Thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn thành phố Đồng Hới hậu Covid
Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế. Nền kinh tế của một đất nước chỉ có thể phát triển và lớn mạnh khi các doanh nghiệp không ngừng lớn mạnh. Hiện nay, nước ta đang trong tiến trình trở thành nền kinh tế thị trường được quản lý bởi Nhà nước, trong đó có sự tham gia và đóng góp tích cực của khu vực kinh tế tư nhân. Cùng với đó, Việt Nam đã tham gia nhiều Hiệp định thương mại khu vực và quốc tế, đặc biệt là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã tạo ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) mở rộng thị trường, học hỏi kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, có cơ hội áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới trên thế giới.
Tuy nhiên, những tồn tại và hạn chế trong hệ thống chính sách của Việt Nam đã bộc lộ rõ trong bối cảnh gia nhập các nền kinh tế hàng đầu trên thế giới, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề của chính sách phát triển doanh nghiệp từ các nền kinh tế đó để rút ra bài học kinh nghiệm áp dụng cho phù hợp với điều kiện và thực tiễn của Việt Nam.
Song song với đó, tại dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng XII đã đề cập nhiều vấn đề quan trọng, trong đó định hướng rõ các chính sách về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, và từ đó tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa trong nhiệm kỳ tới. Các chính sách đó là động lực và cũng là điều kiện để đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển (R&D), ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến để nâng cao năng suất lao động cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng.
Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần vận dụng tối đa lợi thế có được từ các chính sách của Nhà nước nhằm nâng cao phương thức quản lý, quản trị hiện đại, phát huy tiềm năng của con người và khuyến khích tinh thần sản xuất kinh doanh của người lao động để chủ động khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng, từng bước tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với thành phố Đồng Hới hậu Covid, sau những năm chia tách, thành phố gặp rất nhiều khó khăn, thách thức nhưng thành phố đã tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, vượt qua khó khăn, thách thức và giành được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, nền kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, cơ cấu nguồn thu đã có sự chuyển biến tích cực tăng theo nguồn thu nội địa mà trong đó thu từ thuế tăng trưởng theo hướng ổn định, bền vững. Đặc biệt, năm 2014, tổng thu nội địa trong cân đối ngân sách của Đồng Hới đạt 8.543 tỉ đồng, vượt 373 tỉ đồng so với dự toán. Đạt được kết quả trên là sự vào cuộc của chính quyền thành phố thông qua những chính sách đột phá để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, đồng thời có sự tham gia đóng góp tích cực của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng trên địa bàn thành phố.
Với một thành phố năng động, cơ sở hạ tầng được trang bị khá tốt, môi trường đầu tư đã được cải thiện đáng kể như thành phố Đồng Hới hậu Covid. Tuy nhiên, các chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian qua chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức; nhiều chính sách chưa đi vào cuộc sống; chưa có nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành các Tập đoàn, doanh nghiệp thật sự lớn mạnh; sản phẩm xuất khẩu chưa nhiều; phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa tương xướng với sự phát triển của thành phố. Tôi nhận thấy việc nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn thành phố Đồng Hới hậu Covid” là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn cấp bách.
- Tình hình nghiên cứu của đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
– Làm rõ cơ sở đề lý luận và thực trạng thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; từ đó đề xuất các giải pháp điều chỉnh chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới hậu Covid.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Làm rõ cơ sở lý luận của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
– Làm rõ thực trạng thực hiện các chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Đồng Hới hậu Covid; phát hiện những mặt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân hạn chế giai đoạn 2010 – 2015.
Đề xuất một số điều chỉnh chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới hậu Covid đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới hậu Covid.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Giới hạn phạm vi nội dung: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số chính sách phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Đồng Hới hậu Covid.
– Giới hạn thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng Hới từ 2010 – 2015, đề xuất điều chỉnh chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đến 2020.
– Giới hạn không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn thành phố Đồng Hới hậu Covid.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp so sánh tổng hợp, chỉ số năng lực cạnh tranh của thành phố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) của thành phố Đồng Hới hậu Covid.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Các thông tin được thu thập từ báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đồng Hới hậu Covid. Cục Thống kê thành phố Đồng Hới hậu Covid, Báo cáo của VCCI, UBND thành phố Đồng Hới hậu Covid, Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Đồng Hới hậu Covid, Trung tâm thông tin tư liệu Đại học Đồng Hới, tạp chí chuyên ngành và các thông tin từ các nghiên cứu liên quan. Luận văn đã sử dụng phương pháp này để thu thấp số liệu về những kết quả đạt được cũng như những hạn chế của công tác quản lý nhà nước trên địa bàn thành phố Đồng Hới hậu Covid.
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu: Sử dụng phương pháp đối thoại với một đối tượng nhằm thu thập thông tin: gôm 50 mẫu (người).Trong đó 20 người là cán bộ quản lý của các Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Công thương, Sở Lao động thương binh và xã hội, Quỹ Đầu tư, Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất, cán bộ phòng Kinh tế ngành, Văn phòng UBND thành phố Đồng Hới hậu Covid và 30 chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa
5.2.3. Phương pháp thống kê: Số liệu từ dữ liệu thứ cấp thu thập được từ các phương pháp trên và kết hợp với phương pháp thống kê, so sánh, tiến hành xử lý các dữ liệu từ đó đưa ra các nhận xét đánh giá về những thành công hay hạn chế của việc thực thi các chính sách quản lý nhà nước đối với phát triển DNNVV.
5.2.4. Phân tích tổng hợp: Phân tích tổng hợp là phương pháp thông qua việc phân tích để đưa ra những đánh giá chung nhất, có tính khái quát nhất. Phương pháp này dùng để phân tích thực trạng phát triển DNNVV tại thành phố Đồng Hới hậu Covid. Từ đó rút ra những đánh giá khái quát nhất về chính sách quản lý nhà nước đối với phát triển DNNVV để người đọc có cái nhín tổng quát hơn về các chính sách này.

6 .Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vào thực tiễn của một địa phương đặc thù.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc điều chỉnh chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các viện nghiên cứu và các trường đại học.
7. Cơ cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chương 2: Thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới hậu Covid.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Đồng Hới hậu Covid giai đoạn 2016 – 2020.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. Doanh nghiệp và sự cần thiết phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
– Khái niệm doanh nghiệp
Khoản 7 và 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì doanh nghiệp được hiểu như sau: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tuc một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi [10].
– Khái niệm doanh nghiêp tư nhân
Khoản 1 Điều 183 Luật doanh nghiệp ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì Doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Việc đưa ra khái niệm chuẩn xác về DNNVV có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đối tượng được hưởng các chính sách hỗ trợ. [10]
Quan niệm về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang ngày càng được mở rộng tại Việt Nam, việc phát triển nguồn lực nội tại, trọng tâm là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang trở thành đòi hỏi bức thiết.
Phát triển doanh nghiệp: là quá trình hoàn thiện về mọi mặt của doanh nghiệp, bao gồm: vốn, lao động, công nghệ, thị trường, nguồn nguyên liệu, văn hoá, môi trường, xã hội… trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo lợi nhuận cao hơn.
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa:là một quá trình nỗ lực của cả cơ quan quản lý nhà nước (Chính phủ và địa phương) để tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như nổ lực của bản thân doanh nghiệp nhằm gia tăng về số lượng, quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong một thời gian nhất định, đảm bảo rằng lợi nhuận cao hơn, tức là mức độ hài lòng của chủ doanh nghiệp cao hơn.
Từ thực tiễn của các nước có thể thấy, sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm phát triển DNNVV là hết sức cần thiết. Các biện pháp hỗ trợ tập trung chủ yếu vào hỗ trợ tài chính, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ phát triển và đổi mới công nghệ, xúc tiến xuất khẩu, tháo dỡ những khó khăn; chính sách thu hút đầu tư và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNVV, giúp liên kết giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp lớn. Mục đích chính của các biện pháp này là nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV. Một điểm quan trọng có thể thấy, hầu hết các hoạt động trợ giúp DNNVV để thu được hiệu quả cần phải được thực hiện theo các chương trình với những mục tiêu cụ thể. Có thể nói các biện pháp được thực hiện ở mỗi địa phương khác nhau và đây cũng là điều mà Việt Nam nói chung và thành phố Đồng Hới hậu Covid nói riêng cần tính đến khi áp dụng các bài học kinh nghiệm của các nước và thực tiễn ở địa phương mình. DNNVV là khu vực có khả năng khai thác và thu hút vốn trong dân, đây là nguồn vốn có nhiều tiềm năng chưa được khai thác. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển DNNVV mới có thể khai thác tối đa các tiềm năng của xã hội cho đầu tư phát triển.
DNNVV góp phần quan trọng trong việc giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy được nội lực vào xây dựng phát triển kinh tế, xã hội. Góp phần đáng kể vào phục hồi và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập quốc dân, gia tăng giá trị xuất khẩu cho địa phương.
DNNVV góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Các DNNVV có khả năng tạo ra việc làm với mức đầu tư thấp để giải quyết việc làm cho số lao động dôi ra do sự phát triển của khoa học công nghệ cũng như việc đẩy mạnh việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Việc giải quyết có hiệu quả vấn đề thất nghiệp sẽ dẫn đến giảm bớt các tệ nạn xã hội và tạo ra phát triển hài hòa cho nền kinh tế.
DNNVV góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng kinh tế thị trường nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế. Sự tham gia với mức độ ngày càng lớn của DNNVV đã tác động mạnh mẽ đến các DN nhà nước, buộc các doanh nghiệp này phải cải tổ, sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức sản xuất kinh doanh để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường.
DNNVV là nơi đào tạo và sàn lọc các nhà quản lý doanh nghiệp thông qua thực tiển sản xuất kinh doanh, góp phần xây dựng một đội ngũ các doanh nhân, lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp có chất lượng cho địa phương. Cơ chế quản lý mềm dẻo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng tạo điều kiện cho sự phát triển năng lực của người lao động, từng bước thực hiện công bằng xã hội. Vì vậy, vai trò của DNNVV ngày càng lớn đối với nên kinh tế – xã hội của Việt Nam.
1.2. Thực hiện Chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
– Khái niệm:
Chính sách phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừalà tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
– Vai trò của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò cực kỳ quan trọng, là một công cụ, một giải pháp hữu hiệu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế – xã hội và phục vụ người dân; chính sách phát triển DNNVV có vai trò cụ thể hóa các chủ trương đường lối, ý chí của Đảng và pháp luật của nhà nước về lĩnh vực kinh tế; chính sách phát triển DNNVV là sáng kiến, là nguồn khơi dậy sức sống thực tế của pháp luật; chính sách phát triển DNNVV có vai trò như một công cụ mà nhà nước sử dụng để tạo môi trường thuận lợi khuyến khích cho các hoạt động kinh tế – xã hội phù hợp với đinh hướng và quy định của nhà nước; đồng thời chính sách phát triển DNNVV còn có vai trò tăng cường sự phối hợp giữa các cấp chính quyền vì mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
Hình thức hỗ trợ từ Chính phủ chủ yếu thông qua các chính sách công. Chính sách công được tiếp cận nghiên cứu từ những giác độ khoa học khác nhau theo đó có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau về khái niệm và các thuộc tính của chính sách công. Trong nghiên cứu này, chính sách công được nhìn nhận là một chính sách của nhà nước, của Chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra) là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách chung của mỗi nước. Về kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cộng cho nền kinh tế. Chính sách công là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để: khuyến khích việc sản xuất của DNNVV đảm bảo hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế. Chính sách công; quản lý nguồn lực một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. Nói cách khác, chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn nhân lực của nhà doanh nghiệp. Hay khi có một vấn đề kinh tế – xã hội nào đó xuất hiện, chính quyền sẽ lựa chọn nội dung, mục tiêu và cách thức hỗ trợ, giải quyết vấn đề đó. Sự lựa chọn đưa đến quyết định và toàn bộ quy trình này được đặt trong môi trường tương tác của các tác nhân chính sách, tạo ra hàng loạt các ràng buộc trước khi chính sách xuất hiện và các tác động sau đó. Tuy nhiên chính sách hỗ trợ không có nghĩa là nhà nước bao cấp mà chính sách hỗ trợ này phải có mục tiêu, có điều kiện, có thời hạn… và đặc biệt là phải phù hợp với những cam kết trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới.
Nội dung của chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thường bao gồm những nội dung về: hỗ trợ pháp lý; hỗ trợ tài chính; hỗ trợ đổi mới, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ nguồn nhân lực; hỗ trợ thị trường, kết nối cung cầu.
Hình thức hỗ trợ từ chính quyền địa phương được thể hiện thông qua hệ thống quản lý của nhà nước, có sự phân cấp giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương khá rõ nét. Phân cấp này tạo nên vai trò và những ràng buộc trách nhiệm nhất định trong hoạt động của chính quyền địa phương. Chính quyền cấp tỉnh là cấp quan trọng nhất đối với việc triển khai thực hiện chính sách phát triển kinh tế địa phương nói chung và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng.
Mục đích ban hành các chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung, DNTT nói riêng nhằm làm cho các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để phát huy tiềm năng, thế mạnh của mình.
Cơ sở pháp lý toàn diện đã thực sự là nguồn động viên cho DNNVV nói riêng, và KTTN nói chung phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam.Việc tìm kiếm thông tin, mở rộng thị trường ra nước ngoài, gồm xuất khẩu tư bản, xuất khẩu hàng hóa, thiết bị công nghệ và nguồn nhân lực cũng là việc làm hết sức quan trọng đòi hỏi sự hỗ trợ tích cực từ phía nhà nước đối với DNNVV thông qua các chính sách hỗ trợ tích cực từ phía chính quyền.
Chính sách khuyến khích các DNNVV tham gia thị trường thương mại điện tử, có hình thức thích hợp giúp các DN nhỏ, tiểu thủ công nghiệp, ở các làng nghề các trung tâm công nghiệp nhỏ có thể tiếp cận với thị trường để quảng bá hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm. Mối quan hệ giữa nhà nước và DNNVV thông qua các cơ chế chính sách như Luật doanh nghiệp, các chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư có tác động rất lớn tới sự phát triển của DNNVV. Thực tế hiện nay cho thấy sự hỗ trợ của nhà nước đối với DNNVV tuy đã có những bước thay đổi tích cực tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nó. Hoạt động hỗ trợ, hướng dẫn khởi nghiệp mới tập trung chủ yếu vào tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, hướng dẫn các thủ tục thành lập DN mà cũng chỉ tập trung vào những thành phố và vùng đô thị. Các công việc hỗ trợ khác như: Đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, dịch vụ kế toán, xúc tiến thương mại, chuyển giao KHCN, đào tạo tư vấn quản lý, cung cấp thông tin… quá ít so với yêu cầu, còn mang nặng cơ chế xin cho, thiếu công bằng, kém hiệu quả.
Vấn đề mấu chốt có ý nghĩa quyết định là có chính sách hỗ trợ cho DNNVV nâng cao năng lực cạnh tranh đi đôi với sự tạo lập thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định, coi trọng thị trường nội địa, nhất là thị trường nông thôn. Hình thành chính sách xử lý những hậu quả xấu do biến động trên thị trường gây ra như chống lạm phát, phá sản, thất nghiệp. Triệt để xóa bỏ những hàng rào ngăn cách thị trường theo kiểu cát cứ địa phương, các trạm kiểm soát không cần thiết. Đổi mới các thủ tục và phương pháp nghiệp vụ của thuế quan ở các cảng, cửa khẩu, sân bay, nhanh chóng giải phóng hàng hóa và đưa thiết bị vào lưu thông.
Việc phát triển các DNNVV hoạt động phụ thuộc vào các chính sách hỗ trợ phát triển của các cơ quan quản lý địa phương. Mục tiêu phát triển của địa phương là phát triển Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp thì phải có các chính sách cụ thể đi kèm nhằm phát triển như: Mặt bằng sản xuất, thị trường xuất khẩu, chính sách phát triển các doanh nghiệp hỗ trợ nhỏ…
DNNVV còn được phát triển bền vững nếu có sự hỗ trợ tích cực từ các cơ quan nhà nước quản lý. Cơ quan nhà nước có những động thái tích cực trong công tác hoàn thiện hệ thống chính sách liên quan đến hoạt động của DNNVV là động lực giúp DNNVV phát triển.
Các chính sách về thuế, chính sách ưu tiên phát triển ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, chính sách về mặt bằng sản xuất, chính sách hỗ trợ thông tin, chính sách hỗ trợ vốn, đặc biệt là chính sách hỗ trợ DNNVV lựa chọn hướng đi đúng đắn trong nền kinh tế hiện nay.
Những chính sách hỗ trợ của địa phương cũng như chính sách của nhà nước không đi sát vào thực tế hoạt động của từng TPKT sẽ dẫn đến mất công bằng. Chính sách không rõ ràng minh bạch sẽ dẫn đến thiếu tin tưởng vào cơ quan quản lý, tình trạng này có thể đưa các DNNVV rất khó khăn trong vấn đề cạnh tranh với các TPKT khác.
– Mục tiêu của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Mục tiêu của chính sách công là vừa đảm bảo quyền lợi của đại đa số cá nhân trong xã hội và thể hiện được quyền lực của Nhà nước. Chính sách công ra đời nhằm giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong xã hội, chính sách công phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các nhóm hoặc mang lại lợi ích cho đại đa số nhân dân trong xã hội.
– Chính sách công phải phục vụ nhân dân, vì quyền lợi của nhân dân. Không đảm bảo nguyên tắc này chính sách công không có nghĩa và không đi vào cuộc sống.
– Chính sách công là chính sách của Nhà nước, phục vụ lợi ích công nên hầu hết các chính sách đều có tính bắt buộc phải thi hành.
Chính sách công phải có ít nhất 3 mục đích sau:
+ Chính sách công do Nhà nước, Chính phủ ban hành là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước.
+ Về mặc kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ảnh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cộng cho nền kinh tế.
+ Chính sách công là công cụ quản lý của Nhà nước, được Nhà nước sử dụng để khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hành hóa dịch vụ cho nền kinh tế, khuyến khích cả khu vực công và khu vực tư; quản lý nguồn lực công một cách có hiệu quả, hiệu lực thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Xác định mục tiêu chính sách là vấn đề quan trọng hàng đầu trong hoạch định, xây dựng chính sách công. Mục tiêu của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừalàtạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNVV phát triển, đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng. Quyền tự do kinh doanh của doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân cũng như sự bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp ngoài nhà nước đã được quy định trong Hiến pháp. Tuy nhiên, trên thực tế, sự phân biệt lại thể hiện khá rõ. Một bộ phận lớn các doanh nghiệp ngoài nhà nước là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chưa thực sự được đối xử bình đẳng với khối DNNN, doanh nghiệp FDI. Mặc dù có số lượng áp đảo tại Việt Nam, nhưng các doanh nghiệp dân doanh đang cảm nhận sự lấn át từ phía các doanh nghiệp FDI, DNNN nói chunglà doanh nghiệp lớn có mối quan hệ thân quen với chính quyền. Một số chính quyền đang tập trung mọi nỗ lực vào thu hút đầu tư nước ngoài, trong khi đó mọi những quy định về thủ tục hành chính được áp dụng một cách nặng nề như nhau cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô lớn nhỏ. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ DNNVV nhưng các chính sách này khá tản mạn, chưa giảm thiểu được những thủ tục này (nhất là thủ tục thuế) và kết quả là các DNNVV thường bị thua thiệt nhiều hơn so với các doanh nghiệp lớn. Mục tiêu xác định đúng và trúng sẽ đảm bảo tính khả thi, tính hiện thực và hiệu quả của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển.
Để xác định rõ mục tiêu ban hành chính sách cần phải chú ý đến vấn đề sau:
– Tính bức xúc của vấn đề chính sách đối với đời sống xã hội
– Tính phức tạp của vấn đề chính sách
– Tính thời cơ của việc ban hành chính sách
– Khả năng giải quyết vấn đề bằng chính sách nhà nước
– Kết quả và hiệu quả kinh tế xã hội của chính sách so với yêu cầu quản lý nhà nước.
Phát triển doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng, trọng tâm là phát triển chất lượng; tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia tích cực vào chuỗi giá trị (sản xuất, phân phối) các hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế của thành phố và của cả nước, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập của người lao động.
– Nội dung của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ở Việt Nam, vị trí và vai trò của DNNVV ngày càng được khẳng định, sự đổi mới về nhận thức, quan điểm, và chính sách của Đảng từ đại hội VI đến nay đã tạo điều kiện để DNNVV phát triển, quan điểm và chính sách khuyến khích phát triển DNNVV ở Việt Nam. Từ các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các Bộ Ngành từ Trung ương đến địa phương đã cụ thể thành những kế hoạch, đề án, chương trình, kế hoạch thực hiện.
Chính sách hỗ trợ pháp lý: Vai trò của cải cách hành chính đối với sự phát triển của DNNVV được thể hiện chủ yếu ở việc làm giảm thời gian và chi phí của DNNVV trong quá trình gia nhập thị trường cũng như tiến hành các hoạt động thương mại.Điều đó sẽ làm tăng sức cạnh tranh của DNNVV. Thủ tục hành chính là yếu tố quyết định đến thời gian và chi phí của DNNVV. Nếu thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp sẽ làm tăng thời gian và chi phí của DNNVV, hơn thế nữa, nó còn làm mất cơ hội kinh doanh của DNNVV vì thị trường đòi hỏi DNNVV phải có những quyết định tốn ít thời gian và chi phí, từ đó nâng cao tính cạnh tranh của DNNVV. Do vai trò quan trọng của thủ tục hành chính như vậy, nên không có gì ngạc nhiên khi tất cả các nước trên thế giới hiện nay đều hướng tới việc thực hiện các biện pháp nhằm loại bỏ các quy định pháp luật, các thể chế và thủ tục hành chính có thể làm tăng chi phí gia nhập thị trường, chi phí tiến hành các hoạt động thương mại của các DNNVV hoạt động trên đất nước mình. Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh bao gồm tất cả những dịch vụ không trực tiếp liên quan đến tài chính mà DNNVV có thể có nhu cầu như đào tạo, tư vấn kỹ thuật, tổ chức hội chợ thương mại, hội thảo, hội nghị chuyên đề, mở rộng giao lưu quan hệ kinh doanh, thu thập và cung cấp thông tin về những vấn đề có tác động đến hội viên.
Chính sách hỗ trợ tài chính: Theo đánh giá Việt Nam có nhiều thay đổi tích cực trong lĩnh vực vay vốn tín dụng bởi đã áp dụng hệ thống đăng ký thông tin tín dụng giúp lưu trữ các hồ sơ tín dụng thuận lợi hơn, giúp cung cấp cho các tổ chức tín dụng có thêm các hệ thống thông tin về tín dụng và khả năng trả nợ của các DNNVV tiềm năng. MPI (2008) cho rằng, so với trước, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn dễ dàng hơn. Các ngân hàng hiện nay đã sẵn sàng hơn trong việc cho vay, các gói sản phẩm và dịch vụ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phong phú hơn, bao gồm hoạt động cho thuê tài chính và một vài hoạt động thanh toán bắt đầu được triển khai. Nhìn chung các nghiên cứu còn lại đều cho rằng những cản trở về mặt tín dụng lại là rào cản quan trọng nhất tới sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tỷ lệ những doanh nghiệp Việt Nam đánh giá sự thiếu khả năng tiếp cận đến tín dụng là một cản trở quan trọng đến sự tăng trưởng cao hơn nhiều các nước khác trong khu vực và trên thế giới (WB, 2006). Nguyên nhân, theo Hakkala và Kokko (2007), là do 99% DNNVV là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên việc tiếp cận vốn khó khăn hơn những doanh nghiệp có lịch sử tín dụng nhiều năm hơn. Malesky và Taussig (2005) cho rằng, sự bất công bằng trong việc tiếp cận các nguồn tín dụng được tạo ra bởi những quy định thế chấp. Theo đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một loại giấy tờ thế chấp thông dụng, chứ không phải là tiềm năng kinh doanh vì môi trường luật pháp thể chế không đảm bảo, không đủ khả năng để bảo vệ người đi vay, cũng như việc thiếu năng lực đánh giá và quản lý tính thanh khoản của các tài khoản thế chấp khác như máy móc thiết bị. Theo MPI (2008), 32% DNNVV gặp khó khăn về nguồn tài chính, tín dụng. Việc các ngân hàng yêu cầu phải cung cấp kế hoạch kinh doanh và các DNNVV phải chứng minh được quyền sở hữu tài sản cũng là một trong những lý do chính cản trở doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được các nguồn vốn. Đó là chưa kể sự thiếu minh bạch và không thống nhất trong thủ tục và quyết định cho vay của các ngân hàng đối với loại hình doanh nghiệp này.
Chính sách hỗ trợ đổi mới, chuyển giao công nghệ: Sự phát triển của khoa học và công nghệ và đặc biết là công nghệ thông tin đã mở ra khả năng rộng lớn hơn sự phát triển của các DNNVV. Nó tạo điều kiện và khả năng cho DNNVV có thể trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, năng động, linh hoạt hơn trong việc lựa chọn đưa vào ứng dụng và khai thác công nghệ mới. Sự phát triển của công nghệ nói chung và công nghệ thông tin nói riêng đã ảnh hưởng lớn đến xu hướng phát triển của DNNVV. Nhưng bên cạnh đó trình độ và khả năng ứng dụng công nghệ của các DNNVV có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển DNNVV. Ngoài ra sự quan tâm đúng mức tới phát triển công nghệ, khả năng khai thác công nghệ mới của đội ngũ lao động cũng ảnh hưởng đến sự phát triển DNNVV.Chất lượng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghiệp hóa có ảnh hưởng rất quan trọng đến phát triển DNNVV tại địa phương. Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh (bao gồm cả hệ thống đường bộ, đường sắt, đường hàng không, mạng lưới cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông và các dịch vụ tiện ích khác), là điều mong muốn đối với các DNNVV. Nói đến cơ sở hạ tầng kỹ thuật không chỉ nói đến đường, cầu cống, kho tàng, bến bãi… mà còn phải kể đến các dịch vụ hỗ trợ khác như hệ thống ngân hàng, các công ty kiểm toán, tư vấn… Thiếu sự hỗ trợ cần thiết của các hoạt động này, môi trường đầu tư cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, hiệu quả hoạt động của các cơ sở công nghiệp địa phương, sự có mặt của các ngành công nghiệp hỗ trợ, sự tồn tại các đối tác tin cậy để các DNNVV có thể liên doanh liên kết cũng là những yêu cầu rất quan trọng cần phải được xem xét đến.
Chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực: Năng lực của chủ DNNVV thể hiện ở việc tối ưu hóa cơ cấu tổ chức, xây dựng chiến lược và tổ chức thực hiện chiến lược có hiệu quả cao. Chủ DNNVV có khả năng nhận thức về tình hình thị trường và khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh. Họ luôn là những người đi đầu trong đổi mới, dám tìm kiếm những phương hướng mới, đặc ra những nhiệm vụ chuyển đổi cho thích ứng với môi trường kinh doanh. Chủ DNNVV còn phải có năng lực quản trị chiến lược, sự yếu kém vê tầm nhìn chiến lược trong phát triển kinh doanh là một trong những nguyên nhân của sự thất bại trong phát triển dài hạn. Ngoài ra, trình độ chuyên môn và tay nghề của người lao động ngày càng cao thì khả năng hoàn thành chiến lược kinh doanh ngày càng tốt hơn. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển đòi hỏi công tác đào tạo cán bộ ngày càng cao và phải cập nhật thường xuyên.
Chính sách hỗ trợ thị trường, kết nối cung cầu: Tính chất, quy mô, nhu cầu của thị trường, là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp tới hoạt động của các DNNVV. Thị trường với nhu cầu đa dạng, thay đổi nhanh, khối lượng nhu cầu không lớn sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động của DNNVV này. Ngược lại, thị trường dụng lượng lớn, chủng loại ít, tương đối ổn định sẽ là cơ sở cho các DNNVV lớn tham gia tăng cường tính cạnh tranh, làm khó khăn cho hoạt động của các DNNVV. Với đặc điểm của sự phát triển nhu cầu hiện nay theo hướng nhu cầu ngày càng đa dạng, nhiều chủng loại khối lượng không nhiều nhưng thay đổi nhanh là một thuận lợi lớn cho các DNNVV phát triển hoạt động có hiệu quả. Thị trường là một trong những vấn đề nan giải và khó khăn cho các DNNVV, bao gồm cả thị trường đầu vào và đầu ra. Trong đó đặc biệt quan tâm đến thị trường đầu ra cho sản phẩm, nếu như thị trường đầu ra ổn định, được mở rộng sẽ tạo điều kiện cho DNNVV tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, lợi nhuận và ngược lại. Quy mô và tiềm năng phát triển của thị trường còn là một trong những nhân tố quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư. Ở vùng nào tập trung đông dân cư, thị trường kỳ vọng tăng trưởng nhanh trong tương lai và có các cơ hội mở rộng ra các thị trường lân cận sẽ khuyến khích những nhà đầu tư có khả năng, lựa chọn để đầu tư khai thác.
Nhân tố con người đóng vai trò quyết định tạo dựng cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hai phương diện của chủ thể ảnh hưởng đến khả năng của nhà nước với việc thực hiện chính sách là sự tự chủ và năng lực của tổ chức. Sự thống nhất trong và giữa các cấp, ngành, cơ quan nhà nước là yếu tố quyết định năng lực tổ chức nhà nước, mức độ chuyên môn của tổ chức nhà nước là thiết yếu thúc đẩy năng lực nhà nước.
Chính quyền cấp tỉnh/thành phố gồm: Hội đồng nhân dân thành phố, UBND thành phố và các cơ quan chuyên môn của UBND thành phố.
Hội đồng nhân dân thành phố là cơ quan quyết định quy hoạch, kế hoạch, chủ trương, biện pháp nhằm triển khai thực hiện các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên để phát triển địa phương.
UBND thành phố có nhiệm vụ xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của thành phố, chỉ đạo thực hiện kiểm tra và quản lý mọi lĩnh vực tại địa phương. Xây dựng khung pháp lý thuận lợi, minh bạch cho các chủ thể kinh tế nói chung và chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng, trên cơ sở chính sách pháp luật của trung ương và điều kiện địa phương. Xây dựng chỉ đạo thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, giải pháp phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, có trật tự kỹ cương trong phát triển kinh tế, cải cách thủ tục hành chính, tham gia hợp tác thương mại quốc tế.
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố là cơ quan tham mưu, giúp UBND thành phố triển khai thực hiện chức năng nhiệm vụ theo ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND thành phố và quy định của pháp luật. Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố là đơn vị trực tiếp xây dựng các chính sách hỗ trợ , cụ thể, xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Nhà nước về hỗ trợ và phát triển DNNVV, định hướng công tác phát triển DNNVV. Tổng hợp xây dựng các chương trình hỗ trợ, điều phối và thực hiện các chương trình trợ giúp sau khi được duyệt; cụ thể hóa thành các dự án như phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ phù hợp, phát triển các dịch vụ hỗ trợ. Định kỳ tổ chức đối thoại giữa UBND thành phố với DNNVV hoặc gặp gỡ trực tiếp với DNNVV nhằm trao đổi thông tin, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong hoạt động kinh doanh của các DNNVV. Hàng năm báo cáo của UBND thành phố và các Bộ về tình hình hỗ trợ phát triển DNNVV và các vấn đề giải quyết cho DNNVV. Sự tham gia của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng và hoạch định chính sách về phát triển doanh nghiệp, thực hiện tốt vấn đề này sẽ giúp chính sách có chất lượng, sát thực tế, giúp cho các DNNVV thực hiện chính sách dễ dàng, tạo điều kiện thuận lợi và các động lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DNNVV đạt hiệu quả cao, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tóm lại, Sự hỗ trợ của chính phủ và chính quyền địa phương có tác động rất lớn đến việc hình thành môi trường kinh doanh thuận lợi cho sự ra đời và phát triển DNNVV.
Điều kiện vật chất ngày càng có ý nghĩa quan trọng để cùng với nguồn nhân lực và các yếu tố khác thực hiện thành công chính sách phát triển DNNVV. Các hoạt động kinh tế – xã hội ngày càng được tăng cường về quy mô và trình độ thì yêu cầu về điều kiện vật chất cũng tăng lên đểthỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội. Cùng với sự gia tăng về quy mô là sự phát triển nhanh chóng về trình độ làm cho các hoạt động trở nên đa dạng, phức tạp hơn. Để quản lý mọi mặt hoạt động trong điều kiện phát triển hiện nat, nhà nước luôn phải tăng cường các nguồn lực vật chất và nguồn nhân lực. Việc đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng đồng bộ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình thực hiện chính sách phát triển DNNVV đã trở thành một nguyên lý phát triển. Việc quyết định đầu tư điều kiện vật chất để thực hiện chính sách phát triển DNNVV đến đâu, theo cách nào là do nhà nước chủ động lựa chọn trên cơ sở năng lực hiện có của chủ thể thực hiện chính sách. Nếu các điều kiện vật chất kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu sẽ giúp cho tính khả thi của công tác tổ chức thực hiện chính sách phát triển DNNVV được tăng cường và đạt hiệu quả cao. Trong thực tế, nếu thiếu các điều kiện vật chất, kỹ thuật, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao thì việc tuyên truyền, phổ biến về thực hiện chính sách phát triển DNNVV khó có thể chuyển tải những nội dung của chính sách đến với các DNNVV một cách thường xuyên và đạt hiệu quả được.
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa diễn ra trong thời gian dài và có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân, vì thế kết quả việc thực hiện chính sách phát triển DNNVV cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: trình độ, nhân thức, chuyên môn của nguồn nhân lực tham gia vào quá trình thực hiện chính sách phát triển DNNVV có thể gồm chủ các DNNVV, cán bộ công chức có liên quan đến thực hiện chính sách. Nắm chắc được các yếu tố tác động, người chỉ đạo, điều hành có thể thúc đẩy những yếu tố tác động tích cực nhằm thực hiện chính sách một đạt hiệu quả. Đồng thời có thể tạo lập môi trường thuận lợi cho các yếu tốc đó vận động phù hợp với yêu cầu của chính sách phát triển DNNVV. Để tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, phát hiện các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển DNNVV một cách thuận lợi, cần thiết phải phân loại các yếu tố tác động một cách thích hợp với tình hình phát triển của DNNVV. Dưới đây là những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển DNNVV:
-Chính sách hỗ trợ pháp lý
– Chính sách hỗ trợ tài chính
– Chính sách hỗ trợ đổi mới, chuyển giao công nghệ
– Chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực
– Chính sách hỗ trợ thị trường, kết nối cung cầu
1.3. Kinh nghiệm thực thi chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của một số tỉnh, thành ở Việt Nam
DNNVV đóng vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của Hà Nội. Chính sách phát triển DNNVV Hà Nội thể hiện qua các nội dung sau:
Hoạch định chính sách phát triển DNNVV: trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ trợ giúp phát triển DNNVV trong thời gian tới, UBND thành phố đã giao nhiệm vụ cho các sở Kế hoạch và đầu tư là cơ quan chủ trì, kết hợp với Sở Công thương và sở Tài chính hoạch định kế hoạch chính sách phát triển DNNVV.
Cải thiện môi trường kinh doanh: UBND thành phố phối hợp với VCCI nghiên cứu phân tích chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) nhằm cải thiện môi trường kinh doanh cho các DNNVV. UBND thành phố cũng đã đề nghị các quận, huyện tạo điều kiện cho các DNNVV phát triển, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Chính phủ, nhằm giảm thiểu các chi phí giao dịch hành chính, tiết kiệm thời gian, hỗ trợ DNNVV tham gia vào thị trường một cách thuận lợi.
Hỗ trợ tổ chức quản lý: Hà Nội đã rất tích cực triển khai Nghị định số 56/2009/NĐ-CP – về chính sách trợ giúp phát triển DNNVV (trước đây là Nghị định số 90/2001/NĐ-CP); Nghị định 45/2010/NĐ-CP; Nghị định 88 NĐ-CP/2005 ngày 30 tháng 7 năm 2005 về tổ chức quản lý và thành lập hiệp hội Doanh nghiệp (trước đây là Nghị định số 88/2005/NĐ-CP)
Hỗ trợ về vốn tín dụng: UBND thành phố Hà Nội đã thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp, quỹ bảo lãnh tín dụng với mực đích tài trợ các chương trình giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho DNNVV.
Hỗ trợ về mặt bằng kinh doanh: UBND thành phố Hà Nội công bố công khai quỹ đất để thực hiện đầu tư các khu, cụm công nghiệp, làng nghề cho các DNNVV có nhu cầu thuê làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh hoặc di dời ra khỏi nội thành, nội thị để đảm bảo cảnh quan môi trường và phù hợp quy hoạch.
Hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ: Thành phố Hà Nội sẽ khuyến khích các DNNVV đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị kỹ thuật theo chiến lược phát triển và mở rộng sản xuất đối với các sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ; giới thiệu và cung cấp thông tin về công nghệ, thiết bị cho các DNNVV , hỗ trợ đánh giá và lựa chọn công nghệ.
Phát triển công nghiệp phụ trợ: Thành phố Hà Nội đã tổ chức lễ ký kết thỏa thuận hợp tác phát triển công nghiệp phụ trợ với Trung tâm hỗ trợ Doanh nghiệp, VCCI, Sở Công thương, Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất, Ngân hàng phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Công ty cổ phần phát triển Đầu tư N&G, nhằm mang lại cơ hội phát triển cho các DNNVV , góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh , chủ động hội nhập.
Thành lập các hiệp hội hỗ trợ phát triển DNNVV: Các Hiệp hội đã góp phần vào sự phát triển của DNNVV. Cùng với những sáng kiến hỗ trợ của các Hiệp hội và các tổ chức hỗ trợ của địa phương các DNNVV còn nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức xúc tiến và các Hiệp hội Doanh nghiệp ở các cấp quốc gia đóng trên địa bàn Hà Nội.
Ngoài ra các DNNVV Hà Nội còn được hỗ trợ thông qua các chương trình như: Chương trình khuyến công, Chương trình xúc tiến thương mại, Chương trình hỗ trợ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, các loại quỹ chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin.v.v
Thành phố Hồ Chí Minh hiện có khoảng 48.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó có gần 47.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh với số vốn đăng ký khoảng 67.000 tỷ đồng , phần lớn là DNNVV. Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chương trình, giải pháp hỗ trợ phát triển các DNNVV, cụ thể:
Hoạch định kế hoạch phát triển DNNVV: Tập trung tái cơ cấu nền kinh tế chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, bảo đảm chất lượng, hiệu quả, sản phẩm mang tính cạnh tranh cao, xây dựng các công trình trọng điểm; rà soát, sắp xếp lại các tập đoàn, Tổng công ty , lĩnh vực tài chính – Ngân hàng.
Cải cách thủ tục hành chính: Trên cơ sở khung pháp lý là Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30-6-2009 về trợ giúp phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện cải cách hành chính nhằm tạo điều kiện phát triển DNNVV. Đi liền với việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thành phố Hồ Chí Minh còn quan tâm “cải cách” tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị , của cán bộ công nhân viên, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu đối với công việc chung.
Hỗ trợ về vốn: Thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV vơi thời gian hoạt động 50 năm, có vốn điều lệ 50 tỷ đồng khi thành lập.Quỹ có chức năng tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách, vốn tài trợ hợp pháp để thực hiện cấp bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV. Ngoài ra, thành phố Hồ Chí Minh còn phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng nhà nước tập trung tháo gỡ khó khăn về lãi suất ngân hàng, đảm bảo hỗ trợ kịp thời, ưu tiên vay vốn cho các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu , công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ, DNNVV sử dụng nhiều lao động.
Hỗ trợ tư vấn pháp lý: Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo các sở, ban, ngành, quận, huyện thực hiện tư vấn pháp lý các thủ tục hành chính và tư vấn khoa học nhằm hỗ trợ các DNNVV trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, như: chương trình thiết kế, chế tạo thiết bị có trình độ công nghệ tiên tiến với chi phí thấp thay thế nhập khẩu nhằm hỗ trợ các DNNVV ngành cơ khí phát triển.
Hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý: thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ Doanh nghiệp áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, năng suất và kỹ thuật (ISO 9001, ISO 14000, HACCP, SA 8000, 5S, ISO 22000, ISO/IEC 17025).
Hỗ trợ tư vấn tiết kiệm năng lượng: Chương trình tiết kiệm năng lượng đã cung cấp thông tin trên 10.000 DNNVV , tư vấn giải pháp tiết kiệm năng lượng cho hơn 100 DNNVV với khả năng tiết kiệm năng lượng khoảng 20%.
Hỗ trợ phát triển Khoa học công nghệ: Thành phố Hồ Chí Minh cũng triển khai thực hiện chương trình khuyến công, hỗ trợ DNNVV nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và chuyển giao thiết bị mới nhằm nâng cao nhận thức của các DNNVV ; đồng thời , tư vấn đầu tư máy móc thiết bị, công nghê, hỗ trợ cải tiến thiết bị, hỗ trợ chuyển giao công nghệ.
Tỉnh Bình Dương hiện có khoảng 13.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Phần lớn là các doanh nghiệp thành lập dưới dạng công ty TNHH hai thành viên (chiếm 41%). Công ty TNHH một thành viên chiếm 35%, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 16%, còn lại là loại hình công ty cổ phần (7%). DNNVV đóng vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của Bình Dương. Các DNNVV đóng góp đáng kể vào tổng đầu tư toàn xã hội, tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội… Trong giai đoạn 2011-2015, các DNNVV giải quyết việc làm cho khoảng 290.000 lao động, đóng góp cho ngân sách tỉnh tăng dần qua các năm, từ 25% năm 2011 tới khoảng 36% vào năm 2015, đóng góp khoảng 25% vào GDP tỉnh Bình Dương.
Tỉnh Bình Dương đã triển khai nhiều chương trình, giải pháp hỗ trợ phát triển các DNNVV, cụ thể:
– Hoạch định kế hoạch phát triển DNNVV: Đẩy mạnh thực hiện các chương trình hành động đột phá của tỉnh gắn với các nhiệm vụnhằm tái cơ cấu phát triển DNNVV theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, bảo đảm nền kinh tế phát triển bền vững và tăng trưởng hợp lý. hoàn thiện hệ thống hạ tầng kinh tế – xã hội, phát triển DNNVV tạo tiền đề đưa tỉnh trở thành đô thị công nghiệp theo hướng văn minh, hiện đại. Triển khai thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách của Trung ương về tái cơ cấu đầu tư, doanh nghiệp, thị trường tài chính.
– Cải cách thủ tục hành chính: Nhận thức được vai trò, vị trí và tầm quan trọng của phát triển DNNVV trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của DNNVV, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30-6-2009 về trợ giúp phát triển Doanh nghiệp.Bình Dương đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển các DNNVV.Tỉnh ủy Bình Dương đã ban hành Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 22/07/2002, UBND tỉnh xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế tư nhân nói chung và DNNVV nói riêng, cụ thể cho từng năm. Đồng thời, ban hành Quyết định số 05/2012/QĐ-UBND (sửa đổi, bổ sung Quyết định số 31/2009/QĐ-UBND ngày 15/05/2009) quy định một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển DNNVV trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Bên cạnh đó tỉnh Bình Dương đã thực hiện cải cách hành chính, đơn giản hóa cải cách hành chính nhằm tạo điều kiện phát triển DNNVV.
– Hỗ trợ về vốn: Tỉnh Bình Dương đã có chính sách hỗ trợ DNNVV tiếp cận nguồn vốn phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp, tỉnh đã tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các DNNVV trong việc tiếp cận các nguồn vốn của các tổ chức tín dụng; thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suát vay cho các doanh nghiệp trên địa bàn.Trong 9 tháng đầu năm 2015, Quỹ hỗ trợ phát triển DNNVV tỉnh đã xét cho vay hơn 14 tỷ đồng (nâng tổng dư nợ cho vay lên gần 25 tỷ đồng) để các DNNVV mở rộng sản xuất kinh doanh.
– Hỗ trợ tư vấn pháp lý: Tỉnh Bình Dương chỉ đạo các Sở, Ban, ngành, quận, huyện, thực hiện tư vấn pháp lý các thủ tục hành chính và tư vấn khoa học nhằm giải đáp thắc mắc, nâng cao kiến thức về pháp luật, hỗ trợ cho DNNVV trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh: tiến hành đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo hướng chất lượng, hiệu quả. Khuyến khích mở rộng mạng lưới văn phòng luật sư và tăng cường dịch vụ hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp. Thành lập Trung tâm hỗ trợ tư vấn, tư vấn luật miễn phí cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
– Hỗ trợ về mặt bằng sản xuất kinh doanh và tiếp cận thị trường: Tình Bình Dương đã thực hiện chính sách tháo gỡ khó khăn về mặt bằng sản xuất cho DNNVV: tỉnh đã thực hiện việc công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng tại địa phương làm căn cứ giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho DNNVV. Đảm bảo hệ thống thông tin về đất đai phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tổ chức thực hiện có hiệu quả cải cách thủ tục hành chính trong công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng dất, đảm bảo nhanh gọn, đúng quy trình, giảm thiểu thời gian chờ đợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.Đồng thời, tỉnh cóchính sách hỗ trợ DNNVV tiếp cận thị trường, mở rộng sản xuất kinh doanh: tỉnh đã tổ chức nắm tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiệp hội ngành hàng, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp nhỏ và vừa,… xây dựng giải pháp, kế hoạch, nhiệm vụ nhằm phát triển việc cung cấp thông tin kinh doanh, dịch vụ xúc tiến thương mại, dịch vụ tìm đối tác kinh doanh, nhất là hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa quảng bá thương hiệu, củng cố thị trường xuất khẩu vốn có của mình, tìm kiếm thị trường mới, tổ chức hội chợ thương mại…
– Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng: Tỉnh đã trợ giúp phát triển nguồn nhân lực có tay nghề cho DNNVV, khuyến khích đầu tư tư nhân vào lĩnh vực đào tạo nghề, tuyển dụng và giới thiệu việc làm; thực hiện các chương trình khuyến khích nhằm thu hút lao động có tay nghề cao làm việc cho các DNNVV của tỉnh. Hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn trong việc đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp (may công nghiệp, chế biến gỗ, đan sợi nhựa, hàn khung sắt, may da giày…) 16 doanh nghiệp thụ hưởng. Nâng cao hoạt động của dịch vụ giới thiệu viêc làm, thị trường lao động, trung tâm giới thiệu việc làm, hội chợ việc làm.
– Hỗ trợ phát triển Khoa học công nghệ: Tỉnh đãcó giải pháp hỗ trợ đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ kỹ thuật cho các DNNVV: đã xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy mạnh dịch vụ liên quan đến công nghệ phục vụ cho DNNVV; nâng cao năng lực công nghiệp của các DNNVV thông qua các chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và mở rộng công nghệ sản xuất các sản phẩm, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, xử lý ô nhiễm môi trường; 52 doanh nghiệp thụ hưởng; giới thiệu, cung cấp thông tin về công nghệ, thiết bị cho các DNNVV…
Sau khi tổng hợp kinh nghiệm của các địa phương về phát triển DNNVV, một số bài học kinh nghiệm rút ra để thực hiện chính sách phát triển DNNVV cho Đồng Hới như sau:
– Cắt giảm thủ tục hành chính: Thực hiện có chế “một cửa liên thông” tại phòng đăng ký kinh doanh, thực hiện cắt giảm 30% thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho DNNVV sớm gia nhập thị trường.
– Trợ giúp những khó khăn về thuế, hải quan: thường xuyên tổ chức đối thoại doanh nghiệp để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, tăng cường hỗ trợ, xúc tiến thương mại…
– Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn: DNNVV sẽ được hưởng mức lãi suất vay vốn của Quỹ đầu tư phát triển thành phố với mức ưu đãi.
– Hỗ trợ DNNVV đẩy mạnh liên kết, hợp tác: tổ chứckết nối được với hiệp hội doanh nghiệp ở các nước phát triển có quan hệ hợp tác với Đồng Hới nhằm mở rộng quan hệ để các DNNVV Đồng Hới có cơ hội kết nối, giao thương, học tập kinh nghiệm.
– Hỗ trợ đào tạo tư vấn về quản lý: tư vấn cho các DNNVV tái cấu trúc lại doanh nghiệp theo hướng tinh gọn, tiết kiệm chi phí, mạnh dạn đầu tư thay đổi trang thiết bị, công nghệ hiện đại, học tập và ứng dụng các chương trình quản trị doanh nghiệp tiên tiến để nhanh chóng thích nghi với hoản cảnh, môi trường.
– Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng: đưa ra các chính sách hỗ trợ đào tạo cho các DNNVV, lồng ghép kế hoạch đào tọa doanh nhân trẻ vào kế hoạch trợ giúp phát triển DNNVV hằng năm.
– Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ: Các DNNVV khi sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông do thành phố xây dựng và quản lý sẽ được giảm giá. Được hỗ trợ 30% kinh phí đào tạo ban đầu (tối đa không quá 50 triệu đồng/ doanh nghiệp). DNNVV còn được hỗ trợ 100% kinh phí đăng ký bảo hộ bản quyền phần mềm trong nước.
Một số điểm cần khắc phục:
– Cần xây dựng kế hoạch phát triển DNNVV địa phương, phù hợp với nguồn vốn, điều kiện công nghệ, kỹ năng hiện có của địa phương. Cần khắc phục tình trạng đưa ra các chương trình, phương châm chung chung, mà cần thực tiễn hóa các chương trình hành động của địa phương.
– Tăng cường nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền về vị trí, vai trò của DNNVV trong phát triển kinh tế – xã hội. Cần xây dựng một cơ chế cạnh tranh tự do, công bằng giữa các thành phần kinh tế, đây là tiền đề cơ bản cho sự phát triển nhanh và mạnh đối với lực lượng Doanh nghiệp này.
– Cải thiện môi trường kinh doanh địa phương, thông mai cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu các chi phí giao dịch hành chính, tiết kiệm thời gian, hỗ trợ các DNNVV tham gia vào thị trường một cách thuận lợi hơn.
– Cần kết hợp cả sự hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp của địa phương.Trước mắt, cần tập trung chú trọng hỗ trợ về vốn, huy động và tiếp cận nguồn vốn cho các DNNVV để giải quyết những khó khăn nội tại của DNNVV như mở rộng quy mô, đổi mới công nghê, nâng cao trình độ, kỹ năng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận thị trường, định hướng thị trường cho DNNVV. Đây là tiền đề quan trọng giúp DNNVV tồn tại trong môi trường cạnh tranh và nhất là khi tham gia TPP. Sau đó, sẽ chuyển dần sang hình thức hỗ trợ gián tiếp bằng các công cụ pháp luật, chính sách, thể chế và lực lượng kinh tế nhà nước nhằm định hướng phát triển cho DNNVV. Hoạt động trợ giúp của địa phương chuyển dần tư hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ gián tiếp để nâng cao năng lực cho DNNVV. Cụ thể, trợ giúp thông qua các chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách đối ngoại nhằm tạo môi trường đầu tư ổn định, dài hạn cho DNNVV phát triển, đồng thời đầu tư vài các lĩnh vực cơ sở hạ tầng giao thông, nhằm định hướng phát triển cho các DNNVV.
Chương 1 tập trung trình bày một số khái niệm cơ bản liên quan đến: Phát triển DNNVV, vai trò của DNNVV và chính sách phát triển DNNVV trong phát triển kinh tế xã hội ra sao; một số nội dung liên quan đến chính sách phát triển DNNVV; điều kiện và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển DNNVV; về kinh nghiệm thực tiễn của một số tỉnh, thành phố có các DNNVV phát triển để từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho phát triển DNNVV tại Đồng Hới.
Kết quả nghiên cứu của Chương 1 là cơ sở lý luận để thực hiện các nội dung nghiên cứu của Chương II và Chương III của luận văn, đồng thời làm cơ sở lý luận để hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam nói chung và thành phố Đồng Hới hậu Covid nói riêng.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới\CHUYỂN VÙNG/ Luan van – Thanh Nga (final) 2801
Thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn thành phố Đồng Hới hậu Covid Thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn thành phố Đồng Hới hậu Covid Thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn thành phố Đồng Hới hậu Covid Thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn thành phố Đồng Hới hậu Covid Thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn thành phố Đồng Hới hậu Covid

