Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn
1. Lý do chọn đề tài
Khác với huyện, tỉnh và Trung ương, chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức cho nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao; trực tiếp lo giải quyết công ăn, việc làm, đời sống của nhân dân; trực tiếp giải quyết mối quan hệ trong nội bộ nhân dân và mối quan hệ giữa dân với Đảng và Nhà nước. Cấp xã ổn định thì huyện, tỉnh, trung ương ổn định. Cấp xã mạnh thì huyện, tỉnh, trung ương mạnh.
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo kiện toàn và củng cố cấp xã trong đó quan tâm nhiều tới chính quyền cấp xã. Nhưng từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã chậm được đổi mới, công tác cán bộ và chế độ, chính sách đối với cán bộ cấp xã chưa được chú ý đúng mức nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã và hiệu lực quản lý nhà nước ở cấp xã. Tổ chức bộ máy cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ hoạt động chồng chéo nhau.
Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta, là cầu nối chuyển tải và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với quảng đại quần chúng nhân dân. UBND cấp xã thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền; đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống.
Hoạt động của UBND cấp xã có ảnh hưởng lớn tới tính hiệu quả của các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có ý nghĩa vô cùng to lớn với việc củng cố sự phát triển bền vững của xã hội, đảm bảo dân chủ và nâng cao đời sống nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”[19, tr.371].
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp xã còn chưa được chuyên sâu, thiếu ổn định về nhân sự; tình trạng lãng phí, hình thức trong hoạt động quản lý vẫn phổ biến. Bên cạnh đó, trình độ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn nhiều hạn chế, luôn rơi vào trạng thái lúng túng, ngỡ ngàng trước sự thay đổi và xu thế phát triển chung của thời đại, dẫn đến hiệu quả hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp xã chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội.
Khẳng định tầm quan trọng của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong hệ thống chính trị ở nước ta. Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX đã đề ra phương hướng “đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở xã, phường, thị trấn”. Nghị quyết chỉ đạo: “Cần nâng cao hiệu lực của cơ quan hành chính theo hướng đề cao trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan hành chính cấp xã”. Gần đây, tại Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X đã ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/08/2007 về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước trong đó có UBND cấp xã. Đó là những cơ sở quan trọng để chúng ta tiếp tục xây dựng chiến lược cải cách, nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND cấp xã ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Trong bối cảnh trên đã đến lúc cần có sự nghiên cứu toàn diện và nghiêm túc về ủy ban nhân dân cấp xã, từ đó nhìn nhận trước hết các vấn đề quan trọng, cấp bách cần tháo gỡ cũng như hướng cải cách ở tầm chiến lược đối với chính quyền cấp này.
Vì vậy, việc chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn , ” làm luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sĩ Luật Hành chính nhằm mục đích nắm bắt thực trạng, tìm ra những nguyên nhân, giải pháp nhằm củng cố và nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở để đáp ứng được nhu cầu của giai đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước hiện nay phù hợp với yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở nhận thức lý luận về tổ chức hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã, phân tích thực trạng và những bất cập trong tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã ở địa phương, luận văn đề xuất giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã ở , .
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
+ Phân tích cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã. Vị trí vai trò UBND cấp xã, tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã.
+ Phân tích thực trạng tổ chức, hoạt động của UBND cấp xã ở , , qua đó nêu ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục.
+ Đưa ra những giải pháp đổi mới tổ chức hoạt động của UBND cấp xã trong điều kiện cải cách hành chính.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến UBND cấp xã ở , .
Thời gian nghiên cứu là từ năm 2011 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về lý luận Nhà nước – pháp luật nói chung và ủy ban nhân dân cấp xã nói riêng.
Các phương pháp khoa học cụ thể như hệ thống hóa, khái quát hóa, thống kê, so sánh, quan sát, mô tả, phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tế..được tác giả sử dụng trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
– Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức, hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã. Đặc biệt làm rõ đặc điểm của ủy ban nhân dân cấp xã ở , hiện nay.
– Trên cơ sở đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động của UBND cấp xã ở , luận văn nêu ra phương hướng giải quyết nhằm đổi mới tổ chức hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã phù hợp với điều kiện cải cách hành chính nhà nước đối với , .
– Luận văn làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã
Chương 2: Thực trạng tổ chức, hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã ở ,
Chương 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã ở ,
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1.1.1. Khái niệm
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Ủy ban nhân dân là cơ quan chính quyền nhân dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được lập ra ở các cấp xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện; huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”. [41, tr.759]
Theo từ điển Luật học: “UBND là tên gọi của các cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”. [36, tr.538]
Điều 2 Luật Tổ chức của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 quy định: “UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do HĐND bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên”.
Trong tổ chức bộ máy nhà nước nước ta, chính quyền được tổ chức thành 4 hoặc 5 cấp, trong đó, UBND cấp xã là cấp thấp nhất. Nó bao gồm các UBND xã, phường, thị trấn.
Từ đó, có thể quan niệm: UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước cấp thấp nhất ở địa phương, do HĐND cấp xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước HĐND cấp xã và cơ quan nhà nước cấp trên về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
1.1.1.2. Những đặc điểm của Ủy ban nhân dân cấp xã
Thứ nhất, Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Xét về mặt cơ cấu tổ chức, thì chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã. Trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quản lý địa phương theo Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo qui định của Hiến pháp và pháp luật, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy quyền chủ động, sáng tạo của địa phương.
Uỷ ban nhân dân cấp xã do Hội đồng nhân dân bầu và là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Ủy ban nhân dân cấp xã mang tính tự quản nhất định với đầy đủ tư cách pháp nhân, có ngân sách, tài sản riêng, năng lực pháp lý tham gia tố tụng. Đồng thời Ủy ban nhân dân cấp xã cũng chịu sự kiểm soát của Ủy ban nhân dân cấp trên. Trong phạm vi thực hiện nhiêm vụ được giao, Ủy ban nhân dân cấp xã được trao thẩm quyền, những nguồn lực nhất định và chịu sự kiểm soát của các chủ thể chính quyền cơ sở và chính quyền cấp trên trong việc thực hiện thẩm quyền của mình.
Thứ hai, đây là cấp cơ sở, cấp gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, ở ngay trong dân.
Chính quyền Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện giải quyết công việc tiếp xúc với dân ít hơn so với chính quyền cơ sở. Những vấn đề thuộc phạm vi, thẩm quyền, chức năng của mình, Ủy ban nhân dân cấp xã phải giải quyết trực tiếp liên quan đến sinh hoạt hàng ngày của người dân. Công việc hàng ngày của chính quyền là công việc của dân và công việc của dân cũng chính là công việc của chính quyền. Cán bộ hàng ngày trực tiếp gắn bó, làm việc với dân, có điều kiện bám sát dân, thấu hiểu dân. Mặt khác, do cán bộ chính quyền cấp xã hầu hết là người địa phương, hàng ngày sinh hoạt cùng nhân dân trong mối quan hệ không chỉ với tư cách đại diện cho chính quyền mà còn trong mối quan hệ với gia tộc, làng xóm với những ràng buộc về truyền thống, phong tục, tập quán. Sự hiểu biết quá rõ này gây bất lợi nhất định khi thực thi công vụ, khiến cho quan hệ công tư dễ lẫn lộn.
Thứ ba, cấp xã là nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống gắn liền mật thiết với những lợi ích, nhu cầu thường nhật của quần chúng.
Hoạt động quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp xã động chạm đến mọi mặt thiết yếu nhất, bức xức nhất của đời thường. Nó động chạm đến những nhu cầu, đòi hỏi rất tối thiểu trong cuộc sống như vệ sinh cống rãnh, vệ sinh chăn nuôi, trật tự nơi công cộng, tranh chấp tường rào hàng xóm láng giềng, tiếng ồn gây tranh chấp,… Đây không phải là những công việc lớn nhưng động chạm đến nhiều người, dễ gây bức xúc, tạo ra mâu thuẫn đáng tiếc không ngờ, gây mất đoàn kết trong dân cư.
Thứ tư, đây là cấp mà theo nghĩa nào đó là hình ảnh thu nhỏ của cả xã hội.
