Thành lập doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật doanh nghiệp hiện nay

Thành lập doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật doanh nghiệp hiện nay

Thành lập doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật doanh nghiệp hiện nay từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quyền tự do kinh doanh trước hết thể hiện ở quyền thành lập doanh nghiệp. Cần làm gì để quyền tự do được đảm bảo trên thực tế luôn là mối quan tâm của Đảng và nhà nước ta kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Để thực hiện chủ trương này, ngày 21-12-1990, Quốc hội khoá VIII đã thông qua hai đạo luật quan trọng là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân. Hai đạo luật này đã tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta, và là một mốc quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong quá trình đổi mới kinh tế, chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty quy định ba loại hình doanh nghiệp cho khu vực kinh tế tư nhân là: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân. Đến năm 1999 trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn áp dụng hai đạo luật trên Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp . Luật Doanh nghiệp ra đời có hiệu lực từ ngày 01-1-2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2005) và mới nhất hiện nay là Luật doanh nghiệp 2014 được ban hành tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII có hiệu lực từ ngày 01/7/2015.

Sau nhiều lần bổ sung, chỉnh sửa thì khung pháp lý quy định về thành lập doanh nghiệp tư nhân đã dần từng bước một hoàn thiện, giúp phát huy tính linh hoạt, năng động, nhạy bén và các ưu thế khác mà loại hình doanh nghiệp này sở hữu. Và luật doanh nghiệp 2014 được xem là luật có quy định về doanh nghiệp tư nhân hoàn thiện nhất kể từ 1990 đến hiện nay.

Tuy nhiên, với luật Doanh nghiệp 2014, vì đây là một luật còn khá mới nên chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này để đánh giá, nhận xét các quy định pháp luật từ thực tiễn áp dụng. Chính từ những cơ sở nhận thức trên nên tôi quyết định chọn đề tài: “Thành lập doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật doanh nghiệp hiện nay từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về thành lập doanh nghiệp tư nhân từ thực tiễn thực hiện tại Thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường thực hiện đúng quy định pháp luật về thành lập doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục tiêu trên thì tôi thực hiện những nhiệm vụ sau:

  • Nghiên cứu những vấn đề khái quát chung về quy định thành lập doanh nghiệp tư nhân theo quy định của luật hiện hành;
  • So sánh các quy định của luật hiện hành với các quy định của luật cũ và với các quy định của một vài nước khác trên thế giới. Thông qua so sánh ta sẽ thấy được ưu, nhược điểm của các quy định hiện nay, những vấn đề cần sửa đổi hay tiến bộ mà ta đã đạt được so với các quy định cũ và trên thế giới;
  • Tìm hiểu thực tiễn việc thực hiện pháp luật về thành lập doanh nghiệp tại thành phố Đà Nẵng, từ đó đánh giá những thành công và hạn chế của việc thực hiện pháp luật tại địa phương để nêu lên một số ý kiến nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu về việc thành lập doanh nghiệp tư nhân theo Luật doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn trong cơ sở lý luận và thực tiễn thành lập doanh nghiệp tư nhân dựa trên:

  • Luật doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
  • Thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng từ tháng 1/7/2015 – 30/3/2016

5. Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:

  • Phương pháp phân tích – so sánh;
  • Phương pháp tổng hợp (trên cơ sở phân tích, so sánh và tham khảo pháp luật và thực tiễn);
  • Phương pháp thống kê;
  • Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Tham khảo tài liệu từ sách, báo, các phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến đề tài;

Suy diễn, quy nạp theo kiến thức và mức độ hiểu biết vấn đề của bản thân kết hợp với kiểm soát bằng thực nghiệm, số liệu thu thập được

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần làm rõ những cơ sở lý luận và khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật trong việc thành lập doanh nghiệp tư nhân;

Chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật;

Đưa ra những giải pháp, đề xuất hướng hoàn thiện các quy định pháp luât trong việc thành lập doanh nghiệp tư nhân nói riêng và các loại hình doanh nghiệp khác nói chung.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Thành lập doanh nghiệp tư nhân sẽ trở nên nhanh chóng, thuận lợi và dễ dàng hơn;

Hạn chế tối đa các bất cập nhằm làm giảm sự sách nhiễu, thời gian, công sức trong và sau quá trình thành lập doanh nghiệp;

Khảo sát, đánh giá thực trạng pháp luật về thành lập doanh nghiệp tư nhân theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

7. Cơ cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Pháp luật về thành lập doanh nghiệp tư nhân.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về thành lập doanh nghiệp tư nhân và thực tiễn áp dụng pháp luật về thành lập doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Kiến nghị một số giải pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật từ thực tiễn áp dụng pháp luật về thành lập doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Đà Nẵng.

CHƯƠNG 1

PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

    1. Lý luận chung về thành lập doanh nghiệp tư nhân

Trên thế giới, việc thành lập doanh nghiệp từ lâu đã hoàn toàn là quyền tự do của công dân. Ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn và phân định hợp lý giữa việc thực hiện quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân của người dân và sự quản lý của Nhà nước về mặt hành chính.

Thành lập doanh nghiệp tư nhân có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ đối với đảm bảo quyền lợi cho chủ thể doanh nghiệp mà còn góp phần đảm bảo trật tự quản lý nhà nước, đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể khác.

1.2 . Khái niệm doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp (DN) là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

1.3. Các yêu cầu khi thành lập doanh nghiệp tư nhân

1.3.1. Quy định về chủ thể đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân

1.3.1.1. Chủ thể

Mọi cá nhân đều có quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam và phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

  • Có năng lực pháp luật dân sự
  • Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
  • Không thuộc trường hợp bị cấm thành lập doanh nghiệp tư nhân
  • Có đăng ký kinh doanh

1.3.1.2. Hạn chế về quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân

“Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh.”

1.3.2. Quy định về vốn

1.3.2.1. Vốn

“Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản.

Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

1.3.2.2. Tăng, giảm vốn

Khác với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, quy định về tăng hay giảm vốn của doanh nghiệp tư nhân khá thoải mái và chỉ phải đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh khi mức vốn giảm xuống thấp hơn mức vốn đã đăng ký ban đầu.

1.3.3. Đặt tên doanh nghiệp tư nhân

1.3.3.1. Tên doanh nghiệp

a) Tên tiếng Việt của doanh nghiệp bao gồm hai thành tố theo thứ tự sau đây:

– Loại hình doanh nghiệp.

– Tên riêng của doanh nghiệp.

Ví dụ: Doanh nghiệp tư nhân nhựa Chợ Lớn có thể được viết dưới các dạng như: DNTN nhựa Chợ Lớn – Doanh nghiệp TN nhựa Chợ Lớn; trong đó, “DNTN” hoặc “doanh nghiệp TN” là loại hình doanh nghiệp và “nhựa Chợ Lớn” là tên doanh nghiệp.

b) Tên doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài là tên được dịch từ tên tiếng Việt sang một trong những tiếng nước ngoài hệ chữ La-tinh.

c) Trước khi đăng ký tên doanh nghiệp, doanh nghiệp tham khảo tên các doanh nghiệp đã đăng ký trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp tại trang web https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn

1.3.3.2. Những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp

a) Đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký được quy định pháp luật.

b) Sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó.

c) Sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

1.3.3.3. Nguyên tắc và cách đặt tên doanh nghiệp

a) Có 4 nguyên tắc đặt tên:

– Dễ phát âm 

– Ngắn gọn

– Không bị tự hạn chế

– Cân nhắc đặt tên tiếng Việt hay tiếng nước ngoài

b) Có 6 cách đặt tên phổ biến nhất:

– Dùng một từ có nghĩa.

– Dùng một từ vô nghĩa.

– Dùng tên người hoặc tên địa danh.

– Gợi nhắc đến ngành nghề kinh doanh.

– Dùng tính từ mô tả, danh từ gợi nhắc

– Dùng những từ viết tắt

1.3.4. Địa chỉ trụ sở doanh nghiệp

Điều kiện để đặt trụ sở chính của doanh nghiệp đó là:

  • Trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp.
  • Phải ở trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Có địa chỉ xác định gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

1.3.5. Ngành nghề kinh doanh

Doanh nghiệp không bị bó buộc và chỉ kinh doanh những ngành nghề đã đăng ký mà thay vào đó cứ tự do kinh doanh những ngành nghề mong muốn nhưng phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định và không bị cấm. Hiện nay, doanh nghiệp có thể kinh doanh bất kì một ngành nghề nào (không bị cấm) thì không cần phải chờ đợi sự chấp thuận từ cơ quan đăng ký kinh doanh mà chỉ việc kinh doanh và gửi thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

1.4. Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh

1.4.1. Nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân

1.4.1.1. Hồ sơ

Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân gồm:

a) Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp

b) Bản sao Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của chủ doanh nghiệp tư nhân:

Tùy vào ngành, nghề kinh doanh mà hồ sơ còn cần có:

c) Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

d) Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của một hoặc một số cá nhân theo quy định

Ngoài ra, ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp phải nộp thêm bản sao hợp lệ của một trong các giấy tờ sau:

e) Bản sao hợp lệ hợp đồng cung cấp dịch vụ; hoặc

f) Văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật

1.4.1.2. Thủ tục nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

Bước 1: Chuẩn bị 1 bộ hồ sơ theo quy định pháp luật

Bước 2: Nộp hồ sơ và lệ phí theo quy định tại Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.

Bước 3: Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ.

Bước 4: Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

1.4.2. Sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền

Trong sự phối hợp này, cơ quan đăng ký kinh doanh đóng vai trò nguồn dữ liệu, còn các cơ quan khác có vai trò tiếp nhận dữ liệu và phối hợp xử lý hoặc xử lý riêng biệt theo chức năng của mình dựa trên dữ liệu đã tiếp nhận.

1.4.3. Đăng ký doanh nghiệp tư nhân qua mạng điện tử

Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử cũng tương tự và có giá trị pháp lý như hồ sơ nộp bằng giấy khi đăng ký doanh nghiệp trực tiếp tại Phòng đăng ký kinh doanh.

1.4.3.1. Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử sử dụng chữ ký số công cộng

Bước 1: Kê khai thông tin, tải văn bản điện tử, ký số vào hồ sơ đăng ký điện tử và thanh toán lệ phí qua mạng điện tử.

Bước 2: Nhận được Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử.

Bước 3: Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và thông báo cho doanh nghiệp về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

1.4.3.2. Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp sử dụng Tài khoản đăng ký kinh doanh

Bước 1: Kê khai thông tin, tải văn bản điện tử để được cấp Tài khoản đăng ký kinh doanh.

Bước 2: Sử dụng Tài khoản đăng ký kinh doanh để kê khai thông tin, tải văn bản điện tử và xác thực hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.

Bước 3: Nhận được Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử.

Bước 4: Nộp một bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bằng bản giấy kèm theo Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử đến Phòng Đăng ký kinh doanh..

Bước 5: Cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

1.4.4. Hiệu đính thông tin trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

* Khi doanh nghiệp phát hiện

Bước 1: Doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ đầy đủ theo quy định.

Bước 2: Doanh nghiệp đến nộp hồ sơ tại Phòng Đăng ký kinh doanh

Bước 3: Phòng Đăng ký kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và giải quyết.

Bước 4: Căn cứ theo ngày hẹn trên giấy Biên nhận, doanh nghiệp nhận kết quả giải quyết hồ sơ 

* Khi Phòng đăng ký kinh doanh phát hiện

Bước 1: Gửi thông báo đến doanh nghiệp

Bước 2: Cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp

1.5. Các điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

“Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Ngành, nghề đăng ký kinh doanh không bị cấm đầu tư kinh doanh;

b) Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng quy định tại các Điều 38, 39, 40 và 42 của Luật này;

c) Có hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hợp lệ;

d) Nộp đủ lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy định pháp luật về phí và lệ phí.”

1.6. Các thủ tục sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân

1.6.1. Công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp

Bước 1: Khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp nộp phí để công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp.

Bước 2: Phòng Đăng ký kinh doanh đăng tải nội dung đăng ký doanh nghiệp lên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

1.6.2. Khai thuế

1.6.2.1. Khai thuế môn bài

Người nộp thuế môn bài nộp Tờ khai thuế môn bài (Mẫu 01/MBAI ban hành kèm theo Thông tư 156/2013/TT-BTC) cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp

1.6.2.2. Khai thuế giá trị gia tăng

Có hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng, đó là:

+ Phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế bằng số thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ

+ Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng (áp dụng đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý) hoặc tỷ lệ % nhân với doanh thu

1.6.3. Khắc con dấu

Bước 1: Sau khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp đến nơi khắc dấu đặt khắc

Bước 2: Sau khi nhận con dấu, doanh nghiệp phải lập Thông báo về việc sử dụng mẫu con dấu của doanh nghiệp

Bước 3: Nộp Thông báo tại Phòng đăng ký kinh doanh và Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận cho doanh nghiệp.

1.6.4. Xin giấy phép kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh

Mỗi ngành nghề sẽ có mỗi quy định, thủ tục xin phép khác nhau và được quy định trong văn bản luật chuyên ngành nhưng về cơ bản thì có các bước sau đây:

Bước 1: Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật

Bước 2: Lập 1 bộ hồ sơ theo đúng yêu cầu

Bước 3: Nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền và phí, lệ phí (nếu có)

Bước 4: Nhận Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh nếu được chấp thuận.

Kết luận Chương 1

Chương 1 không chỉ làm rõ các vấn đề lý luận chung về thành lập doanh nghiệp tư nhân ở nước ta mà còn giới thiệu một cách chi tiết về thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhân và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành. Qua đó, ta có thể thấy thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhân hết sức đơn giản vì đây là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, không có sự tách bạch giữa tài sản của doanh nghiệp với tài sản chủ doanh nghiệp và cá nhân chịu trách nhiệm vô hạn với mọi hoạt động của doanh nghiệp. Không chỉ vậy, nó còn giúp ta có cái nhìn đúng đắn và sâu sắc trong việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp để thành lập, thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình.

Những phân tích ở Chương 1 chính là một trong những cơ sở lý luận quan trọng để tác giả thuận lợi hơn trong việc tìm hiểu thực trạng thành lập doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Đà Nẵng.

Thành lập doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật doanh nghiệp hiện nay từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Thành lập doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật doanh nghiệp hiện nay từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. Thực tiễn thành lập doanh nghiệp tư nhân trên phạm vi cả nước

Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì kể từ ngày 01/7/2015 đến 31/3/2016 trên cả nước có tổng cộng 73.453 doanh nghiệp được thành lập mới, trong đó có 3.526 doanh nghiệp tư nhân, chiếm 4,8% trong tổng số doanh nghiệp thành lập mới. (Số liệu được lấy từ https://dangkykinhdoanh.gov.vn)

2.2. Thực tiễn thành lập doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Đà Nẵng

2.2.1. Giới thiệu chung về thành phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên (theo Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng) là 1.283,42 km2. Cùng với đó dân số Đà Nẵng hiện có (1/2015 – theo Wikipedia.org) : 1.046.876 người.

Trong nước thì phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên- Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông.

Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa.

Chính quyền thành phố đã có những chủ trương, chính sách quan trọng trong việc thúc đẩy việc thành lập doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Đà Nẵng.

2.2.3. Thực tiễn thành lập doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Đà Nẵng

Kể từ ngày 1/7/2015, tại thành phố Đà Nẵng, khi Luật Doanh nghiệp 2014 bắt đầu có hiệu lực thi hành cho đến nay thì số lượng doanh nghiệp tư nhân thành lập mới: 19 doanh nghiệp (quý III/2015) – 23 doanh nghiệp (quý IV/2015) – 19 doanh nghiệp (quý I/2016) (Số liệu được lấy từ Phòng đăng ký kinh doanh thành phố Đà Nẵng):

2.3. Nhận xét chung

2.3.1. Đặt tên doanh nghiệp

Không có định nghĩa hay khái niệm nào về “danh nhân”, “nhân vật lịch sử”, không có danh sách danh nhân, nhân vật lịch sử hay địa danh cụ thể làm cơ sở tham khảo và áp dụng cho doanh nghiệp cũng như cho cơ quan đăng ký kinh doanh để thực hiện.

Không làm rõ cơ quan nào có thẩm quyền xác định tên phản cảm, tên vi phạm văn hóa, đạo đức, tên ám chỉ sự xúc phạm, phân biệt, kỳ thị…

Không có quy định nào quy định về cơ chế phối hợp giữa hai cơ quan là đăng ký kinh doanh và cơ quan văn hóa thể thao du lịch địa phương.

2.3.2. Trụ sở doanh nghiệp

Thứ nhất, vì không có nhiều tiền để chi trả nên họ mới phải mua căn hộ chung cư để ở và kinh doanh (nếu có) nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản và duy trì đời sống của bản thân cũng như gia đình. Đặt trụ sở kinh doanh tại chính căn hộ của mình sẽ giúp tiết kiệm chi phí thuê mặt bằng, đồng thời thuận tiện cho việc ở và kinh doanh. Đối với những doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn thuần túy có thể chỉ đặt trụ sở kinh doanh ở căn hộ chung cư của chính mình để giao nhận giấy tờ giao dịch, đăng ký thuế, tiếp khách hoặc các vấn đề khác nhưng hoạt động kinh doanh chính diễn ra ở nơi ngoài căn hộ chung cư thì việc thuê văn phòng là hoàn toàn không cần thiết và lãng phí.

Thứ hai, căn hộ chung cư thuộc quyền sở hữu của cá nhân, họ phải có toàn quyền quản lý và sử dụng, ở đây, căn hộ chung cư cũng có vai trò như nhà ở riêng lẻ của cá nhân vậy. Thế nhưng nhà ở riêng lẻ thì được phép đặt làm trụ sở kinh doanh nhưng căn hộ chung cư thì không được, câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao?

Thứ ba, Công văn 2544/BXD-QLN/2009 hướng dẫn cách giải quyết đối với khu nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp nhưng cách giải quyết này quá chung mà không đưa ra được bất kì một biện pháp cụ thể nào. Pháp luật chưa có cách giải quyết thích đáng đối với trường hợp chủ căn hộ đã chuyển đổi mục đích sử dụng từ nhà ở sang làm văn phòng tại khu chung cư có mục đích để ở

Thứ tư, doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nhưng trụ sở chính của doanh nghiệp đặt tại căn hộ chung cư bị cấm thì nội dung “Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp” trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sẽ thể hiện điều gì?

2.3.3. Đăng ký ngành nghề kinh doanh

Nhiều ngành nghề doanh nghiệp muốn đăng ký lại không có trong Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam và pháp luật chuyên ngành cũng không có quy định cụ thể, hoặc có quy định, nhưng tên ngành không được đăng ký theo như mong muốn của doanh nghiệp.

2.3.4. Con dấu

Để tăng tính tự quyết cũng như tính độc lập của doanh nghiệp trong kinh doanh thì ta nên để cho doanh nghiệp tự quyết định việc hoặc sử dụng con dấu hoặc không sử dụng con dấu trong giao dịch, kinh doanh.

Đối với tình hình kinh doanh hiện nay của nhiều doanh nghiệp thì con dấu có thể trở nên không cần thiết, mang tính rườm rà, quy cách. Nhiều doanh nghiệp tư nhân hiện nay thì việc có hay không có con dấu đã trở nên không quan trọng, đôi khi việc có con dấu trở thành sự rườm rà không cần thiết.

2.3.5. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

Khi đăng ký trụ sở công ty tại một căn hộ trong các tòa nhà chung cư, hay trung tâm thương mại, Phòng đăng ký kinh doanh buộc chủ doanh nghiệp phải chứng minh quyền được dùng căn hộ để làm trụ sở (yêu cầu này được hiểu là tại Công văn số 2544/BXD-QLN ngày 19-11-2009 của Bộ Xây dựng về việc không cho phép sử dụng nhà chung cư làm văn phòng). Vì thế, vấn đề đặt ra là Phòng đăng ký kinh doanh có quyền yêu cầu chủ doanh nghiệp nộp hồ sơ chứng minh quyền được đặt trụ sở công ty tại căn hộ đã thuê không?

2.3.6. Điều kiện kinh doanh

Vấn đề đặt ra ở đây là nếu một cá nhân không phải luật sư, không có văn bằng chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức về phòng cháy, chữa cháy nhưng muốn mở văn phòng luật sư và thuê các luật sư về làm việc hay mở doanh nghiệp tư nhân kinh doanh thiết bị phòng cháy chữa cháy,… thì sẽ thế nào? Đương nhiên câu trả lời sẽ là không được phép. Chính quy định cứng nhắc như vậy đã góp phần làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của cá nhân.

Kết luận Chương 2

Chương 2 chủ yếu đề cập đến thực trạng thành lập doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Đà Nẵng. Với việc phân tích, so sánh các số liệu, biểu đồ kết hợp các chủ trương, chính sách, vị trí địa lý của thành phố Đà Nẵng đã cho thấy số lượng doanh nghiệp tư nhân được thành lập là rất thấp, không được ưa chuộng so với các loại hình doanh nghiệp khác. Đồng thời, qua phân tích, tác giả đã nhận ra những thế mạnh, cơ hội, điểm yếu, tồn tại cần khắc phục của quy định pháp luật khi áp dụng vào thực tiễn thành phố Đà Nẵng để từ đó có phương hướng điều chỉnh thích hợp không chỉ với thực trạng địa phương mà còn với cả nước.

Thành lập doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật doanh nghiệp hiện nay từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Thành lập doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật doanh nghiệp hiện nay từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬA ĐỔI, BỔ SUNG PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

3.1.1. Đặt tên doanh nghiệp

Các cơ quan có thẩm quyền cần phải ban hành những định nghĩa rõ ràng, danh sách những tên được coi là “danh nhân”, “nhân vật lịch sử”, “tên đất nước, địa danh trong các thời kỳ bị xâm lược”,…

Đồng thời, cần có những quy định thể hiện mối quan hệ giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan văn hóa – thể thao và du lịch bởi mỗi cơ quan có một chức năng, nhiệm vụ riêng biệt nên để xác định tên doanh nghiệp có vi phạm hay không vi phạm điều cấm thì cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan này.

3.1.2. Trụ sở doanh nghiệp

Đưa ra những điều kiện, quy định chi tiết hơn về việc đặt trụ sở để tạo cho doanh nghiệp những thuận lợi tốt nhất trong việc thành lập doanh nghiệp. Nên ban hành danh mục các ngành nghề cấm đặt trụ sở tại căn hộ chung cư hoặc ban hành các điều kiện đặt trụ sở tại căn hộ chung cư với những ngành nghề nhất định. Thêm vào đó, các cơ quan đăng ký kinh doanh cần cho các doanh nghiệp cam kết đặt trụ sở chính làm văn phòng tạ căn hộ chung cư có chức năng giao nhận giấy tờ, ký hợp đồng, địa chỉ nhận thông báo thuế… không đồng thời là địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp, nếu vi phạm sẽ xử phạt và rút giấy phép đăng ký kinh doanh.

3.1.3. Đăng ký ngành nghề kinh doanh

Có ý kiến cho rằng nên bỏ áp mã ngành nghề kinh doanh đối với doanh nghiệp và chuyển công việc này sang cho nhân viên đăng ký kinh doanh.

Ngoài ra, hiện nay, có nhiều ý kiến đang đề xuất quy định khai và nộp hồ sơ hoàn toàn bằng máy tính, thông qua mạng internet, bãi bỏ quy định nộp hồ sơ giấy.

3.1.4. Con dấu

Thiết nghĩ, tại Việt Nam ta nên để cho doanh nghiệp có quyền tự lựa chọn hoặc có con dấu hoặc không có con dấu bởi không phải doanh nghiệp nào cũng cần con dấu và nó tăng quyền tự quyết đối với các vấn đề nội bộ của doanh nghiệp. Còn việc quy định điều luật chi tiết như thế nào về con dấu thì ta có thể tham khảo quy định của Anh và Úc.

3.1.5. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

Quy định cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ làm theo điều khoản tại Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn về hồ sơ đăng ký kinh doanh, còn các vấn đề khác (nếu Luật chuyên ngành chưa sửa đổi kịp) sẽ chuyển sang khâu hậu kiểm (sau khi thành lập doanh nghiệp), giao cho cơ quan thanh tra.

3.1.6. Điều kiện kinh doanh

Việc thành lập nên thuộc thẩm quyền tuyệt đối của Luật doanh nghiệp, còn hoạt động chuyên ngành sẽ do luật chuyên ngành quy định chứ ta không thể quy định “mở” như đã phân tích tại phần bất cập ở trên. Vì thế, theo tôi thì luật nên được bãi bỏ cụm từ “thành lập” tại Điều 3 Luật doanh nghiệp 2014 và sửa lại như sau:

“Điều 3. Áp dụng Luật doanh nghiệp và các luật chuyên ngành

Trường hợp luật chuyên ngành có quy định đặc thù về việc tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp thì áp dụng quy định của Luật đó.”

Đồng thời, các luật chuyên ngành cũng cần phải sửa đổi, điều chỉnh sao cho phù hợp với Luật doanh nghiệp 2014, không can thiệp vào vấn đề thành lập doanh nghiệp thuộc chức năng của Luật doanh nghiệp.

3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng

Thứ nhất: Đội ngũ cán bộ, nhân viên Phòng đăng ký kinh doanh và những cán bộ có liên quan đến việc đăng ký kinh doanh phải không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, phải có tâm trong sáng khi giải quyết công việc, phải thực sự khách quan, vô tư khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, không ngừng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Thứ hai: Cơ quan đăng ký kinh doanh nên cập nhật thông tin đầy đủ về doanh nghiệp hiện đang hoạt động trên trang website chung (Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia), xây dựng một giao diện thích hợp, dễ dàng cho việc tra cứu và tìm kiếm, từ đó phát huy tính chủ động, tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tìm kiếm đối tác trong kinh doanh.

Thứ ba: Tiếp tục đầu tư cho “con người”, đăng ký kinh doanh là một lĩnh vực yêu cầu kiến thức vừa rộng lại vừa sâu (người ta thường nói rộng thì hay nông, sâu thì hay hẹp), thời gian xử lý công việc rất ngắn và hầu như phải đáp ứng ngay các yêu cầu từ phía người dân, doanh nghiệp … nên đòi hỏi cán bộ phải có trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp rất cao, sức khỏe, phẩm chất và khả năng giao tiếp tốt mới đáp ứng được yêu cầu.

Thứ tư: Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và kiến thức về đăng ký doanh nghiệp tới người dân nhằm giúp cho họ hiểu rõ hơn các hồ sơ, trình tự, thủ tục khi thành lập doanh nghiệp.

Thứ năm: Rà soát và hoàn thiện các quy định cũng như hệ thống pháp luật về thành lập doanh nghiệp và các quy định có liên quan

Kết luận Chương 3

Chương 3 đã nêu bật lên được những kiến nghị và giải pháp nhằm tránh được những sai sót, bất cập trong quá trình thực hiện pháp luật hiện nay, nâng cao hiệu quả áp dụng, đồng thời hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này. Những đề xuất được đưa ra nhằm giải quyết điểm yếu, những tồn tại cần khắc phục và những vấn đề không lường trước được giữa luật và thực trạng tại địa phương nói riêng và cả nước nói chung khi ban hành pháp luật. Những đóng góp của Chương 3 có nhiều ý nghĩa quan trọng như: giúp cải thiện mối quan hệ giữa người dân và cơ quan công quyền khi thành lập doanh nghiệp tư nhân; giảm tình trạng sách nhiễu, phiền hà, hạch sách không đáng có; tăng cường quyền tự do kinh doanh của mỗi người dân…

KẾT LUẬN

Trong hoạt động kinh doanh thì việc thành lập doanh nghiệp sao cho thông suốt, thuận lợi là một trong những yếu tố quan trọng mà các chủ doanh nghiệp mong muốn với mục đích báo hiệu cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trước tình hình đất nước đang mở cửa hội nhập với các cường quốc năm châu, nền kinh tế đang trên đà phát triển đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật về kinh tế quy định rõ ràng và cụ thể điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh. Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều luật, văn bản để điều chỉnh kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển của đất nước, giúp giải quyết nhanh chóng các yêu cầu cấp bách của các nhà kinh doanh, đặc biệt là việc thành lập doanh nghiệp nói chung và thành lập doanh nghiệp tư nhân nói riêng.

Trên cơ sở những thuận lợi và khó khăn còn tồn tại, để pháp luật thành lập doanh nghiệp tư nhân phát huy tác dụng tích cực của nó trong cuộc sống, để luật doanh nghiệp 2014 đi sâu vào đời sống người dân, thực sự là nền tảng pháp luật vững chắc thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật cần có phương hướng giải thích rõ ràng những vấn đề pháp lý có liên quan đến thành lập doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời cần phải chú trọng biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về doanh nghiệp để mọi người hiểu và tự nâng cao ý thức, trách nhiệm của mình, góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế đất nước, thực hiện mục tiêu đưa nền kinh tế nước ta trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT KINH TE\DINH NGOC MANH\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *