TỐI ƯU HÓA CÔNG TÁC TỔ CHỨC THI CÔNG HOÀN THIỆN PHẦN BÊN TRONG CÔNG TRÌNH

TỐI ƯU HÓA CÔNG TÁC TỔ CHỨC THI CÔNG HOÀN THIỆN PHẦN BÊN TRONG CÔNG TRÌNH

TỐI ƯU HÓA CÔNG TÁC TỔ CHỨC THI CÔNG HOÀN THIỆN PHẦN BÊN TRONG CÔNG TRÌNH CHUNG CƯ CAO TẦNG

1. Sự cần thiết của đề tài

Quá trình đô thị hóa ở nước ta đang diễn ra hết sức nhanh chóng, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh làm cho mật độ dân số ở các khu vực thành thị tăng cao, đặt ra yêu cầu cấp bách cần phải giải quyết nhu cầu rất lớn về nhà ở. Việc xây dựng các chung cư cao tầng là một chủ trương của Nhà nước đã và đang được triển khai ở hầu hết các khu đô thị, được xem là giải pháp hợp lý để giải quyết vấn đề chỗ ở.

Việc xây dựng các công trình nhà ở cao tầng đòi hỏi nhà đầu tư cũng như nhà thầu phải có trình độ năng lực, kinh nghiệm về công tác tổ chức và quản lý các công trình xây dựng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác tổ chức và quản lý xây dựng các công trình nhà cao tầng, chung cư cao tầng ở Việt Nam đến nay vẫn chưa được tốt, chưa phù hợp được tốc độ phát triển và quy mô của các công trình. Việc tổ chức điều hành thi công của chúng ta còn thiếu khoa học, sự phối hợp giữa các quá trình xây lắp chưa tốt, cơ cấu thời gian chưa hợp lý dẫn đến việc thi công bị chồng chéo, gián đoạn, không tận dụng hết năng lực sản xuất, gây lãng phí, năng suất thấp, làm kéo dài thời gian thi công và không đảm bảo chất lượng công trình.

Trong các dự án xây dựng nhà ở cao tầng, vốn đầu tư xây dựng rất lớn cho nên việc sớm đưa công trình vào sử dụng sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy vấn đề lập tiến độ và tổ chức thi công là rất quan trọng, góp phần mang lại hiệu quả đầu tư cho các doanh nghiệp và Chủ đầu tư.

Ở Việt Nam, trong những năm qua đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng các công nghệ và tổ chức thi công nhà cao tầng nói chung và phần thô nói riêng, tuy nhiên hầu hết các tác giả chưa đề cập đến hoặc chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề tổ chức thi công phần hoàn thiện của các công trình này, trong khi phần hoàn thiện cũng thường chiếm thời gian khá dài trong tổng thời gian xây dựng công trình.

Thực tế cho thấy tiến độ thi công và việc phân chia phân đoạn trong thiết kế thi công hoàn thiện chưa phù hợp với tổ chức thi công trên công trường. Công tác tổ chức hoàn thiện còn thiếu khoa học, trình độ của đội ngũ công nhân còn thấp, chưa mang tính chuyên nghiệp nên trong quá trình tổ chức sản xuất chưa vận dụng được mô hình tổ chức chuyên nghiệp, làm ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng công trình và kéo dài thời gian thi công.

Trước những vấn đề nêu trên, để đáp ứng được yêu cầu xây dựng nhà chung cư cao tầng trong thời gian tới, cần thiết phải có sự nghiên cứu tổng thể tất cả các giai đoạn để kiến tạo nên công trình, trong đó có vấn đề lập tiến độ và tổ chức thi công phần hoàn thiện trong của công trình cho phù hợp với thực tế thi công trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.

2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu để áp dụng những ưu điểm của phương pháp tổ chức sản xuất dây chuyền như tính liên tục, chuyên môn hóa để lập tiến độ thi công xây dựng phần hoàn thiện trong của nhà chung cư cao tầng, nhằm góp phần nâng cao chất lượng và tiết kiệm thời gian xây dựng công trình.

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn

Công tác hoàn thiện của nhà chung cư cao tầng nói chung bao gồm các công tác hoàn thiện ngoài, hoàn thiện trong, hoàn thiện lắp đặt hệ thống kỹ thuật công trình… Các công tác này có những đặc điểm và yêu cầu rất khác nhau, trong phạm vi đề tài luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề lập tiến độ và tổ chức hoàn thiện phần trong của công trình.

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các công trình nhà chung cư cao tầng, chung cư cao cấp có quy mô dưới 40 tầng trong điều kiện xây dựng ở Việt Nam.

4. Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết kết hợp với phân tích thực tế công tác lập tiến độ và tổ chức thi công các công trình nhà chung cư cao tầng ở Việt Nam.

5. Những đóng góp của luận văn

– Đánh giá thực trạng vấn đề lập tiến độ và tổ chức thi công xây dựng phần hoàn thiện các công trình nhà chung cư cao tầng ở Việt Nam.

– Đề xuất phương án chia phân đoạn để tổ chức hoàn thiện trong của nhà chung cư cao tầng phù hợp với thực tế tổ chức sản xuất trong điều kiện hiện nay.

– Áp dụng phương pháp tổ chức sản xuất dây chuyền để lập tiến độ và tổ chức thi công hoàn thiện trong cho nhà chung cư cao tầng ở Việt Nam.

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC HOÀN THIỆN VÀ TỔ CHỨC TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG NHÀ CHUNG CƯ CAO TẦNG

1.1. Công tác hoàn thiện công trình xây dựng

1.1.1. Khái niệm về công tác hoàn thiện công trình xây dựng

Công tác hoàn thiện kiến trúc công trình xây dựng, gọi tắt là công tác hoàn thiện công trình, là công tác phải tiến hành nhằm tạo cho công trình đáp ứng được các mục tiêu sử dụng, tiện nghi, mỹ quan.

Hoàn thiện công trình là khâu cuối của các công tác xây lắp nên chất lượng mỹ quan cũng như tiện nghi của công trình sẽ do chất lượng công tác hoàn thiện quyết định khá nhiều.

1.1.2. Đặc điểm của công tác hoàn thiện công trình xây dựng

– Công tác hoàn thiện sử dụng rất nhiều chủng loại vật liệu với những đặc điểm khác nhau, có quy trình thi công riêng rẽ đòi hỏi khắt khe và ảnh hưởng ngay đến chất lượng, thẩm mỹ của công trình.