Cuộc sống của cộng đồng dân cư ở cấp xã với hàng trăm hộ gia đình, hàng nghìn, hàng mấy nghìn con người là cả một tập hợp lớn đa dạng, phức tạp với bao nhiêu chuyện về việc làm, mưu sinh, về tồn tại và phát triển từ kinh tế, sản xuất đến an ninh trật tự, tâm lý, đạo đức, văn hoá,… và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội cần giải quyết. Do đó, đây cũng là nơi phát sinh từ thực tế biết những kinh nghiệm có thể tổng kết để khái quát thành lý luận, để điều chỉnh, bổ sung và đổi mới đường lối, chính sách do thường xuyên phải giải quyết những tình huống xảy ra. Vì thế, đổi mới manh nha, nảy mầm từ những nhu cầu bức xúc ở ngay cơ sở.
Thứ năm, là cơ sở xã hội của chính trị, là cơ sở của thể chế nhà nước, của chế độ chính trị.
Cấp xã là cấp thấp nhất trong phân cấp quản lý nhưng không có nghĩa là cấp ít quan trọng nhất. Không có cơ sở, nền tảng thì không bao giờ hình thành nên toà nhà xã hội. Nền móng có vững thì toà nhà mới mạnh. Cấp xã là tầng sâu nhất trên phương diện hiện thực hoá, thực tiễn hoá, vật chất hoá những đường lối, quan điểm, tư tưởng chiến lược phát triển được vạch ra từ cấp vĩ mô, đầu não. Đường lối, nghị quyết, chính sách, pháp luật muốn đi vào cuộc sống phải thông qua cơ sở, phải được thực hiện ở cơ sở thành phong trào hành động của dân chúng, bằng sáng kiến, nỗ lực và tính chủ động của mọi người dân. Như vậy, cấp xã có thể nói là địa chỉ cần phải tới, là cái đích cần phải đạt được của mọi hoạt động chỉ đạo chiến lược từ Trung ương đến địa phương.
- 1.1.2. Vị trí, vai trò của ủy ban nhân dân cấp xã trong bộ máy nhà nước
Vị trí pháp lý và vai trò của UBND được quy định rõ trong Hiến pháp và Luật Tổ chức HĐND và UBND.Điều 114 Hiến pháp 2013 quy định: “UBND ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”.[18, tr.29].
Đối với UBND cấp xã, xét về vị trí, nó là một bộ phận cấu thành trong bộ máy nhà nước thống nhất và là cấp hành chính thấp nhất.
Nhìn tổng quát, vai trò của UBND cấp xã thể hiện trên hai mặt: là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp cơ sở
Với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND cấp xã có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp lụât. Tổ chức và chỉ đạo việc thi hành pháp luật, Nghị quyết của HĐND cùng cấp.
Còn với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương: UBND cấp xã có nhiệm vụ triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội và dân cư trên địa bàn.
- 1.1.3. Các mối quan hệ giữa ủy ban nhân dân cấp xã
1.1.3.1. Quan hệ giữa ủy ban nhân dân cấp xã với Đảng uỷ cơ sở
Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Do đó trong mọi hoạt động của mình, HĐND, UBND cấp xã phải chấp hành đường lối chủ trương của Đảng và chịu sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở.
Ban chấp hành Đảng bộ cơ sở thực hiện sự lãnh đạo đối với HĐND, UBND xã bằng chủ trương, Nghị quyết và các biện pháp lớn, bằng việc bố trí đảng viên công tác trong HĐND, UBND.
Căn cứ vào Nghị quyết Đảng bộ và HĐND, UBND xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách hàng năm của địa phương, báo cáo Thường vụ Đảng uỷ thông qua trước khi trình HĐND xem xét quyết định.
Định kỳ hoặc đột xuất, UBND xã báo cáo với Đảng bộ cơ sở về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và việc tổ chức thực hiện những chủ trương mà Đảng bộ đề ra.
1.1.3.2. Mối quan hệ giữa Ủy ban nhân dân với Hội đồng nhân dân
HĐND, UBND cấp xã là một bộ phận cấu thành nên hệ thống tổ chức chính quyền địa phương. Quan hệ giữa UBND với HĐND cấp xã bao gồm quan hệ trực tuyến, quan hệ theo chức năng và cả mối quan hệ hai chiều phụ thuộc.
Theo qui định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì UBND do HĐND bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. Nên mối quan hệ giữa UBND với HĐND là mối quan hệ phụ thuộc của cơ quan hành chính Nhà nước vào cơ quan quyền lực Nhà nước cùng cấp. UBND phải chịu sự kiểm tra, giám sát của HĐND cùng cấp. HĐND ra các nghị quyết có tính chất bắt buộc phải thực hiện đối với UBND.
Là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, HĐND cấp xã bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của UBND cấp xã; giám sát hoạt động và bãi bỏ những quyết định trái pháp luật của UBND cấp xã, yêu cầu UBND cấp xã báo cáo về tình hình thực hiện nghị quyết của HĐND và thi hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo thực hiện nghị quyết của HĐND.
Tuy vậy, với tư cách là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương UBND cấp xã lại có tính “độc lập tương đối” với HĐND cấp xã. UBND cấp xã có những thẩm quyền chức năng do HĐND xã trao cho nhưng UBND cấp xã có địa vị pháp lý riêng, có quyền hạn, chức năng trong quản lý hành chính Nhà nước chỉ thuộc riêng cơ quan hành chính. Mặt khác HĐND và UBND lại là một thể thống nhất không phân chia tạo thành chính quyền cấp xã, cùng phối hợp, giải quyết những vấn đề nảy sinh khi thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân, phối hợp trong việc quyết định việc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã theo đề nghị của Uỷ ban mặt trận tổ quốc cấp xã.
Như vậy giữa HĐND và UBND có mối quan hệ khăng khít, hữu cơ nhưng không đồng nhất, hòa lẫn mà mỗi loại cơ quan có những chức năng nhiệm vụ riêng do Nhà nước phân công.
1.1.3.3. Mối quan hệ giữa Ủy ban nhân dân với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Hiến pháp 2013, Điều 116 quy định: Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân động viên Nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.
Theo đó, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở cơ sở được mời dự các phiên họp của UBND khi bàn về các vấn đề có liên quan.
UBND tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước, giám sát các hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cư, cán bộ công chức nhà nước.
UBND thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của cơ sở cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
UBND và các thành viên của UBND có trách nhiệm giải quyết và trả lời các kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
1.1.3.4. Mối quan hệ của ủy ban nhân dân cấp xã với ủy ban nhân dân cấp trên
Uỷ ban nhân dân cấp xã có mối quan hệ trực tiếp với Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Đây là mối quan hệ trực tiếp trên dưới, quan hệ phục tùng và mệnh lệnh. Là cấp dưới, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải chấp hành các chỉ thị, quyết định và các văn bản khác của Uỷ ban nhân dân cấp trên và của Chính phủ trong quá trình điều hành hoạt động của mình, truyền đạt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước tới nhân dân trong xã, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ với Uỷ ban nhân dân cấp huyện, xin ý kiến Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong những vấn đề quan trọng đột xuất.
Là cấp trên, Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm phê chuẩn nhân sự của Uỷ ban nhân dân cấp xã, thực hiện sự chỉ đạo toàn diện trên mọi lĩnh vực hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Mối quan hệ về công tác chuyên môn nghiệp vụ là mối quan hệ dựa trên nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước. Các bộ phận chuyên môn của UBND cấp xã chịu sự chỉ đạo trực tiếp của các phòng ban chuyên môn của UBND cấp huyện.
Trong những năm qua nhờ phát huy mối quan hệ này tốt mà UBND cấp xã đã tranh thủ sự chỉ đạo kịp thời của các cơ quan chuyên môn của huyện, tỉnh và Trung ương.
