Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Truyền thống đó ngày càng được nhân dân ta giữ gìn, tôn trọng và phát huy. Sự quan tâm đến trẻ em được thể hiện rõ hơn khi Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1990 theo đó trẻ em phải được chăm sóc trong điều kiện tốt nhất, đảm bảo được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, nhằm làm cho mọi trẻ em đều được hưởng các quyền cơ bản và làm tròn bổn phận của trẻ em. Đây không phải là nhiệm vụ của riêng các cấp hay các ngành nào, mà chính là nhiệm vụ của toàn xã hội. Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng, Nhà nước và mỗi địa phương trong việc đảm bảo an sinh xã hội, vì mục tiêu phát triển ổn định và lâu dài của đất nước.

Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta quan niệm ” Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là một vấn đề có tính chiến lược, lâu dài, góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đầu tư cho trẻ em là đầu tư cho tương lai của đất nước. Làm tốt công tác này là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, gia đình và toàn xã hội”[11]. Nhận thức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội về công tác bảo vệ trẻ em được nâng lên, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mồ côi, khuyết tật ngày càng được xã hội quan tâm chăm lo.

Tại thành phố Đà Nẵng, công tác bảo vệ trẻ em luôn được Đảng bộ và chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo và nỗ lực thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế, bên cạnh rất nhiều thành tựu đáng ghi nhận thì những hạn chế, yếu kém của công tác bảo vệ trẻ em cũng bộc lộ. Đó là vấn đề về đạo đức, lối sống xuống cấp, lệch chuẩn của một bộ phận trẻ em đang trở thành nỗi lo của gia đình và xã hội. Tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục, bạo lực, bị lạm dụng sức lao động có xu hướng gia tăng, tính chất ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng trẻ em phạm tội, trẻ em lang thang, bị tai nạn, bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS vẫn là những vấn đề xã hội bức xúc. Các điểm vui chơi và các hình thức giải trí phù hợp với trẻ em còn thiếu. Nguồn lực trong xã hội dành cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em chưa đáp ứng yêu cầu. Huy động cộng đồng vào chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, nhất là ở nông thôn còn yếu.

Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có thể thấy nhận thức của từng gia đình và toàn cộng đồng chưa đầy đủ; năng lực của đội ngũ cán bộ còn yếu kém; dịch vụ bảo vệ trẻ em còn nghèo nàn, chưa có mạng lưới; thiếu hệ thống pháp lý thân thiện với trẻ em; vai trò của quản lý nhà nước còn mờ nhạt, chưa hiệu quả.

Từ những lý giải trên, lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn chính sách công là xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế và có ý nghĩa thực tiễn.

  1. Tình hình nghiên cứu
  2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em, đồng thời luận văn đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em tại thành phố Đà Nẵng. Luận văn sẽ đề xuất những giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở nước ta và tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách bảo vệ trẻ em và thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em; tổng quan và nhận xét thực hiện chính sách hiện hành về bảo vệ trẻ em ở Việt Nam, tìm hiểu kinh nghiệm điển hình của các nước về thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em.

– Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em tại thành phố Đà Nẵng; phát hiện vấn đề, nguyên nhân, những ưu điểm và hạn chế.- Đề xuất hoàn thiện các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em cụ thể là nghiên cứu giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tại thành phố Đà Nẵng, nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em.

Thời gian nghiên cứu: từ năm 2010 đến năm 2014

  1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và phương pháp nghiên cứu chính sách công. Cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng và thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin: Phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê và so sánh được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, Nghị Quyết của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các tài liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở nước ta nói chung và thực tế thành phố Đà Nẵng nói riêng. Đồng thời, thu thập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách xã hội liên quan đến vấn đề chính sách bảo vệ trẻ em.

  1. Ý nghĩa của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

– Đề tài này cung cấp lý luận chính sách công về nghiên cứu vấn đề chính sách bảo vệ trẻ em.

– Hệ thống hóa một số lý luận và đánh giá thực tiễn từ đó đề xuất giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em nhằm phát huy tối đa hiệu quả chính sách đã ban hành.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

– Cung cấp những vấn đề có tính thực tiễn trong việc vận dụng các lý thuyết về chính sách công để xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em tại thành phố Đà Nẵng. Từ đó đưa ra những đề xuất có giá trị tham khảo đối với các nhà quản lý để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em trong thực tiễn những năm tiếp theo.