– Hầu hết các công tác hoàn thiện phải thực hiện bằng phương pháp thủ công là chủ yếu.

– Nhiều công việc hoàn thiện phải thực hiện đan xen lẫn nhau về thời gian và không gian, công việc trước xong thì đến công việc sau.

– So với công tác xây lắp phần thô, công tác hoàn thiện không đặt nặng về vấn đề chịu lực cho công trình nhưng lại đòi hỏi khắt khe về thẩm mỹ vì vậy đội ngũ công nhân làm công tác hoàn thiện phải có trình độ tay nghề cao, có con mắt thẩm mỹ sâu.

– Công tác hoàn thiện có mặt bằng luôn luôn mở, khi tiến hành các công tác hoàn thiện thì phần thô đã xong, mặt bằng đã có sẵn nên không mất thời gian chờ đợi tạo mở mặt bằng.

1.1.3. Đặc điểm của công tác hoàn thiện trong nhà chung cư cao tầng

– Công tác hoàn thiện phần trong của nhà chung cư cao tầng bao gồm rất nhiều các công tác khác nhau, sử dụng rất nhiều chủng loại vật liệu trong đó có những vật liệu cao cấp được sản xuất trong nước hoặc nhập từ nước ngoài có chất lượng tốt, giá trị thẩm mỹ và giá trị kinh tế cao, thiết bị sử dụng trong công tác hoàn thiện cũng rất đa dạng, có quy trình công nghệ thi công riêng.

– Việc thi công công tác hoàn thiện cho nhà chung cư cao tầng có khối lượng công tác rất lớn, sử dụng nhiều đội thợ chuyên nghiệp có chuyên môn khác nhau, kết hợp với nhau theo trật tự công nghệ nhất định.

– Nhà chung cư cao tầng có đặc điểm chiều cao lớn, diện tích rộng, tải trọng tác dụng lớn, nên đòi hỏi công tác xây lắp kết cấu cũng như công tác hoàn thiện cần phải đảm bảo đạt chất lượng tốt.

– Các công trình nhà chung cư cao tầng thường chiếm vị trí cao trong đô thị nên đòi hỏi các yêu cầu về thẩm mỹ càng phải cao hơn các loại công trình khác.

1.1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của công tác hoàn thiện trong nhà chung cư cao tầng

– Chất lượng của vật liệu

– Trình độ tay nghề của công nhân

– Trình độ năng lực của nhà thầu

– Đẩy nhanh tiến độ – rút ngắn thời gian thi công

– Các yếu tố ngẫu nhiên như thời tiết, khí hậu

1.2. Tổng quan về lập tiến độ và tổ chức thi công xây dựng công trình

1.2.1. Một vài nét về tiến độ xây dựng công trình

1.2.2. Lập tiến độ thi công xây dựng công trình

1.2.3. Lập tiến độ và tổ chức xây dựng nhà chung cư cao tầng ở Việt Nam

1.3. Những vấn đề tồn tại cần nghiên cứu giải quyết

– Nhiều nhà thầu của chúng ta chưa hoàn toàn làm chủ được tất cả các công nghệ thi công nhà cao tầng nên phương án tổ chức thi công lập ra còn sơ sài, nội dung chung chung, chưa có tính khả thi cao.

– Tiến độ thi công lập ra còn mang nặng tính hình thức, chưa bám sát đặc điểm công trình, điều kiện thi công và các phương án tổ chức thi công.

– Trong thi công nhà cao tầng, để đạt được các tiêu chí về chất lượng, thời gian, chi phí, an toàn thì phải tổ chức theo lối sản xuất công nghiệp, áp dụng chuyên môn hóa trong sản xuất, công nhân phải có trình độ tay nghề cao.

– Hiện nay ở nước ta chưa có đầy đủ các quy trình, quy phạm và tiêu chuẩn riêng cho công tác thi công nhà cao tầng, rất nhiều vấn đề chúng ta vẫn còn đang lúng túng, vận dụng các tiêu chuẩn, phương hướng triển khai thi công lẽ ra chỉ áp dụng cho các công trình thấp tầng.

– Chúng ta cũng chưa có bộ định mức thi công hoàn chỉnh, áp dụng cho công tác thi công nhà cao tầng, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến công tác lập tiến độ thi công do xác định nhu cầu tài nguyên theo định mức khác nhiều so với nhu cầu thực tế khi triển khai thi công.

– Công tác lập tiến độ và tổ chức thi công hoàn thiện công trình nói chung và hoàn thiện nhà chung cư cao tầng nói riêng chưa được quan tâm thỏa đáng.

– Việc phân chia phân đoạn để tổ chức thi công các công trình nhà dân dụng bêtông cốt thép toàn khối nói chung, chúng ta vẫn coi công tác bêtông cốt thép, công tác xây lắp phần thô là công tác chính và các công tác khác được tổ chức theo công tác này.

– Công tác hoàn thiện có khối lượng công việc cần thực hiện không phân bố đều trên mặt bằng như công tác bêtông mà được tập trung theo thiết kế kiến trúc của từng căn hộ, từng phòng, có những khu vực không gian lớn, không gian nhỏ, khu vực tập trung nhiều thiết bị.

– Một căn hộ có thể thuộc hai, ba (hoặc nhiều hơn) phân đoạn khác nhau nên để hoàn thiện một căn hộ sẽ có hai hoặc ba tổ thợ cùng thực hiện các công việc hoàn thiện trong căn hộ đó, điều này sẽ tạo nên sự chồng chéo, các tổ thợ sẽ cản trở công việc của nhau, trong quá trình thao tác di chuyển có thể dẫm đạp làm hỏng các phần việc đã hoàn thiện trước.

– Ranh giới giữa các phân đoạn không rõ ràng nên rất khó cho công tác kiểm soát vật tư, khó nghiệm thu, đưa từng phần công trình, từng căn hộ vào sử dụng.

– Đặc biệt, với các công tác hoàn thiện kỹ thuật, điện, nước; giả sử tổ thợ hoàn thiện phân đoạn thứ i đến ranh giới với phân đoạn (i+1) sẽ dừng lại cắt đường ống, cắt dây điện; tổ thợ hoàn thiện phân đoạn thứ (i+1) sau đó lại phải nối đường ống nước, nối dây điện… như vậy sẽ không đảm bảo an toàn cho công trình trong quá trình khai thác sử dụng, làm tăng lượng vật tư hao hụt.

