Thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế. Nền kinh tế của một đất nước chỉ có thể phát triển và lớn mạnh khi các doanh nghiệp không ngừng lớn mạnh. Hiện nay, nước ta đang trong tiến trình trở thành nền kinh tế thị trường được quản lý bởi Nhà nước, trong đó có sự tham gia và đóng góp tích cực của khu vực kinh tế tư nhân. Cùng với đó, Việt Nam đã tham gia nhiều Hiệp định thương mại khu vực và quốc tế, đặc biệt là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã tạo ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân (DNTN) mở rộng thị trường, học hỏi kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, có cơ hội áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới trên thế giới.
Tuy nhiên, những tồn tại và hạn chế trong hệ thống chính sách của Việt Nam đã bộc lộ rõ trong bối cảnh gia nhập các nền kinh tế hàng đầu trên thế giới, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề của chính sách phát triển doanh nghiệp từ các nền kinh tế đó để rút ra bài học kinh nghiệm áp dụng cho phù hợp với điều kiện và thực tiễn của Việt Nam.
Song song với đó, tại dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng XII đã đề cập nhiều vấn đề quan trọng, trong đó định hướng rõ các chính sách về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, và từ đó tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa trong nhiệm kỳ tới. Các chính sách đó là động lực và cũng là điều kiện để đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển (R&D), ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến để nâng cao năng suất lao động cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng.
Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần vận dụng tối đa lợi thế có được từ các chính sách của Nhà nước nhằm nâng cao phương thức quản lý, quản trị hiện đại, phát huy tiềm năng của con người và khuyến khích tinh thần sản xuất kinh doanh của người lao động để chủ động khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng, từng bước tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với thành phố Đà Nẵng, sau những năm chia tách, thành phố gặp rất nhiều khó khăn, thách thức nhưng thành phố đã tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, vượt qua khó khăn, thách thức và giành được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, nền kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, cơ cấu nguồn thu đã có sự chuyển biến tích cực tăng theo nguồn thu nội địa mà trong đó thu từ thuế tăng trưởng theo hướng ổn định, bền vững. Đặc biệt, năm 2014, tổng thu nội địa trong cân đối ngân sách của Đà Nẵng đạt 8.543 tỉ đồng, vượt 373 tỉ đồng so với dự toán. Đạt được kết quả trên là sự vào cuộc của chính quyền thành phố thông qua những chính sách đột phá để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, đồng thời có sự tham gia đóng góp tích cực của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng trên địa bàn thành phố.
Với một thành phố năng động, cơ sở hạ tầng được trang bị khá tốt, môi trường đầu tư đã được cải thiện đáng kể như thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, các chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân trong thời gian qua chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức; nhiều chính sách chưa đi vào cuộc sống; chưa có nhiều doanh nghiệp tư nhân trở thành các Tập đoàn, doanh nghiệp thật sự lớn mạnh; sản phẩm xuất khẩu chưa nhiều; phát triển doanh nghiệp tư nhân chưa tương xướng với sự phát triển của thành phố. Tôi nhận thấy việc nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn cấp bách.
- Tình hình nghiên cứu của đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
– Làm rõ cơ sở đề lý luận và thực trạng thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân; từ đó đề xuất các giải pháp điều chỉnh chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Làm rõ cơ sở lý luận của chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân.
– Làm rõ thực trạng thực hiện các chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân ở thành phố Đà Nẵng; phát hiện những mặt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân hạn chế giai đoạn 2010 – 2015.
Đề xuất một số điều chỉnh chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Giới hạn phạm vi nội dung: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số chính sách phát triển các doanh nghiệp tư nhân ở thành phố Đà Nẵng.
– Giới hạn thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Đà Nẵng từ 2010 – 2015, đề xuất điều chỉnh chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân đến 2020.
