Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Kon Tum
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mọi sự vật hiện trượng có xu hướng vận động và phát triển đi lên, một xã hội tiến bộ đều phải phát triển chung theo sự vận động không ngừng đó. Trong xã hội ấy con người cũng phát triển đi lên cùng với đó đã nảy sinh những vấn đề phức tạp cần giải quyết bằng những quy phạm pháp luật như tại nạn giao thông, giết người, giết người cướp tài sản… Những năm gần đây, số vụ tai nạn giao thông có người chết ngày càng có chiều hướng phức tạp, số vụ án giết người, giết người cướp tài sản xảy ra trên phạm vi cả nước ngày càng nhiều, diễn biến phức tạp theo chiều hướng gia tăng, trong đó có nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng liên tiếp xảy ra như vụ án giết người cướp tài sản xảy ra ở Bình Phước, vụ giết người xảy ra ở Nghệ An, Yên Bái…. gây hậu quả chết nhiều người, thiệt hại đến sức khoẻ, tài sản của công dân, của các cơ quan tổ chức… dẫn đến phải khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản có được nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật phụ thuộc rất quan trọng đến công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đây là yếu tố quyết định vì nó xác định dấu vết tội phạm, nguyên nhân chết để xác định có lỗi hay không có lỗi, nhằm quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự hay không và áp dụng mức hình phạt.
Trong việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi trách nhiệm chủ yếu thuộc về Cơ quan điều tra để phát hiện, thu thập dấu vết các công cụ, phương tiện gây án, dấu vết để lại trên người nạn nhân, dấu vết để lại nơi xảy ra sự việc nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ.
Trong quá trình khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản thì ngoài Cơ quan điều tra, Bác sỹ pháp y thì Viện kiểm sát có vai trò quan trọng. Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ: “Trong mọi trường hợp, trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường….”. Thông qua hoạt động này, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm cho việc khám nghiệm hiện trường của Cơ quan điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật, phản ánh đúng thực tế các tình tiết của vụ án xảy ra. Là cơ sở quan trọng để Cơ quan điều tra ra các quyết định tiếp theo phù hợp với diễn biến tính chất của vụ việc hình sự và là căn cứ vững chắc để Viện kiểm sát phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra.
Thực tế ở tỉnh Kon Tum cho thấy: Có rất nhiều vụ án công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản do làm chưa tốt việc thu thập dấu vết, vật chứng chưa đầy đủ dẫn đến quá trình giải quyết vụ án kéo dài, có những vụ việc mà điều tra lại cũng không thể khắc phục được, thực tế nhiều vụ án phải sửa, huỷ không xử lý được.
Trong điều kiện cải cách tư pháp hiện nay, các Nghị quyết của Đảng nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra trong đó có hoạt động khám nghiệm hiện trường. Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về: “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã chỉ rõ: Viện kiểm sát phải thực hành quyền công tố ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình điều tra nhằm không bỏ lọt người, lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; Nghị quyết số 49 ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về: “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã nêu: Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; Văn kiện Đại hội X của Đảng đã khẳng định: Phải xây dựng cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra. Hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử nói chung và kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản nói riêng là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát. Theo đó cần nghiên cứu, đổi mới nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác này.
Để làm tốt công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi nói chung và khám nghiệm hiện trường khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản nói riêng, Điều tra Viên, Kiểm sát viên phải nhận thức đúng vai trò, trách nhiệm của mình trong hoạt động kiểm sát và khám nghiệm hiện trường cũng như nắm vững các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, có những hiểu biết cơ bản, nâng cao về các biện pháp nghiệp vụ sẽ được sử dụng trong quá trình khám nghiệm đáp ứng các yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động khám nghiệm hiện trường.
Vì các lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Kon Tum” nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản làm luận văn thạc sĩ của mình nhằm làm rõ hơn về lý luận cũng như thực tiễn vấn đề trên.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản ở tỉnh Kon Tum.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên thì luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản ở tỉnh Kon Tum.
Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật đã xảy ra ở lĩnh vực các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người quy định tại chương XII, chương XIX của Bộ luật hình sự, đặc biệt nghiên cứu về các loại vụ án về tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản trong những năm gần đây và hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản trên các phương diện ưu điểm, tồn tại.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản (không nghiên cứu về khám nghiệm hiện trường các vụ án trộm cắp tài sản, hiện trường tai nạn giao thông đường thủy, đường sắt, hiện trường cháy nổ và sự cố kỷ thuật…., cũng như không khám nghiệm tử thi các vụ án chết do tự tử, chết nước, chết chưa rõ nguyên nhân….). Trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống vi phạm, tội phạm được nghiên cứu trên cơ sở những quy định của pháp luật như: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi), Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ… quy định về hoạt động khám nghiệm hiện trường và kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường; dựa trên các tài liệu nghiệp vụ có liên quan như: Giáo trình Kỹ thuật hình sự, giáo trình tổ chức điều tra hình sự, giám định tư pháp, sổ tay kiểm sát viên…; dựa trên những phân tích, đánh giá số liệu thực tế trong công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của ngành kiểm sát nhân dân từ năm 2010 đến 2015.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng chọn lọc các phương pháp khảo sát, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, tọa đàm trao đổi… Đồng thời đề tài còn sử dụng các Nghị Quyết của Đảng, văn bản pháp luật nhà nước. Các báo cáo của ngành Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra….
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm giàu thêm lý luận khoa học về công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của cơ quan điều tra và một số cơ quan được giao một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát. Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các Kiểm sát viên, Điều tra viên trực tiếp tham gia khám nghiệm các vụ tai nạn giao thông đường bộ, các vụ giết người, giết người cướp.
6.2 Ý nghĩa về thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, học tập cho các khoá đào tạo kiểm sát của Học viện Tư pháp và Học viện kiểm sát, các trường Công an nhân dân.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản ở tỉnh Kon Tum
Chương 2: thực tiễn việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản ở tỉnh Kon Tum
Chương 3: Những giải pháp bảo đảm hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản ở tỉnh Kon Tum
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CÓ NGƯỜI CHẾT, CÁC VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI, GIẾT NGƯỜI CƯỚP TÀI SẢN
Ở TỈNH KON TUM
1.1. Một số vấn đề chung về hiện trường, tử thi và khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản
1.1.1. Khái niệm về hiện trường
Trong từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản khoa học xã hội, năm 1977 viết “Hiện trường là nơi xảy ra sự việc”. Đây là một khái niệm có tính khái quát chung nhất cho tất cả các loại hiện trường.
Trong khoa học hình sự, hiện trường được định nghĩa như sau: Hiện trường là nơi xảy ra sự việc mang tính hình sự cần được quan tâm để phục vụ cho công việc điều tra làm rõ nguyên nhân, quá trình diễn biến của sự việc đó.
Tại Khoản 1 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và khoản 1 Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định: “Điều tra viên tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm, nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án”.
Như vậy, theo quy định của Khoản 1 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và khoản 1 Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì hiện trường phải là “nơi xảy ra” hoặc “nơi phát hiện tội phạm”.
Chính vì vậy, khái niệm về hiện trường trong tố tụng hình sự phải được hiểu là: “Hiện trường là nơi xảy ra vụ việc mang tính hình sự”.
1.1.2. Khái niệm về tử thi
Theo từ điển tiếng Việt thì tử thi “là thi thể của người chết”.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì
Chết” thông thường được xem là sự chấm dứt các hoạt động của một sinh vật hay ngừng vĩnh viễn mọi hoạt động sống (không thể phục hồi) của một cơ thể.
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm hiện trường, tử thi ở hiện trường các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản.
* Khái niệm hiện trường, tử thi ở tai nạn giao thông đường bộ có người chết: Hiện trường tai nạn giao thông đường bộ có người chết “Là nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông trên đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng cho một người hoặc nhiều người”.
* Khái niệm, đặc điểm hiện trường ở các vụ án giết người, giết người cướp tài sản:
Theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam thì “Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, trong đó phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do Bộ luật hình sự quy định (từ đủ 14 tuổi trở lên)”.
Do đó có thể hiểu hiện trường các vụ án giết người, giết người cướp tài sản “Là nơi xảy ra vụ việc hoặc nơi tìm thấy xác nạn nhân, hoặc nơi có dấu hiệu nghi vấn thực hiện hành vi phạm tội”.
1.2. Cơ sở pháp lý của việc KNHT, KNTT ở hiện trường các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản
1.2.1. Khái niệm khám nghiệm hiện trường
Khám nghiệm hiện trường là một hoạt động điều tra được quy định tại Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Trong cuốn Giáo trình Điều tra hình sự năm 2002 của trường Đại học Quốc gia Hà Nội, có viết về khám nghiệm hiện trường như sau: “Khám nghiệm hiện trường là tổ chức việc nghiên cứu, phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết vật chứng và các tin tức, tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường”
Trong cuốn Giáo trình Bảo vệ và khám nghiệm hiện trường, Học viện Cảnh sát nhân dân, xuất bản năm 2004 có nêu khái niệm khám nghiệm hiện trường như sau: “Khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra tố tụng hình sự nhằm nghiên cứu, đánh giá dấu vết, vật chứng và những tin tức tài liệu tại hiện trường, phục vụ điều tra và xử lý tội phạm”
– Cơ sở pháp lý của công tác khám nghiệm hiện trường: Tại các Điều 110; 111; 150 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, quy định tại Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, các văn bản, chỉ thị của Bộ Công an đã quy định cụ thể về công tác khám nghiệm hiện trường. Đồng thời quy định tại điều 163, điều 164 và điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, quy định tại Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
1.2.2. Khái niệm khám nghiệm tử thi
Theo từ điển mở thì khám nghiệm tử thi “là sử dụng phương pháp khoa học để xem xét, phát hiện những dự kiện cần thiết đối với tử thi, hay các thương tích của tử thi”.
Theo bài giảng giám định pháp y của Tiến sỹ. Nguyễn Đăng Chiêu thì pháp y tử thi là “khám nghiệm tử thi chưa chôn cất hoặc khai quật tử thi trong các vụ án mạng rõ ràng, chưa rõ ràng hoặc nghi ngờ án mạng trong các tai nạn”.
Như vậy khám nghiệm tử thi được hiểu là biện pháp thu thập thông tin trên người chết để xác định thời gian chết, nguyên nhân chết và thể loại chết (độc tố, dao, súng, đạn…) xác định cách thức gây án nhằm xác định diễn biến của vụ việc xảy ra, làm rõ thủ phạm, động cơ gây án. Tại Điều 151 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
1.3. Các phương pháp khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi ở hiện trường các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản
1.3.1. Phương pháp logic biện chứng: là khả năng nhận thức được những sự biến đổi vật chất do thủ phạm gây ra, được hình thành và tồn tại ở hiện tượng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội.
1.3.2. Phương pháp quan sát: Quan sát là quá trình tri giác có chủ định, có mục đích, có kế hoạch của con người đối với hiện thực của thế giới khách quan ở xung quanh ta. Nhằm có được những hiểu biết về các sự vật, hiện tượng mà mình cần quan sát.
1.3.3. Phương pháp đo đạt: sử dụng các phương tiện đo đạc chính xác, khoa học về kích thước, khoảng cách, trọng lượng, khối lượng, nhiệt độ, thời gian, tần số, vận tốc… tùy theo hiện trường, sự xuất hiện các đối tượng vật chất cần nghiên cứu trên hiện trường, tử thi.
1.3.4. Phương pháp ghi nhận: ở hiện trường, ở tử thi nạn nhân đều phải được ghi nhận lại theo đúng phương pháp và nguyên tắc mà pháp luật đã quy định và của kỷ thuật hình sự.
1.3.5. Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: sử dụng tốt phương pháp phân tích, so sánh, đây là quá trình tìm tòi, nghiên cứu, phân tích nhằm tìm ra sự thật về sự hình thành, tồn tại của dấu vết của vụ việc mang tính hình sự đã xảy ra.
1.3.6. Phương pháp thực nghiệm: Trên cơ sở đối tượng, hoàn cảnh, điều kiện, cơ chế của sự hình thành dấu vết hình sự, cán bộ chuyên môn tiến hành thực nghiệm tạo ra các dấu vết trong điều kiện tương tự nhằm tìm ra sự thật trong mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và dấu vết ở hiện trường, tử thi tử đó xác định giá trị thật của dấu vết.
1.4 Các hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản
1.4.1. Các hoạt động khám nghiệm hiện trường các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản
1.4.1.1. Đặc điểm hiện trường và bảo vệ hiện trường trước khi tiến hành hoạt động khám nghiệm các vụ tai nạn giao thông đường bộ có người chết:
+ Diễn biến của một vụ tai nạn giao thông diễn ra nhanh.
+ Địa điểm xảy ra tai nạn giao thông ở trên mặt đường giao thông công cộng, có nhiều người bộ hành, xe thô sơ, xe cơ giới tham gia giao thông.
1.4.1.2. Bảo vệ hiện trường và những việc cần làm rõ trước khi khám nghiệm hiện trường các vụ giết người, giết người cướp tài sản
Hiện trường các vụ án giết người, giết người cướp tài sản: Là nơi xảy ra vụ việc hoặc nơi tìm thấy xác nạn nhân, hoặc nơi có dấu hiệu nghi vấn thực hiện hành vi phạm tội, do đó việc bảo vệ hiện trường được tiến hành theo quy trình chung của khám nghiệm hiện trường.
+ Cần giữ nguyên vị trí, tư thế, dáng điệu và trạng thái ban đầu của tử thi như khi phát hiện, khi di chuyển tử thi phải đánh dấu, ghi nhận về tư thế, dáng điệu, trạng thái ban đầu của tử thi bằng cách vẽ sơ đồ, mô tả hoặc có thể chụp hình (nếu điều kiện cho phép)…..
Các hoạt động khám nghiệm cụ thể:
Một là: Chuẩn bị khám nghiệm hiện trường
– Chuẩn bị về lực lượng khám nghiệm hiện trường gồm: con người, chuẩn về phương tiện khám nghiệm: va ly khám nghiệm; máy ảnh, các loại đèn pha, máy chiếu xiên…Khi đến hiện trường người chủ trì khám nghiệm hiện trường phải kiểm tra lại toàn bộ công tác bảo vệ hiện trường để có phương án khám nghiệm phù hợp.
Hai là: Tiến hành khám nghiệm hiện trường
Bước 1: Quan sát hiện trường: là nắm được toàn cảnh và trạng thái chung của hiện trường, vị trí của các dấu vết, vật chứng, tử thi trên hiện trường, xác định cụ thể phạm vi của hiện trường cần bảo vệ và khám nghiệm.
Bước 2: Khám nghiệm tỷ mỷ
Trong quá trình khám nghiệm cán bộ khám nghiệm hiện trường phải xem xét kỹ từng nơi, từng đồ vật nhằm phát hiện, tìm kiếm những dấu vết, vật chứng phản ánh quá trình diễn ra của vụ án cũng như tất cả những vấn đề cần thiết khác có ý nghĩa tới hoạt động điều tra. Chú ý các yếu tố liên quan đến phần đường, tốc độ, loại đường, điểm va chạm, dấu vêt lốp, vết cày… Đối với hiện trường các vụ án giết người, giết người cướp tài sản cần chú ý những yều tố liên quan đến như thông qua lối đi vào của hiện trường có thể xác định hướng đột nhập và hướng lui của thủ phạm từ đó nhận định ban đầu nơi tập trung nhiều dấu vết nhất của hung thủ gây án, cũng như phần nào hình dung được diễn biến của hành vi phạm tội.
Khi khám nghiệm hiện trường phải tiến hành chụp ảnh và phải đặt thước tỷ lệ cạnh dấu vết đảm bảo theo đúng quy định.
Bước 3: Kết thúc khám nghiệm hiện trường
– Đánh giá sơ bộ những dấu vết, vật chứng thu được tại hiện trường trên cơ sở đó tạo điều kiện cho việc đánh giá lỗi của người điều khiển giao thông. Cũng như phương thức, thủ đoạn phạm tội của người thực hiện hành vi phạm tội. Họp rút kinh nghiệm về công tác khám nghiệm hiện trường. Đóng gói, niêm phong và vận chuyển các dấu vết, vật chứng thu thập được để đưa về cơ quan điều tra.
– Lập hồ sơ khám nghiệm hiện trường: hồ sơ khám nghiệm hiện trường bao gồm: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, báo cáo khám nghiệm hiện trường. Lập biên bản khám nghiệm hiện trường: lập đúng theo Điều 95 và Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự.
– Vẽ sơ đồ hiện trường: sơ đồ hiện trường là bản vẽ kỹ thuật nhằm mô tả quang cảnh của hiện trường, các dấu vết, vật chứng trên hiện trường, đồng thời là tài liệu bổ sung, minh hoạ cho biên bản khám nghiệm hiện trường. Bản ảnh hiện trường: bản ảnh hiện trường là một tài liệu kỹ thuật bổ sung cho biên bản khám nghiệm hiện trường, được ghi lại bằng hình ảnh một cách khách quan, quang cảnh của hiện trường, vị trí, trạng thái của các dấu vết, vật chứng ở hiện trường. Xây dựng Báo cáo khám nghiệm hiện trường: báo cáo khám nghiệm hiện trường là tài liệu nghiệp vụ của cán bộ khám nghiệm nhằm phản ánh phương pháp, phương tiện kỹ thuật đã áp dụng khi khám nghiệm, những nhận định và đề xuất các biện pháp giải quyết tiếp theo.
1.4.2. Hoạt động khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản.
1.4.2.1. Khám ngoài: Tiến hành ghi nhận vị trí, tư thế, dáng điệu tử thi bằng cách chụp ảnh, vẽ sơ đồ và mô tả tỷ mỷ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi.
1.4.2.2. Khám trong: (giải phẩu tử thi)
* Quá trình giải phẩu tử thi, giám định pháp y ghi nhận: xác định các thương tích gây tổn thương ở bộ phận nào trên cơ thể, sự tổn thương ở mức độ nào, thương tích nào quyết định cái chết, nhận định loại hung khí qua hình dáng thương tích, xác định thời gian chết tương đối của nạn nhân và nghiên cứu, tìm hiểu về những bệnh tật mà nạn nhân đã bị (nếu có) từ trước đến nay.
* Đối với vụ tai nạn giao thông đường bộ có người chết: Điều tra viên, Kiểm sát viên và Bác sỹ pháp y cần chú ý: có phải nạn nhân chết vì tai nạn giao thông hay không, chết do các thương tích nào…..
* Hoạt động khám nghiệm tử thi đối với các vụ án giết người, giết người cướp tài sản cần chú ý: dấu hiệu chết do bị thắt cổ; chết do bị đâm, cắt, chém, đánh; chết do bị bóp cổ.
1.4.2.3. Kết thúc khám nghiệm: họp rút kinh nghiệm công tác khám nghiệm tử thi, ký văn bản theo đúng thành phần, giao nạn nhân cho gia đình hoặc chính quyền địa phương.
Kết luận Chương 1
Bằng việc phân tích lý luận về hiện trường, tử thi, các tri thức chung về hiện trường, tử thi, hiện trường các vụ tai nạn giao thông thông đường bộ có người chết, hiện trường các vụ án giết người, giết người cướp tài sản, các hoạt động khám nghiệm tử thi; tác giả luận văn bước đầu đã tập trung phân tích làm rõ các khái niệm cơ bản về hiện trường, về mục đích, nội dung công việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản. Đặc biệt, luận văn đã chỉ ra tương đối cụ thể, chi tiết các nhiệm vụ, các hoạt động cơ bản của Điều tra viên, của Kiểm sát viên, Bác sỹ pháp y trước, trong và sau khi kết thúc khám nghiệm hiện trường. Đây chính là những cơ sở lý luận và thực tiễn về việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản xảy ra từ thực tiễn tỉnh Kon Tum.

Chương 2
THỰC TIỄN VIỆC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CÓ NGƯỜI CHẾT, CÁC VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI, GIẾT NGƯỜI CƯỚP TÀI SẢN Ở TỈNH KON TUM
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội ở tỉnh Kon Tum
2.1.1. Lịch sử, địa giới và đơn vị hành chính: Ngày 9/2/1913 thực dân Pháp chính thức thành lập tỉnh Kon Tum, bao gồm đại lý hành chính tách ra từ tỉnh Bình Định, đại lý hành chính Cheo Leo tách ra từ tỉnh Phú Yên, đại lý hành chính Buôn Ma Thuột. Ngày 25/8/1945 nhân dân Kon Tum đã nổi dậy giành chính quyền. Ngày 16/3/1973 giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum. Tháng 10 năm 1975 tỉnh Kon Tum sáp nhập với tỉnh Gia Lai thành tỉnh Gia Lai – Kon Tum, tháng 8 năm 1991 tỉnh Kon Tum được tái thành lập thành tỉnh Kon Tum. Đến nay tỉnh Kon Tum gồm 09 huyện và 01 thành phố.
2.1.2. Vị trí địa lý và tự nhiên: Kon Tum là một tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới của Tây Nguyên, phía Tây giáp Lào và CamPuChia với 280,7 (km) đường biên giới, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam (142km), Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi (74km), phía Nam giáp tỉnh Gia Lai (203km), diện tích tự nhiên 9.690,5km2 Với khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên ở Kon Tum có hai mùa rõ rật là mùa mưa và mùa khô.
2.1.3. Về phát triển kinh tế- xã hội: Từ khi tái lập tỉnh đến nay, nhìn chung kinh tế – xã hội của tỉnh Kon Tum có bước phát triển khá, tuy nhiên, Kon Tum vẫn là tỉnh kém phát triển về kinh tế, thu nhập bình quân đầu người thấp so với bình quân chung của cả nước kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, tình trạng phân hóa giàu nghèo phân tầng xã hội tiếp tục gia tăng, tình hình an ninh, trật tự còn diễn biến phức tạp: Tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội chưa giảm; cờ bạc, mại dâm…đặc biệt tình trạng vi phạm luật giao thông đường bộ, giết người có chiều hướng gia tăng. Năng lực quản lý điều hành của chính quyền các cấp trên một số lĩnh vực còn hạn chế…
2.2. Thực tiễn và nguyên nhân KNHT, KNTT các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum từ năm 2010 – tháng 12 năm 2015
2.2.1 Thực tiễn các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum
2.2.1.1. Thực tiễn khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết ở tỉnh Kon Tum
Theo báo cáo tổng kết công tác kiểm sát hàng năm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, báo cáo tổng kết hằng năm của Công an tỉnh Kon Tum, từ năm 2010 đến tháng 12 năm 2015, trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã xảy ra tổng số 1.657 vụ tai nạn giao thông đường bộ cụ thể: trong năm 2010 xảy ra 312 vụ với 138 người chết; trong năm 2011 xảy ra 275 vụ với 107 người chết; trong năm 2012 xảy ra 213 vụ với 115 người chết; trong năm 2013 xảy ra 266 vụ với 93 người chết; trong năm 2014 xảy ra 301 vụ với 135 người chết; trong năm 2015 xảy ra 290 vụ với 115 người chết. (có bảng phụ lục kèm theo).
2.2.1.2 Thực tiễn khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án giết người, giết người cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum
Theo thống kê của Phòng thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, trong khoảng thời gian tử năm 2010 cho đến nay trên địa bàn đã xảy ra tổng số 4573 vụ phạm pháp hình sự, trong đó có 102 vụ giết người, chiếm 2,230 % số vụ phạm pháp hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Kon Tum cùng với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi 102 vụ/101 tử thi (01 tử thi chuyển về tỉnh Gia Lai) (có bảng phụ lục kèm theo).
2.2.2. Nguyên nhân của các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum
2.2.2.1. Nguyên nhân của các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết ở tỉnh Kon Tum.
– Nguyên nhân chủ quan chiếm hơn 80% số vụ tai nạn xảy ra: Ý thức tự giác chấp hành luật của người dân khi tham gia giao thông còn thấp, ngoài ra việc quản lý các phương tiện giao thông đường bộ của các cơ quan chức năng vẫn còn lỏng lẻo, còn để nhiều phương tiện giao thông tự chế, nhiều phương tiện đã qua thời hạn sử dụng nhưng vẫn lưu thông trên đường.