1.4. Kết luận

Công tác hoàn thiện trong của nhà chung cư cao tầng có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, thẩm mỹ và tuổi thọ của các công trình, thời gian thi công thường khá dài trong tổng tiến độ thi công công trình.

Với những đặc điểm của công trình, để đáp ứng được các yêu cầu về đảm bảo chất lượng, có thể rút ngắn thời gian xây dựng, cần phải có sự nghiên cứu phân chia lại các phân đoạn khi thiết kế tổ chức thi công, phù hợp với thực tế thi công, đồng thời phải đề cao tính chuyên nghiệp khi sử dụng công nhân, vận dụng các ưu điểm của phương pháp tổ chức sản xuất dây chuyền để lập tiến độ và tổ chức thi công công trình.

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Khái niệm cơ bản về tiến độ trong xây dựng công trình

2.1.1. Khái niệm tiến độ xây dựng

Tiến độ xây dựng thực chất là kế hoạch sản xuất hay còn gọi là tiến độ thi công, trong đó thể hiện một cách rõ ràng thời gian và trình tự thực hiện các hoạt động xây dựng phù hợp với phương pháp tổ chức và các biện pháp kỹ thuật – công nghệ được lựa chọn để tiến hành những hoạt động đó.

2.1.2. Đặc điểm của tiến độ xây dựng

– Ngẫu nhiên là một yếu tố tồn tại khách quan luôn luôn ảnh hưởng đến tiến độ thi công.

– Sản phẩm xây dựng có kích cỡ lớn lại gắn liền với mặt đất, thiên nhiên nên các tác động ngẫu nhiên xâm nhập rất mạnh, đặc biệt các yếu tố thời tiết.

– Thời gian xây dựng thường rất dài nên tiến độ thi công chịu tác động của rất nhiều những biến đổi về thị trường, giá cả, những biến động về kinh tế xã hội.

– Các công trình xây dựng rất đa dạng và khác nhau nên khó có một mẫu tiến độ chung, và mỗi công trình xây dựng lại có một công nghệ xây dựng và sử dụng các loại vật tư, thiết bị, vật liệu… khác nhau, nên việc lập tiến độ cho mỗi công trình lại lập một kiểu khác nhau.

– Để đánh giá độ tin cậy của một tiến độ xây dựng là hết sức khó khăn.

– Quá trình sản xuất xây dựng là một quá trình động, và để khắc phục những tác động ngẫu nhiên cần phải có dự trữ sức sản xuất để sẵn sàng ứng phó khi sản xuất gặp khó khăn và làm tăng độ tin cậy khi thực hiện tiến độ.

2.1.3. Tầm quan trọng của tiến độ xây dựng

Nếu trong quá trình triển khai xây dựng công trình mà không có một kế hoạch sản xuất khoa học thì sẽ không xác định được thời gian cần thiết để hoàn thành công trình, không có cơ sở để tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát các quá trình thi công, dẫn tới các công việc có thể sẽ bị xáo trộn, không tuân thủ theo trật tự công nghệ, không tận dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực, gây lãng phí thời gian, làm tăng chi phí xây dựng và giảm chất lượng của công trình.

2.1.4. Nguyên tắc lập tiến độ

Khi lập tiến độ xây dựng cần đảm bảo được các nguyên tắc sau: (1) Tiên tiến về khoa học; (2) Kỹ thuật và chất lượng; (3) Chính xác và khả thi; (4) Hiệu quả kinh tế; (5) An toàn; (6) Sơ đồ phải linh động, rõ ràng, dễ hiểu, dễ tác nghiệp.

2.2. Những cơ sở chính để lập tiến độ xây dựng công trình

2.2.1. Đặc điểm của ngành xây dựng và từng công trình xây dựng

– Sự phức tạp của điều kiện khí hậu, địa chất, thủy văn.

– Mặt bằng xây dựng công trình cụ thể là rộng rãi hay chật hẹp, trong hay ngoài thành phố.

– Phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng của khu vực xây dựng công trình như hệ thống đường giao thông, điện, nước, nguồn cung cấp tài nguyên, vật tư…

– Mức độ phức tạp về kỹ thuật và tổ chức thi công công trình như có tầng hầm hay không, chiều cao công trình và các đặc thù kỹ thuật, cấu tạo kiến trúc của từng công trình…

2.2.2. Công nghệ xây dựng

Công nghệ xây dựng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình lập và quản lý tiến độ trong xây dựng. Công nghệ xây dựng quy định trình tự thực hiện các công việc chặt chẽ về mặt kỹ thuật. Cho nên khi lập tiến độ xây dựng không thể vì yếu tố thời gian mà người lập tiến độ phá vỡ trình tự và mối quan hệ về công nghệ của các công việc.

2.2.3. Phương pháp tổ chức sản xuất

– Phương pháp tuần tự.

– Phương pháp song song.

– Phương pháp dây chuyền.

2.2.4. Định mức

Phần lớn các công tác xây dựng chi phí thời gian đã được xác định trong định mức xây dựng cơ bản của Nhà nước. Khi lập tiến độ bắt buộc phải bám sát định mức, lấy định mức làm cơ sở cho việc tính toán xác định chi phí thời gian. Tuy nhiên vẫn còn nhiều công việc chưa có trong định mức, nhất là trong xây dựng nhà cao tầng.

2.2.5. Những ràng buộc về thời gian

Vì tiến độ xây dựng là bản kế hoạch công việc diễn ra trong từng đơn vị thời gian, cho nên những ràng buộc về thời gian của các công việc xây dựng là yếu tố quyết định để hoàn thành được kế hoạch hay không.

Sự ràng buộc thời gian thể hiện rõ ở từng công việc từ thời gian bắt đầu đến thời gian kết thúc và sự ràng buộc liên hệ từ công việc này tới công việc khác theo một quy trình công nghệ bắt buộc thực hiện trong quá trình xây dựng.

Quá trình thực hiện các công tác xây lắp phải đảm bảo hoàn thành thì các quá trình công tác khác mới có thể bắt đầu và hoàn thành theo kế hoạch dự kiến được.

Thời hạn đưa công trình vào sử dụng là một ràng buộc lớn nhất trong quá trình lập và quản lý tiến độ xây dựng.

2.2.6. Khả năng cung cấp tài nguyên

Khi đã có biểu đồ cung cấp tài nguyên phải tiến hành khảo sát khả năng cung cấp tài nguyên của thị trường. Đánh giá và đưa ra khả năng thực tế thị trường địa phương có thể cung cấp, những loại nào phải đưa từ nơi khác đến, khả năng vận chuyển, giao thông, những loại tài nguyên nào phải nhập khẩu thì dự trù thời gian thích hợp đảm bảo cung cấp kịp thời theo tiến độ thi công và chuẩn bị kho chứa, bãi tập kết.

2.3. Các loại tiến độ

2.3.1. Phân loại theo các giai đoạn của quá trình đầu tư dự án

2.3.1.1. Tiến độ trong giai đoạn lập báo cáo đầu tư

2.3.1.2. Tiến độ trong giai đoạn thiết kế

2.3.1.3. Tiến độ trong hồ sơ dự thầu

2.3.1.4. Tiến độ trong giai đoạn chính thức thi công công trình

2.3.2. Phân loại theo đối tượng để lập tiến độ

2.3.2.1. Tổng tiến độ xây dựng

2.3.2.2. Tiến độ công trình xây dựng

2.3.2.3. Tiến độ từng phần công trình (tiến độ hạng mục công trình)

2.3.2.4. Phiếu công việc

2.3.3. Phân loại theo hình thức thể hiện

2.3.3.1. Sơ đồ ngang (Gantt – Chart)

2.3.3.2. Sơ đồ xiên (Cyklogram)

2.3.3.3. Sơ đồ mạng

2.4. Các phương pháp tổ chức sản xuất

– Tuân thủ công nghệ sản xuất để đảm bảo chất lượng công trình.

– Đảm bảo thời hạn thi công.

– Hạ giá thành sản phẩm.

Thông thường để tổ chức sản xuất trong xây dựng có các phương pháp:

2.4.1. Phương pháp tuần tự

2.4.2. Phương pháp song song

2.4.3. Phương pháp dây chuyền

2.5. Ưu, nhược điểm của phương pháp tổ chức sản xuất theo dây chuyền

2.5.1. Ưu điểm

– Tổ chức thi công theo phương pháp dây chuyền sẽ tạo cho các hoạt động xây lắp được thực hiện liên tục, nhịp nhàng.

– Lao động được bố trí theo chuyên môn, sự chuyên môn hóa sản xuất sẽ tạo điều kiện nâng cao trình độ kỹ thuật cho người lao động, cải thiện phương pháp lao động, làm tăng năng suất lao động.

– Do chuyên môn hóa sản xuất, ý thức thực hiện nhiệm vụ sản xuất của các tổ đội và cá nhân người lao động được nâng cao, thuận lợi cho hoạt động kiểm tra, đôn đốc và quản lý chất lượng.

– Tận dụng triệt để thời gian và không gian sản xuất, góp phần rút ngắn thời gian thi công công trình.

– Do tiến độ thi công được rút ngắn hợp lý, sản xuất được tiến hành liên tục, nhịp nhàng và điều hòa nên làm giảm khối lượng và chi phí cho các giải pháp.

2.5.2. Nhược điểm

Do đặc điểm cố định của sản phẩm xây dựng, điều kiện mặt bằng thi công thay đổi theo từng công trình cụ thể và nhất là đối với các công trình cao tầng việc tổ chức thi công được triển khai theo cả phương ngang và phương đứng, khó có thể đảm bảo tính liên tục khi chuyển tầng (chuyển đợt thi công), việc ứng dụng phương pháp tổ chức sản xuất dây chuyền trong công tác xây lắp trở nên khó khăn.

Tuy vẫn còn tồn tại một vài hạn chế, nhưng tính ưu việt của phương pháp tổ chức sản xuất dây chuyền thì không phương pháp nào có thể bằng.

2.6. Các thông số của tổ chức thi công dây chuyền

2.6.1. Thông số công nghệ

2.6.1.1. Số dây chuyền thành phần (dây chuyền đơn)

Là số loại công việc được chia ra để các tổ đội làm việc độc lập theo một dây chuyền chuyên môn nhất định. Việc chọn số dây chuyền thành phần phụ thuộc vào công nghệ sản xuất, khối lượng công việc và phụ thuộc vào mức độ chuyên môn hóa trong sản xuất. Công nghệ thi công phức tạp thì số tổ đội (dây chuyền thành phần) càng nhiều.

2.6.1.2. Khối lượng công việc

Là lượng công việc mà dây chuyền đơn phải thực hiện trên một không gian nhất định trong một thời gian định trước. Khối lượng công việc thường biểu hiện bằng khối lượng lao động, nó phụ thuộc vào mức độ chuyên môn hóa và mức độ phân chia không gian làm việc giữa các tổ đội.

2.6.1.3. Năng suất của dây chuyền (I)

Khối lượng công tác thực hiện được trong một đơn vị thời gian (ngày) của một quá trình thi công theo phương pháp dây chuyền được gọi là năng suất của dây chuyền. Năng suất dây chuyền phụ thuộc vào năng lực sản xuất của tổ đội.

Trong sản xuất dây chuyền năng suất là một hằng số (I = const).

– Nếu quá trình được thực hiện bằng phương pháp cơ giới:

I = Nca (i) × DS (i) (2.1)

m – Số loại máy chủ đạo dùng vào cùng một quá trình thi công.

Nca (i) – Số ca máy làm việc trong ngày của máy i.

DS (i) – Năng suất hay định mức sản lượng của máy i.

– Nếu quá trình tiến hành bằng thao tác thủ công:

I = n × Nca × DS (2.2)

n – Số công nhân làm việc trong ca thực hiện quá trình xây lắp.

DS – Năng suất hay định mức sản lượng của mỗi công nhân.

Nca – Số ca làm việc trong ngày.

2.6.1.4. Tốc độ của dây chuyền (ν)

Là thông số thường dùng trong các dây chuyền chạy dài thể hiện bằng tỷ số độ dài công trình L, dây chuyền thực hiện trong một thời gian t:

(2.3)

2.6.2. Thông số thời gian

2.6.2.1. Nhịp của dây chuyền (tij)

– Khi căn cứ vào lực lượng lao động, xe máy thi công có thể huy động:

tij = Qi,j / (Ni × Dsi) (2.4)

tij – Nhịp của dây chuyền i (thời gian thực hiện quá trình i) trên đoạn j.

Qi,j ­- Khối lượng công tác của quá trình i trên đoạn thi công j.

Ni – Số công nhân hoặc số máy tham gia thực hiện quá trình i.

Dsi – Sản lượng kế hoạch (năng suất) của một ngày công hay ca máy.

– Khi cần ấn định trước trị số nhịp tij, có thể điều chỉnh số công nhân hay số máy tham gia vào quá trình để có được trị số tij đã định, khi đó cần phải kiểm tra điều kiện dung nạp số lượng công nhân (xe máy) trên đoạn thi công đã chia và điều kiện cung ứng vật tư đảm bảo sản xuất.

2.6.2.2. Môđun chu kỳ (K)

Khoảng thời gian dây chuyền chọn để môđun hóa các thông số thời gian, thường là một số ngày làm việc (K = 1, 2,…). Nhịp nhỏ nhất của dây chuyền được chọn làm môđun chu kỳ, khi dây chuyền có nhịp đều nhau thì môđun chu kỳ đồng nhất với nhịp (tij = K), đơn vị thời gian sẽ dùng K làm chuẩn.

2.6.2.3. Bước của dây chuyền (Kb)

Bước của dây chuyền là khoảng cách thời gian bắt đầu của hai quá trình thi công (hai dây chuyền bộ phận) kế tiếp nhau sao cho quy trình thi công vẫn được tôn trọng, quá trình xây lắp được thực hiện liên tục.

Bước của dây chuyền thường là số nguyên của môđun chu kỳ (số chẵn ngày). Việc chọn bước là số nguyên tức là các tổ thợ sẽ bắt đầu công việc vào giờ đầu của ngày làm việc, các dây chuyền triển khai cách nhau số chẵn ngày.

2.6.2.4. Gián đoạn

Gián đoạn là khoảng thời gian trống trên phân đoạn giữa hai dây chuyền liên tiếp không có dây chuyền nào hoạt động.

Gián đoạn công nghệ trong thi công xây dựng là khoảng thời gian chờ đợi cần thiết do đặc điểm công nghệ của quá trình sản xuất tạo nên như: thời gian chờ đợi bêtông ninh kết, thời gian chờ đợi được sơn bả sau khi trát…

Gián đoạn tổ chức là gián đoạn do tổ chức sản xuất tạo ra, là loại thời gian được bố trí tăng thêm để làm các công tác kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm; làm các công việc chuẩn bị trực tiếp cho các quá trình tiếp sau; hoặc là thời gian bố trí dự phòng giữa hai quá trình chủ đạo kế tiếp nhau để nếu quá trình trước bị chậm tiến độ cũng không ảnh hưởng đến thời điểm bắt đầu sớm và sự thực hiện liên tục của quá trình tiếp sau.

Với gián đoạn kỹ thuật ta phải tuân theo vì đây là bắt buộc theo quy phạm, với gián đoạn tổ chức ta có thể khắc phục được vì đây là ý kiến chủ quan của người thực hiện.

2.6.3. Thông số không gian

2.6.3.1. Vị trí công tác

Là khoảng không gian cần thiết để người công nhân hoặc máy móc thiết bị làm việc thoải mái, phù hợp quy trình kỹ thuật, quy tắc an toàn, thời gian quy định và không bị hạn chế về năng suất lao động.

Vị trí công tác phụ thuộc vào loại công việc, dụng cụ, thiết bị thi công và khả năng làm việc của công nhân. Khi tổ chức sản xuất nên chọn vị trí công tác vừa đủ, nếu chật quá sẽ giảm năng suất và dễ mất an toàn, rộng quá làm thời gian thi công bị kéo dài, giảm năng suất.

2.6.3.2. Tuyến công tác

Tập hợp các vị trí công tác của từng công việc. Tuyến công tác có tuyến kín và tuyến mở. Tuyến mở là tuyến có thể triển khai công việc được ngay, tuyến kín là tuyến chỉ triển khai công việc khi công việc trước đã kết thúc.

2.6.3.3. Phân đoạn thi công (m)

Là phần công trình mà một tổ đội có thể triển khai, hoàn thành công việc trên đó một cách độc lập, phát huy hết công suất và không cản trở công việc của người khác.

Chọn phân đoạn phải phù hợp với công nghệ, kiến trúc, kết cấu và ý đồ tổ chức sản xuất.

Về công nghệ phải đảm bảo công việc làm đạt chất lượng, khối lượng thi công phải gọn nhẹ dễ thực hiện, phù hợp với năng lực sản xuất định triển khai.

Về mặt tổ chức sản xuất đảm bảo khối lượng khối lượng công việc vừa với năng lực sản xuất và thời hạn thi công toàn công trình. Khối lượng công việc trên mỗi phân đoạn được gọi là một công tác, nó có thể thi công, tính toán một cách độc lập.

2.6.3.4. Phân đợt thi công (j)

Trong trường hợp đối tượng thi công phát triển theo phương đứng, đợt thi công là khái niệm không gian theo chiều cao khi thi công công trình có điểm dừng theo chiều cao. Khái niệm đợt thi công thường áp dụng khi là nhà nhiều tầng hoặc kết cấu có chiều cao lớn.

2.7. Các nguyên tắc chia phân đoạn, đợt

Phân chia công trình thành các đoạn, đợt công tác nhằm khống chế khối lượng công tác, tạo ra các khu vực có khối lượng gần bằng nhau để có thể áp dụng phương pháp sản xuất dây chuyền, đó còn là cơ sở để lựa chọn các máy móc, thiết bị, nhân lực phù hợp phục vụ thi công, dễ kiểm soát chất lượng của sản phẩm. Khi phân chia công trình thi công thành những đoạn, đợt cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:

(1) Đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật

(2) Đạt hiệu quả lao động

(3) An toàn

2.8. Thiết kế tiến độ theo phương pháp sơ đồ mạng

Sơ đồ mạng là một phương pháp lập tiến độ (kế hoạch sản xuất) hiện đại, dựa trên lý thuyết đồ thị, bằng cách vận dụng các nguyên tắc toán học hiện đại để mô hình hóa quá trình sản xuất. Người lập tiến độ có thể đưa vào mạng ý đồ tổ chức nhưng phải đảm bảo không tạo ra sự xung đột về công nghệ.

Phương pháp sơ đồ mạng được sử dụng để lập và quản lý kế hoạch thực hiện công việc cho nhiều lĩnh vực, nhưng nếu chỉ xét trong hoạt động đầu tư xây dựng sơ đồ mạng cũng được dùng vào rất nhiều công tác như:

– Lập kế hoạch và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng.

– Lập kế hoạch tổng thể thực hiện các dự án đầu tư xây dựng có quy mô từ nhỏ đến lớn.

– Lập kế hoạch thực hiện các công việc ở từng giai đoạn của dự án.

– Lập tổng tiến độ xây dựng công trình.

– Lập tiến độ thi công chi tiết từng hạng mục công trình.

2.8.1. Các thành phần của sơ đồ mạng

2.8.1.1. Công việc

Là một hoạt động, một quá trình hoặc là một mối liên hệ phụ thuộc.

Công việc thực (Actual Task): là công việc cần sự chi phí về thời gian và tài nguyên, hoặc chỉ cần thời gian trong các công việc chờ đợi.

Công việc ảo (Imaginary Task): là một công việc chỉ mối liên hệ logic giữa hai hoặc nhiều công việc, nói lên sự bắt đầu của công việc này phụ vào sự kết thúc của công việc kia. Công việc ảo không đòi hỏi sự chi phí về thời gian và tài nguyên, được thể hiện bằng một mũi tên nét đứt.

2.8.1.2. Các thông số thời gian của sơ đồ mạng

Để xác định các thông số thời gian của sự kiện, công việc trong sơ đồ mạng, ta xét vòng tròn sự kiện như trên hình 2.14.

2.8.1.3. Mối quan hệ phụ thuộc trong sơ đồ mạng

Thông thường vẫn tồn tại hai mối quan hệ phụ thuộc giữa các công việc:

– Quan hệ công nghệ: Là loại quan hệ bắt buộc giữa các công việc theo quy trình công nghệ đã được xác định.

– Quan hệ tổ chức: Là loại quan hệ được thiết lập giữa các công việc do ý đồ tổ chức của người lập tiến độ đưa vào. Mối quan hệ này có thể bỏ qua nếu được đáp ứng các yêu cầu tổ chức để tiến độ được lập theo sơ đồ mạng được mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn.

2.8.1.4. Ràng buộc

Trong quá trình sản xuất, ngoài các mối quan hệ về công nghệ và tổ chức còn có những ràng buộc về thời gian liên quan đến việc thực hiện công việc, thường gắn với thời điểm bắt đầu hoặc kết thúc công việc. Các ràng buộc này thường có tính chất tổ chức như mốc thời gian xác định để đưa một phần công trình vào sử dụng hay ràng buộc về điều kiện cung ứng vật tư…

2.8.2. Đường găng trong sơ đồ mạng

Đường găng là đường đi từ sự kiện khởi đầu đến sự kiện kết thúc có chiều dài lớn nhất.

Các công việc mà đường găng đi qua gọi là công việc găng, công việc găng không còn thời gian dự trữ toàn phần.

Việc tìm ra đường găng trong sơ đồ mạng có ý nghĩa hết sức quan trọng, có thể nói đường găng chính là cái hay nhất, ưu điểm lớn nhất của sơ đồ mạng mà các phương pháp lập tiến độ khác không có được. Bởi các lý do sau:

– Thời gian (chiều dài) của đường găng là thời gian hoàn thành dự án hoặc thời gian xây dựng công trình.

– Việc tìm được đường găng, chỉ ra các công việc găng, tức là tìm ra trong số những công việc cần phải hoàn thành công việc nào là quan trọng, then chốt mà muốn công trình hoàn thành đúng hạn thì phải thực hiện các công việc đó đúng hạn. Từ đó người điều hành thi công sẽ xây dựng được kế hoạch tăng nhân công, tăng máy móc, thiết bị hoặc thay đổi công nghệ tập trung vào các công việc găng nhằm rút ngắn thời gian xây dựng công trình.

– Trong quá trình thi công, các yếu tố môi trường, thời tiết, những rủi ro trong lao động, sự cung cấp không đồng bộ các tài nguyên… sẽ làm cho tiến độ bị thay đổi.

Trong quá trình chỉ đạo sản xuất, ngoài việc tập trung vào các đường găng, người điều hành cần lưu ý tới các đường gần găng bởi khi một công việc không găng bị kéo dài, sử dụng hết dự trữ thì nó sẽ trở thành công việc găng, làm trở ngại cho việc hoàn thành kế hoạch.

2.8.3. Chuyển sơ đồ mạng lên trục thời gian

Sơ đồ mạng là một mô hình mạng lưới, diễn tả một dự án bằng mối liên hệ giữa các công việc. Sơ đồ mạng ban đầu chỉ chú ý đến lôgic giữa các công việc, độ dài thời gian của các công việc chỉ được vẽ ước lệ và ghi bằng chỉ số ở mũi tên công việc. Bằng trực giác rất khó nhận ra:

– Tại một thời điểm nào đó có bao nhiêu công việc được làm?

– Công việc nào mới bắt đầu và công việc nào đã kết thúc?

– Không thể vẽ được biểu đồ tài nguyên (nhân lực, vật tư, thiết bị…) nên không trả lời được các câu hỏi trên.

Để tiện cho việc theo dõi và chỉ đạo sản xuất, sau khi tính toán song sơ đồ mạng phải chuyển sơ đồ mạng lên trục thời gian.

2.8.4. Quy trình thiết kế tiến độ theo phương pháp sơ đồ mạng

Bước 1: Tìm hiểu đặc điểm công trình, phân tích công nghệ xây dựng

Bước 2: Lập biểu danh mục các công việc và tính khối lượng công việc

Bước 3: Lựa chọn phương án kỹ thuật và phương pháp tổ chức sản xuất

Bước 4: Xác định mối quan hệ giữa các công việc

Bước 5: Xác định các thông số tổ chức công việc

Bước 6: Lập sơ đồ mạng ban đầu, sơ chỉnh sơ đồ mạng

Bước 7: Tính toán thông số thời gian sơ đồ mạng, xác định đường Găng

Bước 8: Chuyển sơ đồ mạng lên trục thời gian

Bước 9: Tính toán các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật

Bước 10: So sánh với các chỉ tiêu đề ra

Bước 11: Tối ưu sơ đồ mạng

Bước 12: Chuyển sơ đồ mạng sang sơ đồ ngang thành tiến độ kế hoạch

Bước 13: Lập các biểu đồ cung ứng tài nguyên

CHƯƠNG 3

ÁP DỤNG LÝ THUYẾT DÂY CHUYỀN ĐỂ LẬP TIẾN ĐỘ

VÀ TỔ CHỨC HOÀN THIỆN TRONG NHÀ CHUNG CƯ

CAO TẦNG

3.1. Đề xuất cách chia phân đoạn để tổ chức hoàn thiện trong nhà chung cư cao tầng

Việc phân chia phân đoạn để tổ chức hoàn thiện trong nhà chung cư cao tầng theo cách phân chia phân đoạn để tổ chức thi công phần thô là không hợp lý như đã phân tích ở mục 1.3 chương 1. Vì các lý do sau:

– Gây ra sự gián đoạn của các hệ thống kỹ thuật trong các căn hộ.

– Khó tổ chức sản xuất, dễ tạo nên sự chồng chéo trong quá trình thi công, không đảm bảo an toàn.

– Khó kiểm soát vật tư.

– Khó cho công tác nghiệm thu, bàn giao từng hạng mục công trình.

Nhà chung cư cao tầng có những đặc điểm thiết kế khác, đặc biệt so với các kiểu nhà khác, các công tác hoàn thiện với khối lượng công tác được phân bố theo từng loại căn hộ, từng căn hộ riêng biệt.

Phân chia phân đoạn để tổ chức hoàn thiện trong nhà chung cư cao tầng phải tạo ra những phân đoạn với những công việc có thể triển khai độc lập, khối lượng công tác rõ ràng, vật tư sử dụng độc lập để có thể tiến hành giao khoán.

3.2. Tổ chức các tổ đội chuyên nghiệp làm việc theo dây chuyền trên các phân đoạn giống nhau

3.2.1. Các mô hình tổ chức tổ đội trong sản xuất xây dựng

Trong xây dựng, để tổ chức sản xuất, thi công các công trình chúng ta có thể tổ chức các tổ đội sản xuất theo các mô hình sau đây:

3.2.1.1. Mô hình tổ đội vạn năng

3.2.1.2. Mô hình tổ đội đa năng

3.2.1.3. Mô hình tổ hỗn hợp chuyên môn

3.2.1.4. Mô hình tổ đội chuyên nghiệp

3.2.2. Lựa chọn hình thức tổ chức các tổ đội hợp lý để hoàn thiện trong nhà chung cư cao tầng

Với các mô hình tổ chức tổ đội sản xuất như ở trên, có thể nhận xét rằng:

– Mô hình tổ đội vạn năng chỉ có thể áp dụng với những công trình có quy mô nhỏ, lẻ, khi khối lượng công tác ít và mức độ yêu cầu của công việc không cao. Do trình độ chuyên môn của người thợ thấp nên năng suất lao động thấp, thời gian thi công kéo dài, chất lượng công việc không tốt, chi phí cao.

– Mô hình tổ đội đa năng và hỗn hợp chuyên môn có thể áp dụng trong thi công nhà cao tầng, tuy nhiên năng suất và chất lượng thực hiện công việc mang lại chưa thực sự cao và thời gian thi công còn dài.

– Với mô hình sử dụng các tổ đội chuyên nghiệp, nếu có đủ điều kiện để thành lập và triển khai các dây chuyền, tổ đội sản xuất chuyên nghiệp để thực hiện các công việc hoàn thiện thì năng suất lao động và chất lượng hoàn thiện sẽ tăng cao, thời gian thi công được rút ngắn, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

3.2.3. Tổ chức các dây chuyền hoàn thiện trong nhà chung cư cao tầng

Để triển khai công tác hoàn thiện trong nhà chung cư cao tầng trong điều kiện xây dựng hiện nay, các tổ thợ phải được tổ chức thành các dây chuyền theo chuyên môn từng công việc, các thành viên trong tổ phải là những công nhân chuyên nghiệp, có trình độ tay nghề cao.

– Số dây chuyền chuyên môn phụ thuộc vào quy mô, tính chất và đặc điểm cấu tạo kiến trúc công trình.

– Số lượng công nhân biên chế trong các tổ đội, dây chuyền chuyên môn được bố trí nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố như khối lượng công tác cần thực hiện, diện tích tuyến công tác, yêu cầu của tiến độ xây dựng công trình và khả năng cung ứng tài nguyên của nhà thầu.

Trong nhà chung cư, trừ tầng hầm, tầng mái và một vài tầng phía dưới, các tầng nhà được thiết kế điển hình hóa, trong mỗi tầng cũng được thiết kế với một số mẫu căn hộ điển hình nên khi tổ chức hoàn thiện, các tổ thợ sẽ được bố trí làm theo dây chuyền chỉ ở trên các phân đoạn giống nhau.

– Nếu diện tích các căn hộ rộng, khối lượng công tác lớn, yêu cầu tiến độ hoàn thiện phải nhanh, khả năng cung ứng các loại tài nguyên không bị hạn chế đáp ứng được nhu cầu của công tác hoàn thiện, trong quá trình tổ chức thi công có thể bố trí các dây chuyền chuyên môn hoạt động theo nhóm, tổ chức 04 nhóm tổ thợ cùng lúc hoạt động trên các phân đoạn khác nhau.

– Nếu diện tích các căn hộ không lớn, khối lượng công tác không nhiều, yêu cầu tiến độ hoàn thiện vừa phải, khả năng cung ứng tài nguyên có hạn, trong quá trình tổ chức thi công có thể bố trí 02 nhóm tổ thợ cùng lúc hoạt động trên các phân đoạn khác nhau.

– Khi xong phần công việc của mình ở tầng dưới, các nhóm tổ đó sẽ được chuyển lên tầng tiếp theo và tiếp tục thực hiện các thao tác công việc ở các căn hộ (phân đoạn) đã được phân công.

– Phân đoạn đặc biệt gồm hành lang, cầu thang bộ sẽ được để lại hoàn thiện sau và tổ chức hoàn thiện theo hướng từ trên xuống, vì khu vực này thường xuyên có người đi lại, nếu hoàn thiện sớm chất lượng sẽ không được đảm bảo.

Như vậy, ngoài việc bố trí các đội thợ sản xuất theo chuyên môn từng công việc, trong quá trình tổ chức hoàn thiện trong cho nhà chung cư cao tầng, các nhà tổ chức có thể bố trí các đội thợ chuyên nghiệp làm theo dây chuyền trên các phân đoạn giống nhau.

3.3. Phương hướng triển khai công tác hoàn thiện trong nhà chung cư

Trình tự và phương hướng triển khai thực hiện công tác hoàn thiện phải tuân theo quy trình kĩ thuật, công nghệ xây lắp, đảm bảo các quy tắc an toàn, đồng thời phải luôn hướng tới sự tối ưu về sử dụng nhân công, sử dụng các công cụ – thiết bị hoàn thiện, phải tạo thuận lợi để triển khai các quá trình xây lắp tiếp sau và làm cho tiến độ thi công tổng thể được rút ngắn.

Để thực hiện công tác hoàn thiện có thể triển khai theo các hướng sau:

– Hoàn thiện theo hướng từ trên xuống (hình 3.3.a và b):

– Hoàn thiện theo hướng từ dưới lên (hình 3.4.a và b):

Từ những phân tích trên, có thể kết luận việc lựa chọn hướng thi công hoàn thiện trong cho nhà chung cư cao tầng theo hướng từ dưới lên là bắt buộc và hoàn toàn hợp lý, nhằm tiết kiệm thời gian, rút ngắn tổng thời gian thi công, giảm bớt các khoản phụ phí phát sinh, giảm giá thành công trình.

3.4. Thiết kế tiến độ hoàn thiện trong nhà chung cư cao tầng

3.4.1. Lựa chọn phương pháp để lập tiến độ

Để lập tiến độ xây dựng công trình, có thể lựa chọn một trong ba cách thể hiện tiến độ: sơ đồ xiên, sơ đồ mạng, sơ đồ ngang. Lựa chọn phương pháp và cách thể hiện tiến độ nào phụ thuộc quy mô của công trình, thời gian xây dựng, khối lượng công tác…

3.4.2. Lập blog tiến độ hoàn thiện tầng điển hình

Blog tiến độ là phần tiến độ điển hình cho một hạng mục, một phần của công trình; hoặc tiến độ của một công trình điển hình trong tổ hợp gồm nhiều công trình.

3.4.3. Ví dụ

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ

HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI

I. Kết luận

Nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đất nước, nhà chung cư cao tầng đang được xem là giải pháp hợp lý để giải quyết vấn đề chỗ ở tại các khu đô thị, các trung tâm nơi có sự tập trung đông dân cư. Trong những năm tới loại nhà này được dự báo sẽ tiếp tục được đầu tư để phát triển cả về số lượng, quy mô và mức độ hiện đại của các tòa nhà. Để đáp ứng yêu cầu phát triển xây dựng nhà chung cư cao tầng, ngành xây dựng trong những năm qua đã có rất nhiều tiến bộ về công nghệ, nhiều đổi mới về công tác tổ chức sản xuất. Bằng việc áp dụng các phương pháp tổ chức sản xuất khoa học, tính chuyên môn cần được vận dụng linh hoạt nhằm tăng hiệu quả sản xuất, khai thác hết năng lực của các nhà thầu, tận dụng triệt để không gian thi công, từ đó rút ngắn thời gian thi công, giảm giá thành và đảm bảo chất lượng công trình. Từ những kết quả nghiên cứu đạt được trong luận văn, tác giả đưa ra những kết luận sau:

1. Thời gian thi công hoàn thiện thường kéo dài, chiếm phần lớn thời gian trong tổng tiến độ thi công công trình. Muốn đảm bảo chất lượng, thẩm mỹ và tuổi thọ cho công trình cần phải quan tâm chú ý đến tất cả các công tác từ khi bắt đầu đến khi kết thúc việc xây dựng, trong đó bao gồm cả các công tác xây lắp phần thô cũng như các công tác hoàn thiện.

2. Việc chia phân đoạn đồng nhất giữa phần thô và phần hoàn thiện là không phù hợp với nhà chung cư cao tầng.

3. Phương pháp tổ chức sản xuất theo dây chuyền là phương pháp khoa học, có rất nhiều vấn đề còn phù hợp để vận dụng vào quá trình tổ chức xây dựng nhà chung cư cao tầng mang lại hiệu quả cao như tổ chức thành các phân đoạn và bố trí các tổ đội công nhân chuyên nghiệp để triển khai hoàn thiện theo các phân đoạn giống nhau.

II. Kiến nghị

1. Trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thi công cần tách riêng việc chia phân đoạn trong giai đoạn hoàn thiện với giai đoạn thi công thô. Đối với nhà chung cư cao tầng, các phân đoạn hoàn thiện phần trong của nhà nên chia theo từng căn hộ.

2. Thành lập và sử dụng các tổ đội công nhân chuyên nghiệp vào công tác hoàn thiện để nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng năng suất lao động, rút ngắn thời gian thi công.

Khi tổ chức hoàn thiện trong nhà chung cư cao tầng nên áp dụng hình thức khoán gọn cả thời gian, tiền công và vật liệu, kèm theo các yêu cầu đảm bảo chất lượng, thời gian theo tiến độ dự kiến. Cần có chế độ khen thưởng cũng như có hình thức xử phạt để khuyến khích công nhân.

3. Lập các blog tiến độ mẫu để hoàn thiện tầng điển hình, triển khai tới từng tổ đội công nhân, thuận tiện cho công tác theo dõi, quản lý và điều hành sản xuất.

Để lập và quản lý tiến độ thi công xây dựng nhà cao tầng, chung cư cao tầng được thuận tiện, khoa học nên sử dụng chương trình Microsoft Project.

III. Hướng phát triển của đề tài

– Nghiên cứu áp dụng lý thuyết dây chuyền để lập tiến độ và tổ chức xây dựng nhà cao tầng.

– Quản lý tiến độ trong giai đoạn hoàn thiện xây dựng nhà cao tầng, chung cư cao tầng.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LE HOANG LONG\New folder (2)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *