS năm 2015 vừa qua đã khắc phục cơ bản, trong đó hoàn thiện nhiều tình tiết định tội, định khung hình phạt và cụ thể hóa các dấu hiệu định tính, sửa đổi hình phạt chính và hình phạt bổ sung… song vẫn còn một số
tồn tại, vướng mắc như: chưa bảo đảm công bằng trong trường hợp người phạm tội có mục đích chống lại người thi hành công vụ bị truy cứu TNHS về tội chống người thi hành công vụ và trường hợp cố ý gây thương tích [69, tr. 21]; việc phân tách tội danh do khó xác định hành vi khách quan ở tội vi phạm quy định về quản lý nhà ở
(Điều 270, nay là Điều 343) hay chưa phân biệt rõ hành vi phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức để thực hiện hành vi gian dối chiếmđoạt tài sản (Điều 267, nay là Điều 341) và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139, nay làĐiều 174 BLHS). Thậm chí, còn có tội danh có tính chất, mức độ khác nhau nhưng
lại được ápdụng cùng một chính sáchxửlý như nhau vì được quy định trong cùng một điều luậtở tội vi phạm quy định về quản lý nhà ở (Điều 270, nay là Điều 343 BLHS); v.v… Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo đảm TTQLHC, cũng như phòng, chống các tội phạm này, thì việc luận án nghiên cứu đểđưa ra yêu cầu và kiến nghị tiếp tục hoàn thiện BLHS Việt Nam năm 2015 rõ ràng vẫn có tính thời sự cấp bách.
Thứba,sựcầnthiết phải làm sâusắchơnvềlý luận trong khoahọcluật hình sự Việt Nam về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC.
Hiện nay,mặcdùởmộtsốkhía cạnh, gócđộkhác nhau trong khoahọcluật hình sự nước ta đã đề cập đến các tội xâm phạm TTQLHC qua việc phân tích dấu hiệu pháp lý hìnhsự,tình tiếtđịnhtội,địnhkhung hình phạt,vấnđềđịnhtộidanh hoặc quyết định hình phạt hay nghiên cứu phòng ngừa tội phạm đối với các tội phạm riêng lẻ, nhưng vẫn chưa có một công trình khoa học nào tiếp cận một cách tổng thể, có hệthống và toàn diện dưới góc độ một luận án tiến sĩ luật họcđề cập đến vấn đề TNHSđối với các tội xâm phạm TTQLHC, xây dựng khái niệm, phân tích những đặc điểm cơbản và tiếp cận các tội phạm này dưới góc độ về cơ sở và những hình thức thực hiện TNHS (đặc biệt là hình phạt và các biện pháp tư pháp) trong luật hình sự Việt Nam.
Cho nên, nghiên cứu về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC sẽ góp phần bổ sung các tri thức về TNHS nói chung, TNHS đối với các tội phạm này nói riêng, quađó,nâng cao hiệuquảáp dụng đúngđắnvà chính xác các quyđịnh BLHS Việt Nam.
Thứ tư, sựcần thiết phải có những giải pháp bảo đảmthực hiện (thi hành) trong thực tiễn áp dụng quy định của BLHS Việt Nam về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC.
Nghiên cứu BLHS năm 2015 cho thấy, mặc dù Bộ luật đã khắc phục được phần nào các tồn tại, hạn chế trong những quy định về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC, tuy nhiên, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn xét xử trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015) cho thấy, việc áp dụng quyđịnhvềTNHSđốivớicác tội xâm phạm TTQLHC còn gặp một số trường hợp áp dụng chưa chính xác tội danh dẫnđếnviệc áp dụng TNHS chưa đúng hoặc chưa tương xứng; áp dụngmứcvàloại hình phạt quá nặng hoặc lại quá nhẹ đối với người phạm tội, từ đó làm giảm hiệuquảcông tácđấu tranh phòng, chống tộiphạm, xâm phạm đếnlợiích của Nhànước,củacơ quan,tổchức, quyền vàlợiíchhợpphápcủacông dân. Mặt khác, việc ban hành BLHSmớinhưng chưa có những giải phápbảođảm vềmặt thực tiễn (thi hành) sẽ là thiếu hụt trong việc thực hiện yêu cầu xử lý đúng người,đúng tội và đúng pháp luật. Do đó, luận án sẽ đưa ra một số giải pháp bảo đảm áp dụng mang tính khả thi cao phục vụ việc thi hành quy định của BLHS Việt Nam về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC.
Thứnăm, góp phần hoàn thiện chính sách hìnhsựvềcác tộixâm phạm TTQLHC và nâng cao hiệu quả trật tự quản lý nhà nước.

Nghiên cứumột cách có hệ thống quyđịnh BLHS Việt Nam vềTNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC, đánh giá tổng thể “bức tranh” thực tiễn áp dụng TNHS đối với các tội phạm này trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015), từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật vàđềxuất những giải phápbảođảm áp dụng các quyđịnhnày chính là góp phần hoàn thiện chính sách hìnhsựcủaNhànước,cụthể kiến nghị, đánh giá yêu cầu tội phạm hóa và phi tội phạm hóa, hình sự hóa vàphi hìnhsựhóa trong BLHSnướctavềmỗihành vi phạm tộitrong cáctộixâm phạm TTQLHC,từđó đề xuất hình thức trách nhiệm pháp lý phù hợp, qua đó nâng cao hiệuquảtrật tựquản lý nhà nước và TTQLHC, góp phần “thúcđẩy xã hộiphát triển lành mạnh, đúng hướng, phụcvụđắclựcđờisống nhân dân, xây dựngnếp
sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội” [18, tr. 29].
Ngoài ra, luận án là công trình nghiên cứu để cụ thể hóa và triển khai thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 2013 và BLHS năm 2015.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC, đánh giá đúng và chính xác thực tiễn xét xử các tội phạm này trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015), trên cơ sở đó đềxuất những giải pháp mang tính hệ thống, đồng bộ và định hướng cho việc tiếp tục hoàn thiện và bảo đảm hiệu quả áp dụng quy định của BLHS Việt Nam về TNHSđối với các tội phạm này trên cả phương diện lập pháp và thực tiễn.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
Để thực hiện mục đích trên, luận án đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
1) Đánh giá tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu có liên quan đếnđề tài ở trong và ngoài nước, nhận xét và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án này.
2) Làm sáng tỏ và sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC với những cách tiếp cận khác nhau.
3) Phân tích cơsở củaTNHS đối với các tộixâm phạm TTQLHC với các cách tiếp cận khác nhau; làm rõ hình thức của TNHS đối với các tội phạm này, đặc biệt là hình phạt và các biện pháp tư pháp.
5
4) Nghiên cứu so sánh quy định về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC trong BLHS một số nước trên thế giới và rút ra những nhận xét.
5) Hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Namvề TNHS đối vớicác tội xâm phạm TTQLHC từsau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay và rút ra những đánh giá.
6) Phân tích tình hình xétxửvà thực tiễn áp dụng quyđịnhvềTNHSđối với các tội xâm phạm TTQLHC ở nước ta trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015) và 200 bản án trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015) để trên cơ sở đó chỉ ra những tồn
tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản.
7) Luận chứng,đề xuất kiến nghị bằng việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung quyđịnh của BLHS Việt Nam về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC, cũng nhưcác giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định tương ứng đó.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC trong luật hình sự Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu TNHS đối vớicác tội xâm phạm TTQLHC trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay dưới khía cạnh pháp lý hình sự, đặc biệt làm rõ cơ sở và những hình thức của TNHS đối với các tội phạm này, đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015) và200 bản án trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015) để từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp có hệ thống và khả thi, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm TTQLHC ở nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận
Luận án đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản về đấu tranh phòng, chống tội phạm trong quátrình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam là nền tảng cơ sở lý luận để tiến hành nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện và lôgíc các vấn đề đặt ra trong quá trình
6
nghiên cứu. Luận án đã sử dụng hệ thống quan điểm, học thuyết về TNHS như: khái niệm, cơ sở và những điều kiện của TNHS, các hình thức thực hiện TNHS và các dạng của TNHS, cũng như TNHS trong các trường hợp cụ thể, TNHS người chưa thành niên phạm tội, mối quan hệ giữa TNHS với miễn TNHS, mối quan hệ giữa TNHS và hình phạt, TNHS của pháp nhân; v.v… trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, các bài viết đăng trên tạp chí của các nhà khoa học trong nước và ngoài nước làm cơ sởlý luận để triển khai nghiên cứu vấn đề TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC.
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu đượcsửdụng trong luận án là: phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp, điềutra án điển hình… của khoa học luật hình sự và tội phạm học để luận chứng các vấn đề khoa học được nghiên cứu.
Phương pháp so sánh luật học, tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nước để làm sáng tỏ tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này, hệ thống hóa lịch sửvà PLHS một số nước về nội dung nghiên cứu (Chương 1);
Phương pháp nghiên cứu, phân tích để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản vềTNHSđốivớicác tội xâm phạm TTQLHC, đặc biệt là cơ sở và những hình thức của TNHS đối với các tội phạm này theo luật hình sự Việt Nam (Chương 2);
Phương pháp thống kê, khảo sát án điển hình để xử lý các tài liệu, số liệu của TANDTC để làm sáng tỏ thực tiễn áp dụng quy định về TNHS, phân tích 200 bảnán trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015) về các tội phạm này; đặc biệt là áp dụng hình phạt và các biện pháp tư pháp, qua đó, đánh giá những tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản (Chương 3);
Phương pháp tổng hợpđề xuất kiếnnghị, giải pháp hoàn thiện TNHSđối với các tộixâm phạm TTQLHC,đề ra những giải phápbảođảm để phục vụyêucầuđấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới (Chương 4).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận
Thông qua kết quả nghiên cứu, luận án sẽ góp phầnbổsung và làm sâu sắc hơn những tri thức trong kho tàng lý luận về tội phạm và TNHS nói chung, vềTNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC nói riêng.
7
Một số kiến nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật và những giải pháp bảo đảm còn là tài liệu tham khảohữuích cho nhà làm luật trong quá trình tiếptụchoàn thiện vàsửađổi,bổsung BLHS Việt Nam vềTNHSđốivớicáctộixâm phạm TTQLHC, cũng như nâng cao hiệuquảáp dụng các quyđịnhnàydướigócđộ thực tiễn thi hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từviệc đánh giá khách quan, trung thực quyđịnh của PLHS về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC và thực tiễn xét xử trên địa bàn cả nước trong giaiđoạn 11 năm (2005 – 2015), 200 bản án trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015), kết quả của luận án góp phần phục vụ cho thực tiễn xét xử, qua đó, giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, bảo đảmxửlý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, cũng nhưđịnh tội danh và quyếtđịnh hình phạt có căncứvà xác đáng, góp phần đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm TTQLHC.
Ngoài ra, luận án có thể được sửdụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạyvề khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự, tội phạm học nói riêng và cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật trong quá trình xử lý các tội xâm phạm TTQLHC.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Chương 2: Nhữngvấn đề lý luận vềtrách nhiệm hìnhsựđốivớicác tội xâm
phạm trật tự quản lý hành chính trong luật hình sự Việt Nam.
Chương 3: Pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.
Chương 4: Yêu cầu, nội dung và các giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.
8
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung về trách nhiệm hình sự
1.1.2. Các công trình nghiên cứu đề cập đến trách nhiệm hình sự đối với các nhóm tội phạm cụ thể và đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƢỚC
1.2.1. Nhóm các công trình nghiêncứunhữngvấnđềchungvềtrách nhiệm hình sự
1.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu trựctiếp vềtrách nhiệm hình sựđối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Như vậy, khi thực hiện đề tài nghiên cứu sinh tiếp thu các kết quả nghiên cứu liên quan và đặt ra nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu những vấn đề sau:
Thứ nhất, từ cơ sở lý luận và kết quả các nghiên cứu về TNHS, cơ sở TNHS của các công trình trong nước và ngoài nước, tác giả luận án sẽ nghiên cứu cơ sở,đặc điểm của TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC từ đó xây dựng khái niệm khoa học về TNHS đối với các tội phạm này.