Nguyên nhân khách quan chiếm gần 20% số vụ xảy ra: công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế. Một số nội dung quản lý bị buông lỏng, nhất là giao thông ở các địa bàn nông thôn. Đặc biệt nhiều tuyến đường giao thông trên địa bàn tỉnh đã xuống cấp không đảm bảo cho các phương tiện khi tham gia giao thông, chủ yếu là giao thông nông thôn và miền núi.
2.2.2.2. Nguyên nhân các vụ án giết người, giết người cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum
Qua thực tế cho thấy các vụ án giết người, giết người cướp tài sản ở tỉnh Kon Tum chủ yếu là vì nguyên nhân thù tức, mâu thuẩn chiếm tỷ lệ rất cao, từ 45% đến 47,2% (từ năm 2010 – 2015 xảy ra 48 Vụ), giết người cướp tài sản (từ năm 2010 – 2015 xảy ra 28 Vụ) chiếm 27,4%, còn nguyên nhân khác hoặc chưa rõ nguyên nhân 26 vụ chiếm 25,4%.
– Nguyên nhân khách quan
Ý thức pháp luật của dân nhìn chung còn thấp, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Điều kiện địa lý của tỉnh Kon Tum khá hiểm trở, khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, đường sá xa xôi đi lại còn nhiều khó khăn, có nhiều nơi phải đi bộ bằng đường rừng mới đến nơi. Khi đến tử thi đã phân hủy, dấu vết vật chứng bị mất mát, hư hỏng, hiện trường bị xáo trộn, gây khó khăn cho công tác khám nghiệm và giám định.
– Nguyên nhân chủ quan:
Theo quy định tại Điều 150, Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 201, 202 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 trong hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi do Điều tra viên đảm nhiệm tiến hành, chủ trì cuộc khám nghiệm, trong đó có một số Điều tra viên ít nghiệp vụ chuyên môn trong lĩnh vực này. Phương tiện kỹ thuật, kinh phí vẫn còn thiếu và lạc hậu.
Kết luận Chương 2
Chương 2, tác giả luận văn tập trung phân tích làm rõ tình hình và nguyên nhân tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong thời gian gần đây, cho thấy tình hình tai nạn cũng như các vụ án giết người, giết người cướp tài sản diễn biến phức tạp và chủ yếu do nguyên chủ quan của người tham gia thông đường bộ, ý thức chủ quan của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội. Những nguyên nhân khách quan và chủ quan này chính là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng để đề xuất các giải pháp, kiến nghị, góp phần phát huy hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ tai nạn giao thông đường bộ, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản được hoàn chỉnh hơn trong thời gian tới.

Chương 3
NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CÓ NGƯỜI CHẾT, CÁC VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI, GIẾT NGƯỜI CƯỚP TÀI SẢN Ở TỈNH KON TUM
3.1. Một số giải pháp cụ thể bảo đảm hoạt động KNHT, KNTT các vụ án tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản ở tỉnh Kon Tum
3.1.1. Quản lý đầy đủ các tin báo, tố giác tội phạm về các vụ tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản
– Phối hợp tốt giữa Cơ quan điều tra, Cảnh sát giao thông và Viện kiểm sát cùng cấp trong việc nắm và quản lý các tin báo về tai nạn giao thông, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản xảy ra trên địa bàn. Tổ chức việc nắm và quản lý đầy đủ các tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố về các vụ tai nạn giao thông đường bộ, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản thông qua chế độ trực nghiệp vụ.
- 3.1.2. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trách nhiệm của Điều tra Viên, kỷ thuật viên, giám định viên và Kiểm sát viên trong việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ án giết người, giết người cướp tài sản: Tăng số lượng học viên chuyên ngành kỷ thuật hình sự mỗi khóa của Học Viện cảnh sát nhân dân; phân bổ người đúng chuyên môn, nghiệp vụ; thường xuyên mở lớp tập huấn, bồi dưỡng; …
3.1.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Điều 150, điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 201, 202 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định riêng về khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi tuy nhiên quy định này vẫn còn chưa đầy đủ. Bộ luật tố tụng hình sự cần quy định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò cũng như mối quan hệ giữa lực lượng kỷ thuật viên khám nghiệm, lực lượng điều tra và các thành phần khác tham gia khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi.
3.1.4. Xây dựng quy chế phối hợp công tác giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum cần phối hợp với Cơ quan điều tra, cũng như một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cùng họp bàn, thống nhất, đưa ra Quy chế phối hợp hoạt động điều tra tại hiện trường những vụ, việc mang tính hình sự.
3.1.5. Bổ sung phương tiện kỷ thuật hình sự hiện đại cho công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi: Nhanh chóng trang bị những phương tiện cần thiết cho công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Tiến hành nối mạng thông tin nghiệp vụ nhằm phục vụ tốt hơn nữa cho việc phối hợp hoạt động của các lực lượng trong khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi nói riêng và các hoạt động điều tra khác.
Hoàn thiện Thông tư liên tịch số 76 ngày 22/11/2011 Bộ công an theo hướng quy định bắt buộc vụ tai nạn giao thông nếu thẩm quyền giải quyết ban đầu thuộc lực lượng Cảnh sát giao thông thì lực lượng này cần thông báo cho Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng cấp biết để phối hợp. Cần sửa khoản 1 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự như sau: “Điều tra viên tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện những vụ, việc mang tính hình sự nhằm phát hiện dấu vết, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết đối với vụ, việc mang tính hình sự đó”. Sửa khoản 2 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự như sau: “Khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự. Trong mọi trường hợp, trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên cũng như những cán bộ khám nghiệm thuộc các cơ quan khác không phải là Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết và Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường…”. Sửa khoản 3 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự như sau: “Khi khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên cũng như những cán bộ khác chủ trì khám nghiệm phải tiến hành chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình, thu lượm và xem xét tại chỗ dấu vết của tội phạm, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án; ghi rõ kết quả xem xét vào biên bản khám nghiệm hiện trường.
Trong trường hợp không thể xem xét ngay được thì đồ vật và tài liệu thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về nơi tiến hành điều tra“.
Bổ sung Điều 151 Bộ luật TTHS năm 2003 theo hướng quy định: “Giám định viên kỹ thuật hình sự tham gia khám nghiệm tử thi để phát hiện, chụp hình, thu thập dấu vết, vật chứng phục vụ việc khám nghiệm tử thi và điều tra vụ án; ngang quyền với Điều tra viên, cùng chịu trách nhiệm chung với Điều tra viên”.
Chương 3, tác giả luận văn nêu ra một số giải pháp bảo đảm việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản và một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi được pháp luật quy định từ thực tiễn ở tỉnh Kon Tum. Tác giả luận văn đưa ra một số kiến nghị trong việc sửa đổi những quy định còn bất cập đối với khâu công tác này, mục đích nhằm nâng cao chất lượng của việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ tai nạn giao thông đường bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản.
Thông qua việc phân tích lý luận về các tri thức chung về hiện trường, tử thi hiện trường các vụ tai nạn giao thông đường bộ có người chết, hiện trường các vụ án giết người, giết người cướp tài sản; tác giả luận văn bước đầu đã tập trung phân tích làm rõ các khái niệm cơ bản về khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, các nội dung việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ tai nạn giao thông đương bộ có người chết, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi nói chung và khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi các vụ tai nạn giao thông đường bộ, các vụ án giết người, giết người cướp tài sản nói riêng ở tỉnh Kon Tum trong năm năm qua, tác giả đã đưa ra những đề xuất, các giải pháp, kiến nghị, góp phần phát huy hoạt động của Cơ quan Điều tra, của Viện kiểm sát nhân dân, của các lực lượng chức năng khác được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự đảm bảo hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi có kết quả tốt hơn trong thời gian tới. Mặc dù tác giả đã rất cố gắng, nhưng do thời gian và điều kiện nghiên cứu có hạn, việc tiếp cận và giải quyết các nội dung của đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT HINH SU\DANG ANH TỨ\SAU BAO VE


