Tổng hợp hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, nên việc đấu tranh phòng chống tội phạm để bảo vệ lợi ích và duy trì kỉ cương xã hội luôn là một nhiệm vụ quan trọng nhất của mỗi nhà nước. Để cụ thể hóa, bộ luật hình sự đã quy định những hành vi nào được coi là nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý xâm phạm các khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ là tội phạm.
Hình phạt là một dạng điển hình nhất và phổ biến của trách nhiệm hình sự. Hình phạt là chế tài nghiêm khắc nhất của nhà nước đối với người phạm tội và họ phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi phạm tội của mình. Hậu quả đó là hạn chế hoặc tước bỏ quyền và lợi ích của người phạm tội, thậm chí là cả quyền sống của họ. Việc quyết định hình phạt dựa trên tính chất nguy hiểm và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đưa ra một hình phạt phù hợp. Thực tế xét xử vụ án hình sự trong những năm qua cho thấy: Có nhiều trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng không bị phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lúc, mỗi hành vi cấu thành một tội phạm riêng biệt hay một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án đó hoặc một người đang phải chấp hành bản án mà phạm tội mới thì để đánh giá toàn diện và đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tất cả các tội mà người phạm tội đã thực hiện, tòa án phải tổng hợp hình phạt của các tội thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành. Đây là một quy định đặt biệt quan trọng trong luật hình sự. Bộ luật hình sự hiện hành tuy đã có quy định về quy định này nhưng xét về nội dung cũng như kỹ thuật lập pháp của các quy định đó còn chưa hoàn thiện và điều đó đã dẫn đến một số vướng mắc trong quá trình áp dụng. Điều này gây lúng túng và có không ít trường hợp áp dụng còn chưa thống nhất các quy định của BLHS trong hoạt động xét xử của tòa án các cấp. Bên cạnh đó, Đà Nẵng là một thành phố đang phát triển với tốc độ tăng trưởng hàng đầu của Việt Nam, được xếp vào hàng thành phố đáng sống với mặt bằng dân trí cao, người lao động từ các tỉnh khác tập trung về TP Đà Nẵng để làm ăn sinh sống rất đông nên đây cũng là điều kiện để cho các loại tội phạm nhân cơ hội đó mà phát triển ngày càng có tính tinh vi và nguy hiểm hơn trước. Việc tổng hợp hình phạt cũng là một nội dung quan trọng trong công tác hoàn thiện pháp luật để răn đe và đấu tranh phòng ngừa tội phạm có hiệu quả hơn. Như vậy, cần có những nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về tổng hợp hình phạt để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng tổng hợp hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam nói chung và từ thực tiễn trên địa bàn TP Đà Nẵng nói riêng không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do luận chứng cho sự cần thiết để tác giả lựa chọn đề tài “Tổng hợp hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ luật học.
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tổng hợp hình phạt dưới khía cạnh lập pháp hình sự và áp dụng chúng trong thực tiễn trên địa bàn TP Đà Nẵng, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về tổng hợp hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của tổng hợp hình phạt này trong thực tiễn áp dụng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn đặt cho mình các nhiệm vụ nghiên cứu chính sau đây:
Một là, làm rõ hơn những vấn đề lý luận về tổng hợp hình phạt;
Hai là, nghiên cứu quy định tổng hợp hình phạt trong lịch sử pháp luật hình sự từ năm 1945 đến nay để thấy được quá trình hình thành và phát triển của quy định qua đó thấy được chính sách hình sự của Đảng và nhà nước ta đối với quy định này;
Ba là, nghiên cứu một số trường hợp tổng hợp hình phạt cụ thể và xem xét đến thực tiễn áp dụng trên địa bàn TP Đà Nẵng để trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện những quy định về tổng hợp hình phạt cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình tổng hợp hình phạt
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về tổng hợp hình phạt dưới góc độ pháp lý hình sự trong thực tiễn xét xử của tòa án các cấp trên địa bàn TP Đà Nẵng, thông qua khảo sát thực tiễn từ năm 2011 đến năm 2015
- 5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
- 5.1. Phương pháp luận: luận điểm của triết học Mác – Lênin về chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các nghị quyết đại hội Đảng VIII, IX, X và các nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của bộ chính trị.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp lịch sử.
6.1. Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng vì công trình này đã giải quyết một số vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan tới quy định tổng hợp hình phạt trong luật hình sự Việt Nam.
Một là, xây dựng khái niệm tổng hợp hình phạt và phân tích các nguyên tắc tổng hợp hình phạt. Phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến quy định tổng hợp hình phạt theo luật hình sự Việt Nam;
Hai là, nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của quá trình hình thành và phát triển của quy định tổng hợp hình phạt trong luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay;
Ba là, nghiên cứu, phân tích các trường hợp tổng hợp hình phạt, tổng hợp các quan điểm của các nhà khoa học và tình hình áp dụng của tòa án các cấp trên địa bàn TP Đà Nẵng;
Bốn là, phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về tổng hợp hình phạt trong luật hình sự Việt Nam hiện nay và chỉ ra những phương hướng, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao chất lượng hoạt động tổng hợp hình phạt trong BLHS Việt Nam hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Với những điểm mới trên, hy vọng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích và cần thiết không chỉ cho những người quan tâm đến vấn đề tổng hợp hình phạt mà còn đối với những người thực thi pháp luật nói chung, và cơ quan xét xử nói riêng góp phần vào việc nghiên cứu những cơ sở khoa học và thực tiễn để sửa đổi, bổ sung hoàn thiện BLHS.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những đề lý luận về tổng hợp hình phạt.
Chương 2: Quy định về tổng hợp hình phạt trong bộ luật hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm hiệu quả tổng hợp hình phạt.
Chương 1
NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT
Theo nguyên tắc của luật hình sự thì một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và được BLHS quy định là tội phạm thì phải chịu hình phạt. Hình phạt người bị kết án phải chấp hành có thể cùng loại nhưng cũng có thể khác loại. Có loại hình phạt có thể quy về cùng loại nhưng cũng có trường hợp bị cáo phải chấp hành đồng thời nhiều hình phạt. Để đánh giá toàn diện về nhân thân người phạm tội cũng như thể hiện đầy đủ nhất thái độ của nhà nước đối với họ, khi xét xử tòa án phải tổng hợp tất cả các hình phạt đã tuyên thành hình phạt chung. Mặt khác, việc tổng hợp hình phạt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Trong BLHS Việt Nam năm 1999 có bốn trường hợp khi xét xử tòa án phải tổng hợp hình phạt. Đó là:
* Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (điều 50)
* Tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án (điều 51)
* Tổng hợp hình phạt trong trường hợp có liên quan đến án treo (điều 60)
* Tổng hợp hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội (điều 75)
Ý nghĩa thứ nhất, tổng hợp hình phạt đúng sẽ góp phần đạt được mục đích và nâng cao hiệu quả của hình phạt.
Ý nghĩa thứ hai, tổng hợp hình phạt đúng là góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Ý nghĩa thứ ba, việc tổng hợp hình phạt đúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án hình sự thực thi nhiệm vụ, góp phần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Ý nghĩa thứ tư, việc tổng hợp hình phạt đúng còn là sự đảm bảo nguyên tắc công bằng trong luật hình sự nói riêng và công bằng trong xã hội.
Nhìn lại lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam ta có thể thấy, tổng hợp hình phạt là một quy định pháp luật hình sự ra đời từ rất sớm. Cùng với sự phát triển của đất nước, pháp luật hình sự của nước ta cũng có những thay đổi, bổ sung để kịp thời điều chỉnh những quan hệ xã hội mới. Trong bối cảnh đó, là một quy định khá quan trọng trong luật hình sự nên quy định tổng hợp hình phạt cũng đã được dần hoàn thiện để đáp ứng đòi hỏi của xã hội.
Trường hợp thứ nhất: Trường hợp phạm nhiều tội. Trước khi ban hành BLHS năm 1985, pháp luật hình sự nước ta chưa có quy định cụ thể về tổng hợp hình phạt đối với trường hợp phạm nhiều tội, nên vào những thời điểm khác nhau, việc tổng hợp hình phạt được các tòa án thực hiện với nhiều cách thức không thống nhất.
Trường hợp thứ hai: Tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án. Trong giai đoạn này, về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, trong báo cáo tổng kết công tác của TANDTC năm 1964 đã nêu ra hai trường hợp với cách thức tổng hợp có nhiều điểm tương đồng với các quy định hiện hành của BLHS.
Trường hợp thứ ba: Tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội. Trong thời gian từ sau cách mạng tháng Tám thành công đến năm 1975 chưa có văn bản pháp luật hình sự nào chính thức quy định nguyên tắc xử lý, quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội mà vấn đề này cũng mới chỉ được đề cập tới trong các báo cáo tổng kết công tác ngành tòa án của TANDTC. Nhìn chung, người chưa thành niên phạm tội được xử lý nhẹ hơn so với người đã thành niên.
Trường hợp thứ tư: Tổng hợp hình phạt trong các trường hợp có liên quan đến án treo. Ở nước ta, chế định án treo được quy định khá sớm. Nó ra đời và gắn liền với sự ra đời của pháp luật hình sự Việt Nam. Án treo đã được quy định trong một số sắc lệnh như: Sắc lệnh số 33C/SL (quy định tại điều IV); sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946. Trong các văn bản này đã quy định về hình phạt được hưởng án treo, điều kiện hưởng, thời gian thử thách, xóa án tích.
Đối với vấn đề tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Trong BLHS năm 1985, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam, việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đã được quy định tại điều 41. Quy định “khi xét xử cùng một lần người phạm nhiều tội, tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó quyết định hình phạt chung cho các tội” đã khắc phục được nhược điểm thiếu nhất quán trong thực tiễn xét xử thời gian trước đó và đánh dấu sự trưởng thành về mặt kỹ thuật lập pháp hình sự nước ta.
Việc quyết định hình phạt chung trong trường hợp phạm nhiều tội có thể thực hiện bằng hai cách: Thu hút hình phạt nhẹ vào hình phạt nặng nhất hoặc cộng toàn bộ hình phạt đã tuyên về từng tội hay là cộng vào hình phạt nặng nhất một phần các hình phạt đã tuyên [37].
Đối với vấn đề tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án. Theo BLHS năm 1985, tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án được quy định tại điều 42. Theo điều 42, tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án bao gồm hai trường hợp với nguyên tắc tổng hợp hình phạt như sau:
Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này thì tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung.
Trường hợp một người đang chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó cộng với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước thành hình phạt chung. Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất mà luật quy định cho loại hình phạt đã tuyên (khoản 2).
Đối với vấn đề tổng hợp hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội. Trong BLHS năm 1985, người chưa thành niên được hiểu là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung không được vượt mức hình phạt cao nhất quy định ở điều 64.
Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi thì hình phạt chung được áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội.
Đối với vấn đề tổng hợp hình phạt trong trường hợp có liên quan đến án treo. Vấn đề này được quy định tại điều 44 khoản 5 BLHS năm 1985: “Nếu trong thời gian thử thách người bị án treo lại phạm tội mới và bị phạt tù thì tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định ở khoản 2 điều 42” [27]. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, các tòa án đã hiểu và vận dụng không thống nhất quy định này, nhiều khi tổng hợp chưa đúng với quy định của pháp luật. Từ thực tế trên, TANDTC đã ra thông tư số 01/NCPL ngày 6/4/1988 hướng dẫn bổ sung về án treo. Thông tư này đã hướng dẫn cụ thể việc áp dụng nguyên tắc nào để quyết định hình phạt chung và cách trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam.
Tóm lại, trong BLHS Việt Nam năm 1985 quy định tổng hợp hình phạt đã được quy định chi tiết hơn giai đoạn trước khi có bộ luật nhưng các quy định đó cũng chưa được hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp. Mặt khác, có một số quy định đã được sửa đổi nhưng không kế thừa được những quy định hợp lý của giai đoạn trước do vậy đã dẫn đến nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng. Đây cũng là một nguyên nhân đòi hỏi sự bổ sung cần thiết trong BLHS mới – BLHS năm 1999.

Chương 2
QUY ĐỊNH VỀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- 2.1. Quy định về tổng hợp hình phạt trong bộ luật hình sự
- Điều 50 BLHS năm 1999 quy định rõ việc tổng hợp hình phạt đối với trường hợp phạm nhiều tội như sau:
- Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt qua 3 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt tù có thời hạn.
- Nếu hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ ba ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành một ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 điều này.
- Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là chung than thì hình phạt chung là tù chung thân.
- Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình.
- Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng thành hình phạt chung.
- Trục xuất không tổng hợp cùng các hình phạt khác.
- Hình phạt bổ sung là những biện pháp quan trọng bảo đảm hiệu quả công tác phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng, đồng thời tạo điều kiện cho việc thực hiện các nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội.
- Quy định của BLHS về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội bao gồm các nguyên tắc và cách thức sau :
- Về cách thức tổng hợp, trong trường hợp phạm nhiều tội, trước khi tổng hợp và quyết định hình phạt chung cho các tội thì tòa án phải quyết định hình phạt cho từng tội. Sau khi tuyên hình phạt riêng cho từng tội, toà án sẽ quyết định và tuyên hình phạt chung.
- Nguyên tắc cộng hình phạt có hai trường hợp: nguyên tắc cộng toàn bộ và nguyên tắc cộng một phần.
- Về nguyên tắc thu hút, theo nguyên tắc thu hút, hình phạt chung là hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên. Nguyên tắc này được áp dụng trong trường hợp không thể cộng hết các hình phạt lại với nhau do có một trong các hình phạt đã tuyên là hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình phạt hay do các hình phạt không thể cùng chấp hành.
- Về nguyên tắc cùng tồn tại, nguyên tắc cùng tồn tại được áp dụng khi không áp dụng được hai nguyên tắc trên. Tổng hợp hình phạt theo nguyên tắc này sẽ không có hình phạt chung cho tất cả các tội mà chỉ có việc phải chấp hành đồng thời các hình phạt.
- Tóm lại, tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là một trường hợp đặc biệt của hoạt động quyết định hình phạt. Để tổng hợp hình phạt đúng đòi hỏi cán bộ xét xử phải hiểu đúng và áp dụng thống nhất các nguyên tắc này theo quy định tại điều 50 BLHS năm 1999. Xét về mặt kỹ thuật lập pháp, quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội tại điều 50 BLHS 1999 so với các quy định trước đó là một tiến bộ vượt bậc. Tuy nhiên, để các quy phạm pháp luật hình sự ngày càng hoàn thiện và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm, tác giả cho rằng cần phải bổ sung một điều luật riêng biệt quy định về khái niệm trường hợp “phạm nhiều tội” tại phần chung BLHS.
- Theo quy định tại điều 51 BLHS năm 1999, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có ba trường hợp sau:
* Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này
* Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án có hiệu lực pháp luật lại phạm tội mới và bị đem ra xét xử .
* Trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp.
- Tóm lại, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại điều 51 BLHS năm 1999 là một trường hợp quyết định hình phạt đặc biệt. Theo điều 51 BLHS, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án nảy sinh trong ba loại trường hợp và mỗi trường hợp có cách thức tổng hợp khác nhau, thể hiện thái độ của nhà nước thông qua chính sách hình sự được áp dụng. Nhận thức và áp dụng đúng điều luật quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng trong việc tuyên hình phạt chính xác đối với người phạm tội.
Án treo thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật hình sự nhưng đối với những đối tượng coi thường pháp luật, nhà làm luật cũng quy định rõ tại khoản 5 điều 60 BLHS: “Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của điều 51 của bộ luật này” [30]. Quy định này vừa thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa vừa thể hiện nguyên tắc công bằng trong tổng hợp hình phạt cũng như trong luật hình sự.
Việc tổng hợp hình phạt chung được thực hiện như sau:
– Nếu tội mới phạm bị tòa án tuyên phạt cải tạo không giam giữ thì phải tiến hành đổi từ cải tạo không giam giữ sang tù có thời hạn để tổng hợp với hình phạt của bản án trước thành hình phạt chung theo tỉ lệ cứ 3 ngày cải tạo không giam giữ bằng một ngày tù.
– Nếu tội mới bị tòa án tuyên phạt tù có thời hạn thì bị cáo buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới thành hình phạt chung.
– Nếu tội mới phạm bị tòa tuyên phạt là phạt tiền thì người bị kết án phải chấp hành đồng thời hai hình phạt của hai bản án.
Tóm lại, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, một quy định thể hiện nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong luật hình sự. Mặc dù thể hiện nguyên tắc nhân đạo nhưng đối với những đối tượng coi thường pháp luật đã được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách thì tòa án sẽ buộc họ phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới thành hình phạt chung. Việc áp dụng quy định này thể hiện nguyên tắc công bằng cũng như nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong luật hình sự.
- Quy định tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là một sự tiến bộ trong lịch sử lập pháp hình sự, là một sự bổ sung cần thiết trong chính sách hình sự của nhà nước. Quy định này thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật đối với chủ thể đặc biệt là người chưa thành niên. Để công tác xét xử người chưa thành niên được đảm bảo, bên cạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, thẩm phán thì việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự áp dụng đối với chủ thể này cũng là yếu tố mang tính chất quyết định.
- 2.2. Thực tiễn tổng hợp hình phạt trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Trong thời gian qua, tình hình tội phạm càng ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi và nguy hiểm hơn; số vụ án hình sự vẫn có xu hướng gia tăng cả về mức độ, tính chất, người phạm tội. Cùng với yêu cầu làm tốt công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án, TAND tiếp tục triển khai các nhiệm vụ cải cách tư pháp theo các nghị quyết của Đảng, quốc hội mà trọng tâm là việc đổi mới tổ chức, hoạt động của tòa án theo tinh thần nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 và kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của bộ chính trị; nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của VKSND, của TAND…
Bảng 2.1: Số liệu về công tác giải quyết, xét xử án hình sự của tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011đến năm 2015
| Năm | Thụ lý | Xét xử | ||
| Vụ | Bị cáo | Vụ | Bị cáo | |
| 2011 | 613 | 1129 | 575 | 1013 |
| 2012 | 726 | 1278 | 684 | 1179 |
| 2013 | 681 | 1272 | 644 | 1154 |
| 2014 | 705 | 1254 | 664 | 1140 |
| 2015 | 671 | 1175 | 604 | 1019 |
| Tổng | 3396 | 6108 | 3171 | 5505 |
(Nguồn: Văn phòng – TAND TP Đà Nẵng)
Trong những năm qua, các vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng đều đã được các tòa án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng khẩn trương nghiên cứu hồ sơ để đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh, đáp ứng yêu cầu chính trị của các địa phương.
Tỷ lệ giải quyết các vụ án hình sự trong giai đoạn 2011 – 2015 đạt 99,5% và vượt chỉ tiêu xét xử đã đề ra. Phối hợp tốt với viện kiểm sát nhân dân và cơ quan thi hành án cùng cấp trong các trường hợp án tuyên không rõ. Thực hiện tốt việc đổi mới thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp như quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, quyền tranh luận tại phiên tòa… Do đó, chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án hình sự về cơ bản đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
* Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về một tội đã phạm tội trước khi có bản án này.
* Trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp.
* Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án có hiệu lực pháp luật lại phạm tội mới và bị đem ra xét xử .
Trong quá trình nghiên cứu vấn đề tổng hợp hình phạt liên quan đến án treo, trong 5 năm cho thấy số người được hưởng án treo luôn chiếm một tỉ lệ không nhỏ chiếm khoảng trung bình từ 15% đến 20% trong tổng số bị cáo được đưa ra xét xử trên địa bàn TP Đà Nẵng. Điều đó thể hiện chính sách hình sự nhân đạo xã hội chủ nghĩa của nhà nước ta cũng như khẳng định mục đích của hình phạt trong luật hình sự Việt Nam luôn mang tính giáo dục nhiều hơn là tính trừng trị đối với người phạm tội.
Trong giai đoạn từ năm 2011- 2015 tòa án các cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã đưa ra xét xử tổng cộng 5505 bị cáo , trong đó số bị cáo đủ điều kiện để tòa án cho hưởng án treo là 996 bị cáo chiếm tỉ lệ 18%
- Mặc dù, án treo thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật hình sự nhưng đối với những đối tượng coi thường pháp luật, nhà làm luật cũng quy định rõ tại khoản 5 điều 60 BLHS: “Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của điều 51 của bộ luật này” [30].
Đối với thành phố Đà Nẵng (từ năm 2011 đến 2015) thì số bị cáo là người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm nhiều tội chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số bị cáo phải xét xử hàng năm.
Trong giai đoạn từ năm 2011- 2015 tòa án các cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã đưa ra xét xử tổng cộng 5505 bị cáo, trong đó số bị cáo là người chưa thành niên là 201 người, chiếm tỉ lệ 3.8%. Phần lớn các tội của người chưa thành niên bị tòa án các cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tuyên phạt chủ yếu là các tội liên quan đến lĩnh vực an ninh trật tự, buôn bán ma túy, cướp giật và cố ý gây thương tích.

CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ
TỔNG HỢP HÌNH PHẠT
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật để tạo ra một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đạt được bốn tiêu chuẩn: toàn diện, đồng bộ, khoa học, thực tiễn, có khả năng điều chỉnh có hiệu quả các mối quan hệ xã hội cơ bản theo hướng phát triển nhanh, liên tục, ổn định, vững chắc, đem lại ngày càng nhiều lợi ích vật chất, tinh thần cho xã hội và các thành viên trong xã hội [9, tr.54].
* Về phương diện lý luận:
Thứ nhất, nó góp phần giúp cho cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành pháp luật hình sự có nhận thức đúng đắn và thống nhất các quy định về tổng hợp hình phạt.
Thứ hai, nó còn giúp cho người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức đầy đủ, đúng đắn và chính xác, điều đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Thứ ba, làm phong phú thêm kho tàng lý luận luật hình sự Việt Nam cũng như nguồn tài liệu tham khảo hữu ích bổ sung vào khoa học luật hình sự nước ta về vấn đề tổng hợp hình phạt.
* Về phương diện thực tiễn:
Thứ nhất, vẫn còn một số trường hợp áp dụng quy định về tổng hợp hình phạt không thống nhất dẫn đến việc trừng trị tội phạm không tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
Thứ hai, trong quá trình áp dụng chế định tổng hợp hình phạt, một số quy định còn chung chung, chưa cụ thể gây khó khăn, lúng túng trong quá trình áp dụng chế định này của tòa án.
Thứ ba, trong giai đoạn 2011-2015, tòa án các cấp trên địa bàn TP Đà Nẵng đã có một số bản án bị cải sửa và hủy do định tội danh chưa đúng dẫn đến việc tổng hợp hình phạt theo điều 50 BLHS chưa chính xác. Nguyên nhân chủ yếu là do còn một số thẩm phán, cán bộ tòa án hạn chế về năng lực, trình độ, tinh thần trách nhiệm.
* Về phương diện lập pháp:
Thứ nhất, điều 51 BLHS chưa quy định việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp một người đang có bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì lại phạm tội mới.
Thứ hai, điều 51 khoản 1, 2 BLHS còn chưa quy định về trường hợp bị tạm giữ, tạm giam của tội bị đưa ra xét xử (hoặc tội mới) thì sẽ được khấu trừ như thế nào.
Thứ ba, đối với các quy định liên quan đến án treo cho thấy, điều 60 đã quy định về trường hợp đang trong thời gian thử thách của án treo, người bị kết án lại phạm tội mới nhưng lại chưa quy định về trường hợp người được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách lại bị đưa ra xét xử về tội phạm đã thực hiện trước khi có bản án cho hưởng án treo.
Thứ tư, BLHS chưa có điều khoản quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cũng như đồng phạm về nhiều tội; chưa có điều khoản quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với người chưa thành niên phạm tội.
Thứ năm, khái niệm “tội nặng nhất” được nêu trong điều 75 BLHS là không rõ ràng, khó xác định; chưa đề cập đến trường hợp phạm hai tội tương đương nhau (ví dụ: cùng là tội rất nghiêm trọng) thì tổng hợp như thế nào. Khoản 1, điều 75 của BLHS quy định hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại điều 74 của BLHS là chưa phù hợp vì mức hình phạt cao nhất quy định tại điều 74 của BLHS là áp dụng đối với một tội phạm và nó làm cơ sở để quyết định hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể.
Thứ sáu, việc lấy mốc thời gian phạm tội trước hoặc sau 18 tuổi làm căn cứ để khống chế mức tối đa của hình phạt chung là chưa thật hợp lý, bởi lẽ hình phạt chung được tổng hợp trên cơ sở các hình phạt đối với từng tội, mà các hình phạt này đã được quyết định trên cơ sở cân nhắc đến thời điểm phạm tội trước hoặc sau 18 tuổi rồi, vì vậy không căn cứ lại một lần nữa.
Thứ bảy, trong xu thế quốc tế hóa, hội nhập và phát triển cũng đòi hỏi pháp luật hình sự của nước ta nói chung, các quy định về tổng hợp hình phạt nói riêng phải phù hợp với pháp luật quốc tế và có sự tham khảo, chọn lọc các quy định của pháp luật hình sự các nước, trong đó có những quy định về tổng hợp hình phạt.
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy nhu cầu hoàn thiện và đổi mới pháp luật hình sự nói chung, các quy định về tổng hợp hình phạt nói riêng mang tính khách quan, cấp thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong trình hình mới. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về tổng hợp hình phạt kết hợp với thực tiễn áp dụng những quy định này, tôi nhận thấy quy định của pháp luật hình sự về tổng hợp hình phạt cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Điều này đã làm hạn chế phần nào hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện kinh tế – xã hội có nhiều biến đổi như hiện nay.
* Giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổng hợp hình phạt
Một là, việc khấu trừ thời gian tạm giam, tạm giữ trong trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án. Một người phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này thì tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo nguyên tắc quy định tại điều 50. Thời gian tạm giữ, tạm giam và thời gian chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.
Hai là, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (điều 51). Bổ sung trường hợp một người phạm nhiều tội và bị xét xử bằng nhiều bản án, trong đó tội xảy ra trước thì xét xử sau, tội xảy ra sau thì xét xử trước và trường hợp một người đang có bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì lại phạm tội mới.
Ba là, đối với quy định về tổng hợp hình phạt liên quan đến án treo. Cần đề nghị bổ sung vào điều 60 BLHS như sau: “Tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách lại bị đưa ra xét xử về tội phạm đã thực hiện trước khi có bản án cho hưởng án treo thì tòa án không cho hưởng án treo một lần nữa và người bị kết án chấp hành hình phạt tù trong thời gian thử thách của án treo thì thời gian chấp hành hình phạt tù được tính vào thời gian thử thách của án treo.Và nếu người bị kết án được hưởng án treo một lần nữa thì tòa án tổng hợp hình phạt tù của hai bản án và ấn định thời gian thử thách chung cho cả hai bản án. Trường hợp này hình phạt tù tổng hợp của hai bản án phải không được quá ba năm”.
Bốn là, đối với các quy định hiện hành về tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên. Vì hình phạt đối với người chưa thành niên được chia thành hai nhóm từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên việc tổng hợp hình phạt cũng cần được chia theo hai nhóm tuổi này. Mức hình phạt tổng hợp tối đa đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải thấp hơn mức hình phạt tổng hợp tối đa đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Qua phân tích quy định tại điều 75 BLHS, tác giả mạnh dạn đưa ra ý kiến nên sửa đổi, bổ sung điều luật này như sau: “Điều 75 về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội thì đối với người phạm nhiều tội, việc tổng hợp hình phạt được áp dụng như sau:
1. Nếu tất cả các tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại điều 74 bộ luật này;
2. Trong trường hợp có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì hình phạt được áp dụng như sau:
a, Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung cũng không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại điều 74 bộ luật này;
b, Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội”.
* Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong toàn ngành tòa án
Xây dựng được đội ngũ cán bộ ngành tòa án “vừa hồng, vừa chuyên” là nhiệm vụ chủ yếu và vô cùng quan trọng để nâng cao chất lượng xét xử nói chung và chất lượng tổng hợp hình phạt nói riêng.
Ngoài ra, để nâng cao chất lượng xét xử của tòa án thì phải thường xuyên nâng cao lý luận chính trị, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức cho thẩm phán vì đây chính là lực lượng chủ yếu của hoạt động áp dụng pháp luật.
Toà án các cấp cần tạo điều kiện thuận lợi cho hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ, đồng thời chỉ bố trí hội thẩm nhân dân tham gia xét xử khi đã được nghiên cứu hồ sơ, chủ động phối với thường trực đoàn mời hội thẩm nhân dân tham gia vụ án phù hợp với chuyên môn. Hội đồng nhân dân và Uỷ ban mặt trận Tổ quốc các cấp, các cơ quan có thẩm quyền trong việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm hội thẩm nên có sự phối hợp tốt hơn đối với toà án để thực sự hội thẩm nhân dân là đại diện cho nhân dân nhưng vẫn bảo đảm được hoạt động của toà án được thuận lợi.
Như vậy, về mặt lý luận, thực tiễn quy định tổng hợp hình phạt là đề tài chưa được nghiên cứu một cách độc lập trong khoa học pháp lý mà là một phần của của nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hình phạt và quyết định hình phạt. Trong hoàn cảnh đó, luận văn đã đạt được những kết quả nghiên cứu có tính mới về khoa học và có giá trị thực tiễn như sau:
1. Luận văn đã xây dựng khái niệm: Tổng hợp hình phạt là việc tòa án xác định hình phạt chung cho người phạm tội bị kết án. Hình phạt chung là sự đánh giá đầy đủ và toàn diện nhất của nhà nước đối với tất cả các tội mà bị cáo đã thực hiện.
2. Luận văn cũng xây dựng được khái niệm: Các nguyên tắc tổng hợp hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để tòa án tổng hợp hình phạt chính xác đối với người phạm tội.
Các nguyên tắc tổng hợp hình phạt có quan hệ chặt chẽ với các nguyên tắc quyết định hình phạt và có quan hệ biện chứng với các nguyên tắc chung của luật hình sự. Các nguyên tắc tổng hợp hình phạt bao gồm: Nguyên tắc cộng hình phạt, nguyên tắc thu hút, nguyên tắc cùng tồn tại. Các nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau tạo thành một thể thống nhất trong chính sách pháp luật của nhà nước.
3. Luận văn đã khái quát hóa được lịch sử hình thành và phát triển của quy định về tổng hợp hình phạt từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay. Lần đầu tiên, các quy định này được pháp điển hóa tại BLHS đầu tiên năm 1985, tuy nhiên BLHS năm 1985 lại chưa kế thừa được một số quy định hợp lý trong các văn bản thời kỳ trước đó dẫn đến một số vướng mắc khi áp dụng. Điều này cũng là nguyên nhân đòi hỏi cần sửa đổi bổ sung trong BLHS mới đó là BLHS năm 1999. Có thể nói, qua các lần sửa đổi bổ sung BLHS 1985, đến BLHS mới năm 1999 các quy định về tổng hợp hình phạt đã được hoàn thiện hơn, phù hợp hơn.
4. Luận văn đã tổng hợp, phân tích các trường hợp tổng hợp hình phạt trong BLHS. Đó là các trường hợp: Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (điều 50), tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án (điều 51), tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội (điều 75) và tổng hợp hình phạt trong các trường hợp liên quan đến án treo (khoản 5 điều 60). Các trường hợp này được phân tích dưới hai góc độ lý luận và áp dụng các quy định trong quá trình xét xử trên địa bàn TP Đà Nẵng. Trong quá trình phân tích nội dung của quy định về tổng hợp hình phạt, tác giả đã tổng hợp các quan điểm của các nhà khoa học để đưa ra cách nhìn đa chiều về các vấn đề còn có nhiều ý kiến nhằm đánh giá một cách khách quan, khoa học các quy định pháp luật của quy định này.
5. Trong quá trình vận dụng quy định về tổng hợp hình phạt và các quan điểm chỉ đạo của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước về cải cách tư pháp trong đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy phải cần thiết hoàn thiện các quy định pháp luật về chế định tổng hợp hình phạt. Đó là các quy định: Việc khấu trừ thời gian tạm giam, tạm giữ trong trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án; trường hợp một người phạm nhiều tội và bị xét xử bằng nhiều bản án, trong đó tội xảy ra trước thì xét xử sau, tội xảy ra sau thì xét xử trước và trường hợp một người đang có bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì lại phạm tội mới; trường hợp người được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách lại bị đưa ra xét xử về tội phạm đã thực hiện trước khi có bản án cho hưởng án treo; trường hợp nếu tất cả các tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại điều 74 bộ luật này.
6. Để nâng cao hiệu quả áp dụng quy định tổng hợp hình phạt thì yếu tố con người được đặt với vai trò trung tâm. Nhiệm vụ xây dựng đội ngũ thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành được chú trọng. Điều đó vừa có ý nghĩa quan trọng trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn để nhằm mục đích đấu tranh và phòng ngừa hiệu quả với các hành vi phạm tội thuộc trường hợp áp dụng quy định tổng hợp hình phạt.
Qua nghiên cứu về lý luận và thực tiễn áp dụng chế định tổng hợp hình phạt trên địa bàn TP Đà Nẵng, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn và nội dung đề tài còn nhiều vấn đề phức tạp, với khả năng còn hạn chế nhưng tác giả mong muốn được đóng góp kiến thức vào hệ thống lý luận chung của luật hình sự về quy định này. Từ đó, tác giả mong muốn góp phần nhỏ nhằm nâng cao hiệu quả trong thực tiễn áp dụng quy định tổng hợp hình phạt nói riêng cũng như nhiệm vụ cải cách tư pháp hiện nay nói chung.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT HINH SU\DUONG HOANG TU\SAU BAO VE


