Thiết kế một số tình huống dạy học nội dung vectơ- Hình học 10 theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức

Thiết kế một số tình huống dạy học nội dung vectơ- Hình học 10 theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Mục đích của việc giảng dạy môn Toán ở trường phổ thông là dạy cho học sinh kiến thức về toán, phương pháp học tập, cách giải bài tập, rèn luyện kỹ năng giải toán, khả năng tự học, tự nghiên cứu,…và với công cuộc đổi mới đất nước đã đề ra những yêu cầu mới đối với hệ thống giáo dục. Nó đòi hỏi chúng ta phải thay đổi nội dung và đổi mới về phương pháp dạy học. Hiện nay giáo dục với những tư tưởng chủ đạo như: “phát huy tính tích cực”, “phương pháp dạy học tích cực”,…tuy cách phát biểu khác nhau nhưng đều có chung quan điểm là học sinh đóng vai trò chủ thể và hoạt động tích cực trong quá trình học tập thì phương pháp dạy học ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng.

Với cùng một nội dung như nhau nhưng quá trình dạy và học có tạo được sự thu hút, hứng thú trong học tâp; có để lại những dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn các em, các em có ghi nhớ kiến thức đã được lâu dài hay không, có làm cho các em yêu thích những vấn đề đã học và biết vận dụng chúng một cách năng động, tích cực vào cuộc sống hay không là tùy thuộc vào phương pháp của người thầy.

Đất nước ta cũng đã đề ra mục tiêu: “nâng cao dân trí – đào tạo nhân lực – bồi dưỡng nhân tài”. Trong khi đó, hiện nay giáo viên chúng ta vẫn đang dạy học theo phương pháp truyền thống nghĩa là chỉ cung cấp tri thức cho học sinh mà chưa quan tâm đến sự hứng thú, chủ động, khả năng tiếp thu tri thức và sự phát triển toàn diện của các em học sinh. Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay là quan trọng và cấp thiết.

Lý thuyết kiến tạo là cơ sở quan trọng cho các phương pháp dạy học hiện đại theo xu hướng của thế giới. Theo lý thuyết kiến tạo, tất cả các tri thức đều là sản phẩm của những hoạt động nhận thức của chính bản thân người

2

học. Do kiến thức được học sinh tự kiến tạo, nên các em có thể nắm chắc các kiến thức và ghi nhớ kiến thức sâu hơn. Trong quá trình hình thành tri thức, tư duy phê phán được phát triển, giúp cho học sinh lĩnh hội được kiến thức. Từ đó, các em có thể trình bày, bảo vệ, kiểm chứng và phê phán tri thức theo cách riêng của chính mình.

Thêm vào đó, chủ đề về vectơ có vai trò quan trọng trong chương trình toán phổ thông. Nó còn là công cụ quan trọng để giải quyết nhiều vấn đề thuộc hầu hết các lĩnh vực đại số, giải tích và hình học, đặc biệt là hình học giải tích. Và trong cấu trúc đề thi trung học phổ thông thông quốc gia hiện nay thì vai trò quan trọng của các bài toán liên quan đến vectơ càng được khẳng định.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thiết kế một số tình huống dạy học nội dung vectơ- Hình học 10 theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức”.

2. Mục đích nghiên cứu

Thiết kế một số tình huống dạy học nội dung vectơ- Hình học 10 trong mặt phẳng ở trường trung học phổ thông theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích và hệ thống các tài liệu lí luận liên quan đến lý thuyết kiến tạo trong dạy học Toán để xây dựng khung lý thuyết tham chiếu cho đề tài. Phân tích nội dung sách giáo khoa liên quan đến nội dung vectơ trong hình học 10.

Thiết kế các tình huống dạy học nội dung vectơ – hình học 10 theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức.

Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một lớp để kiểm nghiệm giả thuyết nghiên cứu của đề tài.

3

4. Giả thuyết nghiên cứu

Vận dụng quan điểm hoạt động, lí thuyết kiến tạo, lí thuyết tình huống thì có thể thiết kế được những tình huống dạy học nội dung vectơ theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở trường phổ thông.

5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

5.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy và học của HS.

5.2. Đối tượng nghiên cứu: Các tình huống dạy học nội dung vectơ ở trường trung học phổ thông.

5.3. Phạm vi nghiên cứu: Dạy học nội dung vectơ Việc tổ chức quá trình dạy và học nội dung vectơ – hình học 10.

6. Phƣơng pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lí luận, điều tra, quan sát và tiến hành tổ chức thực nghiệm.

  1. Kết quả nghiên cứu

7.1. Về mặt lý luận

    • Luận văn đã tổng kết một số kết quả nghiên cứu liên quan đến phương pháp dạy học theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức.

7.2. Về mặt thực tiễn

  • Thiết kế được một số tình huống dạy học về nội dung vectơ- Hình

học 10 trong mặt phẳng theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức.

    • Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên dạy ở các trường THPT.
  1. Cấu trúc chính của luận văn

Ngoài tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 phần chính:

Phần 1: Mở đầu

Phần 2: Nội dung

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.

4

Chƣơng 2: Thiết kế một số tình huống dạy học nội dung vectơ – Hình học 10 theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức.

Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm.

Phần 3: Kết luận

5

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận

1.1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1. Hoạt động học

Theo tác giả Phan Trọng Ngọ thì hoạt động hoạt động học là:

Hoạt động học: là một quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh các khái niệm khoa học, vì vậy hình thành nên cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách mới. [21; tr.36]

Hoạt động học là hoạt động của HS trong quá trình người học hướng tới mục đích quan trọng là chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, phương pháp, nhiệm vụ nào đó.

1.1.1.2. Hoạt động dạy

Theo tác giả Phan Trọng Ngọ thì hoạt động dạy là:

Hoạt động dạy: là GV tổ chức, hướng dẫn tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển năng lực, nhân cách. Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy là tổ chức, hướng dẫn việc học tập của học sinh, giúp học sinh nắm bắt kiến thức đồng thời hình thành kỹ năng, thái độ. Hoạt động dạy có hai chức năng là truyền đạt kiến thức, định hướng quá trình nắm bắt kiến thức theo nội dung chương trình quy định bằng phương pháp phù hợp. [21; tr.36]

Thiết kế một số tình huống dạy học nội dung vectơ- Hình học 10 theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức
Thiết kế một số tình huống dạy học nội dung vectơ- Hình học 10 theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức

Theo tác giả Nguyễn Bá Kim “ Hoạt động dạy là hoạt động của GV tổ chức cho HS tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, phương pháp nào đó. Hoạt động dạy sẽ bao gồm các hoạt động thành phần: phân tích, xác định các hoạt động tương thích với nội dung dạy học” (hiểu theo [15; tr.123 – 124]); tổ chức cho HS thực hiện hoạt động học một cách tích cực, chủ động và sáng tạo.

1.1.1.3. Tình huống

6

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tình huống là toàn thể những sự việc, hành động xảy ra tại một địa điểm, trong một thời gian cụ thể, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, tìm cách giải quyết”. [37, tr.621]

Theo tác giả Nguyễn Bá Kim: Tình huống là một hệ thống phức tạp gồm chủ thể và khách thể, trong đó chủ thể là người, còn khách thể là một hệ thống, hoạt động nào đó. [15; tr.185].

Xét về mặt Tâm lý học, tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan hệ với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy chủ thể đó. Trong quan hệ thời gian, tình huống xảy ra trước so với hành động của chủ thể. Trong quan hệ chức năng, tình huống là sự độc lập của các sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm mà người đó thực hiện hành động [35]

Theo quan điểm triết học [35], tình huống đưa vào nghiên cứu như là một tổ hợp các mối quan hệ xã hội cụ thể, mà đến một thời điểm nhất định liên kết con người với môi trường, biến con người thành một chủ thể của một hoạt động có đối tượng nhằm đạt được một mục tiêu nhất định.

Theo Boehrer, J. (1995) “Tình huống là một câu chuyện, có cốt chuyện và nhân vật, liên hệ đến một hoàn cảnh cụ thể, từ góc độ cá nhân hay nhóm, và thường là hành động chưa hoàn chỉnh.Đó là một câu chuyện cụ thể và chi tiết, chuyển nét sống động và phức tạp của đời thực vào lớp học” [Dẫn theo 8] Còn theo Hammond, J.S – Đại học Havard “Case Study hay còn gọi là Case method là phương pháp dạy học thông qua nghiên cứu trường hợp điển

hình. đây, người học được giới thiệu một tình huống cụ thể, có thật và được đặt vào vị trí của người ra quyết định để giải quyết vấn đề trong tình huống ấy” [Dẫn theo 19].

Tình huống được quan niệm trên cơ sở quan hệ giữa chủ thể và khách thể, trong không gian và thời gian. “Tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan hệ với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy tính tích cực của người đó. Trong quan hệ không gian tình huống xảy ra bên ngoài nhận thức của chủ

7

thể, trong quan hệ thời gian tình huống xảy ra trước so với hành động của chủ thể. Trong quan hệ chức năng tình huống là sự độc lập của các sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm mà người đó thực hiện hành động” [5].

1.1.1.4. Tình huống dạy học

THDH là một bối cảnh trong đó diễn ra hoạt động dạy và hoạt động học của một tiết hoặc một vài tiết học trên lớp được thiết kế bởi GV nhằm đạt được một mục đích nhất định. Một THDH phải được GV biên soạn như kịch bản, có cấu trúc, nội dung và có tương tác giữa các nhân vật là HS, GV trong môi trường DH cụ thể.

Trong THDH, HS cảm thấy có khả năng huy động tri thức, kinh nghiệm để giải quyết vấn đề được đặt ra trong THDH. Tuy nhiên, những kiến thức hiện có của HS chưa thể giải quyết ngay được vấn đề hoặc giải quyết chưa hoàn toàn vấn đề gặp phải. Họ phải liên tưởng, xâu chuỗi, điều chỉnh lại kiến thức của mình để phán đoán, kiểm nghiệm rồi từ đó tổng hợp, đúc rút, thu được kiến thức mới.

Trong một THDH, HĐH là hoạt động chủ đạo được diễn ra dưới sự tổ chức của GV thông qua việc thực hiện giải quyết một vấn đề nào đó nảy sinh trong TH. Về tiến trình, một THDH bao gồm ba phần: phần mở đầu (GV nêu vắn tắt bối cảnh, các sự kiện trong tình huống, HS bước đầu thâm nhập hay phát hiện vấn đề một cách độc lập hoặc có sự giúp đỡ của GV); phần kiến tạo tri thức toán (HS giải quyết vấn đề, kiến tạo và chiếm lĩnh tri thức và bước đầu hình thành kỹ năng, trong đó có sự hỗ trợ, tác động của GV); phần kết thúc: HS xác nhận kiến thức, kỹ năng, phương pháp tương ứng dưới sự tổ chức của GV.

Người giáo viên cần dạy học sinh theo cách sao cho các em có thể nắm vững tri thức, kĩ năng và sẵn sàng vận dụng vào thực tiễn. Muốn vậy, cần tổ chức cho học sinh học Toán trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo, được thực hiện độc lập hay trong giao lưu.

8

Dạy Toán trong hoạt động và bằng hoạt động của học sinh góp phần thực hiện học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn và là một điều kiện để lao động sản xuất và hoạt động xã hội.

Tình huống dạy học Theo Boehrer (1995) thì: “Tình huống là một câu chuyện, có cốt chuyện và nhân vật, liên hệ đến một hoàn cảnh cụ thể, từ góc độ cá nhân hay nhóm, và thường là hành động chưa hoàn chỉnh. Đó là một câu chuyện cụ thể và chi tiết, chuyển nét sống động và phức tạp của đời thực vào lớp học” [Dẫn theo 32].

Một tình huống thông thường chưa phải là một tình huống dạy học. Nó chỉ trở thành tình huống dạy học khi người giáo viên đưa những nội dung cần truyền thụ vào trong các sự kiện tình huống và cấu trúc các sự kiện sao cho phù hợp với logic sư phạm, để khi người học giải quyết nó sẽ đạt được mục tiêu dạy học.

1.1.2. Các quan điểm, lý thuyết dạy học vận dụng vào thiết kế tình huống

dạy học

1.1.2.1. Quan điểm hoạt động

Theo Nguyễn Bá Kim, ta có thể quan điểm hoạt động trong dạy học là: Tổ chức cho HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực sáng tạo. Các thành tố cơ sở của phương pháp dạy học là động cơ hoạt động, các hoạt động và hoạt động thành phần, tri thức trong hoạt động, phân bậc hoạt động. Định hướng hoạt động hoá người học thực chất là làm tốt mối quan hệ giữa ba thành phần: mục đích, nội dung và phương pháp dạy học. Bởi vì:

Hoạt động của HS thể hiện sự thống nhất của những mục đích thành phần (4 phương diện: tri thức bộ môn, kĩ năng bộ môn, năng lực trí tuệ chung và phẩm chất, tư tưởng, đạo đức, thẩm mĩ theo 3 mặt: tri thức, kĩ năng, thái độ).

* Quan điểm hoạt động trong phương pháp dạy học Toán

9

Trong quá trình đó, hình thành hành động học là khâu trung tâm. Sau khi đã có hoạt động học cần chuyển từ hoạt động thứ yếu lên mức hoạt động chủ đạo trong quá trình phát triển của người học.

Điều cơ bản của phương pháp dạy học là khai thác được những hoạt động tiềm tàng trong nội dung để đạt được những mục đích dạy học. Khi đó giúp người học con đường chiếm lĩnh nội dung và đạt được những mục đích dạy học khác, tức là kết hợp truyền thụ tri thức với truyền thụ tri thức phương pháp [32, tr.128].

Theo Nguyễn Bá Kim (2008), “Dạy học một nội dung nào đó là khai thác, lựa chọn những hoạt động tiềm tàng trong nội dung này. Từ đó tổ chức, điều khiển HS thực hiện những hoạt động này trên cơ sở đảm bảo những thành phần tâm lý cơ bản của hoạt động”.

Phương pháp dạy học mới là phương pháp tổ chức hoạt động có đối tượng. Do đó việc xác định được đối tượng hoạt động dựa trên cơ sở tổ chức hoạt động của người học là nền tảng cơ bản để tiến hành việc giáo dục có hiệu quả.

Với việc thiết kế các hoạt động, tạo môi trường cho HS được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động là yêu cầu quan trọng của việc định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. 1.1.2.2. Lý thuyết kiến tạo

Theo nghĩa từ điển: Kiến tạo nghĩa là xây dựng nên một cái gì đó Người khởi xướng ra lý thuyết kiến tạo là Jean Piaget (1896 -1980) –

nhà tâm lý học, sinh học người Thụy Sĩ. Trong suốt cuộc đời ông chỉ theo đuổi một mục đích: xây dựng một học thuyết về sự phát sinh tri thức. Ông nghiên cứu để trả lời câu hỏi: tri thức đến với con người như thế nào? Câu trả lời của ông chính là thuyết kiến tạo (constructivism)

Trong dạy học theo thuyết kiến tạo, GV đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ HS xây dựng kiến thức. Bởi vì, HS kiến tạo tri thức chỉ theo

10

một (một vài) trường hợp cụ thể. GV cần phải bổ sung, đưa ra những tình huống để HS kiểm nghiệm, điều chỉnh lại kiến thức của mình. Một khi HS nhận ra rằng, tri thức được kiến tạo của các em không đúng với tình huống mới, các em có thể điều chỉnh và kiểm tra tính đúng đắn cho phù hợp.

Do kiến thức cần phải được HS kiến tạo theo cách hiểu riêng của mình nên vai trò chủ yếu của GV không phải là đọc bài giảng, giải thích hoặc nỗ lực chuyển tải các tri thức, mà vai trò của GV là tạo ra những tình huống cho HS thiết lập cấu trúc nhận thức cần thiết. Tuy vậy dạy học theo thuyết kiến tạo đề cao vai trò tích cực, chủ động của người học nhưng không làm lu mờ vai trò của GV, đó là vai trò định hướng và đảm bảo mục tiêu giáo dục. Ngoài ra, GV còn là người rèn luyện cho HS tư duy phê phán và tư duy sáng tạo.

Như vậy, dạy học theo lý thuyết kiến tạo là kiểu dạy học trong đó GV thiết kế tình huống cho HS tham gia kiến thiết, tạo dựng và biến đổi các tri thức, kĩ năng của mình để phù hợp với tình huống mới và có được nhận thức mới, kĩ năng mới. Khi được đặt vào tình huống mà ở đó người học cảm thấy cần thiết và có khả năng giải quyết, người học sẽ kiến tạo nên tri thức cho mình.

Theo quan điểm của “lý thuyết kiến tạo” thì HS phải là chủ thể tích cực xây dựng nên kiến thức cho bản thân mình chứ không phải chỉ thu nhận một cách thụ động từ môi trường bên ngoài. Người học không phải là một thùng rỗng để có thể rót đầy kiến thức vào đó.

Theo Vưgốtxki, mỗi cá nhân đều có một “vùng phát triển gần nhất” của riêng mình, thể hiện tiềm năng phát triển của cá nhân đó. Nếu các hoạt động dạy học được tổ chức trong “vùng phát triển gần nhất” thì sẽ đạt được hiệu quả cao và đó mới là việc dạy học tốt. Điều này đòi hỏi GV cần cung cấp những hỗ trợ ban đầu cho HS, nhưng không nên tiếp tục can thiệp sâu khi HS đã cố khả năng làm việc độc lập.

11

Như vậy, theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo thì mục đích của việc dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là làm thay đổi hoặc phát triển các quan niệm của HS. Qua đó, HS kiến tạo kiến thức mới, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách của mình.

Quy trình dạy học theo lý thuyết kiến tạo như sau:

Hình 1.1. Quy trình dạy học theo lý thuyết kiến tạo

* Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học Toán

  • Tìm hiểu về những hiểu biết ban đầu của HS liên quan đến nội dung sắp học để trả lời câu hỏi HS có nắm được hay không các kiến thức, kĩ năng đó và nắm được thì ở mức độ nào? Việc tìm hiểu này nhằm xác định xem HS đã có những kiến thức, kĩ năng cơ bản cần thiết cho việc nghiên cứu bài mới hay chưa? Trên cơ sở đó GV tiến hành ôn tập, bổ sung những kiến thức cần thiết, giúp HS thích ứng nhanh chóng với những tình huống học tập mới và GV có thể dự kiến được những hoạt động học tập thích hợp cho HS. Việc làm này sẽ giúp GV xác định được rõ những kiến thức nào HS sẽ được tiếp nhận từ GV, những kiến thức nào sẽ tổ chức cho HS tự xây dựng, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của GV. Việc tìm hiểu bước đầu này được tiến hành thông qua các bài tập hoặc các nhiệm vụ cụ thể giao về nhà cho HS chuẩn bị trước hoặc thông qua các câu hỏi trắc nghiệm, các thảo luận trực tiếp giữa GV và HS. GV có thể thiết kế các phiếu hỏi hoặc phiếu giao việc để giao cho HS thực hiện.

12

  • Xây dựng tình huống học tập; thiết kế các hoạt động của GV và HS

trong giờ học. Để giúp HS khám phá, kiến tạo tri thức, GV cần phải dự kiến việc tổ chức các hoạt động nhóm – thảo luận, động viên HS suy nghĩ đưa ra các câu hỏi thảo luận để tìm hiểu và giải quyết vấn đề đặt ra. GV lựa chọn những câu hỏi để khám phá trong số các câu hỏi HS nêu ra, lựa chọn những câu hỏi có liên quan đến bài học để kiến tạo tri thức cần thiết. Từ đó GV tổ chức, hướng dẫn cho HS khám phá, kiến tạo tri thức.

  • Sau khi thảo luận, giải quyết vấn đề, các nhóm HS báo cáo kết quả tìm được của nhóm mình, đại diện mỗi nhóm lên trình bày. GV tổng kết những ý kiến trả lời của HS, cùng HS trao đổi thảo luận, so sánh kết quả của các nhóm và đưa ra những nhận xét, đánh giá và hợp thức hoá kết luận, bổ sung những nội dung cần thiết. Trong môi trường học tập tương tác như vậy, dạy học theo lối kiến tạo thực sự tạo nên một môi trường học tập hiệu quả.

Tuy nhiên việc dạy học theo lối kiến tạo đòi hỏi GV phải bỏ nhiều công sức để tìm hiểu, thăm dò đối tượng HS và phải có phương pháp sư phạm tốt để điều khiển quá trình học tập của HS.

Theo thuyết kiến tạo ta có thể quan niệm về dạy học môn toán như sau:

+) Dạy toán là quá trình GV phải tạo ra những tình huống học tập cho

HS, còn HS phải nhận thức cách hiểu riêng của mình với nội dung toán học. +) Dạy toán là quá trình GV giúp HS xác định được tính đúng đắn của

tri thức vừa kiến tạo.

+) Dạy toán là quá trình GV phải luôn giao cho HS các bài toán nhằm giúp các em xây dựng lại kiến thức một cách thích hợp.

+) Dạy toán là quá trình GV tạo ra bầu không khí tri thức và xã hội trong lớp học.

Các bước thiết kế một pha dạy học theo lý thuyết kiến tạo cụ thể như

sau:

+) Chọn nội dung dạy học;

13

+) Thiết kế tình huống kiến tạo;

+) Thiết kế các câu hỏi, hoạt động kiến tạo; +) Tổ chức, hướng dẫn HS tham gia kiến tạo;

+) Hợp thức, hình thành những tri thức, kĩ năng mới.

1.1.2.3. Lý thuyết tình huống

Guy Brousseau nước cộng hòa Pháp là một trong những người đề ra lý thuyết tình huống.

Theo lý thuyết này, trong dạy học:

Thứ nhất, cần có sự chuyển hóa sư phạm từ tri thức bác học thành tri thức giáo khoa, từ tri thức giáo khoa thành tri thức dạy học.

Thứ hai, cần tạo ra tình huống sư phạm.

Có thể xem dạy học theo lý thuyết tình huống là kiểu dạy học mà GV tạo ra tình huống với mục đích sư phạm xác định trước, trong tình huống đó HS điều chỉnh những kiến thức của mình để thích nghi, từ đó có thêm các tri thức mới, kỹ năng mới.

Để dạy học theo cách này:

+) Người GV phải tạo ra tình huống sư phạm để HS tự điều chỉnh hoặc tự hình thành kiến thức, thích nghi với môi trường nhận thức và giao phó cho HS;

+) HS phải chủ động tích cực hoạt động trong tình huống đó, rất cần có sự trao đổi, bàn luận;

+) GV thể thức hóa – xác nhận những tri thức, kỹ năng thu được. Những kiến thức, kỹ năng đó phản ánh đúng thực tế khách quan, phi hoàn cảnh, phi thời gian, phi cá nhân.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Thiết kế một số tình huống dạy học nội dung vectơ- Hình học 10 theo hướng giúp học sinh kiến tạo tri thức

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *