Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một thực thể xã hội ra đời từ hàng ngàn năm lịch sử và là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có lịch sử ngàn năm văn hiến, tôn giáo tín ngưỡng, đã trở thành một bộ phận đặc sắc của đạo đức và văn hóa truyền thống. Với sự hội tụ của nhiều tôn giáo, cùng với tín ngưỡng, tôn giáo bản địa, giữa các tôn giáo có sự hòa hợp lẫn nhau. Hiến pháp năm 2013 tại Điều 24 quy định về Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Có thể thấy Nhà nước sử dụng các công cụ giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo hay không theo tôn giáo nào của công dân, bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật,quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của công dân. Vì Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân nên để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân và phát huy sức mạnh đại đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, Nhà nước đã ban hành chính sách tôn giáo đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân.
Những năm gần đây, hoạt động của các tổ chức tôn giáo và chức sắc, tín đồ trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, thuần túy tôn giáo, cơ bản tuân thủ pháp luật. Công tác thực hiện chính sách tôn giáo từng bước đi vào nề nếp. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền luôn quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tốt các chính sách tôn giáo. Tuy nhiên, các tôn giáo có xu hướng khôi phục lại cơ sở tôn giáo đã bị chiến tranh tàn phá, đẩy mạnh các hoạt động nâng cấp, trùng tu, xây dựng mới cơ sở thờ tự; các vụ việc khiếu kiện có liên quan đến đất đai tôn giáo có chiều hướng gia tăng.
Để khắc phục tình trạng trên, mặc dù Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã tăng cường chỉ đạo công tác tôn giáo nói chung và trọng tâm là thực hiện tốt các chính sách tôn giáo. Song tình trạng tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi còn nhiều hạn chế bất cập ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo của tỉnh là do việc tuyên truyền phổ biến, phân công, phối hợp thực hiện đến việc theo dõi kiểm tra, đánh giá thực hiện chính sách tôn giáo chưa được quan tâm đúng mức.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi là hết sức cần thiết và cấp bách hiện nay do đó tôi chọn vấn đề “Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi ” để làm luận văn thạc sĩ với mong muốn đóng góp làm giàu thêm lý luận thông qua kinh nghiệm thực tiễn về thực thi chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích
Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách tôn giáo, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo tại Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ
Làm rõ Những vấn đề lý luận về thực tiễn chính sách tôn giáo hiện nay; Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo tại tỉnh Quảng Ngãi; Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao, hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
– Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình hoàn thiện chính sách và thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.
– Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, từ năm 2005 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đối với tôn giáo; Hiến pháp 2013, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Nghị định 92/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08 tháng 11 năm 2012 Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, xuất phát từ thực tiễn tình hình thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp chính sách công, luận văn sử dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành như tôn giáo học, xã hội học tôn giáo, chính trị học tôn giáo kết hợp với các phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp tổng kết thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
– Ý nghĩa lý luận: Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách tôn giáo và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay.
– Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để xây dựng chủ trương, biện pháp và nâng cao thực hiện chính sách tôn giáo năng lực trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực tiễn chính sách tôn giáo.
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo tại tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao, hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
1.1. Tôn giáo, chính sách tôn giáo
1.1.1. Tôn giáo và hoạt động tôn giáo
1.1.1.1. Tôn giáo
Trong Văn kiện của Đảng nêu “Tôn giáo là hệ thống các quan niệm tín ngưỡng sùng bái một hay nhiều vị thần linh nào đó và những hình thức, lễ nghi thực hiện sự sùng bái ấy. Tôn giáo thuộc hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ hoàn cảnh kinh tế – xã hội cụ thể, trình độ nhận thức và tâm lý đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử”[1].
1.1.1.2. Hoạt động tôn giáo
Theo Điều 3, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQH do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 18/6/2004 quy định rõ: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức tôn giáo’’.
Khái niệm chính sách tôn giáo: là quan điểm, thái độ, các quyết định của Nhà nước với các công cụ giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo hay không theo tôn giáo nào của công dân, bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của công dân. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, Nhà nước ban hành chính sách tôn giáo là để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo
1.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo
Khi nghiên cứu về nguồn gốc của tôn giáo, C.Mác đã chỉ ra rằng:
Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con người chưa tìm thấy bản thân mình hoặc lại đánh mất bản thân mình một lần nữa. Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người. Nhưng con người không phải là một “sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là Nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo” [26, tr.569].
Qua sự phản ánh của tôn giáo, những lực lượng tự phát của tự nhiên và xã hội trở thành sức mạnh siêu nhiên có quyền uy tối thượng và đã tác động đến một cộng đồng, một nhóm xã hội có tổ chức. Tôn giáo chỉ ra đời khi xuất hiện giai cấp và có đấu tranh giai cấp. Do đó, khi nói về tôn giáo, V.I. Lênin đã định nghĩa: “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc” [64, tr.169].
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng dựa trên những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo, tín ngưỡng và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam. Nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đó là tư tưởng đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân . Tư tưởng đó thể hiện nhất quán cả trong lý luận và hoạt động thực tiễn của Người và đã trở thành nguyên tắc nền tảng xuyên suốt trong chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.
1.3. Quan điểm của Đảng, thể chế, chính sách của nhà nước về tôn giáo
1.3.1. Quan điểm của Đảng về tôn giáo
Các quan điểm của Đảng về tôn giáo thể hiện ở Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo cụ thể:
Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hai là, Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.
Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo.
1.3.2. Thể chế chính sách tôn giáo
Ở Việt Nam, Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Hiến pháp năm 1992 quy định khá đầy đủ các quyền của công dân trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 kế thừa quy định rõ và cụ thể hơn quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân. Như vậy, thể chế chính sách tôn giáo ở nước ta được quy định trong Hiến pháp-Đạo luật cơ bản của Nhà nước, được cụ thể hóa trong các Luật, Pháp lệnh của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và trong các văn bản quy phạm pháp luật của chính phủ, các Bộ, ngành. Như vậy thể chế chính sách của Nhà nước về tôn giáo khá đầy đủ, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước ban hành các chính sách tôn giáo.
1.4. Khái niệm, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách tôn giáo
– Khái niệm thực hiện chính sách tôn giáo: Thực hiện chính sách công nói chung, chính sách tôn giáo nói riêng là quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực. Đây là khâu, là bước đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách tôn giáo: Nó có nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách tôn giáo của Nhà nước, đưa chính sách tôn giáo của Nhà nước vào cuộc sống. Tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách tôn giáo…
– Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách tôn giáo: Hoạch định, xây dựng được chính sách tôn giáo đúng có chất lượng là rất quan trọng nhưng thực hiện đúng chính sách tôn giáo còn quan trọng hơn. Có chính sách tôn giáo đúng, nếu nó không được tổ chức thực hiện trên thực tế nó cũng trở thành vô nghĩa, trở thành khẩu hiệu suông. Nêú chính sách tôn giáo của Nhà nước không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng, thậm chí sự chống đối của các chức sắc tôn giáo và tín đồ đối với Nhà nước. Qua thực hiện chính sách tôn giáo mới biết được chính tôn giáo đó đúng hay không đúng, phù hợp hay không phù hợp, chính sách đó có đi vào cuộc sống hay không đi vào cuộc sống. Chính quá trình thực hiện chính sách tôn giáo với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống và nguyện vọng của tín đồ tôn giáo.
1.5. Nội dung các bước tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo
1.5.1. Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách tôn giáo.
Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách là nhiệm vụ đầu tiên, nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo: Hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo phụ thuộc vào chất lượng, tính chính xác, tính khả thi của bản kế hoạch thực hiện chính sách. Các cơ quan có nhiệm vụ triển khai thực thi chính sách tôn giáo từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện.
1.5.2. Phổ biến tuyên truyền chính sách tôn giáo.
Phổ biến tuyên truyền chính sách tôn giáo giúp cho các đối tượng được thụ hưởng chính sách như các chức sắc và tín đồ các tôn giáo cũng như đối với mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách tôn giáo; về tính đúng đắn của chính sách tôn giáo trong điều kiện, hoàn thành nhất định và về tính khả thi, tính ưu việt của chính sách tôn giáo để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu của Nhà nước.
1.5.3. Phân công phối hợp thực hiện chính sách tôn giáo.
Trong tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo phân công, phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng, tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách. Muốn tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo có hiệu quả cần phải tiến hành phân công phối hợp một cách chặt chẽ, hợp lý giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương và các cấp chính quyền địa phương. Cần phải phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp.
1.5.4. Duy trì chính sách tôn giáo
Duy trì chính sách tôn giáo là làm cho chính sách tôn giáo được tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế. Muốn cho chính sách được duy trì, đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực hiện và môi trường tồn tại.
1.5.5. Điều chỉnh chính sách tôn giáo
Điều chỉnh chính sách tôn giáo là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo. Theo quy định cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh bổ sung chính sách.
1.5.6. Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách tôn giáo
Kiểm tra về thực hiện chính sách tôn giáo nhằm bảo đảm được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường theo đúng qui định của pháp luật của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phát hiện kịp thời, kiên quyết xử lý nghiêm các vi phạm về tôn giáo.
1.5.7. Đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách tôn giáo
Tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách tôn giáo. Trong quá trình đó có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực hiện chính sách. Đánh giá tổng kết, sơ kết chính sách tôn giáo là kiểm điểm việc thực hiện các chính sách của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
1.6. Những yêu cầu cơ bản để thực hiện chính sách tôn giáo
Phải dựa trên quan điểm, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo; đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; Mọi tôn giáo phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Mọi hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ được đảm bảo. Mọi hoạt động mê tín dị đoan bị loại trừ; mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng đều bị xử lý nghiêm theo pháp luật.
1.7. Năng lực của các chủ thể tham gia chính sách
Vấn đề chủ thể và khách thể thưc hiện chính sách tôn giáo là một trong những nội dung quan trọng cần xác định rõ. Chủ thể thực hiện chính sách tôn giáo đó là các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống các cơ quan nhà nước các cấp; Khách thể trong thực hiện chính sách tôn giáo chính là các tổ chức, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành.

Chương 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. Đặc điểm, tình hình kinh tế – xã hội và tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ngãi
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên 5.131,5km2 bao gồm 14 huyện, thành phố với dân số khoảng 1,3 triệu người gồm các dân tộc kinh, H’re, Cor, CaDong và một số dân tộc khác.
2.1.1.2. Tình hình kinh tế – xã hội
Tình hình cơ cấu kinh tế – xã hội của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực và khả quan. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong giai đoạn 2011-2015 đạt 7,2%. GDP bình quân đầu người liên tục tăng cao trong giai đoạn 2011-2015. Tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh đạt những chuyển biến tích cực, song về cơ bản Quảng Ngãi vẫn còn là tỉnh nông nghiệp với tỷ trọng nông, lâm, thuỷ hải sản chiếm 14,7% cơ cấu kinh tế.
2.1.2. Đặc điểm, tình hình tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
2.1.2.1. Sơ lược các tôn giáo chính ở tỉnh Quảng Ngãi
– Tổng số cơ sở tôn giáo: 340 cơ sở. Trong đó: Phật giáo: 284; Công giáo: 18; Cao đài: 30; Tin lành: 09; các tôn giáo khác: 07.
– Tổng số chức sắc, tu sỹ: 407người. Trong đó : Phật giáo: 281 ; Công giáo: 25 ; Cao đài: 72 ; Tin lành: 29.
– Tổng số tín đồ: 255.938 người. Trong đó:Phật giáo: 219.884; Công giáo: 9.730; Cao đài: 10.963; Tin lành: 14.603; Các Tôn giáo khác: 758.
2.1.2.2. Hoạt động các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua
Tình hình hoạt động của các tôn giáo tập trung vào một số nội dung như tăng cường tuyên truyền mở rộng tín đồ; đẩy mạnh việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống tín đồ; công tác từ thiện – xã hội được các tôn giáo quan tâm thực hiện với mức độ, hình thức phù hợp với từng đặc thù của tôn giáo; các hoạt động gây rối, tung tin đồn nhảm, khiếu kiện, tổ chức những “đạo lạ”.
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
2.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
Để triển khai thực hiện Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành, thời gian qua Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy đảng, chính quyền, các sở ngành có liên quan và hội đoàn thể phối hợp triển khai thực hiện.
2.2.2. Thực trạng phổ biến, tuyên truyền chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
Trong thời gian qua, tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức 24 lớp với 4.208 lượt cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo tham gia; mở 34 lớp cho 5.712 lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo nhằm triển khai, quán triệt các chính sách tôn giáo. Công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến đã góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chính sách tôn giáo.
2.2.3. Thực trạng phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Ngãi trong thực hiện chính sách tôn giáo.
Để nhằm tăng cường trách nhiệm của các sở, ban, ngành, địa phương trong công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 228/QĐ-UBND ngày 01/10/2013 của UBND tỉnh ban hành quy định công tác phối hợp xử lý, giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Ban Tôn giáo tỉnh xây dựng và ký kết chương trình phối hợp với các tổ chức hội, đoàn thể như: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; Ban Dân vận Tỉnh ủy.
2.2.4. Thực trạng duy trì chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
Quá trình triển khai thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn tỉnh đã nâng cao được nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị về vấn đề tôn giáo; tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước, tuân thủ các quy định của địa phương và đúng Hiến chương của Giáo hội.
2.2.5. Thực trạng điều chỉnh chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
Quá trình thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Nghị định số 22/2005/NĐ-CP đặt ra một số tồn tại, hạn chế như có nội dung quy định không khả thi, có nội dung chưa phù hợp với thực tiễn. Trong khi chưa sửa đổi bổ sung Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, cần thiết phải sửa đổi bổ sung Nghị định số 22/2005/NĐ-CP để phù hợp với thực tế. Ngày 08/11/2012, Nghị định số 92/2012/NĐ-CP của Chính phủ ra đời, thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2013.
2.2.6. Thực trạng theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
Thông qua việc kiểm tra thường xuyên giúp cho UBND tỉnh nắm chắc được tình hình thực hiện chính sách tôn giáo, từ đó đánh giá khách quan về những điểm mạnh, những điểm yếu của công tác tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn; Đồng thời giúp cho Ban Tôn giáo phát hiện những thiếu sót trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách tham mưu cấp có thẩm quyền để điều chỉnh.
2.2.7. Thực trạng tổ chức đánh giá, tổng kết chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện Tỉnh đã chú trọng tới công tác đánh giá, định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, kế hoạch có liên quan đến công tác tôn giáo như: Tổng kết 08 năm thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; tổng kết 20 năm thực hiện Thông báo số 34 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác quản lý Nhà nước đối với đạo Cao đài; Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 01/2005/CT-TTg về một số công tác đối với đạo Tin Lành…
2.3. Kết quả thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
2.3.1. Thực hiện chính sách đối với tín đồ
2.3.2. Thực hiện chính sách đối với chức sắc nhà tu hành
2.3.3. Thực hiện chính sách đối với các tổ chức tôn giáo
2.3.4. Thực hiện chính sách đối với nơi thờ tự
2.3.5. Thực hiện chính sách đối với việc đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành
2.3.6. Thực hiện chính sách đối với hoạt động xã hội của tổ chức, cá nhân tôn giáo
2.3.7. Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế (quan hệ quốc tế) của tổ chức tôn giáo tín đồ, nhà tu hành, chức sắc.
2.4. Đánh giá chung
2.4.1. Đánh giá bản thân cái chính sách tôn giáo hiện hành: Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo (ưu điểm, hạn chế, bất cập, nguyên nhân của cái hạn chế bất cập).
Ưu điểm:
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo là dấu mốc quan trọng trong quy trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Pháp lệnh đã tạo hành lang pháp lý vững chắc trong công tác quản lý nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, đảm bảo cho hoạt động tôn giáo của tổ chức, chức sắc, tín đồ các tôn giáo diễn ra bình thường và tuân thủ pháp luật.
Hạn chế:
Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tiễn của việc thực hiện chính tôn giáo, có những vấn đề, nội dung mà Pháp lệnh chưa đề cập đến nên ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý và giải quyết các nhu cầu về hoạt động tôn giáo của một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo.
Nguyên nhân từ các quy định của Pháp lệnh
Đối với quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo có những điều, khoản, điểm nêu chưa rõ ràng, khó hiểu và khó vận dụng trong thực tiễn, ảnh hưởng nhất định đến công tác hướng dẫn, quản lý của cơ quan quản lý nhà nước các cấp.
2.4.2. Đánh giá chung về việc tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi (ưu điểm, hạn chế, bất cập, nguyên nhân của các hạn chế bất cập).
– Kết quả đạt được:
+ Làm cho cán bộ, đảng viên, công chức viên chức nhà nước và nhân dân nhất là chức sắc, tín đồ các tôn giáo tin tưởng vào quan điểm, đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng, pháp luật của Nhà nước về chính sách tôn giáo.
+ Sở Nội vụ (Ban Tôn giáo) đã phối hợp chặt chẽ với các ngành và các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương theo dõi nắm chắc và phối hợp xử lý tình hình tôn giáo kịp thời, sát đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
+ Tình hình an ninh trật tự ở các khu vực đông đồng bào có đạo nhìn chung ổn định; đông đảo chức sắc, tín đồ các tôn giáo phấn khởi, ngày càng tin tưởng vào đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
– Tồn tại:
Thứ nhất, nhận thức về tôn giáo và chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tôn giáo trong một bộ phận cán bộ chủ chốt của cấp ủy, chính quyền cơ sở còn hạn chế. Một số ít cấp ủy Đảng, chính quyền ở cơ sở còn biểu hiện cứng nhắc, mặc cảm đối với tôn giáo.
Thứ hai, công tác nắm tình hình và phản ánh tình hình hoạt động tôn giáo của một số cấp ủy, chính quyền còn chậm, chưa thường xuyên và kịp thời. Công tác thực hiện chính sách tôn giáo của một số chính quyền cơ sở còn lỏng lẻo, chưa sâu sát.
Thứ ba, công tác chính sách về đất đai có liên quan đến tôn giáo ở một số nơi còn hạn chế. Việc xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự và đặt các biểu tượng tôn giáo chưa có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan có liên quan từ việc cấp giấy phép, thanh tra, kiểm tra việc xây dựng.
Thứ tư, bộ máy cán bộ, công chức làm công tác thực hiện chính sách tôn giáo chưa đồng bộ, còn bất cập. Cơ quan thực hiện chính sách tôn giáo cấp tỉnh (Sở Nội vụ, Ban Tôn giáo) và cấp huyện (Phòng Nội vụ) còn bị động trong công tác tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét giải quyết các yêu cầu tôn giáo.
Nguyên nhân hạn chế
Thực tế hoạt động tôn giáo rất đa dạng, phức tạp, nhạy cảm, thường xuyên phát sinh những vấn đề mới, trong khi hệ thống pháp luật về tôn giáo đang trong quá trình hoàn thiện nên chưa bao quát hết được mọi nội dung hoạt động tôn giáo.
Hiện nay, nước ta chưa có Luật Tôn giáo, mới chỉ có Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và các Nghị định nên việc cụ thể hóa các chính sách của Nhà nước ở địa phương còn gặp nhiều khó khăn.
Việc đầu tư, quan tâm giải quyết cho thực hiện chính sách tôn giáo chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao. Vẫn còn rất nhiều bất cập về tổ chức bộ máy. Sự phối hợp của các cơ quan làm công tác thực hiện chính sách tôn giáo có lúc thiếu đồng bộ, chặt chẽ. Năng lực thực hiện chính sách tôn giáo của cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu.
Qua những thành công, hạn chế, cùng những nguyên nhân của nó trong thực hiện chính sách tôn giáo tại Quảng Ngãi cho thấy tính chất phức tạp của các hiện tượng nổi lên rất gay gắt trên nhiều lĩnh vực từ đất đai, xây dựng tới tranh chấp quyền quản lý, trông nom cơ sở thờ tự, phát triển tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số…
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở TỈNH QUẢNG NGÃI
3.1. Dự báo tình hình
Cùng với những nhu cầu về đời sống vật chất, nhu cầu về niềm tin tôn giáo cũng phát triển khá mạnh. Đặc biệt là sau khi đất nước ta hội nhập toàn diện và sâu sắc với quốc tế, nền kinh tế của chúng ta vận hành theo cơ chế thị trường một cách đầy đủ cũng là lúc xuất hiện nhiều luồng tư tưởng văn hóa tín ngưỡng tôn giáo khác nhau các tôn giáo phát triển có thể dẫn đến mức phức tạp. Một số tổ chức tôn giáo sẽ đẩy mạnh phát triển tín đồ. Hoạt động của các tổ chức, cá nhân người nước ngoài có liên quan đến tôn giáo.
3.2. Phương hướng đổi mới thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi thời gian tới.
3.2.1. Triển khai và thực hiện đúng, đầy đủ các quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương
Đối với tỉnh Quảng Ngãi, để làm tốt và có hiệu quả công tác này, trên cơ sở bám sát các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, đồng thời căn cứ vào thực tế tình hình diễn biến hoạt động của các tôn giáo tại địa bàn tỉnh, Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ đã tham mưu cho UBND tỉnh từng bước xây dựng và triển khai có hiệu quả hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước về tôn giáo thực tế tại địa phương.
3.2.2. Thực hiện theo đúng tinh thần chỉ đạo tại Nghị quyết 25 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo
Công tác này rất được UBND tỉnh quan tâm và quán triệt đồng bộ trong hệ thống chính trị. Tranh thủ được sự ủng hộ, đồng tình và tham gia của chức sắc các tôn giáo, của các tổ chức Giáo hội đối với các chủ trương, cách giải quyết của chính quyền địa phương, “dùng chính tôn giáo để giải quyết vấn đề tôn giáo” là phương pháp nền tảng, chủ yếu trong công tác tôn giáo tại tỉnh Quảng Ngãi. Công tác xây dựng cốt cán cũng được triển khai đồng bộ ở tất cả các tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
3.2.3. Chú trọng kiện toàn tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, được sự quan tâm và chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh, công tác tổ chức, bộ máy làm công tác tôn giáo về cơ bản đã được kiện toàn, củng cố.
3.2.4. Nâng cao chất lượng của công tác phối hợp giữa các Ban, Ngành và chính quyền các cấp tại địa phương trong công tác tôn giáo
Vì thế để có quan điểm toàn diện và giải quyết hợp lý, hợp tình, đúng chủ trương chính sách, đúng pháp luật, hầu hết các vấn đề lớn, quan trọng liên quan đến lĩnh vực tôn giáo trên địa bàn tỉnh trước khi được tham mưu đến lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh, đều có sự phối hợp thống nhất của các Ban, Ngành liên quan.
3.2.5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về tôn giáo cho cán bộ cơ sở và chức sắc, tín đồ, đồng bào theo đạo
Để góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật về tôn giáo cho cán bộ cơ sở và đồng bào theo đạo tại tỉnh Quảng Ngãi. Hằng năm, Ban Tôn giáo tỉnh luôn chủ động xây dựng Kế hoạch chi tiết về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo và chức sắc, tín đồ, chức việc các tôn giáo.
3.2.6. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về tôn giáo
Trong thời gian qua, trên cơ sở xác định thủ tục hành chính là một thao tác quan trọng trong quản lý nhà nước, để hướng dẫn hoạt động của các tổ chức, tín đồ tôn giáo diễn ra theo đúng quy định pháp luật.
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi trong bối cảnh hiện nay.
3.3.1 Đổi mới nhận thức đầy đủ ý nghĩa tầm quan trọng của chính sách tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo
Vì hệ thống chính trị nói chung, đội ngũ làm công tác thực hiện chính sách tôn giáo nói riêng có nhận thức đúng đắn và nắm vững đường lối, chính sách về tôn giáo của Đảng và nhà nước thì mới thực hiện đúng, có hiệu quả và biết được những sơ hở thiếu sót trong công tác thực hiện chính sách tôn giáo. Tuyên truyền phổ biến quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước về tôn giáo.
3.3.2. Đổi mới cách thức, phương pháp tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo.
Ở đâu và khi nào tổ chức đảng, chính quyền vững mạnh thì việc thực hiện chính sách tôn giáo sẽ đạt hiệu quả cao, và ngược lại. Vì hoạt động tôn giáo là vấn đề hết sức nhạy cảm, các cấp ủy Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện. Cần phải xây dựng lực lượng chính trị ở cơ sở đủ mạnh để đấu tranh chống lại những hành động phá hoại sự đoàn kết toàn dân, trong đó có lực lượng lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo. Từ đó cần đổi mới cách thức, phương pháp tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo.
3.3.3. Tuyên truyền giáo dục xây dựng nhân tổ tích cực trong tín đồ và chức sắc, tôn giáo
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy để chính sách tôn giáo của Nhà nước thực hiện có hiệu quả cao cần phải quan tâm đến các chức sắc, tu sĩ, chức việc tôn giáo vì họ là lực lượng có uy tín và được tín đồ tin cậy. Bên cạnh phương châm “Kiên trì – đồng bộ – linh hoạt – đúng pháp luật”, công tác đối với chức sắc cần phải thực hiện phương châm: “Gần – Hiểu – Cảm hóa – Bồi dưỡng và Sử dụng”.
3.3.4. Xây dựng, đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hiện chính sách tôn giáo cho đội ngũ cán bộ công chức làm công tác tôn giáo.
Xuất phát từ nhận thức về thực trạng việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta vừa qua, về yêu cầu của việc đảm bảo chính sách đó ở thời kỳ phát triển mới, Đảng ta đã xem đổi mới một cách căn bản và toàn diện đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo là một vấn đề cấp bách.
3.3.5. Phát triển kinh tế – xã hội nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào theo đạo.
Đây là giải pháp cơ bản, vừa mang tính cấp bách trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài đối với công tác tôn giáo. Bởi vì, tỉnh Quảng Ngãi với hơn 2/3 dân số là nông dân, điều kiện kinh tế – xã hội tuy đã được cải thiện song còn không ít khó khăn. Các cấp chính quyền tỉnh cần đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình, đề án để ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần vùng đồng bào các tôn giáo, vùng dân tộc miền núi.

KẾT LUẬN
Chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nguyên tắc cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo. Thực hiện chính sách tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng của Chính sách tôn giáo. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu làm thế nào để quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo và chính quyền các cấp phải phục vụ tốt nhất cho quá trình đổi mới ở nước ta, vừa đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, vừa ngăn chặn, đẩy lùi những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm ảnh hưởng đến lợi ích, danh dự của quốc gia, dân tộc.
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua, việc thực hiện chính sách tôn giáo đã được các cấp uỷ đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở quan tâm và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cũng còn một số hạn chế, chưa đáp ứng kịp yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tôn giáo trong tình hình mới. Do vậy, việc quan tâm tới thực hiện chính sách tôn giáo, từ vấn đề thể chế hoá chính sách tôn giáo của Nhà nước, tăng cường các yếu tố, điều kiện vật chất cho đến xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ vẫn là vấn đề luôn đặt ra với cả tính chất tình thế và lâu dài.
Từ những yêu cầu trên, luận văn đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp cụ thể đối với việc thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi, qua đó nhằm phát huy những thành tựu và khắc phục những hạn chế của thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi. Hy vọng rằng luận văn sẽ góp một phần nhỏ để cùng các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Ngãi làm tốt việc thực hiện chính sách tôn giáo trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\LUAT HINH SU DOT 2\CHINH SACH CONG\NGUYEN THI HOAI TRUNG


