Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, thực hiện các Nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, công cuộc cải cách tư pháp đã được tổ chức thực hiện với tinh thần quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả [3]. Nhận thức về công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, chất lượng hoạt động tư pháp đã được nâng lên một bước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 phù hợp với quá trình đổi mới công tác lập pháp và chương trình cải cách hành chính [5]. Đây là những tư tưởng, định hướng chỉ đạo quan trọng của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp mà trọng tâm là cải cách hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và xét xử hình sự nói riêng.

Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật [36]. Việc xét xử của Tòa án nói chung được thực hiện theo chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng và được xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. Việc xét xử các vụ án hình sự càng không phải là ngoại lệ, có nghĩa là cũng được thực hiện theo chế độ hai cấp xét xử. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự quy định tại Điều 20 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Hai cấp xét xử vụ án hình sự, đó là XXST (cấp xét xử thứ nhất) và XXPT (cấp xét xử thứ hai). Xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án hình sự (sau khi có Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát hoặc sau khi TACPT, Tòa án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án sơ thẩm để XXST lại). Theo Điều 230 của BLTTHS quy định về tính chất của xét xử phúc thẩm: “Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”.

Xét xử phúc thẩm có vị trí quan trọng. bởi vì thông qua xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị, mà TACPT còn có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác. Thứ nhất là kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị (đã có hiệu lực pháp luật) để có quyết định tương ứng; thứ hai là hướng dẫn Tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật … Việc quy định và thực hiện nguyên tắc này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Viện kiểm sát, bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền và lợi ích liên quan trong vụ án thể hiện thái độ, ý chí không đồng tình của họ với việc xét xử của TACST theo quy định của pháp luật để vụ án được xem xét lại theo trình tự phúc thẩm. Thông qua đó, chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và trong nhiều trường hợp lợi ích của Nhà nước, của xã hội cũng được đảm bảo.

Thực tiễn XXPT trong thời gian qua cho thấy nhiều trường hợp các TACPT chỉ xét xử theo nội dung kháng cáo, kháng nghị mà chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm. Tình trạng này ngoài những nguyên nhân chủ quan, thì có những nguyên nhân khách quan như quy định của BLTTHS về phạm vi XXPT, thẩm quyền của TACPT chưa được nghiên cứu làm rõ.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Tuy nhiên, sau thời gian hơn 10 năm thực hiện cộng với sự chuyển biến của xã hội, bộ luật cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định, trong đó những hạn chế trong việc quy định và áp dụng thủ tục XXPT nói chung và TQXXPT vụ án hình sự nói riêng. Trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, triển khai thực hiện các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước đặt ra đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2003 để thể chế hóa đầy đủ chủ trương, quan điểm về cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn đất nước. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng ta về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bổ sung nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ, bổ sung và làm rõ hơn nhiệm vụ của Tòa án khi thực hiện chức năng Hiến định. Những sửa đổi, bổ sung này đòi hỏi phải được cụ thể hóa trong Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, thời gian qua, Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật liên quan đến tố tụng hình sự như: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật luật sư, Luật trợ giúp pháp lý, Luật thi hành án hình sự… Vì vậy, BLTTHS năm 2015 được ban hành là thực sự cần thiết để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Trong đó, quy định mới, cụ thể về Tòa án có TQXXPT tại Điều 344; quy định mới về Thẩm quyền của HĐXXPT đối với bản án sơ thẩm tại Điều 355; quy định mới về Thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm tại Điều 362.

Nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả XXPT thì việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định của BLTTHS và thực tiễn thi hành các quy định của BLTTHS về thẩm quyền của TACPT là hết sức cần thiết.

Tất cả những vấn đề trên đây là lý do mà tác giả chọn đề tài “Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”, để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về TQXXPT vụ án hình sự và thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng; đưa ra một số giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử phúc thẩm.

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về TQXXPT vụ án hình sự và thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả XXPT trong tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng về yêu cầu cải cách tư pháp.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ cần phải giải quyết trong Luận văn bao gồm:

– Làm rõ những vấn đề lý luận về phạm vi xét xử phúc thẩm, thẩm quyền của TACPT trong tố tụng hình sự;

– Phân tích các quy định của BLTTHS về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm;

– Nghiên cứu, làm rõ thực tiễn XXPT vụ án hình tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện và nguyên nhân của nó làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định của BLTTHS và thực tiễn XXPT liên quan đến thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của TACPT và thực tiễn thực hiện những quy định này tại thành phố Đà Nẵng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn được giới hạn bởi các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về TQXXPT vụ án hình sự của TACPT và thực tiễn xét xử của TACPT tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến nay. Điều này có nghĩa là, luận văn không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thẩm quyền của HĐXXPT theo quy định tại Điều 249 BLTTHS mà còn nghiên cứu các quy định khác liên quan đến thẩm quyền của TACPT nói chung.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền; Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta. Nhất là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở kết hợp sử dụng đồng bộ các phương pháp: tổng kết thực tiễn, phương pháp logic và hệ thống phương pháp: phân tích tổng hợp trong nghiên cứu lý luận, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp chuyên gia … để giải quyết nhiệm vụ đặt ra của luận văn.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp; phương pháp nghiên cứu vụ án điển hình; phương pháp tham khảo các tư liệu trong các công trình đã công bố; phương pháp thống kê, tổng hợp các số liệu trong những báo cáo của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và của địa phương.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Về ý nghĩa lý luận, Luận văn góp phần làm sáng tỏ và bổ sung những vấn đề lý luận về về thẩm quyền của TACPT như khái niệm, đặc điểm… thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Về ý nghĩa thực tiễn, những kết quả nghiên cứu và những giải pháp đưa ra trong Luận văn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả XXPT các vụ án hình sự và có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc học tập, nghiên cứu cũng như giảng dạy liên quan đến thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm.

7. Cơ cấu của luận văn

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đặt ra, luận văn được thiết kế như sau: Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có ba chương.

Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự.

Chương 2: Quy định của Bộ Luật hình sự năm 2003 về thẩm quyền xét xử phúc thẩm và thực tiễn thực hiện tại thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Giải pháp bảo đảm thi hành đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử phúc thẩm.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ

THẨM QUYỀN XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

    1. 1.1. Những vấn đề lý luận về thẩm quyền xét xử phúc thẩm

1.1.1. Khái niệm xét xử phúc thẩm

Theo quy định của pháp luật thì, Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật [37].

Theo nghĩa rộng về mặt hình thức “xét xử phúc thẩm” là một giai đoạn tố tụng bao gồm căn cứ để mở phiên tòa phúc thẩm và thủ tục xét xử phúc thẩm.

Theo bản chất và nội dung “xét xử phúc thẩm” là hoạt động của Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị hợp pháp theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định để ra một hoặc nhiều quyết định quy định tại khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự.

1.1.2. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm

Theo Hiến pháp năm 2013, bộ máy Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong đó, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

Để làm rõ khái niệm TQXXPT vụ án hình sự của TACPT trong tố tụng hình sự chúng ta cần làm rõ khái niệm “quyền”, “thẩm quyền”, “quyền hạn”. Trong thực tiễn cuộc sống có lĩnh vực, có hoạt động chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa các khái niệm này.

Khái niệm “thẩm quyền” gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Thẩm quyền trở thành một thuộc tính tất yếu của quyền lực nhà nước.

Nghiên cứu các quy định của BLTTHS về XXPT cho phép chúng ta đưa ra kết luận rằng dường như quyền XXPT và TQXXPT; quyền của TACPT và thẩm quyền của TACPT cùng có ý nghĩa như nhau. Để có khái niệm thẩm quyền của TACPT trong tố tụng hình sự Việt Nam, cần làm rõ những vấn đề sau đây:

Tòa án nào được coi là Tòa án cấp phúc thẩm.

Đối tượng nào Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền giải quyết.

Từ sự phân tích trên đây, tác giả đưa ra khái niệm về thẩm quyền xét xử phúc thẩm hay thẩm quyền của TACPT như sau: Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam là thẩm quyền của Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án hoặc quyết định về việc giải quyết vụ án hình sự theo địa giới hành chính hoặc theo sự phân công của người, cơ quan có thẩm quyền trong việc xét xử vụ án do bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị hoặc trong việc xem xét quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án bị kháng cáo, kháng nghị hoặc trong việc xét kháng cáo quá hạn.

1.1.3. Phân cấp Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm

Ngày nay nhiều Chính phủ xem phân cấp quản lý như là một con đường để phát triển, là một chính sách mơ ước [28, tr.128]. Vậy Tòa án cấp nào có TQXXPT và việc phân cấp là gì mà có vai trò và ý nghĩa lớn như vậy đối với sự phát triển của mỗi quốc gia? Trong tiếng Việt, phân cấp có nghĩa là phân thành nhiều cấp, nhiều hạng [57, tr.770]. Ở góc độ khác, có quan điểm cho rằng, phân cấp là việc giao bớt một phần quyền quản lý cho cấp dưới trong hệ thống quản lý nói chung [60, tr.1323]. Như vậy, về mặt học thuật, cụm từ phân cấp được định nghĩa không giống nhau, tùy thuộc vào từng lĩnh vực cụ thể.

Mục đích của sự phân cấp là tránh chồng chéo trong chức năng, nhiệm vụ để đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mỗi ngành, mỗi cơ quan. Sự phân cấp hợp lý đem lại lợi ích to lớn cho hoạt động trong lĩnh vực đó. Về bản chất, việc phân cấp đã tạo ra động cơ cho sự hoạt động. Nếu động cơ tốt sẽ tạo ra một hoạt động tốt. Chính vì vậy sự phân cấp được nhiều quốc gia xem như một yếu tố của sự phát triển. Sự phân cấp không chỉ đặt ra hoặc có vai trò đối với một ngành, một lĩnh vực nào mà diễn ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước.

Một số nhà khoa học quốc tế, trong đó đáng chú ý là Dennis A. Rondinelly và John R. Nellis, đã đưa ra định nghĩa về phân cấp (Administrative Decentralization) như sau: Sự chuyển giao trách nhiệm về lập kế hoạch, quản lý, nâng cao và phân bổ các nguồn lực từ Chính phủ trung ương và các cơ quan của nó tới các đơn vị khu vực của các cơ quan Chính phủ, các đơn vị cấp dưới hoặc các cấp chính quyền, các cơ quan chức trách hoặc các Tổng công ty nhà nước bán tự chủ, các cơ quan chức năng hoặc khu vực trong phạm vi toàn địa bàn hoặc các tổ chức tự nguyện hoặc tổ chức tư nhân ngoài quốc doanh [41, tr.5].

Từ những phân tích trên, theo chúng tôi phân cấp thẩm quyền XXPT vụ án hình sự là việc quy định về tổ chức trong hệ thống Tòa án nhân dân, trong mỗi cấp Tòa án nhân dân và trong mỗi một Tòa án cụ thể thực hiện công việc XXPT vụ án hình sự khi bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

1.1.4. Thẩm quyền trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm

1.1.4.1. Thẩm quyền trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

1.1.4.2. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử

Như vậy, thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là quyền quyết định về việc giải quyết vụ án khi vụ án được xét xử phúc thẩm. Nói cách khác, khi vụ án được XXPT quyền quyết định về việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm.

    1. 1.2. Lịch sử quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền xét xử phúc thẩm

Qua mười lăm năm triển khai thực hiện với ba lần sửa đổi, bổ sung, BLTTHS năm 1988 đã góp phần quan trọng vào việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới của nhà nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên, so với tình hình thực tế, nhu cầu của công cuộc cải cách kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp thì nhiều quy định của BLTTHS năm 1988 nói chung và một số quy định về XXPT nói riêng không còn phù hợp. Ngày 26/11/2003, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ tư đã thông qua BLTTHS mới và có hiệu lực từ ngày 01/7/2004. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định cụ thể đầy đủ hơn về XXPT so với BLTTHS năm 1988.

Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003

VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ PHÚC THẨM VÀ THỰC TIỄN

THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thẩm quyền xét xử phúc thẩm

2.1.1. Quy định đối tượng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm

2.1.2. Quy định về Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm

2.1.3. Quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm

    1. 2.2. Thực tiễn thực hiện quy định về thẩm quyền xét xử phúc thẩm tại thành phố Đà Nẵng

2.2.1. Tổng quan kết quả thực hiện quy định về thẩm quyền xét xử phúc thẩm tại thành phố Đà Nẵng

Trong năm năm từ 2011 đến 2015, Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng đã giải quyết sơ thẩm tổng cộng 3.368 vụ, 6.060 bị cáo; trong đó số vụ có kháng cáo, kháng nghị là 1.533 vụ, 2.022 bị cáo. Kết quả xét xử phúc thẩm, cụ thể như sau: đình chỉ xét xử phúc thẩm 484 vụ, 595 bị cáo; giữ nguyên án sơ thẩm 697 vụ, 907 bị cáo; sửa án sơ thẩm 330 vụ, 484 bị cáo, chiếm tỷ lệ 21,52%; hủy án sơ thẩm 22 vụ, 36 bị cáo, chiếm tỷ lệ 1,45%. (Phụ lục 1).

Qua thống kê cho thấy, số vụ án có kháng cáo, kháng nghị cao nhất là vào năm 2012 với 333 vụ, 415 bị cáo; thấp nhất là năm 2015 với 273 vụ, 370 bị cáo.

Số vụ án đình chỉ xét xử phúc thẩm, năm cao nhất là 2012 với 114 vụ, 118 bị cáo; năm thấp nhất là 2015 với 77 vụ, 100 bị cáo. Nguyên nhân do nhiều yếu tố, nhưng phần lớn là do đặc thù Trại tạm giam Hòa Sơn – Công an thành phố Đà Nẵng nằm trên địa bàn thành phố, gần với gia đình nên tâm lý các bị cáo đều kháng cáo để kéo dài thời gian gần gia đình và gặp gỡ khi thăm nuôi.

Số vụ án giữ nguyên bản án sơ thẩm, năm cao nhất là 2013 với 167 vụ, 174 bị cáo; năm thấp nhất là 2015 với 116 vụ, 156 bị cáo.

Số vụ án bị cải sửa, năm cao nhất là 2015 với 75 vụ, 105 bị cáo, chiếm tỷ lệ 27,47%; năm thấp nhất là 2014 với 54 vụ, 75 bị cáo, chiếm tỷ lệ 18,24%. Đa số các vụ án bị cải sửa chủ yếu theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo do có tình tiết giảm nhẹ mới.

Đối với số vụ án bị hủy, năm cao nhất là 2011 với 06 vụ, 08 bị cáo, chiếm tỷ lệ 1,96%; năm thấp nhất là 2014 với 03 vụ, 04 bị cáo, chiếm tỷ lệ 1,01%.

Về cơ bản TACPT tại thành phố Đà Nẵng đã xét xử phúc thẩm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; được nhân dân và dư luận xã hội đánh giá cao. Chẳng hạn, TACPT tại thành phố Đà Nẵng đã phát hiện, xét xử và hủy khá nhiều bản án của cấp sơ thẩm.

Nói chung, các TACST đã thi hành đúng các quy định của BLTTHS về XXST; đảm bảo nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.

2.2.2. Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện quy định về thẩm quyền xét xử phúc thẩm tại Tòa án thành phố Đà Nẵng

2.2.2.1. Sai lầm trong việc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm

Nghiên cứu thực tiễn XXPT cho thấy thông thường khi kháng cáo, kháng nghị không có căn cứ thì TACPT quyết định không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên trong một số ít trường hợp kháng cáo, kháng nghị là có căn cứ, nhưng HĐXXPT không phát hiện được sự vi phạm về thủ tục tố tụng, chưa phát hiện được sai lầm của TACST trong việc áp dụng pháp luật (chưa hiểu đúng quy định của BLHS, chưa đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự) hoặc chưa xem xét toàn diện tại phiên tòa các chứng cứ cũ, chứng cứ mới, tài liệu, đồ vật mới bổ sung sau khi XXST, cho nên vẫn quyết định không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Hậu quả của những vi phạm, sai lầm này dẫn đến bản án phúc thẩm bị kháng nghị giám đốc thẩm và bị Tòa án cấp giám đốc thẩm xét xử quyết định hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc XXST lại hoặc quyết định hủy bản án phúc thẩm để XXPT lại.

2.2.2.2. Sai lầm trong việc sửa bản án sơ thẩm

Việc sửa bản án sơ thẩm nhìn chung được TACST đồng tình và đúng quy định của pháp luật nói chung và BLTTHS nói riêng. Tuy nhiên có một số trường hợp việc sửa bản án sơ thẩm còn vi phạm nghiêm trọng quy định của BLTTHS, áp dụng sai pháp luật hình sự. Sau đây là một số ví dụ chứng minh.

– Giảm hình phạt không đúng và cho hưởng án treo không đúng

– Áp dụng khoản, điều BLHS nhẹ hơn không đúng

– Sửa bản án sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo không đúng

2.2.2.3. Sai lầm trong việc hủy bản án

– Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại không đúng

– Hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại không đúng

– Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án không đúng

    1. 2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc

Thứ nhất, bất cập trong quy định pháp luật

Thứ hai, hạn chế trong việc thực thi pháp luật

Tuy nhiên, bên cạnh đó, số ít Thẩm phán vẫn còn hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ; tinh thần trách nhiệm trong công tác chưa cao, nên ảnh hưởng tới hiệu quả công tác được giao; cá biệt còn có những cán bộ, Thẩm phán có hành vi sai phạm nghiêm trọng trong chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp dẫn đến phải bị khiển trách, xử lý kỷ luật.

Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên xuất phát cả từ hai mặt khách quan và chủ quan, đó là:

Thứ nhất, bản thân một số Thẩm phán chưa nhận thức đúng và đầy đủ trách nhiệm cá nhân, không trau dồi, rèn luyện bản thân về đạo đức cũng như kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức chuyên môn dẫn đến quá trình thực thi công vụ có những sai phạm xảy ra;

Thứ hai, công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có lúc còn chưa phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, số lượng chỉ tiêu Thẩm phán trung cấp được giao cho hệ thống hai cấp Tòa án thành phố Đà Nẵng còn thấp so với yêu cầu nhiệm vụ công tác;

Thứ ba, công tác thanh kiểm tra, giám sát có lúc thực hiện chưa thường xuyên, chưa triệt để, còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sự là biện pháp hữu hiệu để kịp thời phát hiện, xử lý những sai phạm xãy ra;

Thứ tư, công tác tổng kết thực tiễn, tập huấn nghiệp vụ, tự đào tạo tại chổ còn hạn chế, chưa được thực hiện thường xuyên; cơ chế phối hợp giữa các đơn vị tham mưu cho Lãnh đạo, Hội đồng Thẩm phán còn bất cập; chưa có cơ chế cụ thể, hữu hiệu để xây dựng nhân sự mang tầm chuyên gia trong từng khâu công tác chuyên môn, đặc biệt là công tác XXPT các vụ án hình sự;

Thứ năm, mô hình về tổ chức của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng hiện nay là tổ chức và hoạt động của các Toà chuyên trách thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh.

Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN ĐÚNG QUY ĐỊNH

CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ PHÚC THẨM

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với xu hướng chung của công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta đang đặt ra là “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp” thì việc tìm hiểu quy định của BLTTHS về XXPT, làm rõ một số bất cập trong các quy định của BLTTHS về thẩm quyền XXPT từ đó đề ra những giải pháp hoàn thiện là vô cùng cần thiết. Với quan điểm này, tác giả mạnh dạn đề xuất hai nhóm giải pháp nhằm đưa các quy định của BLTTHS đi vào thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng công tác giải quyết các vụ án hình sự nói chung và hoạt động XXPT các vụ án hình sự nói riêng. Cụ thể:

    1. 3.1. Tăng cường triển khai các biện pháp thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Thứ nhất, tăng cường tổ chức các Hội nghị phổ biến quán triệt các nội dung mới của BLTTHS năm 2015 một cách sâu rộng đến từng cấp địa phương, cơ sở và từng cán bộ công tác thực tiễn nhằm đưa các quy định mới đi vào thực tiễn áp dụng trong công tác XXPT các vụ án hình sự.

Thứ hai, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo nhằm đảm bảo đảm bảo sự độc lập của Tòa án, độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong hoạt động XXPT các vụ án hình sự theo đúng tinh thần cải cách tư pháp thể hiện trọng Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 là đảm bảo Tòa án xét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh; đồng thời phân định thẩm quyền xét xử của TACST và TACPT phù hợp với hai cấp xét xử.

Thứ ba, đổi mới mô hình Tòa án theo hướng vẫn quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo hành chính lãnh thổ như hiện nay, nhưng thành lập các Tòa án khu vực bằng việc gộp một số Tòa án cấp huyện lại. Nhằm có sự phân công đội ngũ Thẩm phán hợp lý về khối lượng công việc ở quy mô lớn hơn trong một Tòa án cấp huyện như hiện nay, qua đó nâng cao chất lượng xét xử, giảm sức ép cho Tòa án cấp trên; đồng thời hạn chế được sự dư thừa, sử dụng không hiệu quả nguồn nhân lực của Tòa án cấp huyện. Đặc biệt để nâng cao tính chuyên môn hóa cao trong mỗi một cấp Tòa án cần tổ chức các Tòa chuyên trách chuyên môn từng lĩnh vực kể cả Tòa án cấp sơ thẩm.

Thứ tư, để nâng cao kinh nghiệm công tác cho cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, cần tăng cường kiểm tra, giám đốc, tổng kết thực tiễn xét xử và tập huấn nghiệp vụ. Đẩy mạnh công tác tự đào tào, thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng, hội thảo chuyên đề theo định kỳ hoặc đột xuất về chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.

Thứ năm, Tòa án nhân dân cấp tỉnh cần lập kế hoạch và phối hợp với các cơ quan, cơ sở đào tạo trong và ngoài ngành tăng cường tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, ngoại ngữ, tin học… cho đội ngũ Thẩm phán nói riêng và cán bộ, công chức trong toàn hệ thống hai cấp Tòa án thành phố nói chung nhằm nhằm tạo được chuyển biến sâu sắc về chất lượng đội ngũ cán bộ mà chủ yếu là chất lượng đội ngũ Thẩm phán.

Thứ sáu, cần chú trọng chất lượng cán bộ về tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất chính trị ngay từ khâu tuyển dụng; Tòa án nhân dân cấp Tỉnh cần phối hợp với cấp ủy Đảng các địa phương và các tổ chức chính trị xã hội để lựa chọn, điều động, luân chuyển các cán bộ có trình độ về công tác tại các Tòa án địa phương và thành phố. Qua đó xây dựng kế hoạch dài hạn trong việc đào tạo nguồn kế cận để bổ nhiệm Thẩm phán trung cấp có đức, có tài, đáp ứng yêu cầu công tác trong tình hình mới.

    1. 3.2. Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Bổ sung, sửa đổi các quy định về thẩm quyền của các cấp xét xử: Mục đích của XXPT là nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội và Nhà nước bị xâm hại. Để khắc phục những bất cập, vướng mắc và tồn tại trong thực tiễn XXPT và nâng cao hiệu quả phúc thẩm các vụ án hình sự, cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp khác nhau. Tuy nhiên, từ góc độ pháp luật tố tụng hình sự, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2015 về TQXXPT vụ án hình sự theo các hướng xác định đúng tính chất của phúc thẩm và đối tượng của XXPT; mở rộng thẩm quyền của TACPT, theo hướng xác định lại tính chất và đối tượng của XXPT trong tố tụng hình sự, bổ sung, sửa đổi các quy định về thẩm quyền của các cấp xét xử; ban hành đầy đủ văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định BLTTHS sửa đổi về xét xử phúc thẩm.

Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về Tòa án và người tiến hành tố tụng thuộc Tòa án: Các quy định về trình tự xét hỏi tại phiên tòa trong BLTTHS năm 2015 vẫn chưa hợp lý, đặt nặng trách nhiệm xét hỏi của HĐXX, nhất là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ở vị thế quá chủ động, thiên về buộc tội hơn là xét xử (Điều 307 Bộ luật tố tụng hình sự).

Một số quy định về thẩm quyền tố tụng của Chánh án Tòa án như: Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam; quyết định xử lý vật chứng; quyết định chuyển vụ án; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định chuyển vụ án; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; … Những thẩm quyền nói trên nên trao cho Thẩm phán được phân công xét xử vụ án.

Khi xét xử, Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”. Hiện nay, việc hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của Tòa án có hai nhóm quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Cần tiếp tục xác định Tòa án có trách nhiệm chứng minh tội phạm. Theo đó, Tòa án vẫn có quyền trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để yêu cầu điều tra bổ sung; Tòa án có quyền xét xử bị cáo ngoài giới hạn truy tố của Viện kiểm sát; tiếp tục xét xử khi Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố; duy trì trình tự xét hỏi trong phiên tòa hình sự như hiện nay, tức là HĐXX hỏi trước, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác. Để tăng cường tranh tụng tại phiên tòa, chỉ cần sửa đổi theo hướng xác định rõ hơn trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc tranh luận và bỏ thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Không nên quy định Tòa án có trách nhiệm chứng minh tội phạm mà Tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử, không thực hiện những nhiệm vụ, thẩm quyền thuộc chức năng buộc tội, vì như vậy sẽ ảnh hưởng đến tính khách quan và nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án.

Không nên quy định Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác nặng hơn so với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố (như Điều 298 BLTTHS năm 2015. Bởi vì:

+ Trường hợp Tòa án xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật đã cho phép Tòa án buộc tội bị cáo theo hướng nặng hơn Viện kiểm sát truy tố, bởi vì mỗi khoản quy định trong BLHS là một trường hợp phạm tội với những tình tiết định khung khác nhau, với những nội dung cần chứng minh khác nhau. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền bào chữa của bị cáo, bởi vì trước đó bị cáo và người bào chữa cho bị cáo đã không được chuẩn bị cho tình huống xấu hơn này. Tòa án chỉ nên được quy định xét xử theo khoản có mức hình phạt nhẹ hơn Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật.

+ Trường hợp Tòa án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. Quy định này tưởng chừng như bằng hoặc có lợi cho bị cáo, nhưng thực ra là có thể bất lợi cho bị cáo, vì sẽ có những trường hợp nếu tiếp tục xét xử theo tội mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo hoặc người bào chữa của họ sẽ được tuyên vô tội vì không đủ chứng cứ. Nhưng khi Tòa án không xét xử được bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố lại chuyển sang xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh đã bị truy tố thì bị cáo cũng như người bào chữa cho họ sẽ bị bất ngờ, không chuẩn bị trước cho tình huống này nên không bào chữa được và dễ dẫn đến bị buộc tội và xét xử (tội bằng hoặc nhẹ hơn là về khung hình phạt, còn cấu thành tội phạm có thể hoàn toàn khác biệt với tội Viện kiểm sát đã truy tố).

Tại phiên tòa, cần quy định lại trình tự xét hỏi theo hướng bên buộc tội (Kiểm sát viên) hỏi trước, người bào chữa cho bị cáo hỏi (nếu vụ án có người bào chữa). Để đảm bảo tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị bổ sung quy định Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền đề nghị Tòa án triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa. Để đảm bảo chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát XXPT, đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệm và thời hạn TACPT chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu và bổ sung quy định TACPT gửi bản án, quyết định phúc thẩm cho Viện kiểm sát cung cấp để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát kiểm tra bản án phúc thẩm, đề xuất việc xem xét, kháng nghị giám đốc thẩm.

Khắc phục các vướng mắc về phạm vi xét xử phúc thẩm

Điều 345 BLTTHS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung như sau: “Nếu có kháng cáo, kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ vụ án. Nếu có kháng cáo, kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xét xử lại phần vụ án có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Tòa án cấp phúc thẩm có thể xét xử lại vụ án các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp ở phần đó có điểm cần xem xét để xét xử theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo”.

– Để đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm của các bên tham gia phiên tòa phúc thẩm và để Tòa án thực hiện đúng chức năng xét xử của mình, khoản 1 Điều 353 BLTTHS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung như sau: “Trước khi xét xử hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát có thể bổ sung chứng cứ mới; người đã kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự cũng có quyền bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật”.

– Để khắc phục tình trạng rút kháng nghị không đúng, BLTTHS cần quy định Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền rút quyết định hủy bỏ quyết định rút kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp dưới nếu như xét thấy việc rút kháng nghị đó là không có căn cứ để việc XXPT được tiến hành theo luật định.

– Điểm đ khoản 2 BLTTHS năm 2015 quy định căn cứ để HĐXX phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại trong trường hợp: “Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật này”. Quy định này mang tính chất loại trừ đối với những trường hợp sửa bản án sơ thẩm theo Điều 357 BLTTHS năm 2015. Đây là một quy định hoàn toàn mới, nhằm đảm bảo cho HĐXX phúc thẩm có đầy đủ thẩm quyền hủy bản án trong những trường hợp cần thiết. Tuy nhiên, tác giả thấy rằng, các trường hợp sửa bản án sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều 357 BLTTHS năm 2015 được thực hiện trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, đối với những bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì HĐXX phúc thẩm vẫn có thể căn cứ vào khoản 3 Điều 357 BLTTHS năm 2015 để sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho cả những vị cáo không có kháng cáo, kháng nghị. Như vậy, các trường hợp: “Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử sửa bản án” theo quy định tại Điều 357 BLTTHS năm 2015 chỉ có thể là một trong các trường hợp theo hướng bất lợi cho bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 2015 nhưng Viện kiểm sát không kháng nghị và người bị hại không kháng cáo thì HĐXX phúc thẩm sẽ hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại. Tác giả cho rằng, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 358 BLTTHS năm 2015 là một quy định hết sức vô lý, vô hình dung đã cho phép HĐXX phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng: Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp; tăng mức bồi thường thiệt hại; chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn; không cho bị cáo được hưởng án treo. Tất cả những trường hợp này đều theo bất lợi cho những bị cáo không bị kháng cáo, kháng nghị nên đã mâu thuẫn với quy định hướng dẫn về phạm vi xét xử phúc thẩm. Do đó, tác giả kiến nghị bãi bỏ quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 358 BLTTHS năm 2015.

KẾT LUẬN

Từ kết quả nghiên cứu trong Luận văn, tác giả có một số kết luận sau đây:

1. Xét xử phúc thẩm theo bản chất và nội dung của nó là hoạt động tố tụng của Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo hoặc kháng nghị hợp pháp theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định để ra một hoặc nhiều quyết định quy định tại khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xét xử phúc thẩm có vị trí quan trọng, bởi thông qua XXPT, TACPT không chỉ xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị, mà TACPT còn có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác. Đó là kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị để có quyết định tương ứng; hướng dẫn Tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật.

2. Cần phải phân biệt làm rõ sự khác nhau giữa giới hạn xét xử và phạm vi xét xử phúc thẩm. Phạm vi xét xử phúc thẩm là những vấn đề được xác định trong giới hạn xét xử và đã được TACST quyết định, nhưng có kháng cáo, kháng nghị hoặc tuy không có kháng cáo, kháng nghị, nhưng xét thấy cần thiết và có căn cứ, nếu việc xét xử đó theo hướng có lợi cho bị cáo. Xác định đúng phạm vi XXPT có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm.

3. Việc làm rõ khái niệm thẩm quyền của TACPT, phân cấp thẩm quyền XXPT các vụ án hình sự là cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc kiến nghị đổi mới tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân ở nước ta.

Pháp luật tố tụng hình sự của nước ta quy định về phạm vi XXPT và thẩm quyền của TACPT có sự kế thừa và ngày càng hoàn thiện hơn.

4. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về XXPT và thẩm quyền của TACPT tương đối hoàn thiện, là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm cho công tác XXPT các vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên có một số quy định chưa đầy đủ hoặc chưa cụ thể cần được bổ sung hoặc sửa đổi cho phù hợp với thực tế khách quan.

5. Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả XXPT các vụ án hình sự đòi hỏi cần có nhiều giải pháp đồng bộ. Luận văn đã đưa ra các giải pháp mà theo tác giả là rất quan trọng.

Trong giải pháp thứ nhất, Luận văn đã phân tích những bất cập của một số quy định của BLTTHS về XXPT và thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm, từ đó Luận văn đã có những kiến nghị cụ thể về sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Những kiến nghị này theo tác giải là có cơ sở lý luận, thực tiễn và có tính khả thi cao, có thể tham khảo trong việc xây dựng pháp luật.

Ngoài ra, tác giả đưa ra các giải pháp khác: giải pháp đổi mới tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân; giải pháp công tác cán bộ; giải pháp tăng cường kiểm tra, giám đốc, tổng kết thực tiễn xét xử và tập huấn nghiệp vụ.

Việc thực hiện tốt các giải pháp đưa ra trong Luận văn chắc chắn ít nhiều góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả XXPT các vụ án hình sự.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\NGO HA NAM\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *