Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ theo pháp luật hình sự Việt Nam

Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ theo pháp luật hình sự Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trách nhiệm hình sự(TNHS) làmộttrong những chế định cơ bản, trung tâm và quan trọng của luật hình sự Việt Nam. TNHS nói chung, TNHS đối với các

tội phạm về chức vụ (CTPVCV) (quy định tại Chương XXI Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi và bổ sung năm 2009), Chương XXIII BLHS năm 2015) là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất được pháp luật hìnhsự(PLHS) quy địnhđểxửlýcác hành vi phạm tội nhằm bảođảm đạtđượcmụcđíchcủaPLHS làbảo vệ chế độxã hộichủnghĩa (XHCN), quyền làm chủ của nhân dân,bảovệquyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệlợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,tổchức, bảo vệ trậttựpháp luật XHCN, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa vàchống tội phạm (Điều 1 BLHS), trong đó có CTPVCV.

Trong gần 20 năm qua, trước yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, BLHS đã quy định CTPVCV một cách đầyđủ, rõ ràng và chặt chẽ hơn trước. Nhiều quyđịnh về TNHS đối với CTPVCV đãđược sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tạođiềukiện cho các cơ quan bảo vệ pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, CTPVCV nói riêng ngày càng đạt hiệu quả. Tuy nhiên, CTPVCV ở Việt Nam, đặc biệt là nhóm các tội phạm về tham nhũng (CTPVTN) quy định tại Mục A – chương XXI BLHS năm 1999 có chiều hướng gia tăng, xuất hiện nhiều hình thức phạm tội mới với những thủ đoạn thực hiện tội phạm hết sức tinh vi, xảo quyệt. Các lĩnh vực thường xảy ra nhiều tội phạm về chức vụ như ngân hàng, đất đai, xây dựng cơ bản là rất nghiêm trọng, đã làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào sựquản lý của Nhà nước và đe dọa sự ổn định của nền kinh tế. Theo số liệu thống kê của Bộ Công an [7], trong giai đoạn 10 năm (2006 – 2015), trong phạm vicả nước,cơ quanđiềutra đã khởi tố, điều tra 4.951vụán thuộc nhóm CTPVCV và đã khởi tố 11.311bịcan. Số liệu thống kêcủaViện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) [99] cho thấy: từ năm 2006 đến năm 2015, trong phạm vi cả nước, Viện kiểm sát các cấp đã truy tố 10.933 bị can phạmtội về chức

1

vụ (trong 4.422 vụ án), chiếm tỷ lệ 96,5% so với tổng số bị can bị khởi tố, điều tra. Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) [79] cũng trong khoảng thời gian nêu trên, trong phạm vi cả nước, Tòa án nhân dân các cấp đã đưa ra xét xử sơ thẩm 3.313 vụ ánvới7.295 bị cáo về CTPVCV, chiếm tỷ lệ là 74,7% số vụ và 67,5% số bị can bị Viện kiểm sát truytố (3.313 vụ/4.422vụ và 7.295 bị cáo/ 10.933 bị can).

Nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng, chống CTPVCV và thực tiễn xét xử

từnăm 2006 đến năm 2015 cũng cho thấy, một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống CTPVCV là việc một số quy định vềTNHS đối với CTPVCV trong BLHS hiện hành, ở các mức độ khác nhau, vẫn bộc

lộ nhữnghạnchế, thiếu sót nhấtđịnh,còn có kẽ hở dễ bịlợidụngđể “lách luật” hoặc tâm lý “nhờn luật”. Chẳng hạn, vấn đề tịch thu, thu hồi tài sản do phạm tội mà có là quy định rất quan trọng nhằm khắc phục hậu quả thiệt hại của hành vi phạm tội về chức vụ, thu hồi tài sản của Nhà nước đã bị thất thoát, chiếm đoạt, tuy nhiên, trong tất cả CTPVCV mới chỉ có hai điều luật quy định về hình phạt bổ sung là tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (Tội tham ô tài sản – Điều 278, Tội nhận hối lộ -Điều 279 BLHS). Nói cách khác:

Một số quyđịnh cho các chế tài còn chung chung dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất, thậm chí còn có trườnghợpáp dụng luật tùy tiện. Hoạt độngxét xửcác vụ án về tội phạm chức vụcủa cơ quan Tòa án trong thời gian qua còn có những biểu hiện như tình trạng xử án treo còn nhiều đã làm cho dư luận xã hội hoài nghi [91].

Việc áp dụng quyđịnh về TNHS đối với CTPVCV còn nhiều trường hợp chưa chính xác, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chưa đúng, đánh giá nhân thân người phạm tội, vị trí, vai trò của người phạm tội trong vụ án cóđồng phạm chưa thật sự thuyết phục đã dẫn đến áp dụng TNHS chưa phù hợp.

Bộ luật hình sựnăm 2015 ban hành nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, thực hiện tốt hơn nữa chức năng bảo vệ của luật hình sựcũng như yêu cầu bảo đảmquyền con người, quyền công dân. Về TNHS đối với CTPVCV, mặcdù đãcó những tiến bộ theo hướng rõ ràng

2

hơn, hợp lý hơn, nhân văn hơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tụcđược xem xét lại đểphù hợp hơn với thực tiễn, với các định hướng, nguyên tắc sửa đổi BLHS trong lần pháp điển này và đặc biệt là còn nhiều vấn đề về kỹ thuật lập pháp. Do đó, rất cần có những nghiên cứu để cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn cho việc tiếptụchoàn thiện PLHS nói chung, các quyđịnh của PLHSvề TNHSđốivới CTPVCV trong BLHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành nói riêng. Thực tiễn công tác xét xửCTPVCV (tội phạm có nguy cơ gây hậu quảđặcbiệt nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, do người có vị trí, chức vụ, quyền hạn trong xãhội thực hiện…) cũngđòi hỏicó những nghiên cứu sâuđểđưa ra giải pháp nhằm áp dụng đúng TNHS đối với họ, thể hiện tính nghiêm minh, nhân đạo của pháp luật vàyêu cầu thu hồi được tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt.

Ở gócđộ khoa học pháp lý hình sự, trong thời gian quađã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về TNHS, về CTPVCV và ít nhiều đềcậpđếnTNHSđốivớiCTPVCV. Tuy nhiên,mộtsốcông trình nghiên cứu đã lâu, đến nay đã có nhiều thay đổi về nhận thức và pháp luật nên không còn phù hợp, cần phải bổ sung, cập nhật. Mặt khác, cùng với sự phát triển trên các lĩnh vựckinh tế,chính trị, xã hội củađất nước, nhiềuvấnđề củaPLHS, trongđó có vấn đề TNHS, cũng luôn vận động và phát triển đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Đến nay, có thể nói vẫn chưa có một công trình nào tiếp cận một cách tổng thể, có hệ thống và toàn diệndướigóc độmộtluận án tiến sĩ luật học vềTNHS đối với CTPVCV, trong đó, xây dựng khái niệm, phân tích những đặc điểm cơ bản, cơ sở và hình thức của TNHS đốivớiCTPVCV trong PLHS Việt Nam. Vìvậy, nghiên cứu về TNHS đối với CTPVCV sẽ góp phần bổ sung tri thức về TNHS nói chung, TNHS đối với các tội phạm này nói riêng, từđógiúp nâng cao hiệu quảáp dụng chính xác các quyđịnh BLHS Việt Nam trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Tóm lại, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện những vấnđề lý luận, thực tiễn áp dụng TNHS đối với CTPVCV, để từ đó đưa ra những kiến nghị tiếptụchoàn thiện PLHS, áp dụng đúngđắn,hiệuquảBLHS năm 2015 khi cóhiệulựcthi hành là việc làm cầnthiết, có ý nghĩa quan trọng vềmặtlý luận và thực tiễn, dođónghiêncứusinhlựachọnvấnđề”Trách nhiệm hìnhsựđốivới cáctộiphạmvềchứcvụtheo pháp luật hìnhsựViệt Nam” làm đềtài luận án tiến sĩ luật học của mình.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án – Mục đích của luận án

Qua việc nghiên cứu, giải mã những vấn đề lý luận về TNHS đối với CTPVCV, những vấn đề thực tiễn của pháp luật hiện hành và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về TNHSđốivớiCTPVCV, luận ánđề xuất những giải pháp mang tính hệ thống, đồng bộcho việc tiếp tụchoàn thiện các quyđịnhcủa PLHS về TNHS đối với CTPVCV, cũng như đề xuất giải pháp cụ thể, khả thi nhằm đảmbảo thực hiện đúng các quyđịnh này, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống CTPVCV ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

– Nhiệm vụ của luận án

Với mục đích nghiên cứu trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

+ Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài luận án, trong đó tập trung tìm hiểu, đánh giá tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước về TNHS đối với CTPVCV cũng như xác định những vấn đề đặtra cần tiếp tục nghiên cứu;

+ Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về TNHS đối với CTPVCV nhưkhái niệm, đặc điểm, cơ sở và hình thức của TNHS;

+ Phân tích, so sánh những quy định về TNHS đối với CTPVCV của PLHS Việt Nam qua các thờikỳ,cũng như của PLHS Việt NamvớiPLHS một số nước trên thế giới trong tiến trình nội luật hóa Công ước của Liên hợp quốc về Chống tham nhũng năm 2003;