  1. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu bao gồm 3 chương:

Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở nước ta;

Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em tại thành phố Đà Nẵng;

Chương 3. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở nước ta hiện nay.

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ TRẺ EM Ở VIỆT NAM

1.1. Khái niệm chính sách bảo vệ trẻ em

Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lý sự phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước. Khái niệm chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ để thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền.” [17]

Bảo vệ trẻ em là bảo đảm cho trẻ em được hưởng và thực hiện các quyền, bổn phận của mình và phòng ngừa để trẻ em không bị rơi vào hòan cảnh đặc biệt; ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm quyền, bổn phận của trẻ em theo quy định của pháp luật.

Từ lý luận về “chính sách công” và “bảo vệ trẻ em” nêu trên, có thể định nghĩa sau: “Chính sách bảo vệ trẻ em là tập hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề bảo vệ trẻ em theo mục tiêu tổng thể đã xác định”.

Việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em là việc thực hiện hóa các quyết định chính trị về bảo vệ trẻ em. Đây là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách bảo vệ trẻ em: Nó có nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách bảo vệ trẻ em của Nhà nước, đưa chính sách bảo vệ trẻ em của Nhà nước vào cuộc sống.

1.2. Thiết kế chính sách bảo vệ trẻ em

– Vấn đề chính sách

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, hiện tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên tổng số trẻ em nước ta vẫn ở mức cao và có xu hướng gia tăng, cụ thể năm 2001 là có khoảng 1,4 triệu em chiếm 5,5% tổng số trẻ em, năm 2010 tăng lên 1,54 triệu chiếm tỷ lệ trên 6%.

Hằng năm cả nước có từ 1.000 đến 1.400 em bị xâm hại tình dục, 2.000 đến 3.900 em bị bạo lực tỉ lệ trẻ em bị xâm hại tình dục có xu hướng tăng nhanh (Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội 2015). Đây là số trẻ em bị xâm hại tình dục được trình báo, trên thực tế con số này còn cao hơn nhiều vì người dân không muốn trình báo những vấn đề nhạy cảm có thể ảnh hưởng đến con cái họ, hoặc tự thỏa thuận đền bù với người xâm hại trẻ.

Đối với nhóm trẻ em vi phạm pháp luật, hằng năm cả nước có khoảng 12.000 đến 18.000 em, trong đó có khoảng 15% phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội 2015). Tính chất vi phạm pháp luật cũng phức tạp hơn, xu hướng băng nhóm, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng như cướp của, giết người gia tăng. Khi các em hoàn thành việc chấp hành án trở về cộng đồng cũng gặp nhiều rào cản trong quá trình hòa nhập cồng đồng.

Điều tra quốc gia về lao động trẻ em công bố năm 2014 cho thấy khoảng 1,75 triệu trẻ em đang làm việc dưới độ tuổi tối thiểu mà pháp luật cho phép. Con số này tướng ứng với gần 10% sô trẻ từ 15-17 tuổi trên toàn quốc. Đa phần nhóm trẻ em này đã bỏ học vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và không có điều kiện vui chơi, giải trí như bạn bè cùng trang lứa và nguy cơ bị ngược đãi, bạo lực và bóc lột sức lao động là rất cao.

Như vậy vấn đề chính sách bảo vệ trẻ em chính là tình trạng trẻ em chưa được sống trong môi trường sống an toàn và thân thiện; trẻ em chưa được bảo vệ toàn diện, tập trung chủ yếu vào bốn nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có xu hướng ngày càng gia tăng nghiêm trọng cụ thể là trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em lao động sớm trong điều kiện nặng nhọc.

Nguyên nhân của những vấn đề chính sách nêu trên đó là:

Thứ nhất, chưa tạo dựng được môi trường sống an toàn và thân thiện cho trẻ em.

Thứ hai, hệ thống luật pháp, chính sách về bảo vệ trẻ em chưa được đồng bộ, đầy đủ, thiếu hệ thống tư pháp thân thiện với người chưa thành niên.

Thứ ba, công tác truyền thông, giáo dục pháp luật về bảo vệ trẻ em chưa đạt hiệu quả sâu rộng, chưa thường xuyên liên tục.

Thứ tư, thiếu nguồn lực cho công tác bảo vệ trẻ em (gồm nguồn lực tài chính và con người).

– Mục tiêu chính sách bảo vệ trẻ em là:

Mục tiêu tổng quát của chính sách bảo vệ trẻ em là

  • Tạo dựng được môi trường sống mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ, trong đó ưu tiên nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhóm trẻ em có nguy cơ cao.
  • Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu hoặc loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị ngược đãi, xâm hại, bạo lực, buôn bán và xao nhãng.
  • Trợ giúp, phục hồi kịp thời cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị tổn hại, tạo cơ hội để các em tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển, thông qua phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em đồng bộ và hoạt động có hiệu quả [8].

Mục tiêu cụ thể phải đạt được:

a. Giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt xuống dưới 5,5% so với tổng số trẻ em.

b. Giảm hằng năm 10% số trẻ em bị xâm hại tình dục, bị bạo lực; 100% trẻ em được phát hiện bị xâm hại tình dục, bị bạo lực được can thiệp, trợ giúp; giảm tỷ lệ trẻ em lang thang xuống 7/10.000 trẻ em; 90% trẻ em bị bỏ rơi, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được chăm sóc.

b. 80% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhận được sự trợ giúp, chăm sóc từ cộng đồng và nhà nước để phục hồi, tái hòa nhập và có cơ hội phát triển.

c. 70% trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và có nguy cơ bị tổn hại được phát hiện sớm và can thiệp để giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ.

d. 50% tỉnh, thành phố xây dựng được hệ thống bảo vệ trẻ em, trong đó có Trung tâm công tác xã hội trẻ em, Văn phòng tư vấn, Điểm tư vấn, mạng lưới cộng tác viên, nhóm trẻ nòng cốt và hoạt động có hiệu quả.

– Giải pháp chính sách

Nhóm giải pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa công tác bảo vệ trẻ em theo hướng nâng cao trách nhiệm của gia đình và nhà trường, cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị xã hội. Các công cụ là tổ chức dựa vào cộng đồng và kết hợp với các tổ chức chính trị xã hội để thực hiện giải pháp trên.

Nhóm giải pháp tăng cường sự quản lý nhà nước, củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em các cấp; tăng cường công tác xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa các bộ ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em. Các công cụ có thể được sử dụng là công cụ dựa vào tổ chức là các công cụ hành chính, tổ chức như hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, mô hình tổ chức, bộ máy cán bộ công chức tham gia hoạch định, triển khai chính sách bảo vệ trẻ em.

Nhóm giải pháp đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông, trên cơ sở hình thành chiến lược truyền thông với sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức quốc tế để tạo dư luận xã hội quan tâm hơn nữa đến công tác bảo vệ trẻ em, đặc biệt là lên án các hành vi xâm hại, ngược đãi và bạo lực đối với trẻ em. Công cụ truyền thông trực tiếp và gián tiếp sẽ được sử dụng cho giải pháp này: là các chiến dịch truyền thông, tuyên truyền, tư vấn trực tiếp có sự tham gia của cộng đồng.

Nhóm giải pháp đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế trong việc huy động nguồn lực xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án, dự án trợ giúp, bảo vệ trẻ em. Nhóm công cụ mạng lưới (cho phép) với các tổ chức quốc tế, kết hợp tổ chức xã hội trong nước, và các tổ chức dựa vào cộng đồng thực hiện giải pháp này.

Nhóm giải pháp phát triển hệ thống Quỹ Bảo trợ trẻ em cũng như huy động các nguồn lực đầu tư cho công tác bảo vệ trẻ em. Nhóm công cụ tài chính được sử dụng như ngân sách Nhà nước, các quỹ bảo trợ, các hoạt động khuyến khích và huy động sự đóng góp của các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức quốc tế khác.

1.3. Cách tiếp cận và phương pháp tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

1.3.1. Cách tiếp cận thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

Để đảm bảo phù hợp với tình hình mới cũng như mục tiêu hướng đến cộng đồng, phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính sách là tiếp cận theo chiều dọc (Bộ LĐTB&XH, Sở LĐTB&XH cấp tỉnh, thành phố, Phòng LĐTB&XH cấp quận, huyện, các xã (tiếp cận mang tính hai chiều)), theo chiều ngang (có sự phối hợp giữa các Bộ, các cơ quan ban ngành: Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Tư pháp) và sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng, người dân, các tổ chức trong nước và quốc tế.

1.3.2. Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

Đây là nhiệm vụ đầu tiên, nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em. Hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em phụ thuộc vào chất lượng, tính chính xác, tính khả thi của bản kế hoạch thực hiện chính sách. Cần phải đầu tư thời gian và công sức để xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em. Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em cần được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống. Các cơ quan có nhiệm vụ triển khai thực thi chính sách bảo vệ trẻ em từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện.

1.3.3. Phổ biến tuyên truyền thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

Phổ biến tuyên truyền thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em giúp các đối tượng thụ hưởng chính sách như trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, toàn thể gia đình và nhà trường cũng như cộng đồng tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách bảo vệ trẻ em mà còn giúp các cơ quan Nhà nước, các cán bộ công chức, các tổ chức xã hội có trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách được nhận thức đầy đủ tính chất, tầm quan trọng, trình độ, quy mô của chính sách đối với các đối tượng thụ hưởng.

1.3.4. Phân công phối hợp thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

Trong tổ chức và thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em thì phối hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách. Muốn tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em có hiệu quả cần phải tiến hành phân công phối hợp một cách chặt chẽ, hợp lý giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương và các cấp chính quyền địa phương. Cần phải phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp.

1.3.5. Duy trì thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

Duy trì thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em là làm cho chính sách được tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế.

1.3.6. Điều chỉnh chính sách bảo vệ trẻ em

Điều chỉnh chính sách bảo vệ trẻ em là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em nhằm mục đích phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế của đất nước.

1.3.7. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

Kiểm tra việc chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ, ngành cơ quan của Trung ương đối với việc thực hiện luật pháp, chính sách, chương trình, kế hoạch về bảo vệ trẻ em, sự phối hợp của các ban, ngành tại địa phương khi thực hiện.

1.3.8. Đánh giá tổng kết việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

Đánh giá việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em là cách kiểm định xem liệu các mục tiêu của chính sách bảo vệ trẻ em đã được triển khai đã được hay không nhờ cách đánh giá dựa vào các bên tham gia, cụ thể là các tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, đánh giá dựa vào cộng đồng, gia đình và nhà trường, các cơ quan phi chính phủ và cơ quan báo chí.

1.4. Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách

Chủ thể trong thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em đó là các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống Lập pháp (Quốc hội), các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ và UBND các cấp) và các cơ quan thuộc hệ thống tư pháp (Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân).

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

– Yếu tố bên trong:

Hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến bảo vệ trẻ em ở nước ta hiện nay không chỉ quy định trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em mà còn được quy định trong rất nhiều luật liên quan khác. Bên dưới các đạo luật còn có rất nhiều chính sách của nhà nước liên quan đến bảo vệ trẻ em được thể hiện dưới dạng Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng chính phủ và các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố

– Yếu tố bên ngoài:

Môi trường xã hội

Môi trường gia đình và cộng đồng

Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Chương 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ TRẺ EM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách bảo vệ trẻ em

* Kết quả thực hiện các chỉ tiêu:

– 98% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, hòa nhập và có cơ hội phát triển: vượt 8% kế hoạch;

– 100% trẻ em được phát triển có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt được tư vấn, can thiệp để giảm thiểu, loại bỏ nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt: đạt 100% kế hoạch;

– 95% gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội và trẻ em được nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi về bảo vệ trẻ em: đạt 100% kế hoạch;

– 100% cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em các cấp và 70% cộng tác viên được đào tào, bồi dưỡng nâng cao năng lực: đạt 100% kế hoạch;

– Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giảm còn 1,16% trên tổng số trẻ em: đạt 86,2% kế hoạch

– Thành lập 02 văn phòng tư vấn cấp Quận: Đạt 66,7% kế hoạch.

2.2. Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Đà Nẵng

2.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Đà Nẵng

a. Về kế hoạch tổ chức thực hiện

Từ khi Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được ban hành và có hiệu lực, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được các cấp, các ngành địa phương quan tâm rõ rệt, các quyền của trẻ em đã từng bước được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật, trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của thành phố. Ngay khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22/2/2011 phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011- 2015, thành phố đã kịp thời ban hành nhiều văn bản triển khai thực hiện.

b. Về xây dựng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em

Toàn thành phố hiện có 01 Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội, 02 văn phòng tư vấn bảo vệ trẻ em cấp quận, 02 Câu lạc bộ trẻ em, 56 điểm tư vấn cộng đồng và 159 điểm tư vấn cho trường học. Trong thời gian qua đã tổ chức 49 lớp tập huấn, 205 cuộc tư vấn cho gần 25.000 lượt người lớn, trẻ em tham dự (trong đó có 1.200 tổ trưởng dân phố), in ấn 30.000 tờ rơi về pháp luật có liên quan đến trẻ em, quyền trẻ em, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, phòng chống bạo lực học đường, phòng chống xâm hại trẻ em..; tư vấn, tham vấn trực tiếp qua điện thoại cho gần 450 trường hợp phụ huynh, trẻ em và người khuyết tật; pháp luật liên quan hỗ trợ kết nối dịch vụ cho 04 trẻ em bị xâm hại tình dục trên địa bàn; kết nối và trợ giúp 54 trường hợp trẻ em có nguy cơ mất nguồn nuôi dưỡng, gia đình bị thiên tai, với số tiền gần 102 triệu đồng.

c. Về xây dựng và nhân rộng mô hình trợ giúp bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng

d. Thành phố đã đầu tư xây dựng được 03 mô hình Bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng

e. Về tổ chức đội ngũ cán bộ

2.2.2. Thực trạng phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Đà Nẵng

Công tác truyền thông, giáo dục, vận động xã hội về bảo vệ trẻ em trong thời gian qua được truyền tải ngày càng phù hợp giữa nội dung truyền thông với nhu cầu của các nhóm đối tượng xã hội; nhận thức, trách nhiệm, kỹ năng về bảo vệ trẻ em của gia đình, cộng đồng xã hội và trẻ em chuyển biến rõ nét thông qua việc quan tâm, chỉ đạo, đầu tư cho sự nghiệp trẻ em và huy động được sự ủng hộ của nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước quan tâm chăm lo cho trẻ em.

2.2.3. Thực trạng phân công, phối hợp của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Đà Nẵng

2.2.4. Thực trạng duy trì thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Đà Nẵng

Qua quá trình triển khai thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em trên địa bàn thành phố đã nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị về vấn đề bảo vệ trẻ em.

2.2.5. Thực trạng điều chỉnh chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Đà Nẵng

Chính sách bảo vệ trẻ em trước kia chỉ tập trung giải quyết hậu quả, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tuy nhiên trong những năm gần đây đã chú trọng đến việc chủ động phòng ngừa, can thiệp sớm, loại bỏ những nguy cơ cho mọi trẻ em trước khi bị tổn hại.

2.2.6. Thực trạng theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Đà Nẵng

Thông qua việc kiểm tra thường xuyên giúp cho UBND thành phố nắm chắc được tình hình thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em, từ đó đánh giá khách quan về những điểm mạnh, điểm yếu của công tác tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em trên địa bàn, đồng thời phát hiện những thiếu sót trong việc công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện chính sách, tham mưu với các cấp có thẩm quyền để điều chỉnh.

2.2.7. Thực trạng tổ chức đánh giá, tổng kết chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Đà Nẵng

Trong Chính phủ, nhiệm vụ theo dõi, giám sát và đánh giá việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em được giao cho các Bộ và các cơ quan trung ương khác. Tại địa phương, các sở, ngành cũng chịu trách nhiệm thực hiện hoạt động theo dõi, giám sát và đánh giá trong phạm vi địa phương của mình

2.3. Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Đà Nẵng

2.3.1. Ưu điểm

Chương trình bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn thành phố được triển khai thực hiện rộng rãi, đều khắp tạo sự chuyển biến về mặt nhận thức trong các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cấp, cộng đồng đối với trẻ em, nhất là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Công tác tuyên truyền, bảo vệ trẻ em được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú, thu hút sự quan tâm nhiều hơn của toàn xã hội.

Việc vận động các nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước được đẩy mạnh, hỗ trợ thực hiện các chương trình bảo vệ, chăm sóc trẻ em, góp phần nâng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp ngày càng tăng, giúp các em vượt qua khó khăn và vươn lên trong cuộc sống

2.3.2. Hạn chế

– Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật còn chưa thường xuyên, phong phú, đa dạng và rộng khắp; chưa có những tài liệu thích hợp để tuyên truyền về chính sách, pháp luật, kiến thức về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cho các đối tượng khác nhau

Sự quan tâm đầu tư kinh phí cho lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em của ngân sách nhà nước còn nhiều hạn chế.

* Nguyên nhân của những hạn chế:

a. Nhận thức về tầm quan trọng của công tác bảo vệ trẻ em chưa đầy đủ.

b. Về ngân sách đầu tư

c. Về quản lý nhà nước

Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Chương 3

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

BẢO VỆ TRẺ EM

3.1. Mục tiêu thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

Mục tiêu chung: Đến năm 2020, đảm bảo cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có cơ hội và tạo điều kiện thuận lợi cho các em sử dụng các cơ hội đó để phát triển một cách toàn diện cả về thể chất, tinh thần và đạo đức. Các em sẽ được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, được ưu tiên bảo vệ chăm sóc để ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.

3.2. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em

Trên cơ sở phân tích một số kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình triển khai thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em, xin đề xuất một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em như sau:

3.2.1. Giải pháp sửa đổi thiết kế lại chính sách bảo vệ trẻ em

3.2.2. Giải pháp kiện toàn tổ chức làm công tác bảo vệ trẻ em và tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành trong công tác bảo vệ trẻ em

3.2.3. Giải pháp đẩy mạnh các hoạt động truyền thông thực hiện bảo vệ trẻ em

3.2.4. Giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ trẻ em và hợp tác với các tổ chức quốc tế về các vấn đề trẻ em

3.2.5. Phát triển hệ thống Quỹ Bảo trợ trẻ em và huy động các nguồn lực khác đầu tư cho công tác bảo vệ trẻ em

KẾT LUẬN

Chính sách bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 ở nước ta đã đạt được những kết quả tích cực, nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp đối với công tác bảo vệ trẻ em được nâng lên, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội của đất nước. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em vẫn còn tồn tại những hạn chế, cần tập trung khắc phục, các mục tiêu của chính sách chưa được thực hiện một cách có chiều sâu và bền vững, nhất là ở cơ sở.

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 20/CT-TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị – khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, luận văn đã đánh giá việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015, đánh giá những mặt được và chưa được trong quá trình xây dựng, thực hiện chính sách.

Từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung, Việt Nam cần chú trọng đổi mới, hoàn thiện chính sách bảo vệ trẻ em. Trước hết là sự thay đổi về mặt nhận thức đối với công tác bảo vệ trẻ em, coi chính sách bảo vệ trẻ em là một trong những chính sách quan trọng của toàn Đảng, toàn dân trong thời gian tới. Hoàn thiện chính sách bảo vệ trẻ em cần hoàn thiện các mặt về tổ chức, công cụ chính sách cũng như nâng cao năng lực của chủ thể thực thi chính sách bảo vệ trẻ em,đặc biệt là mạng lưới xã hội hóa công tác bảo vệ trẻ em.

Một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em được trình bày trong luận văn, nhằm góp phần hoàn thiện chính sách bảo vệ trẻ em đến năm 2020, để công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em thật sự bền vững và hiệu quả, nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ trẻ em, đảm bảo thực hiện theo đúng Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em. Đây cũng là giải pháp cần thiết có thể tham khảo, vận dụng những điểm phù hợp thiết thực đối với những địa phương khác. Hy vọng rằng luận văn sẽ góp phần nhỏ để cùng cơ quan chức năng của thành phố Đà Nẵng làm tốt việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em trên địa bàn thành phố trong thời gian tới.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\CHINH SACH CONG\VO THI BICH TRAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *