THỦ TỤC PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM TRỞ THÀNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở hầu hết các nước phát triển, nhất là ở những nước có nền kinh tế dựa trên nền tảngchếđộ sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế. Nhiều tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia trên thế giới là các doanh nghiệp do tư nhân sở hữu hoặc nắm giữ phần lớn vốn điều lệ. Không chỉ ở những nước phát triển kinh tế thị trường tự do, mà ở cả những nước, ở đó có sự can thiệp nhất định của nhà nước vào đời sống kinh tế, chẳng hạn kinh tế thị trường xã hội hay kinh tếthị trường phúc lợi xã hội, khu vực kinh tế tư nhân vẫn luôn luôn là lực lượng kinh doanh đóng vai trò chủ yếu trong việc cung cấp “đầu vào” cho sản xuất và cung cấp sản phẩm, hàng hóa đáp ứngphần lớn nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Cùng với quyền tự do kinh doanh và sự năng động vốn có của nó, kinh tế tư nhân kích thích sự cạnh tranh và là động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế. Ở nhiều nước, khu vực kinh tế tư nhân không chỉ đóng góp phần lớn vào thu nhập của ngân sách nhà nước, mà còn là một trong những kênh chủ yếu cung cấp tài chính, vốn cho nền kinh tế. Cùng với khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân tạo ra việc làm cho người lao động, qua đó góp phần hỗ trợ nhà nước hiện thực hóa mục đích của an sinh xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh từ thất nghiệp. Nhiều doanh nghiệp có vốn tư nhân đã góp phần mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Không ít tập đoàn kinh tế tư nhân cũng là những doanh nghiệp đi đầu trong nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệtiên tiến. Thêm vào đó, cách thức quản trị doanh nghiệp hiện đại và tiên tiến của họcũnglà tấm gương đểkhông ít doanh nghiệp nhà nước tham khảo, áp dụng. Ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, khu vực kinh tế tư nhân tuy chưa có vai trò lớn như khu vực kinh tế tư nhân ở các nước phát triển, nhưng kinh tế tư nhân cũng là lực lượng quan trọng trong giải quyết việc làm, đóng góp cho ngân sách nhà nước, cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho xã hội [74, tr.66-67].
Ở nước ta, trước năm 1986 chưa có nền kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu. Chỉ đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (gọi tắt là Đại hội Đảng VI), cùng với việc nhận rõ hạn chế của mô hình kinh tế kế hoạch hóa và cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chú ý đến các thành phần kinh tếkhác như kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tựnhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác. Từ đó, chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần được khẳng địnhvà nhất quán thực hiện. Nghị quyết số 14-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khóa IX) ngày 18/3/2002 vềtiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tếtư nhân đã ghi nhận vai trò của kinh tế tư nhân [4] với sự “đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữvững ổn định chính trị – xã hội của đất nước” [4].
Năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp tư nhân bị ảnh hưởng và chịu tác động rất lớn của môi trường kinh doanh và chất lượng thể chế. Thể chế vừa là bộ phận cấu thành của môi trường kinh doanh, vừa là yếu tố cơ bản tác động, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh [so sánh 22], [84, tr.14-15]. Vì vậy, muốn tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi thì phải cải cách thể chế. Ngoài nhiệm vụ hoàn thiện pháp luật, cải cách TTHC cũng là một trong những nội dung quan trọng của cải cách thể chế. Điều này đã được Chính phủ chú ý ngay từ giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới bằng việc ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 04/5/1994 về cải cách một bước TTHC trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức. Thực hiện văn bản đó, TTHC đã từng bước được cải thiện theo hướng đơn giản và minh bạch, nhưng trong nhiều lĩnh vực vẫn còn rườm rà, phức tạp [xem đánh giá của Quyết định số136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010]. Chính vì vậy, ngày 17/9/2001 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010. Trong số các mục tiêu cụ thể của Chương trình này có mục tiêu xóa bỏ về cơ bản các TTHC mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các TTHC mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân. Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện Chương trình này, CCHC theo đánh giá của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXI vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra; TTHC còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Do đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã đề ra yêu cầu đẩy mạnh CCHC, nhất là TTHC; giảm mạnh và bãi bỏ các loại TTHC gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Liên quan đến cải cách TTHC, mục tiêu của Chương trình tổngthểCCHC nhà nước giai đoạn 2011- 2020 hướng đến việc giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ TTHC. Trong quá trình cải cách thể chế ở nước ta thời gian qua, cải cách TTHC luôn luôn được chú ý và được tiến hành đồng thời với các lĩnh vực cải cách khác. Tuy nhiên, theo đánh giá của Thủ tướng Chính phủ, động lực mà những cải cách trước đây tạo ra đã không còn đủ mạnh để thúc đẩy phát triển. Vì vậy, chúng ta cần phải đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân để tạo thêm động lực, lấy lại đà cho sự tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững [22]. Ngoài các văn bản cụ thể nói trên, cũng cần nói thêm về việc sửa đổi, bổ sung và ban hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư vào cuối năm 2014. Trong nỗ lực đổi mới thể chế, ngày 28/4/2016 Chínhphủđã có Nghị quyết số19-2016/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Các hành động và nỗ lực hiện nay của các cơ quan nhà nước trong cải thiện môi trường kinh doanh và cải cách TTHC cho thấy tính thời sự của vấn đề. Việc nghiên cứu thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta, nhất là sau khi Việt Nam được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ, không chỉ đặt trong mối quan tâm chung đó của toàn xã hội mà còn phản ánh tính cấp thiết, thời sự, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đềtài.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài “Thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tưnhân ở nước ta trong điều kiện Việt Nam trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ” bổ sung nhận thức và nâng cao năng lực nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Luận án góp phần xây dựng hệ thống lý luận về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân, cung cấp luận cứ khoa học cho việc đánh giá thực trạng quy định, cũng như thực tiễn thực hiện TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân và giải pháp đối với các vấn đề đó.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đểđạt được mục đích nêu trên, trước hết luận án cần làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân trong điều kiện kinh tế thịtrường. Luận án dựa trên các tiêu chí khoa học đánh giá thực trạng pháp luật vềTTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân và thực tiễn thực hiện các quy định đó. Luận án phản ánh mức độđáp ứng của pháp luật, cũng như kết quả và hạn chế, cùng nguyên nhân trong thực hiện thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta. Cuối cùng, luận án gợi mở hướng hoàn thiện pháp luật, đề xuất giải pháp quy định, thực hiện TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân và đặt các giải pháp trong sựvận động, đáp ứng yêu cầu có tính dự báo khi Qui chế nền kinh tế phi thị trường áp đặt cho Việt Nam được dỡ bỏ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các quy định của pháp luật đầu tư và thực tiễn thực hiện pháp luật về TTĐT của doanh nghiệp tư nhân ở nước ta. Doanh nghiệp tư nhân được hiểu là một trong những loại hình doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Khái niệm doanh nghiệp tư nhân không đồng nghĩa với khái niệm doanh nghiệp có vốn của tư nhân hoặc doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Tư cách chủ thể đầu tư của doanh nghiệp tư nhân được phân biệt với tư cách chủ thể đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Luận án nghiên cứu thủ tục pháp luật về đầu tư với tính chất là TTHC; thủ
tục pháp luật về đầu tư được hiểu là các thủ tục được quy định chủ yếu trong Luật Đầu tư và các văn bản có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện các thủ tục đó. Do đó, các thủ tục không mang tính hành chính, chẳng hạn thủ tục “phi chính thức” và thủ tục mang tính kỹ thuật, chuyên môn trong lập dự án đầu tư, thẩm định tínhkhảthi của dự án, thủ tục giao kết các hợp đồng đầu tư, quản lý dự án, theo dõi, đánh giá dự án v.v… của doanh nghiệp tư nhân sẽ không được luận án nghiên cứu.
– Luận án nghiên cứu các thủ tục doanh nghiệp tư nhân bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh theo nghĩa của khoản 5 điều 3 Luật Đầu tư. Các thủ tục trong kinh doanh mà dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân tiến hành không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án.
– Luận án chỉ tập trung vào TTĐT trực tiếp trong nước, không nghiên cứu TTĐT ra nước ngoài của doanh nghiệp tư nhân. Luận án nghiên cứu cả TTĐT đối với dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng của doanh nghiệp tư nhân, TTĐT trong khu công nghiệp, khu chế suất, khu công nghệ cao, khu kinh tế và TTĐT ngoài khu công nghiệp, khu chế suất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. TTĐT gián tiếp không được nói đến bởi doanh nghiệp tư nhân không được pháthành bất kỳloại chứng khoán nào (khoản 2 điều 183 Luật Doanh nghiệp) và doanh nghiệp tưnhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần (khoản 4 điều 183 Luật Doanh nghiệp).
– Luận án không nghiên cứu thủ tục khiếu nại, giải quyết khiếu nại, xem xét lại quyết định đã ban hành trong thực hiện thủ tục đầu tư.
– Về mặt thời gian, luận án nghiên cứu quy định của pháp luật đầu tư vềTTĐT theo hiệu lực của Luật Đầu tư hiện hành (có hiệu lực từ 01/7/2015); tuy nhiên, khi đưa ra các giải pháp luận án chú ý đến yêu cầu mang tính dự báo và bối cảnh khi Việt Nam được WTO công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ(năm 2019).
4. Phương pháp luận, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu sinh dựa trên quan điểm triết học và kinh tế chính trị học Mác- Lênin, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế, về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, về kinh tế tư nhân, đầu tư, kinh doanh, doanh nghiệp, cải cách thể chế, cải cách môi
trường kinh doanh và môi trường đầu tư, CCHC và TTHC v.v…
4.2. Cách tiếp cận nghiên cứu
– Tiếp cận hệ thống và liên ngành khoa học xã hội: Nghiên cứu TTĐT được đặt trong mối liên hệ với yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư và quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, TTĐT cũng được nghiên cứu trong mối liên hệ với môi trường kinh doanh của quốc gia và của doanh nghiệp.
TTĐT không chỉ là lĩnh vực luật học mà còn liên quan đến các lĩnh vực khoa học xã hội khác. Do đó, trong phát hiện vấn đề, phân tích, giải thích, bình luận, đánh giá, dự báo v.v… nghiên cứu sinh không chỉ xuất phát từ hệ quy chiếu của luật học mà phải sử dụng cả kiến thức của các ngành khoa học khác như kinh tế học, hành chính học.
– Tiếp cận định tính: Cách tiếp cận địnhtính được áp dụng đểkiểm định lý thuyết và xây dựng lý luận về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân. Nghiên cứu sinh tiếp cận định tính đểphân tích khái niệm TTĐT và nhận diện những đặc điểm (chung và riêng) của thủ tục này trong sự so sánh với các TTHC khác. Cách tiếp cận địnhtính cũng được áp dụng để phân tích và đánh giá thực trạng điều chỉnh và thực hiện TTĐT; đồng thời tìm giải pháp hoàn thiện TTĐT và thực hiện TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân.
– Tiếp cận thực tiễn: trong đánhgiá và đềxuất giải pháp cho TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân luận án luôn luôn chú ý đến yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn, cũng như khả năng ứng dụng của giải pháp.
-Tiếp cận lịch sử: luận án xem xét những thay đổi và yêu cầu đối với TTĐT áp dụng cho doanh nghiệp tư nhân trong các giai đoạn và bối cảnh khác nhau. Luận án nghiên cứu thủ tục pháp luật đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân trong sự biến đổi và sự phát triển của đời sống kinh tế, xã hội. Việc đánh giávà đềxuất giải pháp cho thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân được chú ý trong dòng chảy của sựphát triển về mặt thời gian.

4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp; phương pháp hệ thống hóa; phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử cụ thể; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp nghiên cứu gián tiếp khác thông qua nghiên cứu tài liệu; phương pháp nghiên cứu trực tiếp khác thông qua tọa đàm, hội thảo khoa học, phỏng vấn và trao đổi với
chuyên gia; sử dụng số liệu thống kê tin cậy của các tổ chức…
Phương pháp phân tíchđược sử dụng ở tất cả các chương của luận án đểlàm rõ cơ sở lý luận của TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân như phân tích khái niệm, đặc điểm của TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân; phân tích yêu cầu, đòi hỏi và sựtác động của kinh tế thị trường đối với TTĐT; phân tích nội dung các quy định của pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân v.v…
Phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa: với phương pháp này luận án sẽ liên kết các quan điểm, các nhận xét, đánh giá, giải thích, bình luận về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân để phân tích và đưa ra quan điểm hoặc đánh giá về cơ sở lý luận, cũng như thực trạng quy định và thực hiện thủ tục TTĐT. Các quan điểm, vấn đề, quy phạm được sắp xếp và trình bày một cách hệ thống trên cơ sở các tiêu chí mang tính logic.
Phương pháp lịch sử: luận án nghiên cứu căn cứ, cơ sở khoa học của việc quy định TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân trong pháp luật nước ta và pháp luật của một số nước (nguồn gốc phát sinh), nghiên cứu quá trình CCHC và đơn giản hóa thủ tục này ở nước ta trong quá trình Đổi mới và phát triển kinh tế thị trường.
Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánhquy định về TTĐT giữa Luật Đầu tư năm 2005 với Luật Đầu tư năm 2014, so sánh quy địnhvà thực tiễn thực hiện TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân giữa Việt Nam với một số nước, giữa một số địa phương ở nước ta. Phương pháp so sánh cũng được sử dụng để đối chiếu giữa quy định TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân với yêu cầu của thực tiễn và đánh giá thực trạng pháp luật đầu tư trong sự so sánh, đối chiếu với các tiêu chí đánh giá chất lượng hệ thống pháp luật.
Phương pháp dự báo: luận án sử dụng phương pháp này để dự báo những tác động, yêu cầu kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế trong thời gian tới đối với thủ
tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân.
Phương pháp diễn dịch (đi từ cái chung đến cái riêng), phương pháp quy nạp (khái quát cái chung từ những cái riêng) được sử dụng để lập luận khi đưa ra các nhận định, quan điểm riêng của nghiên cứu sinh và đề xuất giải pháp.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án khái quát và cung cấp cho người đọc thông tin về tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước về thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân. Cùng với đó, luận án phản ánh những kết quả nghiên cứu đã đạt được về lý luận TTĐT; những tri thức luận án kế thừa; những vấn đề còn chưa được nghiên cứu hoặc đã được nghiên cứu nhưng chưa đầy đủ, chưa sâu sắc; những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.
Thứ hai, luận án đã làm rõ thêm lý luận về thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường đầy đủ. Trên cơ sở nhận thức về TTHC, luận án đã xây dựng khái niệm thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tưnhân; những điểm chung của TTHC và đặc thù của thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân đã được luận án nhận diện và khái quát.
Thứ ba, luận án đã làm rõ thêm khái niệm kinh tế thị trường đầy đủ; chỉ ra những yêu cầu của kinh tế thị trường đầy đủđối với thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân.
Thứ tư, luận án đã đánh giá và chỉ ra mặt được, mặt hạn chế của pháp luật hiện hành về thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân ở các nhóm quy phạm về hình thức đầu tư của doanh nghiệp tư nhân; thủ tục chuẩn bị đầu tư; thủ tục thực hiện dự án đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp tư nhân. Vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn thực hiện một số thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân cũng đã được luận án nhận diện và phản ánh.
Thứ năm, luận án đã phân tích quan điểm hoàn thiện thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân; gợi mở hướng hoàn thiện thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời, luận án đã đề xuất và luận giải một sốgiải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật vềTTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận: luận án góp phần làm rõ thêm yêu cầu đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đề ra về cải cách thể chế, trong đó có cải cách thủ tục hành chính, để tạo động lực tăng trưởng; hoàn thiện cơ chế, chính sách, trong đó có chính sách đầu tư, khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, đểthành phần kinh tế này trở thành một động lực
quan trọng của nền kinh tế v.v… Luận án góp phần bổ sung và phát triển lý luận vềthủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường; làm rõ thêm thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay; cung cấp thêm luận cứ để cải cách TTHC trong đầu tư, nâng cao hiệu quả thực hiện TTĐT, giảm bớt rào cản để tạo thuận lợi cho kinh tế tưnhân phát triển.
Ý nghĩa thực tiễn: luận án góp phần thu hút thêm sự quan tâm của các cơquan nhà nước và xã hội đối với cải cách TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân; nâng cao hiểu biết của người quản lý và doanh nghiệp về TTĐT thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân trên cả ba phương diện: lý luận, thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện, giải pháp cho vấn đề. Luận án có thể là tài liệu tham khảo bổ sung trong nghiên cứu, đào tạo và xây dựng chính sách, pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài danh mục chữ viết tắt, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được cấu trúc thành các chương sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đềlý luận về thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường đầy đủ
Chương 3: Thực trạng quy định và thực hiện thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện và thực hiện thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân.
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trước khi thực hiện nghiên cứu thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta cần có cái nhìn tổng quát, toàn diện về kết quả nghiên cứu gần nhất của giới khoa học về chủ đề này. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua việc sưu tầm, tập hợp, phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp nhiều loại tài liệu khác nhau đã được công bố trong nước và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài. Qua tổng quan luận án xác định những nội dung liên quan trực tiếp đến luận án đã được nghiên cứu thấu đáo và luận án có thể kế thừa; những vấn đềchưa được nghiên cứu hoặc đã được nghiên cứu nhưng toàn diện, hệ thống và sâu sắc và những vấn đề cần tập trung nghiên cứu, giải quyết trong luận án.
Luận án chỉ chọn những tài liệu liên quan trực tiếp đến TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân để tổng quan. Một số tài liệu về “doanh nghiệp tư nhân”, “kinh tế thịtrường đầy đủ” chỉđược tổngquan nếu những tài liệu đó gắn với TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân.
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về thủ tục hành chính và thủ tục đầu tư
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cơ sở lý luận của phápluật về thủ tục đầu tư
1.1.3. Nghiên cứu thủ tục đầu tư gắn với thủ tục đăng ký kinh doanh
1.1.4. Nghiên cứu tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến thủ tục đầu tư
1.1.5. Nghiên cứu thực trạng pháp luật về thủ tục đầu tư và thực hiện thủtục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta
1.1.6. Nghiên cứu thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân của một sốquốc gia
1.1.7. Các nghiên cứu đềxuất giải pháp cải cách thủ tục hành chính, trong đó có liên quan đến thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài luận án 1.2.1. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được và luận án kế thừa
– Cùng với quá trình đổi mới, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, trong thời gian qua ở nước ta đầu tư trở thành chủđềđược nhiều tổ chức, cá nhân đặc biệt chú ý, nghiên cứu. Tuy nhiên, so với đầu tư trong nước, các nghiên cứu tập trung nhiều hơn vào đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cùng với đó, TTĐT trực tiếp nước ngoài cũng được nghiên cứu và được quan tâm nhiều hơn so với nghiên cứu về TTĐT trong nước, trong đó có TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân. Điều này có thể hiểu được, bởi các nghiên cứu về đầu tư trong thời gian qua đã bám sát vào nhu cầu của thực tiễn đổi mới là cạnh tranh quốc gia trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cũng như nhu cầu và đòi hỏi của hội nhập quốc tế, trước hết là sựtham gia vào sân chơi chung của Tổ chức Thương mại thế giới và việc ký kết các hiệp định đầu tư, hiệp địnhthương mại tự do song phương và đa phương đã thúc đẩy và tạo sức ép nhiều hơn cho các nhà hoạch định chính sách, pháp luật và quản lý trong cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài.
– Các tài liệu hiện có trong nước đã nghiên cứu các khía cạnh, mặt cắt khác nhau của TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân. Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước đã làm rõ về mặt lý luận vai trò của cải cách TTĐT đối với hoạt động kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp nói chung và của doanh nghiệp tư nhân nói riêng. Trong các nghiên cứu đã chỉ rõrào cản của TTĐT đối với thu hút đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, cải cách TTĐT là một trong những nội dung của cải cách thể chế và CCHC. Ở Việt Nam, cải cách TTĐT được đặt trong bối cảnh của cải cách TTHC trong kinh doanh và đểđáp ứng yêu cầu cải thiện môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư, cải cách thể chế, CCHC công nhằm khuyến khích và thu hút đầu tư, phát triển đất nước.
– Đã có một số nghiên cứu đánh giá bằng phương pháp điều tra, khảo sát mức độđáp ứng của TTĐT hiện hành đối với quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, cũng như thực tiễn thực hiện TTĐT đối với khu vực kinh tế tưnhân, trong đó có doanh nghiệp tư nhân. TTĐT đối với doanh nghiệp đã được chú ý như một trong những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của các địa phương ở nước ta.
– Yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước pháp quyền, của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đối với TTĐT đã được phân tích ở mức độnhất địnhtrong một số tàiliệu đã được công bố.
– Qua các nghiên cứu cho thấy, vấn đề lớn nhất của TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân tồn tại ở khâu thực hiện TTĐT, nhất là trong giai đoạn triển khai dựán đầu tư. Ngoài ra, nhận thức về cải cách TTĐT gắn với đổi mới nhận thức về vai trò của Nhà nước trong thể chế kinh tế thị trường từ vai trò của người quản lý, điều hành sang vai trò của người kiến tạo phát triển và phục vụ doanh nghiệp.
– Một số hạn chế, bất cập của pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tưnhân, những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện TTĐT đối với doanh nghiệp tưnhân đã được đánh giá, phản ánh ở mức độ nhất định. Cùng với đó, một số tài liệu đã đềxuất giải pháp cải cách TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân trên cả hai phương diện: quy định của pháp luật và thực hiện thủ tục.
1.2.2. Những vấn đềcòn chưa được nghiên cứu thấu đáo và luận án dựkiến phát triển
– Các tài liệu hiện có về TTĐT chủ yếu nghiên cứu TTĐT đối với tất cả các doanh nghiệp, chưa có công trình nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân, nhất là TTĐT theo Luật Đầu tư mới có hiệu lực được gần năm nay. TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân được đề cập và phân tích, đánh giá lồng ghép trong các nghiên cứu về thủ tục kinh doanh, về cải cách TTHC, về đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp tư nhân, về doanh nghiệp nhỏ và vừa.
– Các nghiên cứu hiện có chưa khái quát và phản ánh được những điểm chung mang tính phổ biến và những đặc thù của TTĐT đối với doanh nghiệp tưnhân trong điều kiện và bối cảnh của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
– Thiếu nghiên cứu đánh giá cả phương diện lý luận của mối liên hệ giữa TTĐT và thủ tục trong kinh doanh, cũng như thực trạng giải quyết mối quan hệ này trong quy định của pháp luật, cũng như thực hiện pháp luật đầu tư và kinh doanh.
– Thiếu nghiên cứu về bộ tiêu chí đánh giá TTĐT tốt.
– Thiếu nghiên cứu sâu và toàn diện mang tính so sánh về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta với các nước có điều kiện tương đồng về chính trị, kinh tế, địa lý hoặc về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường. Chưa có nghiên cứu kinh nghiệm (thành công, thất bại) của một số quốc gia trong quy định và thực hiện TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân và gợi mở đối với Việt Nam. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án tiến sĩ, luận án chỉ có thể trình bày ở mức độnhất địnhkinh nghiệm của một số quốc gia.
– Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của chúng trong thực tiễn thực hiện thủ tục chuẩn bị đầu tư trực tiếp và triển khai, thực hiện dự án đầu tư trực tiếp đối với doanh nghiệp tư nhân được phản ánh tản mạn trong nhiều bài báo, báo cáo, đềtài. Thiếu một nghiên cứu có tính toàn diện và hệ thống về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân.
– Còn thiếu giải pháp cụ thể đối với cải cách TTĐT trên cả hai phương diện: quy định của pháp luật và thực hiện pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tưnhân, nhất là TTĐT theo Luật Đầu tư hiện hành.
1.2.3. Những vấn đề luận án không nghiên cứu
Ngoài những vấn đềđược giới hạn trong phạm vi nghiên cứu của luận án, luận án không nghiên cứu sâu và toàn diện mang tính so sánh về quy định và thực tiễn thực hiện TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta với quy định và thực tiễn thực hiện TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân ở các quốc gia khác.
1.3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
1.3.1. Giả thuyết nghiên cứu đề tài
Các TTĐT hiện nay do pháp luật quy định đối với doanh nghiệp tư nhân chưa đáp ứng được sự hài hòa giữa quản lý và khuyến khích đầu tư của Nhà nước với yêu cầu đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra, trong thực tiễn vẫn còn tồn tại những nhân tố gây khó khăn cho doanh nghiệp tưnhân trong thực hiện TTĐT. Điều này ít nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh và đầu tư của nước ta.
1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung làm rõ các câu hỏi sau đây:
– Thủ tục đầu tư được địnhnghĩa và được hiểu như thế nào?
– Thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân có những điểm chung (mang tính phổ biến) của TTHC và những đặc điểm riêng (tính đặc thù) do yếu tố “doanh nghiệp” và “tư nhân” chi phối?
– Tại sao việc đầu tư của doanh nghiệp tư nhân phải trải qua những thủ tục nhất định do pháp luật quy định (tính khách quan của TTĐT)? Việc quy định TTĐT có mâu thuẫn và là sự cản trở việc thực hiện quyền tự do kinh doanh? Quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh đặt ra yêu cầu, đòi hỏi gì đối với TTĐT?
– Mối liên hệ giữa TTĐT và thủ tục trong kinh doanh?
– Tác động, ảnh hưởng của TTĐT đến môi trường kinh doanh và cạnh tranh của doanh nghiệp?
– Các tiêu chí đánh giá bộ TTĐT tốt?
– Yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước pháp quyền, của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đối với TTĐT?
– Thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân gồm những thủ tục gì và phân thành những nhóm thủ tục nào?
– Kinh nghiệm (thành công, thất bại) của một số quốc gia trong quy định và thực hiện TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân và gợi mở đối với Việt Nam?
– Thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta được quy định trong những văn bản pháp luật hiện hành nào? Nội dung chủ yếu của chế định pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân?
– Quy định của pháp luật về các thủ tục chuẩn bị đầu tư trực tiếp và cácthủ
tục triển khai, thực hiện dự án đầu tư trực tiếp đối với doanh nghiệp tư nhân đáp ứng ở mức độnào yêu cầu của một hệ thống pháp luật có chất lượng (theo các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hệ thống pháp luật)? TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân ở nước ta cần được đánh giánhư thế nào trong sự so sánh với quy định của quốc tếvà của các nước có điều kiện tương đồng về chính trị, kinh tế, địa lý, mục tiêu phát triển kinh tế thị trường, cũng như tương đồng trong quan điểm đối với vai trò của khu vực kinh tế tư nhân v.v…?
– Thủ tục chuẩn bị đầu tư trực tiếp và thủ tục triển khai, thực hiện dự án đầu tư trực tiếp đối với doanh nghiệp tư nhân được thực hiện trên thực tế như thế nào? Những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của chúng trong thực tiễn thực hiện thủ tục chuẩn bị đầu tư trực tiếp và triển khai, thực hiện dự án đầu tư trực tiếp đối với doanh nghiệp tư nhân?
– Nếu trong quy định hiện hành của pháp luật nước ta về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân còn cho thấy những hạn chế, bất cập và trong thực tế còn cho thấy nhu cầu cần nâng cao hiệu quả thực hiện chế định pháp luật này thì có những giải pháp gì có thể dự liệu cho việc nâng cao chất lượng điều chỉnh và thực hiện pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân? Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân cần dựa trên những quan điểm chủ đạo nào và cần đáp ứng yêu cầu gì? Việc điều chỉnh của pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân trong thời gian tới cần hướng tới những mục tiêu gì?
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC PHÁP LUẬT
VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ
2.1. Khái niệm thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân Khi đầu tư doanh nghiệp tư nhân phải thực hiện các thủ tục do pháp luật quy
định. TTĐT là một loại TTHC.Vì thế, đểhiểu khái niệm TTĐT, trước tiên cần tìm hiểu khái niệm TTHC.
Thuật ngữ thủ tục được giải thích trong nhiều từ điển, giáo trình. Thủ tục được định nghĩa trong Từ điển Hán – Việt là “các trình tự và phương pháp làm việc” [1, tr.441]. Từ điển tiếng Việt thông dụng giải thích thủ tục là “cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước” [96]. Ngoài ra, còn có nhiều quan niệm về thủ tục, như “Thủ tục là nhữngviệc cụ thểphải làm theo một trật tự quy định đểtiến hành một công việc có tính chất chính thức” [94, tr.927]; “Thủ tục là cách thức tiến hành một công việc với nội dung và trình tự nhất định, theo quy định của cơ quan nhà nước” [94, tr.1535]; “Thủ tục là trình tự giải quyết một công việc, một loại việc” [88, tr.144]. Ngược lại, có người lại cho rằng trình tự nằm ngoài phạm vi khái niệm thủ tục [88, tr.144].
Ở nước ta đến nay không có định nghĩa duy nhất về TTHC [88, tr.144]. Tuy nhiên, những điểm chung và các yếu tố cấu thành nội dung của TTHC đã được nhận thức thống nhất [50, tr.25]. Trong Giáo trình Hành chính học đại cương TTHC được địnhnghĩa là “trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết công việc của cơ quan nhà nước trong mối quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân công dân” [76, tr.208]. Có người hiểu TTHC là tổng thể các quy phạm pháp luật xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào các quan hệ xã hội do luật hành chính xác lập nhằm thực hiện các quy phạm vật chất của luật hành chính [66], [73]. Theo nhận xét của Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội mỗi quan niệm về thủ tục như đã nêu trên đều có những hạn chế nhất định [88, tr.144-145].
Nhìn chung, nhiều người hiểu TTHC trong sự phân biệt với thủ tục lập pháp và thủ tục tư pháp; theo đó TTHC được hiểu là thủ tục tiến hành các hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi các chủ thể sử dụng quyền hành pháp [88, tr.144]. Trong Giáo trình “Luật Hành chính Việt Nam” của Trung tâm Đào tạo Từ xa Đại học Huế TTHC được định nghĩa là “cách thức thực hiện thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước và cách thức tham gia vào các công việc quản lý hành chính nhà nước của các tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quản lý hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật” [85, tr.118]. Trong khi đó, các tác giả của Giáo trình “Luật Hành chính Việt Nam” của Viện Đại học Mở Hà Nội quan niệm “Thủ
tục hành chính là cách thức tiến hành hoạt động quản lý nhà nước, được quy phạm pháp luật hành chính quy định, trong đó xác định rõ các việc cụ thể, yêu cầu, điều kiện đối với các việc ấy cũng như trình tự thực hiện mà các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, các cá nhân, tổ chức có liên quan cần phải tuân thủ” [92]. Một địnhnghĩa khác về TTHC được tìm thấy trong Giáo trình “Luật Hành chính Việt Nam” của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội “Thủ tục hành chính là trình tựvà cách thức thực hiện những hành động nhất định nhằm đạt tới những hệ quả pháp lý mà phần quy định của pháp luật vật chất dự kiến trước” [47, tr. 487]. Trong Giáo trình “Luật Hành chính Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội TTHC được địnhnghĩa là “cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước theo đó cơ quan, cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ, cá nhân, tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nước” [88, tr.146]. Quan niệm như vậy đã có sựphát triển so với chính Giáo trình “Luật Hành chính Việt Nam” của cơ sở đào tạo này trước đó, khi Giáo trình năm 2010 định nghĩa TTHC là “cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước được quy địnhtrong các quy phạm pháp luật hành chính, bao gồm trình tự, nội dung, mục đích, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quá trình giải quyết công việc cụ thể của quản lý nhà nước” [87, tr. 144]. Trong một luận án tiến sỹ có liên quan đến TTHC được bảo vệ năm 2015, sau khi dẫn ra và phân tích các quan niệm về TTHC đã được công bố, tácgiả Nguyễn Văn Linh đã nhận thức thủ tục hành chính là “trình tự và cách thức do quy phạm pháp luật hành chínhquy định đểcác cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền hành chính tiến hành các hoạt động nhằm ổn định tổ chức và trật tự quản lý nội bộhoặc đểcác chủ thể này tổ chức cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện những hoạt động cụ thể trong quá trình quản lý hành chính nhà nước, cung cấp các dịch vụcông và thực hiện các giao dịch hành chính nhằm đáp ứngyêu cầu quản lý hành chính nhà nước, phục vụ xã hội và nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân” [55, tr.26].
Thuật ngữ TTHC được giải thích trong điều 9 Đạo luật TTHC của Đức (Verwaltungsverfahrensgesetz -VwVfG) [100]. Theo đó “Thủ tục hành chính trong ý nghĩa của Đạo luật này làhoạt độngtác động ra bên ngoài của công chức nhằm kiểm tra các điều kiện, sự chuẩn bị và việc thông qua một hành vi hành chính hoặc ký kết một hợp đồngtheo luật công; TTHC bao gồm việc thông qua hành vi hành chính hoặc ký kết hợp đồng theo luật công”. Do yêu cầu hành động của công chức phải hướng ra bên ngoài nên các mệnh lệnh ban hành bên trong nội bộ của cơ quan nhà nước do người đứng đầu cơ quan đưa ra đối với công chức hoặc nhân viên của mình hoặc những hoạt động tác nghiệp cụ thể trong quản lý hành chính nhà nước do các quy định mang tính nội bộ điều chỉnh không bị ràng buộc vào TTHC giữa nhà nước với chủ thể tư [85, tr.121].
Khái niệm TTHC được hiểu với nội hàm đầy đủnhất [88, tr.145] trong Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, TTHC bao gồm:
– Số lượng cáchoạt động cụ thể cần thực hiện đểtiến hành những hoạt động quản lý nhất định;
– Trình tự của các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó; – Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể;
– Cách thức tiến hành, thời hạn tiến hành cáchoạt động cụ thể.
Trong Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát TTHC thuật ngữ TTHC được giải thích là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một côngviệc cụ thểliên quan đến cá nhân, tổ chức.
Trong Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn không tìm thấy quy phạm giải thích thuật ngữ “thủ tục đầu tư” hay “thủ tục đăng ký đầu tư”. Từ điều 22 Nghị định 118/2015/NĐ-CP có thể thấy, tùy thuộc tính chất, quy mô và điều kiện của từng dựán, dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân được thực hiện theo một hoặc một số thủ tục sau đây:
– Quyết định chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư;
– Thực hiện thủ tục giao đất, giao lại đất, cho thuê đất, cho thuê lại đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (nếu có);
– Thực hiện thủ tục về xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (nếu có).
Đối với nhà đầu tư trúng đấu giá quyền sử dụng đất hoặc trúng đấu thầu dựán đầu tư có sử dụng đất thì thực hiện dự án đầu tư theo quy định tương ứng tại văn bản quyết định phê duyệt kết quả trúng đấu giá, văn bản phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư và quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng và pháp luật có liên quan mà không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư.
Như vậy, giống như khái niệm TTHC có thể có những quan niệm khác nhau về TTĐT. Tuy nhiên, trong nội hàm của khái niệm này không thể không phản ánh những yếu tố cấu thành như: trình tự, thủ tục đó được yêu cầu và áp dụng cho những chủ thể nào? các công việc mà các chủ thể đó phải thực hiện trong quan hệmà thủ tục điều chỉnh? họ phải thực hiện các công việc của mình theo một trật tựthời gian như thế nào (việc nào làm trước, việc nào làm sau)?; các công việc đó được thực hiện ở đâu? thời hạn tối đa để mỗi chủ thể thực hiện công việc đó? hình thức thực hiện các công việc đó? các văn bản cần có bằng ngônngữ nhất định, được kê khai chínhxác, đầy đủvà có đủthành phần, số lượnggiấy tờ đểminh chứng cho tư cách, năng lực chủ thể, tính hợp pháp, khả thi của hoạt động đầu tư hoặc xác nhận, chứng nhận việc thực hiện thủ tục? hậu quả pháp lý của việc thực hiện thủ tục [so sánh 85, tr.118]?
Từ nhận thức thủ tục hành chính và căn cứ vào tính chất của hoạt động đầu tư của doanh nghiệp tư nhân, có thể đưa ra địnhnghĩa thủ tục pháp luật về đầu tưnhư sau: Thủ tục pháp luật đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân là trình tự, cách thức thực hiện các hoạt động cụ thể có mục đích theo một trật tự thời gian, không gian, thời hạn, hình thức, yêu cầu do pháp luật đầu tư và các văn bản pháp luật có liên quan quy định cho các cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước và doanh nghiệp tư nhân cần thực hiện trong quản lýnhà nước về đầu tư (đối với cơquan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước), trong bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh (đối với doanh nghiệp tư nhân).
Như vậy, thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân không chỉbao gồm các thủ tục doanh nghiệp tư nhân phải tiến hành, mà còn có các thủ tục mà các cơ quan nhà nước phải thực hiện trong quá trình quản lý dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân, chẳng hạn thủ tục quyết định chủ trương đầu tư, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và đăng ký thành lập doanh nghiệp, thủ tục giao đất, giao lại đất, cho thuê đất, cho thuê lại đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (nếu có), thủ tục về xây dựng theo quy định
của pháp luật về xây dựng (nếu có), thủ tục ưu đãi đầu tư ….
2.2. Đặc điểm của thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân
Là một loại TTHC nên thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tưnhân có những điểm chung của TTHC và TTĐT như sau:
– Thủ tục đầu tư do nhiều công chức, viên chức, cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Họ là những chủ thể có thẩm quyền thực hiện TTĐT.
– Thủ tục đầu tư được điều chỉnh bằng các quy phạm TTHC trong các văn bản pháp luật.
– Thủ tục đầu tư bao gồm nhiều thủ tục đáp ứng sự đa dạng, phong phú của hoạt động đầu tư.
– Thủ tục đầu tư gắn với các loại công văn, giấy tờ [85, tr.119-121].
Ngoài ra, do là một bộ phận của pháp luật, nên thủ tục pháp luật đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân cũng có các thuộc tính khác như: tính khách quan (tồn tại khách quan cùng với pháp luật bên cạnh nhà nước và trong thể chế kinh tế thị trường); tính phổ biến (những điểm chung trong TTĐT của các quốc gia và đòi hỏi đáp ứng các yêu cầu của hội nhập và tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn).
Ngoài những đặc điểm chung nói trên, TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân phản ánh những đặc điểm nổi trội gắn với tính chất của hoạt động đầu tư và loại hình doanh nghiệp tư nhân như sau.
Thứ nhất, tính chất luật công của TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân
Thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân phản ánh rõ nét tính chất luật công. Pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân điều chỉnh quan hệ pháp
luật đầu tư theo chiều dọc, đó là quan hệ giữa chủ đầu tư với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ này phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, chẳng hạn quyết định chủ trương đầu tư, cấp
giấy chứng nhận đăng ký đầu tư v.v… Cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ này là các văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Theo đó, TTĐT sử dụngphương pháp điều chỉnh của luật công – phương pháp hành chính chứkhông thể điều chỉnh bằng phương pháp dân sự. Không thể có sự thỏa thuận giữa chủ đầu tư với cơ quan nhà nước về việc cấp giấy chứngnhận đầu tư, điều kiện đầu
tư hay việc xử lý vi phạm pháp luật trong đầu tư… Trên phương diện này, pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân cũng giống với pháp luật dành cho các thành phần kinh tế khác như doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quan hệ pháp luật giữa các chủ thể không có sự bình đẳng, không được tự do thỏa thuận những nội dung đã được quy định trong các văn bản pháp luật.
Thứ hai, Thủ tục đầu tư vẫn mang tính chất cho phép và tính bắt buộc
Xét về tính chất và mối quan hệ công tác có thể nhận diện được TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân là dạng TTHC liên hệ, cụ thể là thủ tục cho phép [85, tr.119-123]. Ở đó, chủ đầu tư có quyền bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh trong những ngành, nghề pháp luật không cấm thông qua các hình thức đầu tư pháp luật quy định. Việc hợp pháp hóa và công khai thực hiện quyền này
được tiến hành theo những trình tự, thủ tục nhất định, ràng buộc không chỉ đối với nhà đầu tư mà đối với cả cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thủ tục giải quyết các yêu cầu, kiến nghị của nhà đầu tư làm phát sinh mối quan hệ pháp lý, các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa nhà đầu tư và cơ quan nhà nước có liên quan.
Về nguyên tắc, dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân thuộc trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (khoản 2 điều 36 Luật Đầu tư). Tuy nhiên, do TTĐT do pháp luật quy định nên các chủ đầu tư cũng như các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư có trách nhiệm thi hành và tuân thủ những quy địnhnày. Đểđảm bảo tính hợp pháp của hoạt động đầu tư, doanh nghiệp tư nhân không chỉ quan tâm đến nội dung đầu tư, mà cần tuân thủ cảquy trình và TTĐT. Thủ tục đầu tư có thể được phân thành TTHC bắt buộc và các TTHC không bắt buộc. Các TTHC không bắt buộc là các thủ tục do cơ quan nhà nước tiến hành dựa trên quyền yêu cầu của nhà đầu tư, ví dụ như các thủ tục cung cấp thông tin, giải thích pháp luật chính sách về đầu tư. Thủ tục hành chính bắt buộc là thủ tục mà các tổ chức, cá nhân bắt buộc phải thực hiện khi tiến hành hoạt động đầu tư ở trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam. Do là một dạng TTHC nên TTĐT luôn chịu tác động của các hoạt động quản lý nhà nước thông qua luật hành chính, luật đầu tư và các luật có liên quan.
Thứ ba, tính liên ngành của thủ tục đầu tư
Pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân không chỉ dựa trên cơ sở pháp luật về đầu tư mà còn căn cứ vào pháp luật liên ngành bởi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn liên quan tới nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế – xã hội. Pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực hiện các thủ tục trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp tư nhân. Trong đó, tùy theo từng hệ thống pháp luật mà các quốc gia sử dụng văn bản pháp luật, hoặc tập quán, án lệ, học thuyết pháp lý, hoặc kết hợp các hình thức này để điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể có liên quan tới TTĐT của doanh nghiệp tư nhân [16]. Thông thường, TTĐT thường được quy định trong các văn bản pháp luật. Đó là Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành; các đạo luật khác có liên quan tới
TTĐT (như luật đất đai, luật doanh nghiệp, luật tài nguyên, luật xây dựng…); tập quán quốc tế về đầu tư; các điều ước, cam kết quốc tế song phương hoặc đa phương về đầu tư mà quốc gia đó là thành viên.
i) Pháp luật đầu tư: pháp luật đầu tư theo nghĩa rộng quy định các thủ tục cần thực hiện trong quan hệ đầu tư như thủ tục quyết định chủ trương đầu tư; thủ tục cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; TTĐT trong những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; thủ tục thực hiện các hình thức đầu tư; thủ tục triển khai thực hiện dự án đầu tư; thủ tục chuyển nhượng dự án đầu tư; thủ tục tạm
ngừng, ngừng, giãn tiến độ dự án, chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư… Ngoài ra, hoạt độngthanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước đối với dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong thực hiện TTĐT cũng cần được thực hiện theo những thủ tục do pháp luật quy định.
ii) Luật Doanh nghiệp: quy địnhnhững vấn đềliên quan trực tiếp tới TTĐT như thủ tục về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân, thủ tục đăng ký vốn đầu tư, thủ tục cho thuê, mua bán, giải thể doanh nghiệp, thanh lý tài sản doanh nghiệp, thủ tục hình thànhtài sản đểtiến hành các hoạt động đầu tư và đăng ký quyền sở hữu tài sản, thủ tục hưởng quyền được bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách, thủ tục cho thuê, điều chỉnh vốn, chuyển nhượng vốn hoặc chuyển nhượng dự án đầu tư.
iii) Luật Đất đai: quy định về thủ tục giao đất hoặc thuê đất và chuẩn bị mặt
bằng xây dựng…;
iv) Luật Hải quan và Luật Thuế: quy địnhcác thủ tục về kê khai, quản lý hàng hóa của doanh nghiệp, đăng ký hải quan, và các thủ tục về thu, nộp thuế đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu đểđầu tư, cũng như nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp tư nhân đối với Nhà nước trong quá trình đầu tư.
v) Luật Bảo vệ môi trường: quy định về thủ tục đánh giá tác động môi trường trong lập dự án đầu tư;
vi) Luật Khoa học và Công nghệ: quy định các thủ tục doanh nghiệp tư nhân cần tiến hành trong quá trình chuyển giao công nghệ;
vii) Luật Xây dựng: quy định về thủ tục xây dựng đối với các dự án đầu tưcủa doanh nghiệp tư nhân có xây dựng công trình.
Thứ tư, Thủ tục đầu tư không được quy định thống nhất giữa các quốc gia
Các quốc gia không có sự thống nhất trongquy định về thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân. Trong cơ chế thị trường, một yêu cầu có tính nguyên tắc căn bản là Nhà nước phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh và sự bình đẳng trong hoạt động đầu tư kinh doanh giữa tất cả các thành phần kinh tế. Mặc dù vậy, với những đặc trưng riêng của từng quốc gia cũng như trọng tâm chiến lược phát triển kinh tếở từng nước mà pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân và pháp luật vềTTĐT đối với các loại hình doanh nghiệp khác cũng có những điểm tương đồng và khác biệt. Chính điều này góp phần làm tạo ra sự khácbiệt về mức độthuận lợi của môi trường kinh doanh giữa các nước. Hiện nay, trong quy định về TTĐT các nước đều có xu hướng ngày càng đơn giản hóa TTĐT. Tùy theo từng tiêu chí lãnh thổ, loại hình dự án và quy mô vốn khác nhau, mà những quy định và yêu cầu về TTĐT lại khác nhau. Cụ thể, xét theo tiêu chí lãnh thổ, ở từng quốc gia lại có những quy địnhriêng về TTĐT. Ví dụ, Trung Quốc, Thái Lan và Philippines quy định nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục đăng ký xin Giấy phép đầu tư hoặc các hình thức chấp thuận đầu tư khác; trong khi đó, các quốc gia như Canada, Singapore không áp dụng TTĐT riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài. Nếu nhà đầu tư đáp ứng được các điều kiện nhất địnhthì có thể tiến hành đăng ký thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần để thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình.
Thứ năm, Thủ tục đầu tư phản ánh mục tiêu, chiến lược kinh tế của một quốc gia. Các quốc gia muốn tăng cường thu hút đầu tư thường nới lỏng các quy định
và đơn giản hóa TTĐT; ngược lại các quy định sẽ bị thắt chặt nếu quốc gia muốn hạn chế đầu tư.
Thứ sáu, tính cải cách của thủ tục đầu tư
Thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân cũng được nhìn nhận như một yếu tố cấu thành của môi trường kinh doanh và đầu tư của quốc gia và của doanh nghiệp. Vì vậy, để thu hút đầu tư của khu vực tư nhân, Nhà nước phải thường xuyên cải cách TTĐT theo hướng không làm cản trở và tạo thuận lợi cho nhà đầu tư. Chẳng hạn ở Thái Lan, sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ năm 1997, với chiến lược vực dậy nền kinh tế và khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, quốc gia này đã có những điều chỉnh cơ bản trong chính sách đầu tư để cải thiện môi trường đầu tư. Bên cạnh việc đơn giản hóa thủ tục, Chính phủ Thái Lan còn thực thi một chính sách đầu tư tự do, không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, các TTĐT đối với nhà đầu tư nước ngoài cũng được giản tiện hơn.
2.3. Phân loại thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân Pháp luật đầu tư của các quốc gia điều chỉnh quan hệ đầu tư trực tiếp và
đầu tư gián tiếp. Trong đầu tư trực tiếp Luật Đầu tư lại phân biệt giữa đầu tưtrong nước và đầu tư nước ngoài. Trong TTĐT trực tiếp trong nước, trong đó có dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân, ngoài phân biệt giữa đầu tư thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế và đầu tư không thông qua việc thành lập tổ chức
kinh tế, Luật Đầu tư của Việt Nam còn kết hợp giữa tiêu chí quy mô vốn của dựán và lĩnh vực đầu tư có điều kiện để phân biệt TTĐT1. Cùng với đó, trong pháp luật đầu tư và quy định của các địa phương có phân biệt thủ tục đối với 3 nhóm dự án đầu tư là: nhóm các dự án đầu tư không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư, nhóm các dự án đầu tư thuộc diện phải làm thủ tục đăng ký đầu tư và nhóm các dự án đầu tư thuộc diện thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư. Ngoài ra, Luật Đầu tư còn phân biệt thủ tục đối với dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng. Cuối cùng TTĐT còn được phân biệt theo thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tưvà cấp Giấy chứng nhận đầu tư, đầu tư trong và ngoài khu công nghiệp, khu chếsuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Các TTĐT như vậy được trình bày lồng ghép, phân tích và đánh giá theo lát cắt và cách tiếp cận của các giai đoạn của đầu tư: chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án đầu tư và kết thúc dự án đầu tư. Tuy nhiên, như đã giới hạn ở phần mở đầu của luận án, dưới đây luận án chỉ tập trung đánh giá TTĐT trực tiếp trong nước của doanh nghiệp tư nhân.
1 Đối với dự án đầu tư có gắn với xây dựng công trình, Luật Xây dựng phân loại dự án theo quy mô, tính chất, loại công trình chính của dự án. Theo Điều 5 khoản 1 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng, dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình chính của dự án gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công và được quy địnhchi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP.
Như vậy, tùy theo những tiêu chí khác nhau, thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân được phân chia theo những cách thức khác nhau. Cụ thể là:
Căn cứ theo tính chất quản lý của quan hệ đầu tư, TTĐT bao gồm TTĐT trực tiếp và TTĐT gián tiếp.
i) Đầu tư trực tiếp: là hoạt độngtrong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng các nguồn lực vốn đầu tư, không có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý của nhà đầu tư đối với đầu tư (hình thức hợp tác kinh doanh, thành lập các loại hình doanh nghiệp).
ii) Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư mà ở đó nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Người đầu tư vốn và người quản lý, sử dụng vốn là hai chủ thể khác nhau và có thẩm quyền chi phối khác nhau đối với nguồn lực
đầu tư (đầu tư tài chính, nhượng quyền, cho vay, cho thuê…). Tuy nhiên, do doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào và không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần (Điều 183 Luật Doanh nghiệp) nên TTĐT gián tiếp dường như không có liên quan đến doanh nghiệp tư nhân.
Căn cứ theo nguồn gốc vốn đầu tư, TTĐT bao gồm TTĐT đối với dự án đầu tư trong nước, TTĐT đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài và TTĐT trên cơ sởhợp đồng đối với các dự án có vốn của nhiều chủ thể như hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (hợp đồng PPP), hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC), hợp đồng hợp tác kinh doanh ví dụ như BOT, BTO, BT.
Căn cứ theo quy mô vốn đầu tư, TTĐT sẽ tương ứng với quy mô nguồn vốn. Các quốc gia khác nhau áp dụng quy định về TTĐT đối với những khoảng mức quy mô vốn khác nhau. Chẳng hạn trước đây trong pháp luật Việt Nam, phân biệt TTĐT tương ứng với quy mô vốn là dưới 15 tỷ đồng, từ 15-300 tỷđồngvà từ 300 tỷ đồng trở lên.
Căn cứ theo nội dung hoạt động đầu tư, TTĐT bao gồm TTĐT đối với dự án thành lập mới tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế, TTĐT đối với dự án đầu tư phát triển kinh doanh, dự án đầu tư theo hình thức hợp đồngliên doanh, dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế, dự án mua cổ phần hoặc góp vốn, dự án đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại, dự án mua cổ phần cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ khác, dự án đầu tư thông qua quỹđầu tư chứng khoán và các chế định tài chính trung gian khác (có những ưu đãi về TTĐT như không phải đăng ký đầu tư…).
Căn cứ theo thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, TTĐT có thể được phân làm ba loại: do bộ chuyên trách về đầu tư cấp (ởViệt Nam là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở Trung Quốc là Ủy ban Kế hoạch Phát triển Nhà nước, Ủy ban Thương mại và Kinh tế Nhà nước, Bộ Ngoại thương và Hợp tác Kinh tế), do cơ quan chính quyền cấp tỉnh, thành phố, khu tự trị, các thành phố tự trịcấp (ở Việt Nam là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố), và các dự án không phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Căn cứ theo lĩnh vực đầu tư, TTĐT gồm hai loại: TTĐT đối với dự án đầu tưcó điều kiện và dự án không có điều kiện.
Ngoài ra, cònphân biệt thủ tục đối với dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mởrộng, TTĐT đối với dự án gắn với thành lập tổ chức kinh tế và dự án không gắn với thành lập tổ chức kinh tế.
2.4. Vai trò của thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân
Có thể có người cho rằng trong thể chế kinh tế thị trường tự do, việc yêu cầu nhà đầu tư tiến hành các TTĐT như đăng ký đầu tư hay đăng ký kinh doanh là hạn chế quyền tự do kinh doanh và mâu thuẫn với những quy luật tự do của thị trường. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, ngay cả ở những thể chế kinh tế thị trường hiện đại nhất thì những quy định về TTĐT vẫn luôn được áp dụng. Do vậy, cần hiểu rằng việc đưa ra các TTĐT không nhằm mục đích hạn chế quyền tự do kinh doanh của các chủ doanh nghiệp mà trái lại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, môi trường đầu tư cũng như người tiêu dùng.
Thứ nhất, TTĐT là phương tiện hiệu quả giúp Nhà nước đánh giá, xem xét năng lực của nhà đầu tư cũng như tính khả thi của dự án đầu tư xem có khả năng cung cấp sản phẩm dịch vụ liên tục, ổn định và đảm bảo chất lượng cho người sửdụng hay không.
Thứ hai, thông qua TTĐT, nhà nước thừa nhận tính hợp pháp của hoạt động đầu tư, từ đó có cơ sở pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của họ. Thông qua quy định của pháp luật về TTĐT, Nhà nước sẽ cam kết bảo vệ các quyền lợi như quyền được đối xử bình đẳng, quyền tự chủ đầu tư kinh doanh, quyền tiếp cận và sử dụng nguồn vốn tín dụng, quyền thuê, sử dụng lao động, quyền xuất nhập khẩu, quảng cáo, tiếp thị, gia công, quyền mua bán hàng hóa giữa doanh nghiệp chếxuất với thị trường nội địa, quyền mở tài khoản và mua ngoại tệ cho nhà đầu tư, bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động đầu tư, bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu thập hợp pháp khác của nhà đầu tư ra nước ngoài, quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư khi có những thay đổi bất thường của chính sách, luật pháp và một số các biện pháp bảo đảm đầu tư khác (Chương II Luật Đầu tư). Như vậy, nhờ các TTĐT mà nhà nước bảo đảm cho nhà đầu tư và các dự án đầu tư được hưởng một chếđộưu đãi và hỗ trợ đầu tư công bằng không phụ thuộc vào lĩnh vực, địa bàn đầu tư hay nguồn gốc vốn, quy mô vốn đầu tư. Theo đó, Nhà nước tạo được uy tín và gia tăng niềm tin cho các nhà đầu tư trước khi quyết định đầu tư.
Thứ ba, Thủ tục đầu tư là công cụ đểđảm bảo sự quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, tránh các dự án kinh doanh trái pháp luật, lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả trong đầu tư. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng lựa chọn được những dự án đầu tư có tính khả thi, đem lại hiệu quả cao, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng và kếhoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương và của đất nước. Ví dụ như Luật Đầu tư ở Việt Nam cấm đầu tư kinh doanh trong sáu ngành nghề: kinh doanh ma túy; kinh doanh hóa chất, khoáng vật cấm; kinh doanh động, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm có nguồn gốc từ tự nhiên; kinh doanh mại dâm; mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người và các hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người. Bên cạnh đó, Luật còn giới hạn 267 lĩnh vực kinh doanh có điều kiện. Thông qua TTĐT, Nhà nước có thể loại bỏ được những doanh nghiệp có ý định kinh doanh các ngành nghề cấm và sàng lọc/hạn chế tối đa những doanh nghiệp muốn hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện.
Sự cần thiết của việc quy định TTĐT trong pháp luật còn cho thấy từ ý nghĩa của việc làm này đối với Nhà nước và nhà đầu tư.
Đối với Nhà nước: Thủ tục đầu tư có chức năng trợ giúp đối với pháp luật đầu tư. Điều đó có nghĩa rằng pháp luật đầu tư có vị trí ưu tiên so với TTĐT. Cùng với thời hiệu và tính chặt chẽ của thủ tục, bên cạnh mục tiêu áp dụng chính xác và cẩn thận pháp luật người ta tìm cách thể hiện thủ tục hoàn hảo như có thể.
Nhà nước có vai trò định hướng, điều tiết và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Việc yêu cầu cácchủ đầu tư đăngký dự án đầu tư nhằm bảo đảm vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các dự án đầu tư, từ đó lựa chọn những dự án có tính khả thi cao, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội. TTHC trong hoạt động đầu tư còn là thước đo cho mức độ can thiệp của Nhà nước với tưcách là chủ thể quản lý vào hoạt động đầu tư của các tổ chức, cá nhân. TTĐT cũng là cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư.
Đối với nhà đầu tư:
Thông qua TTĐT, nhà đầu tư thực hiện được quyền lợi và nghĩa vụ của mình, đảm bảo hoạt động đầu tư kinh doanh tuân thủ đúng pháp luật và phù hợp đường lối phát triển của đất nước. Ngoài ra, TTĐT còn giúp các chủ doanh nghiệp hạn chế được phần nào những thiệt hại không đáng có trong trường hợp các dự án đầu tư bất khả thi, hoặc có tính rủi ro cao. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, hoạt động đầu tư trong và ngoài nước diễn ra sôi động, số lượng và quy mô các dự án đầu tư ngày càng tăng, do đó, các TTĐT sẽgiúp Nhà nước nắm bắt được xu hướng đầu tư và tình hình phát triển của nền kinh tế. Căn cứ trên nguồn dữ liệu này, Nhà nước có thể lựa chọn và triển khai những chiến lược phát triển kinh tế – xã hội phù hợp, đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
2.5. Nội dung thủ tục pháp luật đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân
Thủ tục hành chính trải qua các giai đoạn: khởi xướng vụ việc; xem xét và ra quyết định giải quyết vụ việc; thi hành quyết định; khiếu nại, giải quyết khiếu nại, xem xét quyết định đã thi hành [88, tr.164-168]. Nội dung thủ tục pháp luật đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân được khái quát dưới đây theo các giai đoạn của TTHC.
Thủ tục theo các bước hoặc giai đoạn đầu tư:
Trong khoa học, cũng như trong điều chỉnh pháp luật và thực tiễn đầu tưngười ta thường phân biệt ba giai đoạn đầu tư là chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tưvà kết thúc đầu tư đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng, trừ trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ (Xem Điều 50 khoản 1 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13). Ở mỗi giai đoạn đó, doanh nghiệp tư nhân cần thực hiện các thủ tục nhất định Thủ
tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân thường bao gồm các nhóm thủtục sau đây:
Nhóm thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của hai giai đoạn sau; do đó, ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, kết quả tính toán và dự báo là rất quan trọng. Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư lại có sự phân biệt giữa chuẩn bị đầu tư và chuẩn bị dự án. Cóthểcó người hiểu chuẩn bị đầu tư đồng nghĩa với chuẩn bị dự án. Tuy nhiên, cần thấy rằng chuẩn bị đầu tư gồm nhiều hoạt động, trong đó có chuẩn bị dự án.
Đềxuất dự án đầu tư bao gồm các thủ tục: nhà đầu tư thực hiện dự án, mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độđầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án.
Chuẩn bị đầu tư bao gồm tổng thể các hoạt động chủ yếu như: xác định nhu cầu, sự cần thiết phải đầu tư, mức độkhả thi và hiệu quả của việc đầu tư; xác định mục tiêu đầu tư và tính toán các giải pháp để thực hiện các mục tiêu; xác định quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn; tính toán thị trường đầu vào, đầu ra và khả năng cạnh tranh của sản phẩm; lựa chọn hình thức đầu tư; tìm, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng; xác định thời hạn và tiến độđầu tư; lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư; xác định nhu cầu về lao động; đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư trước và trong quá trình đầu tư; đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án v.v…Như vậy chuẩn bị dự án đầu tư chỉ là một trong những hoạt động của chuẩn bị đầu tư.
Nhóm thủ tục trong giai đoạn thực hiện dự án (dự án đầu tư xây dựng): nhóm này thường gồm các thủ tục trong thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có);chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồngxây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác [So sánh Điều 6 khoản 1b Nghị định số59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng].
Nhóm thủ tục trong giai đoạn kết thúc dự án đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Ở đây có các thủ tục trong quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng [So sánh Điều 6 khoản 1c Nghị định số59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng].
Tùy thuộc điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật của dự án, người quyết định đầu tư quyết địnhtrình tự thực hiện tuần tự hoặc kết hợp đồng thời đối với các hạng mục công việc nói trên.
Thủ tục theo quy trình đầu tư:
Quy trình đầu tư thường gồm hai khâu quan trọng nhất là đăng ký đầu tư, thẩm tra đầu tư và triển khai hoạt động đầu tư. Cần chú ý là theo quy định riêng của từng nước mà quy trình và nội dung của TTĐT có thể có những điều chỉnh khác nhau, vì thế phần dưới đây chỉ là những khái quát một cách chung nhất.
i) Thủ tục đăng ký đầu tư: Nếu nằm trong diện phải đăng ký đầu tư thì nhà đầu tư phải tiến hành các thủ tục đăng ký đầu tư theo quy định tại cơ quan quản lý Nhà nước trước khi thực hiện dự án đầu tư. Nội dung đăng ký bao gồm: tư cách pháp lý của nhà đầu tư, mục tiêu, quy mô và địa điểm thực hiện dự án đầu tư, vốn đầu tư, tiến độthực hiện dự án, nhu cầu sử dụng đất và các cam kết về bảo vệ môi trường, kiến nghị ưu đãi đầu tư.
ii) Thủ tục thẩm tra đầu tư: Đối với các dự án phải tiến hành thủ tục thẩm tra đầu tư thì chủ đầu tư phải lập hồ sơ thẩm tra dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm tra. Nội dung thẩm tra thường là xem xét sự phù hợp của dự án đối với quy hoạch kết cấu hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và sử dụng các loại tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản; đồng thời thẩm tra nhu cầu sử dụng đất, tiến độ dự án và các giải pháp bảo vệ môi trường…
iii) Thủ tục triển khai dự án đầu tư bao gồm một số các thủ tục như xin giao đất hoặc thuê đất thực hiện dự án, xin giấy phép xây dựng, xin giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản, thủ tục xin giấy phép kinh doanh, thủ tục thuế, mã số hải quan…
Thẩm quyền giải quyết các thủ tục đầu tư:
Thẩm quyền giải quyết các TTĐT (phê duyệt và thẩm tra TTĐT) được trao cho Chính phủ, các cơ quan quản lý chuyên ngành của trung ương và địa phương vềđầu tư, các bộ liên quan, hay chính quyền địa phương. Tùy theo từng lĩnh vực đầu tư và quy mô vốn đầu tư của dự án, mà thẩm quyền giải quyết TTĐT được quy định ở từng cấp khác nhau.
Ở Việt Nam, thẩm quyền giải quyết TTĐT được chia thành ba cấp: Chính phủ; Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ liên quan như Bộ Công Thương, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước; và ở cấp địa phương là Sở Kế hoạch và Đầu tư ở các tỉnh, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế(KCN, KCX, KCNC, KKT) trực thuộc địa phương. Trong đó, Chính phủ có thẩm quyền cao nhất, giải quyết các TTĐT (cấp giấy chứngnhận đầu tư) đối với các dựán trọng điểm trong những lĩnh vực thế mạnh và chủ chốt của quốc gia như hàng không, cảng biển, dầu khí, khoáng sản, phát thanh truyền hinh, casino, thuốc lá, đào
tạo đại học…; những dự án có số vốn trên 1.500 tỷ đồng trong ngành điện, chế biến khoáng sản, luyện kim, đường sắt, đường bộ, đườngthủy nội địa và rượu bia; và một số dự án có vốn đầu tư nước ngoài trong ngành vận tải biển, báo chí, xuất bản, bưu chính viễn thông, internet, nghiên cứu khoa học độc lập. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án BOT, BTO, BT. Bộ Công Thương cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án thuộc lĩnh vực dầu khí; Ngân hàng Nhà nước cấp cho các tổ chức tín dụng và Bộ Tài chính cấp cho các dự án thuộc lĩnh vực bảo hiểm. Ở cấp địa phương, Sở Kế hoạch và Đầu tư và Ban Quản lý các KCN, KCX, KCNC, KKT có thẩm quyền đối với các dự án trong và ngoài KCN, KCX, KCNC, KKT không thuộc thẩm quyền của các cơ quan nói trên.
Ở Thái Lan, Cục Đầu tư Thái Lan có chức năng cấp giấy phép kinh doanh cho những dự án đầu tư vào một số lĩnh vực mà Chính phủ Thái Lan xác địnhlà trọng điểm, còn Cục Phát triển Kinh doanh sẽ đảm trách những lĩnh vực không thuộc danh mục này. Quá trình thẩm định hồ sơ được giao cho Vụ Phát triển Kinh doanh trực thuộc Bộ Tài Chính. Ở Malaysia, Cục phát triển đầu tư Malaysia (MIDA) hoạt động như một cơ quan đầu mối để nhận và xử lý các hồ sơ đăng ký đầu tư đối với các dự án nói chung. Còn riêng các dự án đầu tư vào lĩnh vực tài chính, vận tải hàng không, dịch vụ công cộng, hành lang phát triển kinh tế, phát triển công nghệ sinh học và phân phối thương mại được cấp phép bởi những cơquan đặc biệt, được quy định riêng trong việc triển khai hoạt động.
2.6. Kinh tế thị trường đầy đủvà yêu cầu đối với thủ tục pháp luật vềđầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân
2.6.1. Quan niệm về kinh tế thị trường đầy đủ
Một trong những ràng buộc đối với nước ta khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là Việt Nam việc bị coi là nền kinh tế phi thị trường (NME) trong vòng 12 năm kể từ ngày gia nhập (đến 31/12/2018). Hết thời gian bị coi là nền kinh tế phi thị trường, nền kinh tế của Việt Nam đương nhiên được coi là nền kinh tế thịtrường đầy đủ. Trước thời điểm 31/12/2018, nếu Việt Nam chứng minh được với các đối tác là kinh tế hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽngừng áp dụng chếđộ”phi thị trường” đối với Việt Nam. Chính vì vậy, ngay sau khi gia nhập WTO nước ta đã tăng cường cải cách, vận động các nước đối tác công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ. Tính đến hết năm 2015, Việt Nam đã được 59quốc gia công nhận có nền kinh tế thị trường [6]. Ngoài ra, một quốc gia chưa được công nhận là có nền kinh tế thị trường đầy đủ thì không có nghĩa là tất cả các ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế của quốc gia đó đều bị coi là “phi thịtrường”. Nói cách khác, nhà sản xuất, nhà xuất khẩu của nước đó nếu chứng minh được rằng, mình hoạt động trong những điều kiện của nền kinh tế thị trường và không bị can thiệp quá nhiều từ Chính phủ thì nhà sản xuất, nhà xuất khẩu đó vẫn được đối xử như những doanh nghiệp khác từ các nước đã được công nhận có nền kinh tế thị trường [54].
Như vậy, thuật ngữ “nền kinh tế thị trường đầy đủ” chủ yếu có ý nghĩa vềmặt kinh tế và chính trị hơn là về mặt khoa học, bởi khi đã được công nhận là “nền kinh tế thị trường đầy đủ” thì người ta không nói đến thuật ngữ này nữa. “Nền kinh tế thị trường đầy đủ” thực chất chỉ là danh từ dùng đểám chỉ nền kinh tế của các quốc gia đã đạt được những tiêu chí của nền kinh tế thị trường theo quy định của một tổ chức, hoặc của một nhóm nước (chẳng hạn EU) hay của quốc gia thành viên trong một hiệp định (chẳng hạn WTO) trước hoặc sau khi hết thời hạn thỏa thuận vềgiai đoạn bị coi là nền kinh tế phi thị trường. Nói cách khác, việc đặt ra thời điểm công nhận nền kinh tế của một quốc gia là “nền kinh tế thị trường đầy đủ” chỉ nhằm ràng buộc có điểu kiện đối với quốc gia gia nhập và xác định khoảng thời gian đểquốc gia bị coi là nền kinh tế phi thị trường đó tăng cường cải cách theo hướng mởcửa thị trường. Thay vì quy định cụ thể về “nền kinh tế thị trường đầy đủ”, các nước tiếp cận bằng cách đặt ra tiêu chí xác định và cách đối xử đối với các nền kinh tế bịcoi là phi thị trường. Các quốc gia có các dấu hiệu phản ánh tính phi thị trường do họ quy định hoặc có tên trong danh sách các nền kinh tế phi thị trường thì không được công nhận là nền kinh tế thị trường.
Sự ra đời của thỏa thuận mang tính quốc tế về quy ước nền kinh tế phi thịtrường khởi nguồn chính trong quá trình các nước ký kết Hiệp định chung về Thuếquan và Thương mại (GATT) khắc phục hạn chế của sự thiếu quy định về xác định giá đúng ở những nước bị coi là có nền kinh tế do nhà nước kiểm soát bằng cách áp dụng một phương pháp đặc biệt (được gọi là cách tiếp cận nước thay thế) đểxác địnhgiá trị thông thường trong các cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan đến việc Ba Lan gia nhập vào năm 1967 [54, tr.7]. Dựa vào Điều khoản bổ sung thứ hai vào đoạn 1.2 của Điều VI của GATT 19472, một số thành viên của Hiệp định GATT đã cho rằng giá và chi phí sản xuất của hàng hóa tại các nền kinh tế phi thịtrường được điều chỉnh bởi Chính phủ và do đó, không theo quy luật của thị trường,
2 Thừa nhận rằng trong trường hợp nhập khẩu từ một nước mà thương mại hoàn toàn mang tính chất độc quyền hoặc hầu như độc quyền hoặc toàn bộ giá trong nước do nhà nước định đoạt, việc xác định tính so sánh của giá cả nhằm mục đích nêu tại khoản 1 có thể có những khó khăn đặc biệt và trong những trường hợp đó, các bên ký kết là bên nhập khẩu có thể thấy cần tính đến khả năng rằng việc so sánh chính xác với giá cảtrong nước của nước đó không phải lúc nào cũng thích đáng nên họ không chấp nhận giá hay chi phí sản xuất thực tế của hàng hóa tại quốc gia xuất khẩu như là một cơ sở thích hợp cho việc tính toán giá trị thông thường. Thay vào đó, cơ quan điều tra sẽ sử dụng giá và chi phí sản xuất của hàng hóa tại một quốc gia khác có nền kinh tế thị trường và được cho là tương tự, phù hợp để làm cơsở tính toán cho giá thông thường [54]. Sau đó, phương pháp tiếp cận nước thay thếđược áp dụng rộngrãi không chỉ trong quan hệ giữa các nước ký kết hiệp định GATT, mà cả với các nước không phải thành viên của GATT, và đến khi ra đời WTO thì phương pháp này tiếp tục được duy trì [58, tr.7]. Tuy nhiên, Hiệp định của WTO cũng như Hiệp định về chống bán phá giá của WTO không quy định các tiêu chí cho việc xác định nền kinh tế thị trường. Các quốc gia được tự quy định về các tiêu chí của nền kinh tế thị trường trong pháp luật của quốc gia [57].
Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ sử dụng Quy chế nền kinh tế phi thị trường đểđiều chỉnh quan hệ với những nước mà họ chưa công nhận là nền kinh tế thịtrường đầy đủ. Tuy nhiên, tiêu chí đểđánh giá nền kinh tế phi thị trường của Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ không giống nhau. Quy chế nền kinh tế phi thịtrường được Hoa Kỳ và EU đặt ra là một quyết định mang tính chính trị hơn là trên cơ sở kinh tế [58, tr.7].
Căn cứ vào ngữ nghĩa của khoản 771 (18) (B) của Luật Thuế 1930 sửa đổi, Bộ Thương mại Hoa Kỳ dựa vào sáu tiêu chí để xác định Việt Nam có nền kinh tếthị trường hay phi thị trường. Các tiêu chí đó bao gồm: (1) Mức độmà đồngtiền của nước ngoài đó có thể chuyển đổi sang đồng tiền của các nước khác; (2) Mức độmà các mức tiền công lao động ở nước ngoài đó được xác định bởi sự thương lượng tự do giữa người lao động và giới quản lý; (3) Mức độ mà các liên doanh hoặc các dạng đầu tư khác của các doanh nghiệp từ các nước khác được phép hoạt động ởnước ngoài đó; (4) Mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của Chính phủ đối với các phương tiện sản xuất; (5) Mức độ kiểm soát của Chính phủ đối với sự phân bổ các nguồn lực và đối với các quyết định về giá cả và sản lượng của doanh nghiệp; (6) Những yếu tố khác mà cơ quan quản lý thấy phù hợp [theo 58, tr.9]. Trên cơ sở đó, Hoa Kỳ đưa ra những lý do không công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường [Về lý do Hoa Kỳ coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường dẫn theo 5453]3.
Trong quy định về chống bán phá giá của Liên minh châu Âu không có định nghĩa về một nền kinh tế thị trường hay nền kinh tế phi thị trường. Tiêu chí xác định các nước không phải kinh tế thị trường để áp dụng trong điều tra chống bán phá giá được nêu tại Điều 2 (điểm 7) Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 vềviệc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng Châu Âu [97]. Sau đó, Điều 2 (điểm 7) Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 1 Quy định của Hội đồng số 905/98 ngày 27/4/1998 sửa đổi Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng Châu Âu [98]. Trong các quy định nói trên của Liên minh châu Âu thường có liệt kê danh sách các nước bị coi là nền kinh tếphi thị trường. Danh sách này được Liên minh châu Âu rà soát và thay đổi theo hướngloại bỏ những nước đã đáp ứng được tiêu chuẩn kinh tế thị trường theo tiêu chí đánh giá của họ. Trong Quy định của Hội đồng số 905/98 ngày 27/4/1998, Việt Nam cùng với các quốc gia khác là Albania, Armenia, Azerbaijan, Belarus, Georgia, Kazakhstan, North Korea, Kyrgyzstan, Moldova, Mongolia, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraine, Uzbekistan có tên trong danh sách các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường. Trong danh sách này, không còn Nga và Trung Quốc như trước đó. Hiện nay, tiêu chí xác định nền kinh tế phi thị trường được quy định ở Điều 2 khoản 7c Quy định của Hội đồng số 1225/2009 ngày 30/11/2009 về việc bảo vệchống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Liên minh Châu Âu [99]. Theo quy định này, Liên minh châu Âu dựa vào các tiêu chí sau đểđánh giá mức độđáp ứng thị trường [khoản 7c điều 2 của 99]:
3 “Nền kinh tế Việt Nam vẫn trong quá trình chuyển đổi và chưa thực sự đạt tiêu chuẩn là một nền kinh tế thịtrường chiếu theo luật chống phá giá. Đồng tiền của Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn tự do chuyển đổi trên thịtrường vốn. Thêm vào đó là sự thiếu vắng quyền sở hữu đất tư, cải cách trong lĩnh vực ngân hàng thì có quy mô hạn chế, quá trình tư nhân hóa diễn ra chậm chạp, nhà nước vẫn duy trì sự hiện diện đáng kể trong nền kinh tế và mức độ can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế vẫn còn ở mức làm cho giá cả và chi phí sản xuất không phải là thước đo thực sự đối với giá trị”.
– Doanh nghiệp liên quan đến các quyết định của chúng về giá cả, chi phí và đầu vào, bao gồm cả ví dụ nguyên vật liệu, chi phí công nghệ và lao động, sản lượng, người bán và các nhà đầu tư trên cơ sở các tín hiệu thị trường phản ánh cung cầu, và không có sự can thiệp của nhà nước liên quan đến các vấn đề đó. Ở đó, chi phí đầu vào quan trọng nhất chủ yếu phải dựa trên giá trị thị trường.
– Doanh nghiệp sử dụngchếđộ kế toán riêng ghi chép rõ ràng được kiểm toán độc lập theo chuẩn mực kế toán quốc tế và được áp dụng cho tất cả các ngành.
– Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của doanh nghiệp không bị bóp méo nghiêm trọng bởi hệ thống kinh tế phi thị trường trước đó, trước hết ở phương diện khấu hao tài sản, khấu hao khác, thương mại hàng đổi hàng và thanh toán thông qua bù trừ công nợ.
– Các doanh nghiệp đặt dưới các quy định sở hữu và phá sản bảo đảm sự an toàn pháp lý và sự bền vững đối với quản trị doanh nghiệp.
– Chuyển đổi tiền tệ diễn ra theo giá thị trường.
Quy định của WTO về thời gian quá độđược công nhận là nền kinh tế thịtrường đầy đủkhông chỉ áp dụng riêng cho nước ta mà đối với nhiều quốc gia khác, trong đó có Trung Quốc, Nga và một số nước khác đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Những nước chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ sẽgặp nhiều bất lợi trong quan hệ thương mại quốc tế, trước hết là trong các vụ kiện chống bán phá giá [54]. Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu sử dụng Quy chế nền kinh tếphi thị trường để điều tra chống bán phá giá. Ở đó, các nền kinh tế phi thị trường bịchịu thêm sự đánh giá khắt khe bởi cách tiếp cận nước thay thế thiếu tính khách quan được nước nhập khẩu sử dụng trong xác định giá thông thường trong các cuộc điều tra chống bán phá giá [54], [58, tr.5, 7]. Theo đó, bên khởi kiện của nước nhập khẩu có thể lựa chọn một nền kinh tế thị trường để thay thế cho nước mà họ cho là phi thị trường. Giá cả ở nước thay thế được sử dụng để đại diện cho giá trong nước của nền kinh tế phi thị trường. Trong khi đó, các yếu tố đểhình thành giá ở các nước làkhông thể giống nhau. Sự so sánh giá trong các điều kiện không tương đươnggiữa các nước như vậy làm mất đi tính công bằng và chính xác của sự đánh giá. Nhiều khi còn có sự tùy tiện trong việc lựa chọn nước thay thế và so sánh các sản phẩm không giống nhau giữa các nước [58, tr.5, 7].
Như vậy, nền kinh tế thị trường đầy đủtrước hết phải là nền kinh tế thịtrường với những thành tố cần thiết phải có của nó. Nền kinh tế thị trường đầy đủkhông phải mô hình hay trình độ phát triển cao hơn của nền kinh tế thị trường đang tồn tại ở nhiều quốc gia phát triển. Ngày nay, trên cơ sở lý thuyết về kinh tế thịtrường, các quốc gia vận dụng và xây dựng cho mình mô hình kinh tế thị trường thích hợp. Có nhiều sự phân nhóm khác nhau về các mô hình kinh tế thị trường. Chẳng hạn, theo tiêu chí kết hợp giữa nhà nước, thị trường và xã hội, có người khái quát các mô hình phát triển kinh tế tiêu biểu như mô hình thị trường tự do, mô hình Đông Á, mô hình tư bản nhà nước mà Trung Quốc đang thực hiện, mô hình Đông Nam Á, mô hình phúc lợi xã hội và mô hình kế hoạch hóa tập trung [2]. Phần lớn ý kiến cho rằng, ở mức độ khái quát, trên thế giới có mô hình kinh tế thị trường tự do, mô hình kinh tế thị trường xã hội và mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [91]. Nền kinh tế thị trường đầy đủ không phải mô hình nằm ngoài các mô hình nói trên.
Kinh tế thị trường là mô hình phát triển kinh tế được hầu hết các nền kinh tếtrên thế giới hiện nay đang hướng tới và áp dụng. Khái niệm kinh tế thị trường đã được nhiều ngành khoa học, trước hết là trong kinh tế học, giải thích [67]. Trong nhận thức người dân, đôi khi có những người không hiểu kinh tế thị trường là gì, nhưng kinh tế thị trường không còn là thuật ngữ xa lạ đối với họ. Có nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về kinh tế thị trường và trên thực tế trên thế giới có nhiều mô hình kinh tế thị trường hay biến thể khác nhau của kinh tế thị trường. Mặc dù vậy, vẫn có thể nhận ra những điểm chung mang tính phổ biến trong nhận thức về kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ. Kinh tế thị trường diễn tả một thể chế kinh tế, ở đó sản xuất và phân phối của hàng hóa và dịch vụ được giao dịch hoặc trao đổi tự do thông qua hợp đồng. Nói đến kinh tế thị trường người ta liên tưởng ngay đến thể chế kinh tế, ở đó có sự đa dạng của nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân, cùng nhiều loại hình chủ thể kinh doanh độc lập trong môi trường tự do kinh doanh và cạnh tranh. Kinh tế thị trường đầy đủ sẽ phải đáp ứngvà phản ánh đầy đủcác yếu tố nói trên.
Các yếu tố cần phải có của kinh tế thị trường đầy đủ bao gồm:
– Sự hiện diện đầy đủvà đồng bộ của tất cả các loại thị trường như thị trường hàng hóa và dịch vụ (phục vụ kinh doanh và tiêu dùng), thị trường bất động sản, thịtrường sức lao động, thị trường tài chính (thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thịtrường chứng khoán), thị trường thị trường khoa học và công nghệ.
– Sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân.
– Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức kinh doanh và chủthể kinh doanh.
– Các nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh và công bằng. Theo yêu cầu của WTO, nền kinh tế thị trường đảm bảo nguyên tắc “thương
mại tự do” tuyệt đối. Cùng với đó các doanh nghiệp tham gia thị trường hoàn toàn độc lập với chính phủ. Với cách hiểu rộng hơn, trong nền kinh tế thị trường, mọi chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế phải là những thực thể kinh tế độc lập và các quyết định của họ dựa trên lợi ích kinh tế của chính họ, chứ không phải theo ý muốn chủ quan của nhà nước. Sự độc lập của các chủ thể kinh doanh gắn liền và bắt nguồn từ quyền tự do kinh doanh của họ thường được hiến pháp hoặc luật quy định. Các doanh nghiệp độc lập trong quá trình kinh doanh, từ xác định kếhoạch, chiến lược kinh doanh và đầu tư, đến tự chủ trong lựa chọn ngành, nghề kinh doanh, địa bàn hoạt động và đầu tư, tự do giao kết và thực hiện hợp đồng, tự do quyết định vốn đầu tư, tuyển dụng lao động, định giá sản phẩm theo yêu cầu của quy luật cung cầu và quy luật giá trị của thị trường, lựa chọn các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp khi nó xảy ra v.v…Tất nhiên, sự tự do và độc lập của các doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh bị giới hạn ở nghĩa vụ tuân thủ pháp luật theo nguyên tắc “được làm tất cả những gì pháp luật không cấm”. Ngoài ra, không có nền kinh tế thị trường nào tồn tại ngoài quan hệ với nhà nước, nói cách khác thoát ly hoàn toàn khỏi sự điều tiết, tác động của nhà nước. Trong hầu hết các thể chế kinh tế thị trường, ở các mức độ và phạm vi khác nhau, nhà nước thường có vai trò định hướng, điều tiết, phục vụ, kiểm soát, giám sát, phân phối lại thu nhập, trọng tài và bảo vệ, hỗ trợ và khuyến khích các thành tố của thị trường phát triển [đối với kinh tế thị trường xã hội của Đức, xem 56]. Tất nhiên, trong mỗi nền kinh tế thị trường, vai trò, vị trí và chức năng của nhà nước thể hiện không hoàn toàn giống nhau. Chính vì thể mới có các mô hình kinh tế thị trường và nền kinh tế thịtrường khác nhau của thế giới đang tồn tại trên thực tế. Vai trò điều tiết của nhà nước thể hiện rất rõ trong sứ mệnh ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ môi trường, cung ứng một số loại hàng hóa, dịch vụ công v.v… Sự điều tiết này của nhà nước vềnguyên tắc phải dựa trên quy định của các đạo luật, nhưng trên thực tế đôi khi không hoàn toàn như vậy, bởi ngoài pháp luật, nhà nước có thể sử dụng các công cụkhác như chính sách, kế hoạch để can thiệp thị trường. Ở đây, ngoài sự điều tiết của thị trường, các chủ thể kinh doanh còn bị điều tiết chính đáng của nhà nước, cùng với đó sự tự do và độc lập trong kinh doanh của chủ thể kinh doanh bị giới hạn bởi sự điều tiết của nhà nước.
Như vậy, về tính chất, nền kinh tế thị trường đầy đủhoàn toàn đối lập với nền kinh tế phi thị trường. Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường đầy đủ không còn nắm vai trò kiểm soát đáng kể các hoạt động của nền kinh tế hay hạn chế tự do cạnh tranh và phân biệt đối xử với các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước… như trong các nền kinh tế phi thị trường. Tương tự, kinh tế thị trường đầy đủ khuyến khích tính minh bạch, công bằng và tự do giữa các chủ thể tham gia trong nền kinh tế.
2.6.2. Yêu cầu của kinh tế thị trường đầy đủđối với thủ tục phápluật vềđầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\THỦ TỤC PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM TRỞ THÀNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ
THỦ TỤC PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM TRỞ THÀNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ THỦ TỤC PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM TRỞ THÀNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ THỦ TỤC PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM TRỞ THÀNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ THỦ TỤC PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM TRỞ THÀNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ THỦ TỤC PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM TRỞ THÀNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ THỦ TỤC PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM TRỞ THÀNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ THỦ TỤC PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM TRỞ THÀNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẦY ĐỦ

