Quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
Từ khi BLTTHS năm 2003 được ban hành và có hiệu lực thi hành, việc quy định quyền của những người TGTT trong VAHS đã được định hình khá rõ và ngày càng được các văn bản hướng dẫn cố gắng hoàn thiện. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện quyền của những người TGTT nói chung mà đặc biệt là quyền của người bị buộc tội nói riêng trong thực tiễn vẫn chưa được hiệu quả. Người bị buộc tội với địa vị pháp lý bất lợi của mình khi tham gia vào các hoạt động TTHS thường gặp những trở ngại khi thực hiện các quyền của mình.
Bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, quyền của những người bị buộc tội nói riêng là trách nhiệm lớn lao mà Đảng và Nhà nước hướng tới trong công cuộc dựng xây đất nước. Tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng nêu lên những vấn đề cần phải đảm bảo như quyền con người, sự dân chủ hóa trong hoạt động tư pháp nhằm xây dựng một nền tư pháp vững mạnh.
Tỉnh Gia Lai những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân cũng được phát triển. Trong bối cảnh đó, tình hình trấn áp tội phạm, bảo vệ an ninh chính trị xã hội được đề cao, nhiều loại tội phạm phức tạp cũng xuất hiện. Từ bắt, tạm giữ, điều tra, truy tố, xét xử một VAHS là một quá trình dài để buộc tội, kết án đối với những chủ thể bị buộc tội khác nhau. Việc đảm bảo quyền của những chủ thể bị buộc tội này là rất cần thiết để hoạt động tố tụng tiến hành đúng pháp luật, khởi tố, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội và đảm bảo việc không để làm trái, làm sai pháp luật, xâm phạm đến quyền của những người bị buộc tội.
Bởi các lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” làm luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu, làm rõ những vấn đề lý luận về quyền của người bị buộc tội; phân tích, đánh giá, những quy định của pháp luật pháp luật Việt Nam về quyền của người bị buộc tội; thực trạng áp dụng pháp luật về quyền của người bị buộc tội từ thực tiễn tỉnh Gia Lai, thấy được những hạn chế, bất cập, nguyên nhân của hạn chế, bất cập.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực thực thi pháp luật, bảo đảm các quyền của người bị buộc tội trong TTHS trong thực tiễn tỉnh Gia Lai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về quyền của người bị buộc tội và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Gia Lai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu : Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật hiện hành về quyền của người bị buộc tội dưới góc độ TTHS Việt Nam. Phần thực tiễn, luận văn nghiên cứu hoạt động áp dụng các quy định của pháp luật về quyền của người bị buộc tội tại tỉnh Gia lai trong khoảng ba năm trở lại đây.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Tác giả thực hiện luận văn này trên cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của triết học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con người.
Việc thực hiện luận văn còn dựa vào thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố và xét xử VAHS; những tổng kết, đánh giá của các cơ quan THTT, Đoàn Luật sư và Trung tâm TGPL nhà nước trên địa bàn tỉnh Gia Lai; những số liệu thống kê về tình hình xét xử, về tổ chức cán bộ … để những kiến nghị, đề xuất việc bảo đảm quyền của người bị buộc tội trong TTHS trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Ngoài ra, tác giả dùng phương pháp nghiên cứu so sánh, phương pháp tổng hợp, tiếp cận hệ thống, lịch sử, thống kê v.v… để hoàn thành luận văn này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu sâu về quyền của người bị buộc tội và thực tiễn thực hiện quyền này tại tỉnh Gia Lai hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thứ nhất, luận văn trình bày rõ, nêu khái niệm “người bị buộc tội”, “quyền của người bị buộc tội” là những khái niệm mang tính pháp lý chưa được định nghĩa một cách thấu đáo và cụ thể trong hoạt động nghiên cứu khoa học pháp và vốn đang còn những tranh luận khác nhau. Phân tích, so sánh các quy định cụ thể, trực tiếp của BLTTHS hiện hành và BLTTHS năm 2015 trong việc bảo đảm quyền của người bị buộc tội.
Thứ hai, luận văn đi sâu nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về quyền của người bị buộc tội tại tỉnh Gia Lai. Từ nội dung nghiên cứu đó, luận văn chỉ ra những bất cập, những đòi hỏi, kiến nghị, giải pháp cần được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn hoạt động tố tụng tại tỉnh Gia Lai nhằm bảo đảm quyền của người bị buộc tội.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Chương 2: Thực trạng thực hiện quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
Chương 3. Một số giải pháp bảo đảm quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Một số vấn đề lý luận về người bị buộc tội và quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của người bị buộc tội
1.1.1.1. Khái niệm
Pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về người bị buộc tội. Điểm đ Điều 4 BLTTHS năm 2015 quy định: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. Quy định này vẫn mang tính liệt kê.Theo chúng tôi, người bị buộc tội có đầy đủ các yếu tố tạo nên một khái niệm: Người bị buộc tội trong TTHS là người bị xác định bởi quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền với tư cách là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật khi có căn cứ rằng người đó đã thực hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội, hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS
Người bị buộc tội bao gồm các chủ thể: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong đó,
– Người bị bắt: là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã
– Người bị tạm giữ: là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ
– Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân.
– Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân .
1.1.1.2. Đặc điểm của người bị buộc tội
Thứ nhất, người bị buộc tội bị tình nghi thực hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội được BLHS quy định.
Thứ hai, người bị buộc tội bị các quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền xác định là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS.
Thứ ba, là chủ thể trong quan hệ pháp luật TTHS với tư cách là người TGTT.
1.1.2. Khái niệm quyền của người bị buộc tội
Quyền của người bị buộc tội như sau: Quyền của người bị buộc tội là những điều mà pháp luật TTHS quy định và đảm bảo thực hiện đối với những người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà theo đó họ được hưởng, được làm, được đòi hỏi khi tham gia vào các hoạt động TTHS
1.1.3. Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của người bị buộc tội
Để đảm bảo thực hiện quyền của người bị buộc tội trong TTHS, các nguyên tắc cơ bản bắt buộc phải tuân thủ, và hệ thống quy phạm pháp luật TTHS chặt chẽ, cụ thể, gồm:
Một là, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.
Hai là, nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp luật.
Ba là, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS
Bốn là, các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân.
Năm là, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước TA.
Sáu là, đảm bảo thực hiện quyền của người bị buộc tội bằng các quy định đầy đủ, hợp lý địa vị pháp lý của các chủ thể TGTT trong BLTTHS.
Bảy là, đảm bảo thực hiện quyền của người bị buộc tội bằng cách quy định thủ tục TTHS dân chủ, công khai.
1.1.4. Cơ sở quy định quyền của người bị buộc tội trong TTHS
Thứ nhất, quyền của người bị buộc tội được quy định trước đòi hỏi của việc bảo vệ quyền con người của Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Thứ hai, việc quy định quyền của người bị buộc tội dựa trên yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
1.1.5. Ý nghĩa của việc quy định quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Về mặt chính trị, bảo vệ quyền của người bị buộc tội đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền của công dân, thể hiện sự an toàn pháp lý của công dân trong mối quan hệ với nhà nước trong hoạt động TTHS. Từ đó bảo đảm công bằng xã hội
Đối với hoạt động lập pháp, bảo vệ quyền của người bị buộc tội là những giá trị nhân văn trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy phạm pháp luật TTHS Các quy định của pháp luật về quyền của người bị buộc tội được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của nhà nước, chống mọi hành vi xâm hại. Trên cơ sở pháp luật, mọi hành vi vi phạm quyền của người bị buộc tội đều phải bị xử lý nghiêm minh.
Về mặt thực tiễn, bảo vệ quyền của người bị buộc tội là định hướng trong lĩnh vực TTHS hết sức khó khăn và nhạy cảm. Việc ghi nhận quyền của người bị buộc tội cung cấp cơ sở pháp lý cho việc nhận thức đúng đắn địa vị pháp lý của họ trong TTHS và người THTT
1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về quyền của người bị buộc tội và trách nhiệm của các các chủ thể khác trong việc bảo đảm quyền của người bị buộc tội
1.2.1. Quyền của người bị buộc tội theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
1.2.1.1. Những quyền chung của chủ thể bị buộc tội
Một là, quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ khi TGTT.
Hai là, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa
Ba là, quyền được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá.
Bốn là, quyền được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá.
Năm là, quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.
Sáu là, quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người.
1.2.1.2. Những quyền riêng của chủ thể bị buộc tội
– Bị can, bị cáo có quyền đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch.
– Bị can, bị cáo có quyền được nhận các quyết định theo quy định của BLTTHS.
– Những quyền khác của bị cáo: Tham gia phiên tòa; hỏi và tranh luận tại phiên tòa; Nói lời nói sau cùng; Kháng cáo bản án, quyết định của TA; Xem, yêu cầu sửa đổi biên bản phiên tòa
Ngoài các quyền của người bị buộc tội còn có các quyền quy định tại các điều luật khác của BLTTHS.
1.2.2. Vai trò, tránh nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm quyền của người bị buộc tội.
1.2.2.1. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng
Cơ quan THTT, người THTT có trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, không được đối xử với người bị buộc tội như một người có tội. cụ thể:
– Người bị buộc tội cần được các cơ quan THTT bảo đảm tính hợp pháp khi bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn;
– Bảo vệ cho họ không bị xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp, bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng với những người THTT, người TGTT khác;
– Bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong quá trình xác định sự thật của vụ án, đảm bảo không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm.
– Tránh nhiệm bảo vệ quyền bào chữa của người bị buộc tội.
– Đảm bảo bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi khi bị buộc tội oan.
1.2.2.2. Vai trò của NBC trong việc bảo đảm quyền của người bị buộc tội
– NBC được tham gia vào quá trình TTHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, góp phần làm sáng tỏ các tình tiết gỡ tội hay giảm nhẹ TNHS cho người bị buộc tội, đồng thời giúp đỡ, tư vấn cho họ về những vấn đề cần thiết.
– NBC có trách nhiệm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự thật.
Đây là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp của người bị buộc tội sẽ tạo tiền đề cho việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự thật.
1.2.2.3. Trách nhiệm của các chủ thể khác
– Người bị buộc tội cần được xã hội quan tâm, bảo vệ trước những hành vi, quyết định vi phạm pháp luật của cơ quan THTT và người THTT.
– Ở đây, cần nhấn mạnh trách nhiệm bảo vệ quyền của người bị buộc tội từ phía những người TGTT khác như: người phiên dịch, người làm chứng, người giám định ….
– Trách nhiệm giám sát và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo những việc làm trái pháp luật của cơ quan THTT và những người THTT

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI
BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI
2.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội tỉnh Gia Lai có liên quan đến quyền của người bị buộc tội trong hoạt động Tố tụng hình sự
Gia Lai là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Bắc Tây Nguyên, có diện tích 15.495,71 km2 , thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa
Gia Lai là một tỉnh miền núi, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 44,5%, mật độ dân số đạt 85 người/km²
2.1.3. Tác động của yếu tố địa lý, dân cư người bị buộc tội và việc đảm bảo quyền của người bị buộc tội
Đời sống và trình độ dân trí chưa đồng đều; tỉ lệ đói nghèo cao,điều kiện tiếp thu những kiến thức về pháp luật, nhất là bà con vùng nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa; nhận thức về pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật chưa cao, đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự.
2.2. Thực trạng thực hiện quyền của người bị buộc tội từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
2.2.1. Thực trạng thực hiện quyền của người bị buộc tội
2.2.1.1. Những kết quả đạt được
Một là, quyền bào chữa của bị can, bị cáo ngày càng được các cơ quan THTT tôn trọng.
Số VAHS có NBC tăng mạnh qua các năm, thể hiện ý thức trách nhiệm của các cơ quan THTT trong việc tạo điều kiện để NBC bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, đặc biệt là nhóm người yếu thế trên địa bàn tỉnh; nhận thức của người bị buộc tội về vai trò NBC trong hoạt động TTHS tăng lên.
Hai là, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đảm được tiến hành đảm bảo đúng trình tự, thủ tục TTHS, đảm bảo quyền của người bị buộc tội.
– Vụ án mà Luật sư, TGV tham gia ngay từ giai đoạn điều tra tăng
– Việc bắt và tạm giữ người bị tình nghi phạm tội trên địa bàn tỉnh có giảm đi và việc xử lý người bị bắt theo hướng tích cực (chuyển sang xử lý hành chính khi không căn cứ để khởi tố hoặc thay đổi biện pháp tạm giam) tăng lên.
– Nâng cao trách nhiệm trong việc phê chuẩn và ban hành các lệnh, quyết định thuộc thẩm quyền; kiểm sát chặt chẽ các vụ án đình chỉ điều tra, bảo đảm có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Ba là, TAND hai cấp của tỉnh Gia Lai đảm bảo chất lượng xét xử VAHS
– Kịp thời giải quyết dứt điểm các vụ án là điều rất đáng ghi nhận bởi sẽ nhanh chóng quyết định được sinh mệnh chính trị của bị cáo
– TA ngày càng thể hiện được tính độc lập trong xét xử của TA nói chung và của HĐXX nói riêng. Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung, làm rõ các tình tiết của vụ án tăng cao, số lượng án phúc thẩm giảm, cho thấy chất lượng bản án ngày một đem lại sự tâm phục từ phía bị cáo và người TGTT trong VAHS.
2.2.1.2. Những tồn tại, hạn chế
* Tồn tại, hạn chế trong việc đảm bảo các quyền chung của người bị buộc tội
Một là, cơ quan THTT chưa đánh giá đúng và bảo đảm tính hợp lý của việc lựa chọn áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
* Đối với người bị bắt, bị tạm giữ:
– Việc lạm dụng các Quyết định tạm giữ của CQĐT khi xử lý các trường hợp bị tình nghi phạm tội vẫn còn nhiều.
– Các trường hợp bắt, tạm giữ, tạm giam vi phạm pháp luật vẫn còn khá phổ biến. Đó là việc bắt, tạm giữ, tạm giam không đúng đối tượng, không đúng thủ tục, sai thẩm quyền. Lạm dụng việc bắt khẩn cấp, bắt quả tang, tạm giữ thuộc vi phạm hành chính để áp dụng theo quy định của Luật TTHS.
– Bất cập trong quy định về thủ tục bắt tạm giữ
Theo quy định tại Điều 81, Điều 86 BLTTHS năm 2003: quyết định tạm giữ phải được gửi cho VKS nhưng không quy định CQĐT phải gửi kèm theo quyết định tạm giữ hồ sơ, tài liệu của vụ việc nên VKS rất khó xác định căn cứ tạm giữ làm ảnh hưởng đến việc kiểm sát vấn đề tạm giữ.
– Vướng mắc về thời điểm kết thúc của thời hạn tạm giữ và tạm giam được quy định trong BLTTHS năm 2003: Thời điểm kết thúc chín ngày tạm giữ đồng thời với đó là trả tự do cho người bị tạm giữ. Nhưng tại khoản 1 Điều 87 BLTTHS năm 2003 có qui định thời hạn tạm giữ bắt đầu kể từ khi CQĐT nhận được người bị bắt nhưng lại không thấy qui định về thời điểm kết thúc của thời hạn tạm giữ. nên tình trạng vượt quá thời hạn tạm giam, tạm giữ theo qui định của BLTTHS là không hiếm. Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 87 BLTTHS năm 2003 thì thời hạn tạm giữ được tính vào thời hạn tạm giam. Tuy nhiên đối với người bị tạm giữ, không bị tạm giam nhưng lại bị TA tuyên phạt tù giam thì luật chưa đề cập, điều này cũng ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị tạm giữ.
* Đối với bị can, bị cáo
– Tạm giam vẫn là biện pháp phổ biến nhất khi Cơ quan THTT lựa chọn biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo. Nên không đảm bảo cơ hội cho bị can, bị cáo trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn các biện pháp ngăn chặn khác.
Thông tư liên tịch số 17/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC quy định hướng dẫn về việc đặt tiền để bảo đảm theo điều 93 của BLTTHS năm 2003 dù có hiệu lực từ ngày 15/01/2014 nhưng việc áp dụng Thông tư này vẫn rất ít, trên địa bàn tỉnh Gia Lai không có trường hợp nào được áp dụng biện pháp đặt cọc tiền để đảm bảo thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam.
– Bất cập trong quy định pháp luật về thủ tục bắt tạm giam: còn nhiều trường hợp CQĐT lạm dụng quyền ra lệnh bắt bị can tạm giam, mặc dù lệnh bắt phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành nhưng vẫn tồn tại trường hợp CQĐT lợi dụng lệnh bắt, tạm giam như lệnh bắt khẩn cấp, việc VKS cùng cấp phê chuẩn chỉ là hợp thức hóa.
– Bất cập trong quy định pháp luật về căn cứ bắt tạm giam: BLTTHS năm 2003 quy định việc “có thể” áp dụng biện pháp bắt tạm giam nên cơ quan THTT thường lạm dụng căn cứ “có thể” để xác định các trường hợp áp dụng biện pháp tạm giam. Nên, căn cứ để đưa ra những nhận định này còn phụ thuộc rất lớn vào ý chí chủ quan của người THTT.
Hai là, quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ khi tham gia TTHS của người bị buộc tội vẫn còn mang tính hình thức: ĐTV thường đọc và giải thích rất kỹ về nghĩa vụ của người bị buộc tội, nhưng quyền của họ được đọc và giải thích hời hợt, hoặc chỉ được được ghi vào biên bản. Đặc biệt là quyền được nhờ NBC vì không muốn có sự can thiệp quá sớm từ NBC tới hoạt động điều tra của ĐTV. Nhiều trường hợp, CQĐT bỏ qua hoặc cố ý định hướng cho bị can từ chối quyền được nhờ người khác bào chữa, từ chối nhờ người phiên dịch để tránh việc tham gia của những người này trong quá trình giải quyết vụ án.
Ba là, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của người bị buộc tội vẫn còn nhiều bất cập
– Hoạt động bào chữa vẫn gặp nhiều khó khăn, cản trở khi tiếp cận với người bị buộc tội. Thông tư số 70/2011/BCA ngày 10/10/2011 quy định việc đảm bảo quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án nhưng vẫn còn những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn nhằm bảo đảm quyền được bào chữa của người bị tạm giữ, tạm giam như: Trước hết, là chuyện “nhờ” NBC phải ghi ý kiến bằng văn bản; nếu người bị buộc tội không biết “nhờ” ai thì CQĐT sẽ làm gì để bảo đảm quyền nhờ NBC của họ? Ai sẽ ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư? Hoặc khi người thân đã nhờ được NBC nhưng người bị buộc tội không đồng ý thì giải quyết thế nào?
– Hiện nay, người bị tạm giữ chưa tiếp cận được với NBC khi bảo vệ quyền của mình khi bị bắt, bị tạm giữ.
– Trường hợp bị can từ chối quyền được nhờ NBC trên địa tỉnh Gia Lai còn rất phổ biến, thể hiện bằng văn bản từ chối mời Luật sư hoặc TGV.
– Quyền có mặt khi lấy lời khai, hỏi cung bị can của NBC không được đảm bảo.
Bốn là, quyền được trình bày lời khai và đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu nhằm làm sáng tỏ tình tiết khách quan được tiến hành tương đối đầy đủ, nhưng còn mang nặng tính chủ quan của người THTT.
Năm là, quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT vẫn không được áp dụng có hiệu quả như quy định nhằm đảm bảo sự tuân thủ các quy định của BLTTHS
Sáu là, quyền im lặng của người bị bắt, người bị tạm giữ vẫn còn chưa được quy định cụ thể và trực tiếp theo quy định của BLTTHS năm 2003
* Bất cập, hạn chế trong việc đảm bảo các quyền riêng của bị can, bị cáo
– Bất cập, hạn chế trong việc bảo đảm các quyền riêng của bị can:
Hoạt động điều tra vẫn còn một số tồn tại: vi phạm thời hạn gửi văn bản đề nghị gia hạn thời hạn điều tra, chuyển Kết luận điều tra…
– Bất cập, hạn chế trong việc bảo đảm các quyền riêng của bị cáo:
Một là, quyền tranh luận tại phiên tòa chưa được đảm bảo và đem lại hiệu quả.
Hai là, thực trạng xét xử vắng mặt những người TGTT tương đối nhiều.
Ba là, một số thẩm phán đi quá sâu vào việc đấu tranh với bị cáo để buộc tội, không tạo điều kiện cho bên bên buộc tội và bên bào chữa trong quá trình xét hỏi, tranh luận. Không chú ý lắng nghe và giải quyết các yêu cầu chính đáng của bị cáo và NBC về cung cấp tài liệu, chứng cứ, triệu tập thêm người làm chứng.
2.2.2. Thực trạng vai trò, trách nhiệm của các chủ thể khác trong việc bảo đảm quyền của người bị buộc tội
Một là, trách nhiệm của các cơ quan THTT:
Trong những năm qua, các cơ quan THTT trên địa bàn tỉnh Gia Lai cũng đã có những sự chủ động, phối khi giải quyết VAHS tạo điều kiện cho TA đưa ra một bản án công minh, đúng người đúng tội. Tuy nhiên, đặc trưng của quyền tư pháp hình sự là sự độc lập, chỉ tuân theo pháp luật hình sự nên cần phải công khai, minh bạch, dân chủ, có sự chế ước lẫn nhau giữa các cơ quan THTT nhằm đảm bảo công lý được thực hiện, khắc phục thực trạng cả nể, đùn đẩy hoặc bao che cho nhau trong việc làm sai, thiếu hồ sơ thủ tục … nhằm bảo vệ sự bình đẳng, dân chủ, cán cân công lý cân bằng trong việc phán quyết một người có tội hay không có tội và hậu quả pháp lý của phán quyết đó.
Hai là, vai trò của NBC:
Mối quan hệ giữa NBC và người bị buộc tội không chỉ dừng lại ở góc độ giúp đỡ về mặt pháp lý hình sự mà còn NBC còn là chỗ dựa về tinh thần cho họ trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án, tuy nhiên, vẫn còn nhiều trường hợp NBC chưa đầu tư thời gian nghiên cứu các nội dung tình tiết vụ án để thực hiện nhiệm vụ bào chữa một cách tốt nhất làm ảnh hưởng đến quyền của người bị buộc tội.
Ba là, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức khác:
Hiện nay trong ý thức và tư tưởng của một số Chánh án vẫn tồn tại cơ chế chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân dẫn đến chất lượng xét xử VAHS, đặc biệt là bị cáo phải gánh chịu bản án không tương xứng với mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ so với một vụ án khác có cùng tính chất.
Ở đây, cũng cần nhìn nhận trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc giám sát hoạt động tư pháp hình sự, thể hiện phương pháp giám sát khách quan, không phải là “tự giám sát” “vừa đánh trống vừa thổi còi”, hiệu lực giám sát sẽ cao hơn. Góp phần bảo vệ sự thật khách quan, quyền con người nói chung và quyền của người bị buộc tội nói riêng, đặc biệt là đối với người chưa thành niên phạm tội.
Bản thân những người bị buộc tội cũng là nhân tố đảm bảo quyền bào chữa, nhờ NBC có hiệu quả: Người bị buộc tội còn thiếu tính chủ động trong việc bào chữa và nhờ người khác bào chữa. Vẫn tồn tại những vụ án bị cáo có NBC chính là cha mẹ của mình, và những người này dù vô tình hay cố ý là người dân tộc thiểu số, không có trình độ học vấn, không nói rõ tiếng phổ thông.
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc quy định và bảo đảm quyền của người bị buộc tội trong thực tiễn
2.3.1. Nguyên nhân từ quy định của thể chế
Một là, các nguyên tắc của BLTTHS hiện nay thể hiện không chính xác và không đầy đủ chính sách TTHS cũng như bản chất của Nhà nước pháp quyền Việt Nam, như:
– BLTTHSnăm 2003 chưa quy định nguyên tắc tranh tụng như là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS
– BLTTHS năm 2003 không quy định cụ thể và trực tiếp quyền im lặng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
– Điều 10 BLTTHS năm 2003 có quy định “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT lại không đặt ra đối với người bị tạm giữ là một thiếu sót lớn.
– BLTTHS năm 2003 quy định không chính xác về nguyên tắc suy đoán vô tội. Điều 9 BLTTHS: “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của TA có hiệu lực pháp luật” gây ra những cách hiểu, không đúng với bản chất của nguyên tắc suy đoán vô tội.
Hai là, địa vị tố tụng của người TGTT, người THTT được quy định chưa phù hợp làm hạn chế đến việc thực hiện chức năng bào chữa của người bị buộc tội
Ba là, hiện nay sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan tư pháp cũng như giữa các cơ quan tư pháp và cơ quan bổ trợ tư pháp vẫn còn bộc lộ tình trạng: pháp luật về lĩnh vực này chưa được đầy đủ; sự phối hợp hoạt động còn thiếu đồng bộ; một bộ phận cán bộ tư pháp chưa có trách nhiệm cao trong hoạt động.
Bốn là, các căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng không đầy đủ và rõ ràng.
Năm là, BLTTHS năm 2003 quy định các quyền của người bị buộc tội nhưng không có quy định cụ thể để người bị buộc tội thực hiện quyền đó như thế nào cũng hạn chế quyền của họ.
Sáu là, các quy định về quyền được hoãn phiên tòa, quyền đề nghị tạm đình chỉ vụ án, quyền trưng cầu giám định, triệu tập nhân chứng v.v… chưa chặt chẽ, các quy định về trách nhiệm chưa rõ ràng, nên không có sự thống người THTT, người TGTT dẫn đến sự gây “khó dễ” cho hoạt động xét xử…
2.3.2. Nguyên nhân từ thực tiễn áp dụng pháp luật
– Các quy định về quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT vẫn không được áp dụng có hiệu quả, việc đảm bảo quyền được bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan, sai do người THTT gây ra chưa đầy đủ, thiếu cơ chế để đảm bảo quyền này trên thực tế.
– Người có thẩm quyền THTT trên địa bàn tỉnh Gia Lai chưa thật sự đảm bảo chuyên môn, nhận thức trách nhiệm bảo vệ quyền của người bị buộc tội một cách thấu đáo.
Nguồn nhân lực NBC vẫn còn những hạn chế nhất định về năng lực bào chữa, để đáp ứng các nhu cầu bào chữa.
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI
3.1. Giải pháp về tiếp tục hoàn thiện pháp luật
Một là, đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.
Trên nền tảng nguyên tắc hiến định, Điều 26 BLTTHS năm 2015 đã bổ sung nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Hai là, đảm bảo nguyền tắc “suy đoán vô tội”. Tại Điều 13 BLTTHS năm 2015 ghi nhận nguyên tắc “suy đoán vô tội” với nội dung bao hàm cả nội dung của Điều 9 BLTTHS năm 2003, đã khắc phục sự định kiến của các cơ quan THTT, của người THTT đối với người bị buộc tội, đồng thời còn tạo điều kiện để những người này thực hiện quyền bào chữa của mình.
Ba là, đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội. BLTTHS năm 2015 đã bổ sung một số quy định: quy định “Người bị buộc tội” cùng với sự mở rộng diện người được bào chữa và thời điểm NBC TGTT cũng sớm hơn, NBC được TGTT và bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội ngay từ khi bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt; Việc lựa chọn NBC, thủ tục đăng ký bào chữa trong BLTTHS năm 2015 được quy định chi tiết, cụ thể, và thuận lợi để đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội.
Bốn là, đảm bảo quyền im lặng của người bị buộc tội. BLTTHS 2015 quy định gián tiếp quyền im lặng trong các điều luật cụ thể để người bị buộc tội có quyền tự chủ về việc khai báo.
Năm là, hoàn thiện các quy định cụ thể của BLTTHS liên quan đến quyền của người bị buộc tội. BLTTHS năm 2015 đã quy định mới, quy định bổ sung một số nội dung nhằm đảm quá trình thu thập chứng cứ, xác định sự thật của vụ án, giúp bên bị tình nghi phạm tội có bình đẳng hơn nữa trong quá trình TGTT
3.2. Giải pháp về thực tiễn áp dụng pháp luật
3.2.1. Trong công tác chỉ đạo tổ chức thi hành pháp luật
Xây dựng một chế độ trách nhiệm, chính sách đãi ngộ rõ ràng, minh bạch đối với cơ quan THTT, người THTT, người TGTT.
3.2.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục kiến thức
Trong lĩnh vực TTHS cần có hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đặc trưng như: Tăng cường công tác tập huấn, hội thảo chuyên ngành về pháp luật hình sự, tăng cường công tác tổng kết kinh nghiệm, kiểm tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, vận động công dân, tổ chức vào tìm hiểu về lĩnh vực này để tuyên truyền, phổ biến và đặc biệt là giáo dục pháp luật trong lĩnh vực này một cách có hiệu quả nhất.
3.2.3. Nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ và nhận thức của các chủ thể tham gia vào hoạt động TTHS
Trong giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người THTT đòi hỏi thái độ đúng mực, trách nhiệm, biết tiếng địa phương và nắm được văn hóa địa phương để có nhận xét và đánh giá toàn diện về các tình tiết của vụ việc
Bên cạnh đó, cần thống kê, phân loại trình độ đội ngũ những người THTT trên địa bàn tỉnh Gia Lai hiện nay để có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo.
Đối với NBC: đội ngũ Luật sư và TGV trên địa bàn tỉnh phải phát triển cả về nhân lực và chuyên môn. Đặc biệt, cần có sự đầu tư phát triển luật sư, TGV ở các địa phương có nền kinh tế khó khăn vùng sâu, vùng xa.
Đối với người bị buộc tội: nâng cao nhận thức của người dân về quyền công dân, quyền của người bị buộc tội, vai trò của ĐTV, NBC, KSV, Thẩm phán, các nguyên tắc tranh tụng

2.3.4. Trong công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm
Để công tác giám sát hoạt động TTHS có hiệu quả cần thiết phải xây dựng cơ chế giám sát, sự phối hợp trong quá trình giám sát; trách nhiệm thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giám sát.
Bên cạnh việc thực hiện giám sát tối cao của Quốc hội, của các tổ chức chính trị xã hội v.v… cần xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cũng như cơ chế đảm bảo cho tổ chức có thẩm quyền giám sát thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình
KẾT LUẬN
Theo tiến trình phát triển của xã hội loài người, quyền con người nói chung và quyền của người bị buộc tội nói riêng, ngày càng được bảo đảm trên bình diện quốc tế và ở mỗi quốc gia. Để đảm bảo những quyền đó, việc được coi là quan trọng hàng đầu là nỗ lực thường xuyên của các quốc gia trong việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật để ghi nhận và thực hiện quyền con người. Hay nói cách khác, quyền của người bị buộc tội được bảo vệ bằng Hiến pháp, pháp luật, trong đó có luật TTHS.
Qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý về quyền của người bị buộc tội trong TTHS Việt Nam và thực tiễn thi hành tại Gia Lai, có thể rút ra những kết luận cơ bản sau:
1. Việc hoàn thiện các quy định về quyền của người bị buộc tội cũng phù hợp với các quan điểm, định hướng của Đảng, phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người nói chung và quyền con người trong TTHS nói riêng, bảo đảm tính kế thừa, tính hiện đại, tiếp thu những thành tựu tiến bộ của khoa học pháp lý và có những sửa đổi các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là cơ quan xét xử.
2. Các quyền của người bị buộc tội trong TTHS Việt Nam hiện nay đã được quy định khá đầy đủ, góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong TTHS. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện trên địa bàn tỉnh Gia Lai cho thấy vẫn còn những bất cập cần được khắc phục.
3. Các quy định về quyền của người bị buộc tội trong TTHS là một tất yếu khách quan và việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2015 về quyền của người bị buộc tội là cần thiết; có ảnh hưởng trực tiếp đến các quy định của Hiến pháp và các nguyên tắc chung bảo vệ quyền con người trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của các cơ quan THTT với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và quyền của người bị buộc tội nói riêng.
4. Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn đã làm rõ được cơ sở lý luận về quyền của người bị buộc tội trong BLTTHS; chỉ ra thực tiễn áp dụng và những nguyên nhân của những ưu điểm, những hạn chế, bất cập làm cơ sở cho việc đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của BLTTHS về quyền của người bị buộc tội. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của luận án đã xây dựng được nội dung cụ thể các vấn đề cần sửa đổi, bổ sung và quy định mới về quyền của người bị buộc tội trong BLTTHS Việt Nam hiện hành và một số giải pháp khác phù hợp với thực tiễn thực hiện quyền này tại tỉnh Gia Lai.
5. Tuy nhiên, luận văn mới chỉ đạt được những kết quả trên cơ sở khả năng nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn mà tác giả tổng kết được. Do đó kết quả nghiên cứu của luận văn còn có những hạn chế nhât định kính mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, các thầy cô và đồng nghiệp về nội dung luận văn để việc nghiên cứu đạt kết quả tốt hơn.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\NGUYEN HOANG KIM LOAN\SAU BAO VE