28
Cũng trong quá trình nghiên cứu, nghiên cứu sinh cònđề cập đếnnhững nội dung liên quan như: hệ thống hóa lịch sử vấn đề và nghiên cứu so sánh quy định vềTNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC trong BLHS một số nước trên thế giớiđể rút ra nhận xét, đánh giá đồng thời phân tích các điều kiện xã hội và yêu cầu của tình hình đấu tranh, phòng ngừa tội phạm tác động đến việc quy định TNHSđốivới các tội xâm phạm TTQLHC như thế nào.
Thứ hai, trên cơ sở lý luận và quyđịnh của BLHS, nghiên cứu sinh làm rõnội dung, đặc điểm của TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC, đặc biệt cần làm sáng tỏ cơ sở của TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHCvớicác cách tiếp cận khác nhau (vềnội dung, hình thức và pháp lý), đồngthời làm rõ những hình thức của TNHS đối vớicác tội phạm này (thể hiện qua hình phạt và các biện pháp tưpháp). Những nội dung này được phân tích, lập luận, đánh giá rút ra những ưu điểm và hạn chế của quy định về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, từ đó tác động đến quá trình quản lýnhà nước ở Việt Nam.
Thứ ba, thực tiễn áp dụng quyđịnh của BLHS Việt NamvềTNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC trong những năm vừa qua (2005 – 2015) là nhiệm vụđặt ra khi nghiên cứu luận án. Kết quả nghiên cứu được đối chiếu với lý luận vềTNHS để chỉ ra những bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật để làm cơ sở cho các kiến nghị tiếp tục hoàn thiện PLHS.
Thứ tư, luận chứng, đề xuất kiến nghị bằng việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung quyđịnh của BLHS Việt Nam về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC, gắn liền với chính sách hình sự của Nhà nước, cũng như phục vụ yêu cầu triển khai thi hành BLHS năm 2015.
Thứ năm, đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng và chính xác quy định của BLHS Việt Namvề TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC dưới góc độthực tiễn xét xử (thi hành) để giải pháp tiếp tục hoàn thiện BLHS có tính khả thi và hiệu quả cao nhất.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
29
Tóm lại, qua nghiên cứu Chương 1 luận án, nghiên cứu sinh rút ramột số kết luận chung sau đây:
1. Quản lý hành chính là chức năng cơ bản và là bộ phận quan trọng nhất của hoạt động quản lý xã hội. Các quy phạmvề TTQLHC đa dạng, phong phú. Ở các mức độ khácnhau, để bảo đảm sựổn định, trật tựquản lý, an toàn xã hội, Nhà nướcđã quy định xử lý các hành vi xâm phạm đến TTQLHC bằng cả biện pháp pháp lýhành chính lẫn biện pháp pháp lý hình sự. Với việc ban hành BLHS năm 2015 làmột bướctiến quan trọng của PLHS nói chung và cáctộixâm phạm TTQLHC nói riêng, làm cơ sở để Tòa án áp dụng đúng đắn TNHS đối với người phạm tội, qua đó, bảo đảmxửlý TNHS đúng người, đúng tộivà đúng pháp luật, tạo niềm tin vào công lý, vào pháp chế XHCN cho quần chúng nhân dân.
2. Trách nhiệm hình sự được xem làmộttrong nhữngchế địnhtrung tâm vàcơ bản nhất của luật hình sự Việt Nam. Theo đó, mức độ và sự thể hiện của các nguyên tắc cơ bản như: pháp chế, nhân đạo, dân chủ, công bằng, tôn trọng và bảo vệ quyền con người phụ thuộc chủ yếu vào việc giải quyết vấn đề TNHS [15, tr. 603]. Chính vì vậy, đề cậpđếnTNHS nói chungđã được nhiều nhàkhoahọc- luật gia luật hình sự nước ta đề cập ở các mức độ khác nhau.
3. Đánh giá tình hình nghiên cứuở trong nước cho thấy,đề cập vềchủ đề này, tuy các tác giả đã đạt được những thành quả nhất định nhưng chủ yếu là bình luận, nghiên cứu về khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt; tình tiết định khung, định tội hoặc đề cập đến một sốtội danh cụ thể tại các điều 257, 258, 263, 264 BLHS nhưng ở khía cạnh pháp lý hình sựtrong nhóm tội xâm phạm TTQLHC, mà chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về lý luận, thực tiễn và tiếp cận về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC. Bên cạnh đó, nghiên cứu tình hình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy, các công trình nghiên cứu trực tiếp về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC ở nước ngoài là không có. Tuy nhiên, ở một mức độ gián tiếp cũng có một số công trình, sách chuyên khảo đềcập đến một hoặc một vài tội tương quan như các tội phạm trong Chương XX BLHS Việt Nam và cũng dưới khía cạnh pháp lý hình sự hoặc xã hội học.
30
Do đó, việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết.
31
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNHSỰĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬTTỰQUẢN LÝ HÀNH CHÍNH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1.1. Quan niệm về trách nhiệm hình sự
Để làm sáng tỏ nội dung TNHS đối với một nhóm tội phạm cụ thể không thểbỏ qua việc tìm hiểu những vấn đề chung nhất về TNHS.
* Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của TNHS
Trước hết, “trách nhiệm hình sự” là một thuật ngữ của khoa học luật hình sự. Theo đó, bên cạnh hai khái niệm cơ bản và quan trọng nhất là tội phạm và hình phạt, thì khái niệm TNHS cũng có ý nghĩa pháp lý, xã hội, vì cùng với nhau, những khái niệm này là cơ sở lý luận để xây dựng và nhận thức nội hàm các khái niệm vàphạm trù khác trong khoa học luật hình sự [114, tr. 219].
Trách nhiệm hình sự là hình thức nghiêm khắc nhất của trách nhiệm pháp lý, vì thế không có hình thức trách nhiệm pháp lý nào có thể thay thế TNHS.
Trách nhiệm hình sựxuất hiện trên cơ sở quan hệ PLHS có thể được thực hiện thông qua hình thức của các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự và quan hệ pháp luật thi hành án hình sự. TNHS chỉ xuất hiện khi việc hiện tội phạm xảy ra và chỉ áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội nếu người đó có đủ những điều kiện do luật định (tuổi chịu TNHS, năng lực hành vi). TNHS luôn thể hiện trong việc áp dụng những biện pháp cưỡng chếđối vớibị truy cứu TNHS. Những biện pháp cưỡng chếnày do các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng còn hình phạt thì chỉ có Tòa án nhân danh Nhà nước mới có thẩm quyền quyết định trong bản án kết tội [135, tr. 23].
Trách nhiệm hình sựcũng có mối quan hệ với các khái niệm khác như tội phạm, hình phạt, miễn TNHS, loại trừ TNHS, miễn hình phạt… Do đó, giải quyết rõràng, dứt khoát và chính xác vấn đề TNHS trong những trường hợp khác nhau và cụ
32
thể đó đối với người phạm tội sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các cơ quan bảo vệpháp luật và Tòa án trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, TTQLHC, cũng như các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
Hiện nay, nhưđãđềcậptrong Chương 1 củaluận án, có nhiều quanđiểm và cách tiếpcậnđa dạng, khác nhauvềTNHS, tuy nhiên,vềcơbảntrong khoa học luật hình sự Việt Nam, TNHS được hiểu thống nhất là mộtdạng của trách nhiệm
pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm,đồng thời được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do BLHSđối với người phạm tội [15, tr. 611]. Trên cơ sở đó, những đặc điểm cơ bản của TNHS được phản ánh thống nhất qua các đặc trưng sau đây [5, tr. 314], [10, tr. 88-90], [38, tr. 122], [40, tr. 6-7], [114, tr. 200], [118, tr. 114-115]:
Một là, TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác.
Hai là, TNHS là sự lên án của Nhà nước đối với người thực hiện tội phạm
(vừa qua BLHS năm 2015đãquyđịnhcảpháp nhân thương mại) bằng việc quy định các biện pháp cưỡng chế về hình sự để áp dụng đối với người đó.
Ba là, TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, đồng thời chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội. Cho nên, TNHS chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ PLHS giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định – một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội.
Bốn là, TNHS mang tính chất cá nhânvà chỉ được áp dụng đối với người đãthực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm. Pháp nhânđã được quy định là chủ thể củatội phạm trong BLHS năm 2015, song đối với các tội xâm phạm TTQLHC, pháp nhân không được quy định là chủ thể của nhóm tội phạm này.
Năm là, TNHS mang tính chất công – chỉ có Nhà nước mới có quyền buộc người phạm tội phải chịu TNHS và TNHS của họ ở đây là trước Nhà nước.
33
Sáu là, TNHS có mối quan hệ chặt chẽ với hình phạt. Hình phạt là dạng đặc trưng, điển hình và phổ biến do Tòa án áp dụng trên thực tế của TNHS
* Cơ sở và những điều kiện của TNHS
Trước hết, cơ sở của TNHS là một trong những vấn đề rất quan trọng trong luật hình sự và của nội dung quan trọng của TNHS.
Cơ sở của TNHS được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, tập trung nhất là góc độtriết học vàgóc độpháp lý. Bởi vì, cơ sở của TNHS chính là căn cứ pháp lý chung rất quan trọng, mà dựa vào đó, các cơ quan, chủ thể có thẩm quyền của Nhà nước mới đặtra vấn đề TNHS củamộtngườinào đó trên thực tế vì đã thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm. Do đó, khi quy định và giải quyết đúng đắn và nhận thức chính xác cơ sở của TNHS sẽ góp phần triển khaitốtđược chính sách hình sự và các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam [114, tr. 230].Đây là nội dung phản ánh trực tiếp và xuyên suốt mọi nội dung trong BLHS, vì suy cho cùng, giải quyết TNHS củangườiphạm tội, trước tiên và quan trọng đó là vấn đề cơ sởcủa TNHS.
Trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra đối với hành vi của con người. Điều 2 BLHS quy định về cơ sở của TNHS quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự“. Sau đó, BLHS năm 2015 đã bổsung thêm khoản 2: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tạiĐiều76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự“. Như vậy, từnội
dung điều luật này có thể chỉ ra các đặc điểm của cơ sở pháp lý của TNHS bao gồm:
Thứ nhất, chỉ người nào phạmmột tộiđã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS, “người nào” – chủ thể đó là con người cụ thể, có năng lực trách nhiệm hình sựvà đủ tuổi chịu TNHS. Ngoài ra, cũng chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu TNHS.
Thứ hai, tội phạm duy nhất chỉ được quy định trong BLHS, không quy định trong văn bản pháp luật nào khác. Đây lànộidung phản ánh rõ nét nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam, cũng như loại trừ việc áp dụng nguyên tắc tương tự trong luật hình sự.
34
Thứ ba, trước đây TNHS theo luật hình sự nước ta là trách nhiệm cá nhân vàchỉ được áp dụng đối với bản thân một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhộimà BLHS quyđịnhlàtộiphạm. Trong BLHS năm 2015, nhà làm luậtbổsung thêm chủ thể của tội phạm là “pháp nhân thương mại” thực hiện một trong các tội đãđược quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu TNHS trên những cơ sở chung.
Trên cơ sở pháp lý của TNHS được các nhà làm luật nước ta quy định trongĐiều 2 BLHS, khoa học luật hình sự đã chỉ ra nhữngđiều kiệncủa TNHS của cá nhân bao gồm: Người đó phải là người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS và thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi được thực hiện phải bị PLHS quy định là tội phạm, đồng thời người đó phải có lỗi trong việc thực hiện hành viđó [9, tr. 30]. Những điều kiện (cụ thể) của TNHS ở một góc độ chung chúng có thể được xem làđồng nhất với các đặc điểm cơ bản của tội phạm.
2.1.2. Khái niệm và những đặc điểm cơ bản về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong luật hình sự Việt Nam
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