Hiện nay, cùng với HĐND, UBND được tổ chức ở cả 3 cấp của chính quyền địa phương: tỉnh, huyện, xã (và các đơn vị hành chính tương đương) trong đó, UBND cấp xã là cơ quan hành chính ở cấp cuối cùng (cấp cơ sở). Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, UBND cấp xã có những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong các lĩnh vực quản lý ở địa phương. Trong đó, đáng lưu ý là:
– Trong lĩnh vực kinh tế: xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm trình HĐND cùng cấp phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó; lập dự toán thu ngân sách nhà nước, thu chi, phân bổ, điều chỉnh ngân sách địa phương trình các cấp phê duyệt và tổ chức thực hiện; quản lý và sử dụng đất đai, các công trình công cộng, huy động sự đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật…
– Trong nông – lâm – ngư nghiệp, thuỷ lợi, tiểu thủ công: tổ chức, hướng dẫn thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án ; tổ chức quản lý, khai thác, tu bổ, bảo vệ, ứng dụng khoa học – công nghệ đối với các công trình, nguồn nước thuộc các lĩnh vực trên…
– Trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải: xây dựng, tu bổ đường giao thông được phân cấp; quản lý việc cấp phép xây dựng và xử lý các vi phạm trong xây dựng và cơ sở hạ tầng; huy động sự đóng góp của nhân dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương…
– Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá và thể thao theo quy định của pháp luật (Điều 114).
– Tổ chức tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân; thực hiện nghĩa vụ quan sự; thực hiện các biện pháp đảm bảo anh ninh trật tự, an toàn xã hội; quản lý hộ khẩu, quản lý sự đi lại của nguời nước ngoài ở địa phương…
– Tổ chức, hướng dẫn và đảm bảo thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở địa phương theo quy định của pháp luật.
– Tuyên truyền giáo dục pháp luật, giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong dân cư; tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cá, kiến nghị của công dân; phối hợp với các cơ quan chức năng về thi hành án, về xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật…
Ngoài các nôi dung nói trên, UBND phường còn thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý đô thị như: quy hoạch đô thị; xây dựng nếp sống văn minh đô thị; phòng chống các tệ nạn xã hội; thanh tra và xử lý việc sử dụng đất đai; quản lý và bảo vệ cơ sở hạ tầng và xây dựng theo quy định của pháp luật về phân cấp…
Nhìn chung, nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp cơ sở về cơ bản cũng tương tự như của UBND các cấp trên nhưng chỉ khác về phạm vi hoạt động và thẩm quyền do đặc điểm của cấp hành chính.
- 1.2.2. Tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp xã hiện nay
Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân cấp xã cần phải có một cơ cấu, tổ chức khoa học và hợp lý, phát huy vai trò là nền móng của bộ máy hành chính nhà nước. Căn cứ Luật Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 thì Ủy ban nhân dân cấp xã có cơ cấu tổ chức và hoạt động với những nét cơ bản sau:
1.2.2.1. Cơ cấu của Ủy ban nhân dân cấp xã
Điều 122 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định: Ủy ban nhân dân cấp xã do Hội đồng nhân dân xã bầu ra, có từ 03 đến 05 thành viên, gồm có Chủ tịch, Phó chủ tịch và Uỷ viên.
Người đứng đầu Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cấp xã trực tiếp bầu ra. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, còn các thành viên khác của Ủy ban nhân dân cấp xã thì không nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân. Kết quả bầu các thành viên của Ủy ban nhân dân cấp xã phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn.
Trong nhiệm kỳ, nếu khuyết Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp giới thiệu người ứng cử Chủ tịch Ủy ban nhân dân để Hội đồng nhân dân bầu. người được bầu giữ chức chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân. quy định này nhằm tạo ra cơ chế linh hoạt và đảm bảo tính hiệu quả trong việc thực hiện chức năng quản lý và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước, khắc phục tình trang cục bộ địa phương. Điều này có mục đích tốt, tuy nhiên có thể sẽ gặp phải khó khăn về mặt tâm lý, người dân địa phương có thể cho rằng người địa phương khác đến không thể hiểu được tình hình của đời sống dân cư tại địa phương mình. Đây chính là một trong những vấn đề của cải cách bộ máy nhà nước.
Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra theo sự giới thiệu của chủ tịch Ủy ban nhân dân bằng hình thức bỏ phiếu kín.
Các thành viên của Ủy ban nhân dân cấp xã cũng do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra bằng hình thức bỏ phiếu kín, theo sự giới thiệu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
Tuỳ theo quy mô số dân ở các xã, phường, thị trấn mà có cơ cấu tổ chức khác nhau. Cụ thể:
* Ở các xã miền núi, hải đảo, có dân số từ 5000 người trở lên; xã đồng bằng, trung du có dân số từ 8000 người trở lên và xã biên giới:
Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân gồm 05 thành viên và được phân công như sau:
Một chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội ở xã.
Hai phó chủ tịch: Một phó chủ tịch phụ trách khố kinh tế, tài chính, xây dựng, giao thông, nhà đất và tài nguyên môi trường. Một phó chủ tịch phụ trách khối văn hoá – xã hội và các lĩnh vực xã hội khác
Các uỷ viên Ủy ban nhân dân: Một uỷ viên phụ trách công an. Một uỷ viên phụ trách quân sự.
* Ở các xã không thuộc diện nêu trên:
Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân gồm 03 thành viên: một chủ tịch, một phó chủ tịch và một uỷ viên. căn cứ vào lĩnh vực công việc được phân công theo quy định của pháp luật mà chủ tịch Ủy ban nhân dân xã phân công các thành viên phụ trách cho phù hợp với từng địa phương. trong nhiệm kỳ, Hội đồng nhân dân xã có thể ấn định thêm số lượng thành viên Ủy ban nhân dân cấp mình nhưng tổng số không vượt quá 05 thành viên và phải được chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn.
* Đối với Ủy ban nhân dân phường, thị trấn:
Cơ cấu tổ chức gồm 05 thành viên: Một chủ tịch, hai phó chủ tịch, hai uỷ viên và được phân công phụ trách công việc như sau:
Một chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quản lý công tác quy hoạch đô thị.
Hai phó chủ tịch: Một phó chủ tịch phụ trách khối kinh tế – tài chính xây dựng cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, nhà đất và tài nguyên môi trường. Một phó chủ tịch phụ trách khối văn hoá xã hội và các lĩnh vực xã hội khác.
Hai uỷ viên: Một uỷ viên phụ trách công an. Một uỷ viên phụ trách quân sự.
UBND cấp xã không có các cơ quan chuyên môn, giúp việc như ở cấp tỉnh và huyện. Thay vào đó là các Phó chủ tịch và Uỷ viên được phân công từng lĩnh vực và những công chức chuyên môn được bố trí theo quy định của pháp luật. Hiện nay, ở cấp xã có 7 loại công chức chuyên môn được quy định tại Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ gồm các chức danh: Trưởng Công an, Chỉ huy trưởng quân sự, Địa chính – Xây dựng, Văn phòng – Thống kê, Văn hoá – Xã hội, Tài chính – Kế toán, Tư pháp – Hộ tịch (trong đó 02 chức danh Trưởng Công an và Chỉ huy trưởng quân sự là ủy viên UBND theo cơ cấu).
1.2.2.2. Chức danh và số lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân cấp xã
Sau khi có Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/ND-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, bao gồm các chức danh hoạt động thuộc khối Đảng, khối Mặt trận – Đoàn thể và khối Ủy ban nhân dân. Riêng đối với các chức danh hoạt động thuộc UBND cấp xã gồm các chức danh sau:
– Chủ tịch UBND cấp xã;
– Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
– Các công chức chuyên môn UBND cấp xã:
+ Trưởng Công an;
+ Chỉ huy trưởng Quân sự;
+ Văn phòng – thống kê;
+ Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã);
+ Tài chính – kế toán;
+ Tư pháp – hộ tịch;
+ Văn hoá – xã hội.
– Về số lượng cán bộ, công chức cấp xã nói chung được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã. Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Tiêu chí phân loại dựa vào dân số, diện tích và các yếu tố đặc thù của các xã, phường, thị trấn. Cụ thể như sau:
+ Cấp xã loại 1: định biên không quá 25 người;
+ Cấp xã loại 2: định biên không quá 23 người;
+ Cấp xã loại 3: định biên không quá 21 người;
Trên cơ sở đó, số lượng cán bộ, công chức thuộc UBND cấp xã được bố trí bao gồm 05 định biên thành viên UBND (Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch, 02 Ủy viên) và các định biên cho các chức danh công chức UBND, số lượng bố trí các chức danh công chức được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH của Bộ Nội vụ – Bộ Tài chính và Bộ LĐTB&XH về Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP; theo đó, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao số lượng cán bộ, công chức cấp xã cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng xã, phường, thị trấn, không nhất thiết xã, phường, thị trấn nào cũng bố trí tối đa số lượng cán bộ, công chức quy định; đồng thời căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng xã, phường, thị trấn hướng dẫn việc kiêm nhiệm và việc bố trí những chức danh công chức được tăng thêm người đảm nhiệm. Riêng chức danh Văn hoá – xã hội và chức danh Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã) được bố trí 02 người cho một chức danh theo quy định của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP. Số công chức còn lại được bố trí phù hợp theo yêu cầu nhiệm vụ và đội ngũ cán bộ, công chức hiện có của xã, phường, thị trấn theo hướng ưu tiên bố trí thêm cho các chức danh Tư pháp – hộ tịch, Văn phòng – Thống kê, Tài chính – Kế toán, bảo đảm các lĩnh vực công tác, các nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền cấp xã đều có người đảm nhiệm.
Ngoài các chức danh, chức vụ nêu trên, lực lượng cán bộ, công chức xã còn có các đối tượng là Người hoạt động không chuyên trách do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tùy thuộc vào tình hình thực tế của từng địa phương, tương ứng với cấp xã loại 1 được bố trí tối đa không quá 22 người, cấp xã loại 2 được bố trí tối đa 20 người và cấp xã loại 3 được bố trí tối đa không quá 19 người. Đồng thời, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế độ phụ cấp. Mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định với mức không vượt quá hệ số 1,0 mức lương tối thiểu chung.
Đối với , chức danh, số lượng và chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách xã được quy định tại Quyết định số 10/2012/QĐ-UBND ngày 29/5/2012 của UBND .
- 1.2.3. Hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã
Hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã được quy định tại Quy chế làm việc mẫu ban hành kèm theo Quyết định số 77/2006/QĐ-TTg ngày 12/04/2006 của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm các nội dung cơ bản sau:
1.2.3.1. Nguyên tắc làm việc của Ủy ban nhân dân cấp xã
– Ủy ban nhân dân xã làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân và tinh thần chủ động, sáng tạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân. Mỗi việc chỉ được giao một người phụ trách và chịu trách nhiệm chính. Mỗi thành viên Ủy ban nhân dân xã chịu trách nhiệm cá nhân về lĩnh vực được phân công.
– Chấp hành sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nước cấp trên, sự lãnh đạo của Đảng ủy, sự giám sát của Hội đồng nhân dân xã; phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban nhân dân xã với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cùng cấp trong quá trình triển khai thực hiện mọi nhiệm vụ.
– Giải quyết các công việc của công dân và tổ chức theo đúng pháp luật, đúng thẩm quyền và phạm vi trách nhiệm; bảo đảm công khai, minh bạch, kịp thời và hiệu quả; theo đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định và chương trình, kế hoạch công tác của Ủy ban nhân dân xã.
– Cán bộ, công chức cấp xã phải sâu sát cơ sở, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp của nhân dân, có ý thức học tập để nâng cao trình độ, từng bước đưa hoạt động của Ủy ban nhân dân xã ngày càng chính quy, hiện đại, vì mục tiêu xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, nâng cao đời sống nhân dân.
1.2.3.2. Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Ủy ban nhân dân cấp xã.
* Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của tập thể Ủy ban nhân dân cấp xã
– Ủy ban nhân dân xã thảo luận tập thể, quyết định theo đa số các vấn đề được quy định tại Điều 124 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và những vấn đề quan trọng khác mà Pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân xã.
– Cách thức giải quyết công việc của Ủy ban nhân dân xã:
+ Ủy ban nhân dân xã họp, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề được quy định tại Điều 124 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và những vấn đề quan trọng khác mà Pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân xã tại phiên họp của Ủy ban nhân dân xã.
+ Đối với các vấn đề cần giải quyết khẩn cấp nhưng không tổ chức họp Ủy ban nhân dân được, theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Văn phòng Ủy ban nhân dân xã gửi toàn bộ hồ sơ của vấn đề cần xử lý đến các thành viên Ủy ban nhân dân đề láy ý kiến. Nếu quá nữa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân nhất trí thì Văn phòng Ủy ban nhân dân xã tổng hợp và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định và báo cáo trong cuộc họp gần nhất.
* Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của các thành viên Ủy ban nhân dân xã
– Trách nhiệm chung:
+ Tích cực, chủ động tham gia các công việc chung của Ủy ban nhân dân xã; tham dự đầy đủ các phiên họp của Ủy ban nhân dân, cùng tập thể quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân; tổ chức, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí; tăng cường kiểm tra, đôn đốc cán bộ, công chức xã, trưởng các khóm, ấp, tổ trưởng các tổ tự quản, tổ dân phố hoàn thành nhiệm vụ, thường xuyên học tập, nâng cao trình độ, nghiên cứu đề xuất với cấp có thẩm quyền về chủ trương, chính sách đang thi hành tại cơ sở;
+ Không được nói và làm trái với nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân và các văn bản chỉ đạo của cơ quan Nhà nước cấp trên. Trường hợp có ý kiến khác vẫn phải chấp hành, nhưng được trình bày ý kiến với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.
+ Trước khi tiếp xúc với các tổ chức nước ngoài đến thực hiện các dự án về kinh tế, xã hội tại địa phương, Ủy ban nhân dân xã phải báo cáo và xin ý kiến của chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.
Trên cơ sở nhiệm vụ chung của UBND, Quy chế làm việc của UBND cấp xã cũng quy định cụ thể trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của từng chức danh thành viên UBND. Gồm những nhiệm vụ chính như sau:
– Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Chủ tịch UBND xã: là người đứng đầu, lãnh đạo và điều hành mọi công việc của Ủy ban nhân dân, chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 127 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, trực tiếp phụ trách công tác tổ chức, nội chính; Triệu tập, chủ trì các phiên họp và các hội nghị khác của Ủy ban nhân dân; Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình công tác; Phân công nhiệm vụ, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ được giao; Quyết định những vấn đề quan trọng, liên quan đến nhiều nội dung công việc, những vấn đề đột xuất, phức tạp trên địa bàn; Ký ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền Ủy ban nhân dân cấp xã và thẩm quyền Chủ tịch Ủy ban nhân; Báo cáo, trao đổi công tác với Ủy ban nhân dân huyện, Đảng ủy, Hội đồng nhân dân Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã; Tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của nhân dân; Chịu trách nhiệm về công tác cải cách hành chính và tuyên truyền, phổ biến pháp luật của địa phương.
– Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Phó Chủ tịch UBND cấp xã: Phụ trách và chịu trách nhiệm công tác do Chủ tịch UBND phân công; Trao đổi, phối hợp giải quyết công việc với các thành viên UBND; báo cáo Chủ tịch quyết định những vấn đề vượt quá thẩm quyền; Kiểm tra, đôn đốc cán bộ, công chức, các trưởng thôn, khu phố thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật thuộc lĩnh vực đươc giao.
– Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp xã: Chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được phân công trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Ủy ban nhân dân xã; Nắm tình hình, báo cáo kịp thời với Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã về lĩnh vực công tác của mình và các công việc khác có liên quan; Phối hợp công tác với các thành viên khác của ủy ban nhân dân, các cán bộ, công chức có liên quan và giữ mối liên hệ chặt chẽ với cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân huyện để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
* Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của công chức cấp xã:
Ngoài việc thực hiện các quy định tại Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 30/10/2011 của Chính phủ, công chức cấp xã còn có trách nhiệm:
– Thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã và cơ quan chuyên môn cấp huyện về lĩnh vực được phân công.
– Nêu cao tinh thần trách nhiệm, phục vụ nhân dân; chủ động giải quyết kịp thời công việc theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao; chủ động phối hợp giải quyết nội dung công việc có liên quan đến cán bộ, công chức khác và kịp thời báo cáo Chủ tịch, Phó Chủ tịch xử lý.
– Tuân thủ Quy chế làm việc, nội quy cơ quan của Ủy ban nhân dân xã, chấp hành sự phân công công tác của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
– Chịu trách nhiệm bảo quản, giữ gìn hồ sơ tài liệu liên quan đến công tác chuyên môn để phục vụ cho công tác; thực hiện chế độ báo cáo bảo đảm kịp thời, chính xác tình hình về lĩnh vực công việc mình phụ trách theo quy định.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\BÀI ĐẠI HỌC\KHO SỐ 1\Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở Việt Nam\THAM KHẢO
Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn đến Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn đến Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn đến Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn đến Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn đến Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn đến