– Giới hạn không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp so sánh tổng hợp, chỉ số năng lực cạnh tranh của thành phố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp tư nhân (DNTN) của thành phố Đà Nẵng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Các thông tin được thu thập từ báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đà Nẵng. Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng, Báo cáo của VCCI, UBND thành phố Đà Nẵng, Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Đà Nẵng, Trung tâm thông tin tư liệu Đại học Đà Nẵng, tạp chí chuyên ngành và các thông tin từ các nghiên cứu liên quan. Luận văn đã sử dụng phương pháp này để thu thấp số liệu về những kết quả đạt được cũng như những hạn chế của công tác quản lý nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu: Sử dụng phương pháp đối thoại với một đối tượng nhằm thu thập thông tin: gôm 50 mẫu (người).Trong đó 20 người là cán bộ quản lý của các Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Công thương, Sở Lao động thương binh và xã hội, Quỹ Đầu tư, Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất, cán bộ phòng Kinh tế ngành, Văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng và 30 chủ doanh nghiệp tư nhân
5.2.3. Phương pháp thống kê: Số liệu từ dữ liệu thứ cấp thu thập được từ các phương pháp trên và kết hợp với phương pháp thống kê, so sánh, tiến hành xử lý các dữ liệu từ đó đưa ra các nhận xét đánh giá về những thành công hay hạn chế của việc thực thi các chính sách quản lý nhà nước đối với phát triển DNTN.
5.2.4. Phân tích tổng hợp: Phân tích tổng hợp là phương pháp thông qua việc phân tích để đưa ra những đánh giá chung nhất, có tính khái quát nhất. Phương pháp này dùng để phân tích thực trạng phát triển DNTN tại thành phố Đà Nẵng. Từ đó rút ra những đánh giá khái quát nhất về chính sách quản lý nhà nước đối với phát triển DNTN để người đọc có cái nhín tổng quát hơn về các chính sách này.
6 .Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân vào thực tiễn của một địa phương đặc thù.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc điều chỉnh chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân phát triển.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các viện nghiên cứu và các trường đại học.
7. Cơ cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân.
Chương 2: Thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016 – 2020.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
– Khái niệm doanh nghiệp
Khoản 7 và 16 Điều 4 Luật doanh nghiệp ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì doanh nghiệp được hiểu như sau: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
– Khái niệm doanh nghiêp tư nhân
Khoản 1 Điều 183 Luật doanh nghiệp ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì Doanh nghiệp tư nhân được hiểu như sau: Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Việc đưa ra khái niệm chuẩn xác về DNTN có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đối tượng được hưởng các chính sách hỗ trợ.
Quan niệm về phát triển doanh nghiệp tư nhân: Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang ngày càng được mở rộng tại Việt Nam, việc phát triển nguồn lực nội tại, trọng tâm là các doanh nghiệp tư nhân, đang trở thành đòi hỏi bức thiết.
Phát triển doanh nghiệp: là quá trình hoàn thiện về mọi mặt của doanh nghiệp, bao gồm: vốn, lao động, công nghệ, thị trường, nguồn nguyên liệu, văn hoá, môi trường, xã hội… trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo lợi nhuận cao hơn.
Phát triển doanh nghiệp tư nhân: là một quá trình nỗ lực của cả cơ quan quản lý nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, nhằm gia tăng về số lượng, quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân.
DNTN góp phần quan trọng trong việc giải phóng và phát triển sức sản xuất.
DNTN góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
DNTN góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng kinh tế thị trường nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế.
DNTN là nơi đào tạo và sàn lọc các nhà quản lý doanh nghiệp thông qua thực tiển sản xuất kinh doanh, góp phần xây dựng một đội ngũ các doanh nhân, lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp có chất lượng cho địa phương.
– Khái niệm: Chính sách phát triển Doanh nghiệp tư nhân là tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề về phát triển doanh nghiệp tư nhân.
– Vai trò của chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân:
Là một công cụ, một giải pháp hữu hiệu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế – xã hội và phục vụ người dân… đồng thời chính sách phát triển DNTN còn có vai trò tăng cường sự phối hợp giữa các cấp chính quyền vì mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
Nội dung của chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân thường bao gồm những nội dung về: hỗ trợ pháp lý; hỗ trợ tài chính; hỗ trợ đổi mới, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ nguồn nhân lực; hỗ trợ thị trường, kết nối cung cầu.
Những chính sách hỗ trợ của địa phương cũng như chính sách của nhà nước không đi sát vào thực tế hoạt động của từng TPKT sẽ dẫn đến mất công bằng. Chính sách không rõ ràng minh bạch sẽ dẫn đến thiếu tin tưởng vào cơ quan quản lý, tình trạng này có thể đưa các DNTN rất khó khăn trong vấn đề cạnh tranh với các TPKT khác.
– Mục tiêu của chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân
Vừa đảm bảo quyền lợi của đại đa số cá nhân trong xã hội và thể hiện được quyền lực của Nhà nước. Chính sách công ra đời nhằm giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong xã hội, chính sách công phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các nhóm hoặc mang lại lợi ích cho đại đa số nhân dân trong xã hội.
– Nội dung của chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân
Chính sách hỗ trợ pháp lý: Vai trò của cải cách hành chính đối với sự phát triển của DNTN được thể hiện chủ yếu ở việc làm giảm thời gian và chi phí của DNTN trong quá trình gia nhập thị trường cũng như tiến hành các hoạt động thương mại.
Chính sách hỗ trợ tài chính: Theo đánh giá Việt Nam có nhiều thay đổi tích cực trong lĩnh vực vay vốn tín dụng bởi đã áp dụng hệ thống đăng ký thông tin tín dụng giúp lưu trữ các hồ sơ tín dụng thuận lợi hơn, giúp cung cấp cho các tổ chức tín dụng có thêm các hệ thống thông tin về tín dụng và khả năng trả nợ của các DNTN tiềm năng.
Chính sách hỗ trợ đổi mới, chuyển giao công nghệ: Sự phát triển của khoa học và công nghệ và đặc biết là công nghệ thông tin đã mở ra khả năng rộng lớn hơn sự phát triển của các DNTN. Nó tạo điều kiện và khả năng cho DNTN có thể trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, năng động, linh hoạt hơn trong việc lựa chọn đưa vào ứng dụng và khai thác công nghệ mới.
Chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực: Năng lực của chủ DNTN thể hiện ở việc tối ưu hóa cơ cấu tổ chức, xây dựng chiến lược và tổ chức thực hiện chiến lược có hiệu quả cao.
Chính sách hỗ trợ thị trường, kết nối cung cầu: Thị trường với nhu cầu đa dạng, thay đổi nhanh, khối lượng nhu cầu không lớn sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động của DNTN này. Ngược lại, thị trường dụng lượng lớn, chủng loại ít, tương đối ổn định sẽ là cơ sở cho các DNTN lớn tham gia tăng cường tính cạnh tranh, làm khó khăn cho hoạt động của các DNTN.
Nhân tố con người đóng vai trò quyết định tạo dựng cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân. Hai phương diện của chủ thể ảnh hưởng đến khả năng của nhà nước với việc thực hiện chính sách là sự tự chủ và năng lực của tổ chức. Sự thống nhất trong và giữa các cấp, ngành, cơ quan nhà nước là yếu tố quyết định năng lực tổ chức nhà nước, mức độ chuyên môn của tổ chức nhà nước là thiết yếu thúc đẩy năng lực nhà nước.
Tóm lại, Sự hỗ trợ của chính phủ và chính quyền địa phương có tác động rất lớn đến việc hình thành môi trường kinh doanh thuận lợi cho sự ra đời và phát triển DNTN.
Điều kiện vật chất ngày càng có ý nghĩa quan trọng để cùng với nguồn nhân lực và các yếu tố khác thực hiện thành công chính sách phát triển DNTN. Các hoạt động kinh tế – xã hội ngày càng được tăng cường về quy mô và trình độ thì yêu cầu về điều kiện vật chất cũng tăng lên để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội. Trong thực tế, nếu thiếu các điều kiện vật chất, kỹ thuật, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao thì việc tuyên truyền, phổ biến về thực hiện chính sách phát triển DNTN khó có thể chuyển tải những nội dung của chính sách đến với các DNTN một cách thường xuyên và đạt hiệu quả được.
– Chính sách hỗ trợ pháp lý
– Chính sách hỗ trợ tài chính
– Chính sách hỗ trợ đổi mới, chuyển giao công nghệ
– Chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực
– Chính sách hỗ trợ thị trường, kết nối cung cầu
- 1.3. Kinh nghiệm thực thi chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân của một số tỉnh, thành ở Việt Nam
- 1.3.1. Thực thi chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân tại Hà Nội
- 1.3.2. Thực thi chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Hồ Chí Minh
- 1.3.3. Thực thi chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân tại tỉnh Bình Dương
- 1.3.4. Bài học kinh nghiệm để thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân thành phố Đà Nẵng
- 1.3. Kinh nghiệm thực thi chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân của một số tỉnh, thành ở Việt Nam
Sau khi tổng hợp kinh nghiệm của các địa phương về phát triển DNTN, một số bài học kinh nghiệm rút ra để thực hiện chính sách phát triển DNTN cho Đà Nẵng như sau:
– Cắt giảm thủ tục hành chính
– Trợ giúp những khó khăn về thuế, hải quan
– Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn
– Hỗ trợ DNTN đẩy mạnh liên kết, hợp tác
– Hỗ trợ đào tạo tư vấn về quản lý
– Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
– Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ
Một số điểm cần khắc phục:
– Cần xây dựng kế hoạch phát triển DNTN địa phương, phù hợp với nguồn vốn, điều kiện công nghệ, kỹ năng hiện có của địa phương.
– Tăng cường nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền về vị trí, vai trò của DNTN trong phát triển kinh tế – xã hội.
– Cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ các DNTN tham gia vào thị trường một cách thuận lợi hơn.
– Cần kết hợp cả sự hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp của địa phương. Trước mắt, cần mở rộng quy mô, đổi mới công nghê, nâng cao trình độ, kỹ năng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận thị trường, định hướng thị trường cho DNTN. Đây là tiền đề quan trọng giúp DNTN tồn tại trong môi trường cạnh tranh và nhất là khi tham gia TPP. Sau đó, sẽ chuyển dần sang hình thức hỗ trợ gián tiếp bằng các công cụ pháp luật, chính sách, thể chế và lực lượng kinh tế nhà nước nhằm định hướng phát triển cho DNTN.

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Trong những năm qua, nhờ các chủ trương đúng đắn của Đảng, chính sách thông thoáng kịp thời của Nhà nước, cũng với nổ lực của chính quyền thành phố Đà Nẵng nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Nhờ những chính sách phù hợp với tình hình thực tế mà các DNTN của Đà Nẵng đã có sự phát triển đáng kể về mặt số lượng, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của thành phố Đà Nẵng,
Trước thời kỳ đổi mới khu vực KTTN không được pháp luật bảo vệ và khuyến khích phát triển. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) và nhất là từ khi ban hành luật DNTN và Luật Công ty (thông qua ngày 21/12/1990 và có hiệu lực từ ngày 15/4/1991), Luật Doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày 01/01/2000), cùng nhiều chính sách khuyến khích phát triển khác KTTN từng bước hồi sinh và có những bước phát triển mạnh mẽ trở lại.
Tỷ lệ các DNTN đăng ký hoạt động sản xuất ngày càng nhiều cho thấy chính quyền thành phố đã cơ chế thông thoáng, áp dụng chính sách hỗ trợ pháp lý một cách có hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp làm thủ tục dễ dàng, từ đó thu hút nhiều hơn cá nhân tham gia làm kinh tế. Tuy nhiên vẫn còn nhiều các DNTN không đăng ký hoạt động sản xuất, chứng tỏ việc thẩm định của các cơ quan chức năng đối với năng lực của các cơ sở xin cấp phép kinh doanh còn khá lỏng lẻo, quá trình làm thủ tục giấy tờ còn qua nhiều khâu, nhiều cửa, và mất nhiều thời gian, tiền của đã gây ra tâm lý bất mãn, né tránh thực hiện.
Song song với việc đánh giá về tình hình đăng ký cũng như số lượng các DNTN thực tế hoạt động trong ngành công nghiệp và theo địa bàn thì việc phân tích về tình hình vốn đăng ký hoạt động cũng là một chỉ tiêu hết sức quan trọng cần được quan tâm, nó thể hiện quy mô và khả năng sản xuất cũng như sức cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân trong nước so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Thực trạng các DNTN đăng ký sản xuất và đi vào hoạt động phản ánh đúng tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý của thành phố trong điều kiện hiện nay. Vấn đề đặt ra là cần phải làm sao làm cho các DNTN từ thực tiễn có đăng ký kinh doanh đi vào hoạt động ngày càng có hiệu quả, phát huy vai trò của chính sách một cách tốt nhất.
Đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp chung của Thành phố.
Đóng góp vào ngân sách và GDP của các DNTN từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.
Đóng góp vào kim ngạch xuất – nhập khẩu từ thực tiễn.
Chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ nhằm tăng cường hoạt động chuyển giao công nghệ, nâng cao khả năng tiếp nhận công nghệ, làm chủ công nghệ được chuyển giao và gắn hoạt động nghiên cứu triển khai với việc hỗ trợ DNTN đổi mới công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Xác định được tầm quan trọng của việc đổi mới nâng cao năng lực công nghệ và trình độ kỹ thuật, thành phố Đà Nẵng đã có những chính sách hỗ trợ về đầu tư, đổi mới trang thiết bị, chuyển giao công nghệ kịp thời giúp DNTN có điều kiện phát triển, thể hiện qua các văn bản.
Trong những năm qua các DNTN không những tăng lên về số lượng hộ, DN, có doanh thu tăng lên mà doanh thu bình quân/doanh nghiệp, hộ cá thể cũng tăng lên chứng tỏ ngoài việc phát triển theo quy mô, các DNTN còn có sự phát triển về chất lượng ngay trong nội tại từng doanh nghiệp, từng hộ kinh doanh.
Tỷ trọng lao động có tay nghề/tổng lao động ở trong khu vực kinh tế tư nhân còn rất thấp, nguyên nhân là do đội ngủ quản lý DNTN còn hạn chế, chưa đáp ứng được biến động của thị trường, nhân viên thiếu kỹ năng, kiến thức tiếp thị và đặc biệt là thiếu thông tin về thị trường. Điều này đã gây khó khăn cho DNTN trong bối cảnh cạnh tranh vùng, khu vực và quốc tế đang diễn ra gay gắt như hiện nay. Với tình hình đó, lãnh đạo thành phố đã kịp thời ban hành các chủ trương, chính sách như: Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 23/11/2009 phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Quyết định số 1323/QĐ-BNN-TCCB ngày 17/6/2014 về phê duyệt đề án phát triển thị trường lao động thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2014 – 2020. Cụ thể, bố trí 153,3 triệu đồng để các Sở, ban, ngành hỗ trợ đào tạo lao động, tập huấn nâng cao năng lực quản trị và kinh doanh cho hơn 200 lượt doanh nghiệp tham gia; ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức 30 phiên chợ việc làm qua đó các doanh nghiệp tuyển dụng 9.780 lao động mới đưa vào làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố. Ngoài ra, để hỗ trợ, tạo điều kiện cho các DNTN trên địa bàn thành phố tham gia cung ứng các dịch vụ công. Năm 2014, các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách thành phố đã ưu tiên sử dụng những vật tư do các DNTN đóng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng sản xuất. Cụ thể: UBND huyện Hòa Vang đã ưu tiên 05 doanh nghiệp có năng lực trên địa bàn huyện tham gia cung cấp nguyên vật liệu xây dựng đường giao thông nông thôn 2014; có 22/35 công trình xây dựng cơ bản do UBND huyện Hòa Vang làm chủ đầu tư được ưu tiên 14 doanh nghiệp có năng lực trên địa bàn huyện thi công; UBND quận Liêu Chiểu ưu tiên giao 11 công trình do UBND quận làm chủ đầu tư cho 04 doanh nghiệp và giao 03 gói thầu hương trình Nông thôn mới cho 02 doanh nghiệp có năng lực trên địa bàn quận thi công; UBND quận Cẩm Lệ ưu tiên giao 10 công trình xây dựng cơ bản do UBND quận làm chủ đầu tư cho các doanh nghiệp xây dựng có năng lực trên địa bàn quận thi công với tổng vốn 11 tỷ đồng.
Với chủ trường, chính sách kịp thời, đúng đắn phù hợp về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm giúp hỗ trợ cho các DNTN phát triển.
Để đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác quản lý, kết nối sản phẩm của DNTN cung ứng đến với các doanh nghiệp có nhu cầu trong và ngoài địa bàn, tạo thuận lợi cho việc mua nguyên liệu, bán thành phẩm, dịch vụ đầu vào và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của nhau, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã có chính sách kết nối cung cầu, hỗ trợ thị trường cho các khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân thể hiện qua các văn bản như:
Quyết định số 4947/QĐ-UBND về việc xây dựng Đề án kết nối cung cầu các sản phẩm của thành phố Đà Nẵng đến năm 2020.Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 24/02/2014 của UBND Tp. Đà Nẵng về việc ban hành Chương trình hoạt động “Năm doanh nghiệp Đà Nẵng 2014”.
Quyết định số 634/QĐ-TTg ngày 29/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam giai đoạn 2014-2020”. Quyết định số 8374/QĐ-UBND ngày 01/11/2010 của UBND thành phố Đà Nẵng phê duyệt Quy hoạch phát triển một số ngành dịch vụ thành phố Đà Nẵng đến năm 2020.
Với các chủ trường chính sách đó, thành phố tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại để củng cố, giữ vững và mở rộng thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển; tổ chức hoạt động giao thương giữa doanh nghiệp Đà Nẵng với các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước, tổ chức các đoàn doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm; hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch thương mại điện tử, chương trình khuyến công…Đã triển khai nhiều hoạt động được cộng đồng doanh nghiệp hưởng ứng tích cực, riêng trong 9 tháng đầu năm 2014, hỗ trợ 10 doanh nghiệp xây dựng website và tham gia sàn giao dịch thương mại điện tử; hỗ trợ 20 lượt doanh nghiệp tham gia Hội chợ trong nước; tổ chức 02 phiên chợ hàng Việt.
– Tổ chức Hội nghị liên doanh liên kết – kết nối cung cầu – Tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Đà Nẵng. Tạo cơ hội cho các DNTN có điều kiện gặp gỡ ký kết các hợp đồng thương mại, ký kết thỏa thuận hợp tác kết nối với tổng giá trị trên 100 tỷ đồng; đồng thời có cơ hội giao lưu học hỏi kinh nghiệm sản xuất kinh doanh với các nước trong khu vực và quốc tế.
– Về xúc tiến đầu tư, du lịch: Tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư có năng lực đầu tư vào địa bàn thành phố, bên cạnh đó xúc tiến du lịch luôn được lãnh đạo thành phố chú trọng, riêng năm 2014, đã tổ chức cho 17 doanh nghiệp tham dự Hội chợ du lịch quốc tế Hà Nội 2014, Hội chợ Du lịch quốc tế ITE-HCMC 2014, giới thiệu bộ nhận diện thương hiệu du lịch để hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá, khai thác thị trường; tổ chức Roadshow để thúc đẩy khai thác khách du lịch.
+ Vị trí địa lý thuận lợi
+ Cơ sở hạ tầng tốt
+ Cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo môi trường tốt để doanh nghiệp phát triển.
+ Các cấp chính quyền luôn quan tâm, đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.
Cơ hội:
+ Cửa ngõ của tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây; Trung tâm của khu vực miền Trung – Tây Nguyên tạo cơ hội cho Đà Nẵng trở thành điểm trung chuyển hàng hóa của khu vực;
+ Cơ hội cho các doanh nghiệp thành phố thâm nhập vào một số thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản…khi các hiệp định thương mại song phương, đa phương được ký kết;
– Một số chính sách hỗ trợ tuy đã có những kết quả triển khai nhất định nhưng phạm vi và quy mô hỗ trợ còn nhỏ hẹp.
– Chính sách hỗ trợ về tài chính chưa đáp ứng yêu cầu của DNTN, việc huy động tăng vốn điều lệ cho Quỹ Bảo lãnh tín dụng DNTN còn khiêm tốn (mới huy động được 1,3 tỉ đồng).
– Thiếu các tiêu chí đánh giá tác động của chính sách phát triển doanh nghiệp đến sản xuất, kinh doanh của DNTN như các chương trình nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ, sở hữu trí tuệ …, tư vấn thị trường, đào tạo nghề.
– Một số chính sách có chất lượng nội dung chưa cao, hình thức thực hiện chưa phù hợp với đối tượng DNTN.
Một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp triển khai chưa hiệu quả, chậm chỉnh sửa, bổ sung, chậm đổi mới cách tiếp cận doanh nghiệp; việc tổ chức một số hoạt động như hội nghị, hội thảo, tập huấn còn trùng lặp, chồng chéo gây tâm lý ngần ngại, mất thời gian cho doanh nghiệp.
– Thiếu cơ sở pháp lý đầy đủ cho hoạt động kinh doanh của DNTN. Điều này thể hiện rõ nhất là những chính sách quản lý và quy định hiện hành của Nhà nước đối với các DNTN.
– Đa số các chính sách trợ giúp DNTN của thành phố Đà Nẵng có đối tượng hỗ trợ rộng, không chỉ dành riêng cho DNTN, các nội dung chưa thực sự phù hợp với đối tượng DNTN, dẫn đến việc không thể đánh giá được kết quả hỗ trợ cho DNTN cũng như giảm cơ hội tham gia, hưởng lợi của các DNTN.
– Một số chính sách trợ giúp tuy được xây dựng dựa trên Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ nhưng chịu sự điều chỉnh của các Luật chuyên ngành nên không thể quy định chi tiết hơn các chính sách ưu đãi riêng cho DNTN, dẫn đến các nhóm chính sách này mới nằm trên các văn bản, chưa thể đi vào cuộc sống.
– Sự phối hợp giữa các Sở, ngành, quận, huyện còn yếu.
– Sự quan tâm và đầu tư của thành phố đối với công tác trợ giúp phát triển DNTN còn thấp, trong khi nguồn ngân sách Trung ương lại rất hạn chế. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến chương trình hỗ trợ phát triển DNTN chưa đạt kết quả cao và phạm vi tác động hạn hẹp.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2016 – 2020
– Xác định rõ DNTN là một bộ phận quan trọng, không thể tách rời trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Xây dựng các chính sách phát triển DNTN song song với việc phát triển kinh tế – xã hội của thành phố.
– Thành phố cần có biện pháp hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho DNTN đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố.
– Phát triển DNTN phải mang lại lợi ích cho kinh tế, xã hội cho thành phố, đồng thời không ảnh hưởng tiêu cực thành phố.
– Tăng cường vai trò và sự lãnh đạo của các cấp chính quyền đến sự phát triển KTTN nói chung và phát triển DNTN nói riêng.
Qua quá trình nghiên cứu và số liệu thu thập được thì học viên có thể khẳng định: Năm 2016 dự báo sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức đối với sự phát triển của thành phố trong đó sự phát triển của DNTN đóng vai trò chủ đạo và then chốt, vì vậy cần xác định tiếp tục là “Năm doanh nghiệp”, hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh thực hiện 5 hướng đột phá kinh tế – xã hội, tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao hiệu quả, đảm bảo kinh tế phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường, thực hiện đạt và vượt mức các chỉ tiêu kinh tế – xã hội năm 2016, góp phần thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2016-2020.
– Tập trung cải cách hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính đối với từng lĩnh vực.
– Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 29/CT-TU ngày 26 tháng 11 năm 2013 của Thành ủy Đà Nẵng về tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển thành phố trong tình hình mới.
– Củng cố, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các Hiệp hội doanh nghiệp, phát huy tối đa vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp với chính quyền, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, đồng thời tăng cường sự tham vấn của doanh nghiệp trong quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế -xã hội của thành phố.
Đối với Ngân hàng Nhà nước – Chi nhánh Đà Nẵng và các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố:
– Hỗ trợ doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng hiệu quả.
– Khuyến khích các tổ chức tín dụng trên địa bàn giảm lãi suất cho vay.
– Triển khai thực hiện Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại.
Đối với Quỹ Đầu tư Phát triển thành phố
– Bổ sung nguồn vốn Quỹ Đầu tư phát triển thành phố đạt 2.000 tỷ đồng đến năm 2020.
– Đơn giản hóa thủ tục hồ sơ vay vốn; đề xuất điều chỉnh lãi suất cho vay ưu đãi theo hướng thấp hơn các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố.
– Tập trung đối tượng cho vay là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư phát triển công nghiệp chế tạo, chế biến; công nghiệp phụ trợ; công nghiệp đóng tàu.
Đối với Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp tư nhân thành phố
– Kiện toàn và nâng cao năng lực tổ chức bộ máy, phát huy vai trò và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp tư nhân.
– Tích cực huy động các nguồn đóng góp từ doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước nhằm nâng nguồn vốn Quỹ bảo lãnh tín dụng DNTN thành phố đạt 500 tỷ đến năm 2020.
– Điều chỉnh các quy định về tài sản thế chấp, mức bảo lãnh, dự án hình thành trong tương lai phù hợp với điều kiện thực tế và quy định hiện hành.
Hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông
Hỗ trợ đổi mới công nghệ
Chính sách kết nối cung cầu, hỗ trợ thị trường:
– Hỗ trợ cung cấp thông tin xúc tiến thương mại, dự báo thị trường nhằm nâng cao năng lực tiếp cận thị trường xuất khẩu cho doanh nghiệp.
– Khảo sát nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố để tổ chức định kỳ Chương trình kết nối cung cầu, hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của nhau.
– Triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ thực hiện liên kết tiêu thụ sản phẩm nông sản gắn với chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn.
– Xây dựng và triển khai Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động xúc tiến xuất khẩu trọn gói nhằm đẩy mạnh khả năng xuất khẩu của các doanh nghiệp.
– Tổ chức thực hiện tốt Đề án “Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại và kích cầu nội địa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” nhằm đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa trong nước, giúp cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh.
– Tăng cường công tác thông tin bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ giá cả, chất lượng hàng hóa; kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại.
– Triển khai có hiệu quả Đề án Phát triển khu phố chuyên doanh và trung tâm mua sắm phục vụ du lịch (theo Quyết định số 5723/QĐ-UBND ngày 19 tháng 8 năm 2013 của UBND thành phố).
Hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh
– Đồng bộ hệ thống trang thông tin điện tử để cung cấp bản đồ tổng thể các đồ án quy hoạch đã được UBND thành phố phê duyệt; thông tin quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong và ngoài khu công nghiệp trên địa bàn các quận, huyện.
– Định kỳ 06 tháng, hằng năm, rà soát lại quỹ đất trong và ngoài khu công nghiệp, kiên quyết thu hồi đối với những trường hợp được giao đất nhưng không triển khai hoặc triển khai chậm để bố trí cho các doanh nghiệp khác có nhu cầu về đất.
– Hình thành các trung tâm và cụm thương mại dịch vụ, hệ thống mạng lưới bán lẻ; xây dựng và phát triển hệ thống cửa hàng tiện ích trong khu vực dân cư.
– Quy hoạch và hình thành Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao phục vụ nông nghiệp.
– Xây dựng và triển khai vận hành Trung tâm giới thiệu, trưng bày sản phẩm của các doanh nghiệp thành phố Đà Nẵng.
– Hoàn thành giải phóng mặt bằng và đầu tư hạ tầng khu công nghệ cao tạo cơ hội thu hút doanh nghiệp công nghệ cao trong và ngoài nước.
– Tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai 2013, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư sửa đổi và các Hiệp ước quốc tế Việt Nam cam kết có liên quan đến doanh nghiệp;
– Triển khai thường xuyên các chương trình đào tạo nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp; dự báo nhu cầu vàxây dựng kế hoạch đào tạo và cung ứng nhân lực theo ngành nghề, nhất là các doanh nghiệp hoạt động tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao.
– Xây dựng cơ chế liên kết giữa đào tạo – nghiên cứu – sản xuất kinh doanh, ứng dụng những thành tựu nghiên cứu trong khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
– Hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống thông tin thị trường lao động, cơ sở dữ liệu về thị trường lao động, cụ thể: hiện đại hóa hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm; chuẩn hóa hoạt động giao dịch việc làm, sàn giao dịch việc làm trở thành hoạt động hàng ngày tại các trung tâm giới thiệu việc làm.
– Hỗ trợ DNTN đào tạo lao động hoặc thành lập cơ sở đào tạo nghề để cung cấp nhân lực chính cho doanh nghiệp.
KẾT LUẬN
Với một thành phố năng động, cơ sở hạ tầng được trang bị khá tốt, môi trường đầu tư đã được cải thiện đáng kể như thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, các chính sách phát triển DNTN trong thời gian qua chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức; nhiều chính sách chưa đi vào cuộc sống; chưa có nhiều DNTN trở thành các Tập đoàn, doanh nghiệp thật sự lớn mạnh; sản phẩm xuất khẩu chưa nhiều; phát triển doanh nghiệp tư nhân chưa tương xứng với sự phát triển của thành phố.
Để giải quyết những tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp DNTN, thành phố cần xem xét, đánh giá vấn đề cốt lõi đối với từng chính sách cụ thể; quy định và thực hiện các giải pháp khuyến khích phát triển DNTN như cải cách thủ tục hành chính, xóa bỏ các quy định gây phiền hà, kìm hãm sự phát triển của các DNTN; tạo điều kiện cho các DNTN tiếp cận các nguồn vốn của Nhà nước một cách thuận lợi, đơn giản hóa các thủ tục hỗ trợ về đổi mới khoa học công nghệ, về mặt bằng sản xuất kinh doanh, về đào tạo lao động, về xúc tiến thị trường.
Trên cơ sở đánh giá tiềm năng và thực trạng các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển của DNTN tại thành phố Đà Nẵng và trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm phát triển DNTN của một số địa phương, Luận văn đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện, bổ sung chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới thông qua 05 nhóm giải pháp hỗ trợ gồm: (1) pháp lý, (2) tài chính-tín dụng, (3) ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển giao công nghệ, (4) kết nối cung cầu, xúc tiến thị trường và mặt bằng sản xuất kinh doanh (5) phát triển nguồn nhân lực. Đây được xem là những chính sách cơ bản của thành phố trong việc hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân phát triển trong thời gian tới. Điều này cũng thể hiện rõ cam kết của thành phố trong việc đồng hành cùng doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng, góp phần vào công cuộc xây dựng thành phố Đà Nẵng thịnh vượng trong thời kỳ mới.
Do thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế nên Luận văn đã nghiên cứu điển hình tại một số các doanh nghiệp tư nhân để minh họa cho từng giải pháp. Để có thể thực hiện tốt những giải pháp đó, Luận văn đề xuất một số kiến nghị với các cơ quan quản lý các cấp, các cơ quan chủ quản của các đơn vị một số giải pháp bổ sung, hoàn thiện các chính sách, nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực doanh nghiệp này./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\CHINH SACH CONG\TRAN THI THANH NGA\New folder