+ Phân tích, đánh giá những quy định của PLHS Việt Nam về TNHS đối với CTPVCV với các đặc điểm lý luận về TNHS đối với nhóm tội phạm nàyđã được làm rõ trước đó, có cập nhật, đối chiếu với những quy định mới trong BLHS năm 2015;

+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng quyđịnhTNHS đối với CTPVCV trong khoảng thời gian 10 năm (từ năm 2006 đến năm 2015) trên phạm vi toàn quốc. Trên cơ sở đó, đánh giá một cách khách quan, toàn diện những ưu điểm, hạn chế, tìm ra nguyên nhân của kết quả, cũng như những hạn chế trong áp dụng quy định TNHSđối với CTPVCV;

+ Phân tích bối cảnh và chỉ rađịnhhướng tiếp tục hoàn thiện những quyđịnh của PLHS Việt Namvề TNHSđối với CTPVCV, phân tích,đề xuất một sốgiải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp hữu quan để triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả BLHS năm 2015 khi Bộ luật này và Luật sửa đổi và bổ sung BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành. Đồng thời, những nội dung cần tiếp tục nghiên cứuđể hoàn thiện pháp luật quyđịnh về tội phạm, về TNHS đối với CTPVCV nhằm thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án – Đối tượng nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là TNHS đối với CTPVCV từcác giác độ: những vấn đề lý luận về TNHS đối với CTPVCV, quy định của PLHS về TNHS đối với CTPVCV và thực tiễn áp dụng TNHS đối với CTPVCV ở Việt Nam.

– Phạm vi nghiên cứu của luận án

Luận án tập trung nghiên cứu TNHS đối với CTPVCV (quy định tại Chương XXI BLHS năm 1999). Việc nghiên cứu thực tiễn được đặt trên phạm vi cả nước với giới hạn thời gian 10 năm (từ năm 2006 đến năm 2015).

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận án – Phương pháp luận

Luận ánđượcnghiên cứu dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa triết họcMác – Lênin. Trên cơ sở phương pháp luận khoa học, tiến bộ vàđược thừa nhận phổ biến này, luậnán kết hợp sửdụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội truyền thống như phương pháp hệ thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê… để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu vềTNHS đối với CTPVCV.

Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ theo pháp luật hình sự Việt Nam
Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ theo pháp luật hình sự Việt Nam

– Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án, cụ thể:

+ Phương pháp so sánh luật học, tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nướcđể làm sángtỏtình hình nghiên cứu có liên quan đếnđềtài này, hệ thống hóa lịch sử và PLHS một số nước liên quan đến nội dung nghiên cứu (Chương 1);

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh những vấn đề lý luận cơ bản vềTNHS đốivớiCTPVCV, đặc biệt là nhữngvấn đềvề kháiniệm, đặcđiểm, cơ sở và hình thức của TNHS đối với các tội phạm này theo PLHS Việt Nam (Chương 2);

+ Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh trong việc xử lý các tài liệu, số liệu của Bộ Công an, VKSNDTC và TANDTC để làm sáng tỏ thực trạng CTPVCVở nước ta trong khoảng thời gian từnăm 2006 đến năm 2015; làm rõ thực tiễn áp dụng TNHS, đặc biệt là định tội danh, áp dụng hình phạt và các biện pháp tư pháp, đánh giá tồn tại, hạn chế của chúng (Chương 3);

+ Phương pháp logic, tổng hợpđược sửdụng trong đề xuất kiến nghị, giải pháp tiếp tục hoàn thiện TNHS đối với CTPVCV, đề ra những giải pháp nhằm đápứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và CTPVCV trong tình hình mới ở nước ta (Chương 4).

5. Những đóng góp mới của luận án

Là luận án tiến sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu từgóc độ PLHS chế định TNHS đối với CTPVCV theo PLHS Việt Nam. Những đóng góp mới của luận ánđược thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:

Một là, đây là công trình nghiên cứu đầu tiênở cấp độ một luận án tiến sĩphân tích một cách có hệ thống và làm rõ những vấn đề cơ bản của TNHS đối với CTPVCV như: Khái niệm, cơ sở và các hình thức của TNHS đối với CTPVCV. Từviệc phân tích, lý giải những vấnđề này, luận án rút ra một số kếtluận khoa học giúp cho việc nhận thức thống nhất về chế định TNHS đối với CTPVCV theo PLHS Việt Nam.

Hai là, luận án nghiên cứu khái quát các quy định của PLHS về TNHS và TNHS đối với CTPVCV ở nước ta qua các thời kỳ để làm rõ đặc điểm pháp lý của

6

TNHS đối với CTPVCV, đồng thời các quyđịnh của PLHS về TNHS đối với CTPVCV hiện hành cũng được so sánh, đối chiếu với những quy định mới về TNHSđối với CTPVCV trong Chương XXIII của BLHS năm 2015 và PLHS về TNHS đối với CTPVCV tại một số nước trên thế giới để làm sáng tỏ thêm các vấnđề lý luận và có thêm bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện PLHS Việt Nam.

Ba là, luận án nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng TNHS đối với CTPVCV trong thực tiễn, phân tích mộtsốđiểm chưa phù hợp củaPLHS cũng như những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của chúng trong quá trình áp dụng TNHS đối với CTPVCVở nướcta trong khoảng thời gian từnăm 2006 đến năm 2015. Đây cũng là điểm mới quan trọng của luận án so với các nghiên cứu trước đó.

Bốn là, luậnán đề xuất mộtsố kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm góp phần giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất TNHS đối với CTPVCV; đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng TNHS đối với CTPVCV nhằm đápứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đấu tranh phòng, chống CTPVCV trong thời gian tới. Những giải pháp, kiến nghị của luận án mang tính thời sự trong bối cảnh “quá độ”đặc biệt của BLHS năm 1999, năm 2015 và các văn bản pháp luật khác trong lĩnh vực tư pháp hình sự ở nước ta tại thời điểm này.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần bổ sung thêm tri thức vào kho tàng lý luận về tội phạm và TNHS nói chung, về TNHS đối với CTPVCV nói riêng. Với những phương pháp nghiên cứu phù hợp và hiện đại, luận án đã giải mã nhiều vấnđề lý luận và thực tiễn, phân tích sâu sắc những vấn đề lý luận, cơ sở, hình thức của TNHS đối với CTPVCV, từ đó rút ra một số kết luận khoa học liên quanđếnTNHSđối với CTPVCV.

Qua thực tiễn áp dụng TNHS đối với CTPVCV ở nước ta trong khoảng 10 năm gần đây (từnăm 2006 đến năm 2015), luận án đã đưa ra nhận xét, đánh giá khách quan, sát thực và rút ra nguyên nhân của kết quả, cũng như của những hạn chế. Kết quả nghiên cứu của luận án, nhất là những nghiên cứu lý luận, nghiên cứu luật thực

7

định trong sự so sánh với pháp luật nước ngoài, nghiên cứu thực tiễn áp dụng…sẽgóp phần bảo đảmcho việc giải quyết đúng đắn vụán hình sự, bảo đảm cho việcđịnh tội danh và quyếtđịnh hình phạt có căncứvà xác đáng, từđógóp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống CTPVCV ở nước ta. Các mô hình lập pháp vàcác giải pháp bảo đảmáp dụng đúng đắn TNHS đối với CTPVCV của luận án cóthể được coi là những luận cứ, luận chứng thuyết phục, hữu ích cho quá trình tiếp tục hoàn thiện PLHS về TNHS đối với CTPVCV cũng như tổ chức thực hiện trong thực tiễn.

Luận án còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành luật ở Việt Nam.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mởđầu,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 04 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ;

Chương 2: Những vấn đềlý luậnvề trách nhiệm hìnhsựđốivớicác tội phạm về chức vụ;

Chương 3: Các quyđịnh của pháp luật hìnhsựhiện hành về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ và thực tiễn áp dụng;

Chương 4: Hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp bảo đảm hiệu quả áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạmvề chức vụ.

8

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

1.1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm hình sự

1.1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến các tội phạm về chức vụ

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM

1.2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm hình sự–

1.2.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với một số loại tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam

1.2.3. Các công trình nghiên cứu liên quan đến tội phạm về chức vụ

1.3. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUANĐẾNĐỀTÀI LUẬN ÁN

Qua nghiên cứu các công trình khoa học liên quan đến luận án ở trong và ngoài nước, tác giả có một số nhận xét sau:

– Về tình hình nghiên cứu ngoài nước: mỗi quốc gia, có trình độ phát triển và truyền thống pháp lý khác nhau nên các công trình nghiên cứu về pháp luật cũng như thực tiễn phòng, chống CTPVCV cũng khác nhau. Tuy nhiên, các công trình đãtập hợp trênđâycũng đã cho phép tác giả thu thập, đánh giá các quan niệm khác nhau về TNHS, về cơsở củaTNHS, về CTPVCV. Đây là nguồn tài liệu tham khảo

quan trọng đối với tác giả khi cân nhắc, hình thành ý tưởng, đánh giá và so sánh về TNHS đối với CTPVCV giữa các nước.

– Đối với các công trình đã nghiên cứu, phân tích TNHS theo quy định của BLHS Việt Nam, trong đó có TNHS đối với CTPVCV, cơ chế, mô hình tổ chức cơ quan đấu tranh phòng, chống CTPVCV chính là xuất phát điểmquan trọng, mang

25

tính tiền đề đểtác giả tiếp tục đi sâu phân tíchcơ sởlý luận về TNHS nói chung vàTNHS đối với CTPVCV nói riêng.

– Một số công trình nghiên cứu ở trong nước đã làm rõ nhiều vấnđề liên quan đến đề tài của luận án như: khái niệm, đặc điểm, cơ sở của TNHS, dấuhiệuđặc trưng của CTPVCV, cũng như thực trạng thực hiện các quy định về TNHS đối với một loại tội phạm cụ thể, từ đó giúp tác giả luận án, hình thành và hoàn thiện ýtưởng trên những phương diện nhất định của luận án.

– Cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu trực tiếp về TNHS đối với CTPVCV, cụ thể là khái niệm, đặc điểm, cơ sở của TNHS đối với CTPVCV, thực tiễn áp dụng các hình thức TNHS đối với CTPVCV trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2015. Việc nghiên cứu này càng cần thiết hơn khi BLHS năm 2015 được Quốc hội thông qua đã có nhiều quyđịnh mới như bổ sung về TNHS của pháp nhân thương mại, về “lợi ích phi vật chất” trong Tội nhận hối lộ và mở rộng phạm vi chủ thể phải chịu TNHS trong Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS) vàTội nhận hối lộ(Điều 354 BLHS), theo đó: người cóchức vụ, quyền hạntrong các doanh nghiệp,tổ chức ngoài Nhànước mà tham ô, nhận hối lộ, thì bị xửlý theo quyđịnh tại Điều 353, Điều 354 BLHS. Từđó, cho thấy vẫn còn những vấn đề mới cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và tiếp tục hoàn thiện pháp luật cũng như việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Về những vấn đề chưađược giải quyết thấu đáo cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển:

Thứ nhất: Khái niệm, đặc điểm của TNHS đối với CTPVCV chưa được tác giả của các công trình nghiên cứu một cách toàn diệnđể từđó có thể chỉ ra được những đặctính riêng của TNHS đối với CTPVCV; làm rõ thế nào là người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà được BLHS năm 2015 đã quy định.

Thứ hai: Một sốcông trình mới dừngởviệc nghiêncứucơ sở lý luận của TNHS hoặc là các tình tiết tăng nặng, giảmnhẹTNHS. Do vậy, luận án sẽ làm rõ cơ

26

sở của TNHS đối với CTPVCV, đồng thời nêu và phân tích các hình thức TNHSđối với CTPVCV theo quy định của BLHS hiện hành, có so sánh với BLHS năm 2015.

Thứ ba: Từ thực tiễn áp dụng các hình thức TNHS và công tác đấu tranh đối với CTPVCV trong thời gian 10 năm gần đây, luận án sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, sát thực về quy định của PLHS hiện hành và cả những quy định của BLHS năm 2015 (về TNHS, về CTPVCV), từ đó đưa ra các giải pháp bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống CTPVCV trong giai đoạn tới ở nước ta.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua chương 1 của luận án, cho phép tác giả luận án rút ra một số kết luận sau:

Một là, TNHS là một trong những vấn đề cơ bản, phong phú và phức tạp của luật hình sự nên luôn được các nhà nghiên cứu luật hình sự ở nhiều nước quan tâm. Một số sách, giáo trình, bài viết liên quan đến TNHS và TNHS đối với CTPVCV đãđược công bố. Nghiên cứu sinh đã tiếp cận, nghiên cứu chủ yếu là các ấnphẩm được xuấtbảnở Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết (Liên Xô) trước đây và một số ấn phẩm khác. Trong các công trình nghiên cứu này,vấnđề TNHS đượccác nhà nghiên cứu đề cập từ góc độ các ngành khoa học khác nhau như: khoa học luật hình sự, khoa học điềutra tội phạm, tội phạm học. Đặc điểm về một số tội danh trong nhóm CTPVCV cũng được các tác giả nước ngoài đề cập, chủ yếu là các dấu hiệu pháp lý như thủ đoạn phạm tội, nhân thân người phạm tội, thời gian, địa điểm, công cụ,phương tiện phạm tội, còn TNHS được các tác giả tiếp cận thiên về phương diện quy định của BLHS và về hình phạt áp dụng đối với người phạm tội.

Hai là, về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam, trên cơ sở khái quát theo các nhóm, trước hết là về: Những công trình nghiên cứu liên quan đến quy định về trách nhiệm hình sự. Ở đây, các tácgiảphân tích những vấnđềlý luận và thực tiễn về tội phạm, hình phạt, TNHS, miễn TNHS trong luật hình sự Việt Nam, từ đó đưa ra khái niệm, đặc điểm, bản chất và sự phân biệt giữa TNHS và hình phạt; mối liên hệ giữa TNHS và hình phạt, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong các quy định tương ứng của BLHS hiện hành về các nội dung này trên cơ sở tổng kết những tri thức khoa học luật hình sự, thực tiễn áp dụng và kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên

27

thế giớiđểtừ đóđúc kết thành những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Đa số các công trình khoa họctậptrung nghiên cứu TNHS theo quyđịnhhiện hành, là TNHSchỉáp dụng cho cá nhân phạm tội. Vấn đề TNHS đối với pháp nhân tuy có đượcđề cập đến trong một số công trình nghiên cứu dù chưa được quyđịnh trong BLHS năm 1999. Chỉ BLHS năm 2015 mới có quy định về TNHS của pháp nhân thương mại, tuy vậy, pháp nhân thương mại không phải chịu TNHS về bấtcứtội nào trong nhóm CTPVCV. Những công trình nghiên cứu liên quan đếntrách nhiệm hình sựđối với một số tội phạm cụ thể theo pháp luật hình sự Việt Nam, là những công trình tập trung nghiên cứu về nguyên tắc chung, đặc điểm của từng tội phạm cụ thể, hình phạt, các biện pháp tư pháp và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Mặc dù, có nghiên cứu đến TNHS nói chung và TNHS đối với một số loại tội phạm, song TNHS đối với CTPVCV đã không được đề cập trong các công trình này. Những công trình nghiên cứuliên quan đến tội phạm về chức vụ, là những công trình mà trong đó, các tác giả nêu và phân tích cácdấuhiệu pháp lýđặctrưng của CTPVCV (chủ yếu tập trung vào tội phạm về tham nhũng), TNHS, hình phạtđối với từng tội phạm về chức vụ cụ thể đượcquy định trong BLHS năm 1985. Tuy nhiên, theosựphát triển của xã hội, BLHS đãđược sửa đổi, bổ sung một số lần đểphục vụ yêu cầu của sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó có CTPVCV. Do đó, một số đánh giá, nhận xét, kết luận trong các công trình nghiên cứu loại này cần được nghiên cứu tiếp.

Ba là, trên cơ sở đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, nghiên cứu sinh đưa ra những nhận xét, đánh giá và khẳng định: Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị không chỉ ởphương diện lý luận mà còn có giátrịthực tiễn cao, phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó có CTPVCV. Đồng thời, nghiên cứu sinh đã xác định được những nội dung chưa được giải quyết thấu đáo, cần tiếp tục nghiên cứu và phải làm rõ trong luận án như đã nêu.

28

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ

2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ

2.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ* Khái niệm trách nhiệm hình sự

Theo Từđiển Tiếng Việt, trách nhiệmđược hiểu là “điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình” [52, tr. 578]; trách nhiệm là bổn phận, nghĩa vụ của một người trước người khác, trước Nhà nước hay trước cộng đồng; là hậu quảbất lợi của một người đã thực hiện hành vi vi phạm bổn phận, nghĩa vụ phải gánh chịu trước người khác, trước Nhà nước hay trước cộng đồng. Có nhiều loại trách nhiệm, như trách nhiệm gia đình, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm pháp lý… Ở đây, điều chúng tôi quan tâm trước tiên là trách nhiệm pháp lý. Trong khoa học pháp lý, khái niệm “trách nhiệm pháp lý” được hiểu theo hai nghĩa sau:

– Theo nghĩa “tích cực”, thì “trách nhiệm pháp lý” là trách nhiệm phải thực thi đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của chủ thể theo quy định của pháp luật. Ví dụ: “Các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân đấu tranh phòng, chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng”

(Điều 4 BLHS). Những người hiểu trách nhiệm pháp lý theo nghĩa “tích cực” này đãcho rằng chủ thể của trách nhiệm pháp lý là các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác theo luật thực định, tuy nhiên, thực chất đây là chủ thể áp dụng trách nhiệm pháp lý mà không phải là chủ thể của trách nhiệm pháp lý hay chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý.

– Theo nghĩa “tiêu cực”, thì “trách nhiệm pháp lý” là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi gây nguy hại cho xã hội, bị coi là vi phạm pháp luật, có lỗi vàbị xửlí bằng các chế tài tương ứngtheo quyđịnh của pháp luật.Ở nghĩa này

29

trách nhiệm pháp lý chính là hậu quả củahành vi vi phạm pháp luật vàđược thểhiện trong việc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền (có chức vụ) áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế (chế tàixửlí) do pháp luật quyđịnh đối với người có lỗi trong việc vi phạm pháp luật. Nói cách khác, trách nhiệm pháp lý chính là những hậu quả bất lợi mà người vi phạm pháp luật phải gánh chịu theo quyếtđịnh của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền (có chức vụ). Nó là sự phảnứng mang tính trừng phạt củaNhànướcđối vớichủthểđã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong quá khứ [83, tr. 159].

Theo Từ điển Luật học thì “trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi do Nhà nước áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật, theo đó, chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế được quy định trong chế tài của các quy phạm pháp luật” [95, tr. 679]. Chúng tôi cũng cơ bản tán thành với cách giải nghĩa này và cho rằng trách nhiệm pháp lý cần được làm rõ từ các giác độ sau đây: một là,về bản chất của trách nhiệm pháp lý là các hậu quả về mặt pháp lý mà một chủ thể phải gánh chịu; hai là,về chủ thểcủatrách nhiệm pháp lý hay chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý là những cá nhân, tổ chức có năng lực chủthể,đã có vi phạm pháp luật trước đó (ởđâycần cósựphân biệt rõ với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm pháp lý hay còn gọi là chủ thể áp dụng trách nhiệm pháp lý) – chủ thể áp dụng trách nhiệm pháp lý thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật

(chủ động) với chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý (thụ động), trong mối quan hệ này, chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý chính là đối tượng của hoạt động áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, chủ thể của trách nhiệm pháp lý phải được khẳng định chính là những người phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý(để không có sựnhầm lẫnvớitrách nhiệm pháp lý hiểu theo nghĩa “tích cực” như đã nêu ở trên); ba là,cơ sởcủaviệc phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý chính là những vi phạm pháp luật mà họ đã thực hiện; bốn là, do tính chất của trách nhiệm này là trách nhiệm pháp lý nên vi phạm dẫn tới trách nhiệm pháp lý phải là những vi phạm pháp luật, được quy định trong các văn bản pháp luật và quá trình áp dụng trách nhiệm pháp lý phải tuân theo trình

tựluật định và việc thi hành các quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật cũng phải tuân theo trình tự luật định.

30

Như vậy, trách nhiệm pháp lý là sự phản ứng của Nhà nước đối với chủ thể vi phạm pháp luật – do đã gây ra, hoặc đe dọa gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, thông qua việc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu hậu quả bất lợi và được thểhiện bằng việc phải chấp hành một hay nhiều biện pháp cưỡng chế mang tính Nhànướcthông qua những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để áp dụng và tổ chức cho chủ thể của trách nhiệm pháp lý thực hiện trên thực tế. Trách nhiệm pháp lý làtrách nhiệm của một người, một tổ chức đối với hành vi vi phạm pháp luật do mình thực hiện và được thể hiện ở việc chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi mà pháp luật quy định đối với vi phạm đó.

Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm của hành vi vi phạm pháp luậtđối với khách thể (các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội) được pháp luật bảo vệ, trách nhiệm pháp lý được phân thành: TNHS, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật. Trong đó, TNHS là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với các loại trách nhiệm khác,đượcáp dụng đối với chủthể là cá nhân (hoặc pháp nhân tùy theo quan niệm và quy định của từng quốc gia) đãthực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộiđượcPLHS quy định là tội phạm.

Trách nhiệm hình sự là một loại trách nhiệm pháp lý với các hậu quả pháp lý bất lợi nhất áp dụng với chủ thể vi phạm pháp luật gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội hơn cả (so với các dạng vi phạm pháp luật khác). TNHS cũng mang các đặcđiểm của trách nhiệm pháp lý như đã nêu ở trên. Tuy nhiên, để làm sáng tỏ nội dung TNHS đối với một nhóm tội phạm cụ thể, như TNHS đối với nhóm CTPVCV, việc nhận thức đúng những vấn đề chung nhất về TNHS – một loại trách nhiệm pháp lýlà rất cần thiết. Trong khoa học luật hình sự, xung quanh khái niệm TNHS còn có những quan điểm và cách tiếp cập khác nhau [11, tr. 75], [38, tr. 1-7].

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ củangười phạm tội đối với Nhà nước do việc thực hiện hành vi phạm tội, bao hàm nghĩa vụphải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp luật quyđịnhđối với hành vi phạm tội đó” [39, tr. 210]. Quan điểm này và quan điểm thứ hai dưới đây đều trực tiếp khẳng định TNHS là nghĩa vụ/là hậu quả mà một người phải chịu trước Nhà nước do thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định. Đây là

31

cách tiếpcậntrực diện, mô tả đúng bản chấtvấn đề.Quanđiểm thứhai cho rằng: “trách nhiệm hình sựlà hậu quả pháp lý củaviệc thực hiện tội phạm và đượcthểhiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hay nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sựquyđịnh”[100, tr. 224]. Nhiều người cho rằng, nội hàm của khái niệm này quá rộng khi bao gồm cả “việc áp dụng đối với người phạm tội mộthay nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước” do trước khi bị xét xử và kết

tội, một người có thể đãbị áp dụng biện pháp ngăn chặn, như: bắt, tạmgiữ, tạm giam, cấmđi khỏi nơi cư trú,… nhằm mục đích ngăn chặn bị can, bị cáo gây khókhăn cho việcđiềutra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội cũng như bảo đảm thi hành án.Vềbảnchất, các biện pháp này chỉ là các biện phápcưỡngchế tốtụng màkhông phải là sự thể hiện của TNHS. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với một người không có nghĩa là đã xác định người đó phạm tội, vì trên thực tế một người đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn vẫn có thể không phạm tội hoặc được miễn TNHS và ngược lại, một ngườikhông bị áp dụng biện pháp ngăn chặn vẫn cóthểphải chịu TNHS, nếu sau đóbị Tòa án kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng quan điểm này không hề đẩy phạm vi TNHS đi quáxa vì đã nói rõ “những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sựquyđịnh”. BLHS không quy định về các biện pháp ngăn chặn hay biện pháp cưỡng chế khác của tố tụng hình sự, các biện pháp ngăn chặn hay biện pháp cưỡng chế khác của tốtụng hìnhsựdo Bộ luậttốtụng hìnhsựquy định.Mặcdù vậy, theo chúng tôi sẽ là đầy đủhơn nếu khái niệm trên chỉ ra được thông tincơ bản vềchủ thểáp dụng TNHS và tính chất của quy trình áp dụng TNHS.

Quan điểm thứ ba khẳng định TNHS “là một dạng của trách nhiệm pháp lý thể hiệnởviệcngườiđã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộiđược quyđịnh trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vimà người đó đãthực hiện” [57, tr. 14].Đây cũng là một quan điểm tương đối hợp lý. Theo đó, TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý thể hiện ở việc người phạm tội phải gánh chịu những hậu quả pháp lýbất lợitrướcNhànướcvà xã hội dohọđãthực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhộiđược luật hình sựquy định, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho quan

32

hệ xã hội được luật hình sựbảo vệ. Những quan hệ xã hội này được bảo vệ thông qua việc quy định các chế tài trong BLHS và thông qua việc áp dụng chế tài này cóthể tướcbỏ,hạnchế một phần hoặc toàn bộ quyền vàlợiíchđốivớingườithực hiện hành vi phạm tội. Quan điểm này cho rằng, theo quy định của pháp luật, chỉ cóTòa án mới có quyền quyết định vấnđề có tộihay không có tộivà một người chỉ bịcoi là có tộikhi có bản án kết tộicủaTòa án đãcó hiệu lựcpháp luật. Vì vậy, TNHS chỉ xuất hiện khi mộtngười bị đưa ra xét xử và kết thúc khi bản ánkếttội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Chúng tôi cho rằng, TNHS xuất hiện ngay từkhi có việc thực hiện tội phạm xảy ra, tuy nhiên, việc áp dụng TNHS đốivớingười phạmtộichỉ bắtđầu được đặt ra khi ngườiphạm tội bị phát hiện trong tiến trình truy cứu TNHSđốivới họ. Họ cóthểphải chịu những hình thức TNHS nhất định một cách hạn chế do luật hình sự quy định ngay cả khi chưa bị Tòa án kết tội, ví dụ, họ có thể bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố. TNHS luôn thể hiện tính chất cưỡng chếvà được quy định trong BLHS nhưng không phải là những biện pháp cưỡng chế tố tụng như biện pháp ngăn chặn, biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản… mặc dù cùng có tính chất cưỡng chế và cùng do các cơ quan có thẩm quyền tiến hànhtố

tụng thực hiện. Mặt khác, trong số các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thìchỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền áp dụng tất cả các hình thức TNHS, trong đó có hình thức TNHS cơ bản nhất, điển hình nhất là hình phạt. Chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định hình phạt trong bản án kết tội. Các cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được áp dụng TNHS một cách hạn chế về căn cứáp dụng và phạm vi các hình thức TNHSđược áp dụng.Việc miễn TNHS theo quyđịnh của BLHS được đặt ra trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử khi có những căn cứ nhất định như do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, do tự thú trước khi bị phát giác, hạn

chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm… Nhưvậy, căncứvào luật thực định, cũng có ý kiến cho rằng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát khi đã có quyền miễn TNHS thì không thể cho rằng các cơ quan này chỉ đượcáp dụng TNHS một cách hạn chế. Chúng tôi nhận thấy tuy luật thực định quyđịnh nhưvậynhưng về bản

33

chất, trong trường hợp này, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không quyết định miễn TNHS mà chính xác là miễn/chấm dứt việc truy cứu TNHS, hay quyết định không truy tố vì TNHS chỉ đặt ra đối với người phạm tội, được xác định trong bản án kết tội.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1 Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ theo pháp luật hình sự Việt Nam

Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ theo pháp luật hình sự Việt Nam Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ theo pháp luật hình sự Việt Nam Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ theo pháp luật hình sự Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *