So sánh hiệu quả giữa sàn Bubbledeck và sàn đặc không dầm theo các tiêu chuẩn thiết kế
Một trong những nhược điểm lớn của hệ kết cấu dầm sàn bê tông cốt thép khi vượt nhịp lớn: Dầm có chiều cao lớn, ảnh hưởng đến không gian sử dụng, ảnh hưởng tới thẩm mỹ cũng như tâm lý người sử dụng. Giải pháp sàn không dầm vượt nhịp lớn đã được ứng dụng trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, giải pháp này cũng bị giới hạn bởi khả năng vượt nhịp lớn, sàn có chiều dày lớn dẫn đến tải trọng truyền xuống móng rất lớn, mũ cột cũng ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Nhiều giải pháp kết cấu sàn nhẹ vượt nhịp lớn đã được nghiên cứu và ứng dụng nhằm khắc phục những nhược điểm như đã nêu, trong đó công nghệ sàn phẳng không dầm Bubbledeck, có nguồn gốc từ Đan Mạch, ra đời đã được áp dụng phổ biến ở Châu Âu và nhiều nước trên thế giới từ đầu những năm 2000. Ở Việt Nam, công nghệ này cũng đã được ứng dụng từ năm 2007 tại một số công trình. Tuy nhiên, một tiêu chuẩn thiết kế, thi công và nghiệm thu phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam vẫn chưa có, việc thiết kế, thi công, nghiệm thu vẫn phụ thuộc vào Tiêu chuẩn Châu Âu mà nhà sản xuất đề nghị. Hiệu quả kỹ thuật, kinh tế mà giải pháp công nghệ Bubbledeck so với sàn phẳng truyền thống chưa được nghiên cứu một cách cụ thể. Tác giả chọn đề tài “So sánh hiệu quả giữa sàn Bubbledeck và sàn đặc không dầm theo các tiêu chuẩn thiết kế”. Tìm hiểu kỹ hơn tiêu chuẩn thiết kế sàn Bubbledeck đồng thời so sánh hiệu quả kỹ thuật và kinh tế giữa sàn Bubbledeck so với sàn đặc không dầm, đó là lý do mà tác giả chọn đề tài nghiên cứu này.
- Đối tượng nghiên cứu
Sàn phẳng không dầm Bubbledeck và sàn đặc không dầm truyền thống.
– Tính toán sàn Bubbledeck và sàn đặc không dầm vượt nhịp tương đương theo tiêu chuẩn Châu Âu.
– So sánh hiệu quả kỹ thuật, kinh tế giữa sàn Bubbledeck với sàn đặc không dầm vượt nhịp tương đương.
– Phân tích lý thuyết
– Áp dụng tính toán
Phần mở đầu
Chương 1: Tổng quan về sàn phẳng không dầm
Chương 2: Cơ sở khoa học tính toán sàn Bubbledeck và sàn đặc không dầm
Chương 3: Ví dụ tính toán Bubbledeck và sàn đặc không dầm
Kết luận và kiến nghị
TỔNG QUAN VỀ SÀN PHẲNG KHÔNG DẦM
1.1. MỘT SỐ GIẢI PHÁP SÀN TRONG XÂY DỰNG
Trong những năm gần đây, ngành xây dựng ở Việt Nam có những bước tiến đáng kể. Các giải pháp công nghệ thi công sàn hiện đại cũng được ứng dụng để đáp ứng yêu cầu trong xây dựng. Dưới đây là một số giải pháp đã được áp dụng rộng rãi và đã đóng vai trò quan trọng trong xây dựng.
Sàn liên hợp thép-bê tông cốt thép, là sàn sử dụng kết cấu thép liên hợp với bê tông cốt thép để chúng cùng tham gia chịu lực. Lớp bê tông được đổ tại chỗ trên lớp tôn thép định hình, lớp thép này còn đóng vai trò như cốt pha đáy khi đổ bê tông. Khi bê tông phát triển đến cường độ cần thiết, lúc này lớp bê tông phía trên sẽ làm việc đồng thời với tấm tôn thép định hình, hình thành nên kết cấu sàn liên hợp. Với cách này, sàn tận dụng được ưu điểm riêng của 2 loại vật liệu. Sàn được đỡ trên hệ dầm hoặc gác thẳng vào tường.
Ưu điểm của sàn là có độ cứng lớn, nên tăng độ ổn định cho công trình, sàn có khả năng vượt nhịp lớn, Giảm trọng lượng bản thân sàn so với sàn truyền thống, đẩy nhanh tiến độ thi công.
Bê tông ứng lực trước là bê tông thông qua lực nén trước, để tạo ra và phân bố một lượng ứng suất bên trong phù hợp, nhằm cân bằng với một lượng ứng suất do tải trọng ngoài gây ra. Ứng suất trước thường được tạo ra bằng cách kéo thép cường độ cao.
Trong cấu kiện bê tông ứng lực trước, người ta đặt vào một lực nén trước tạo bởi việc kéo cốt thép, nhờ tính đàn hồi, cốt thép có xu hướng co lại và sẽ triệt tiêu hoặc làm giảm ứng suất kéo do tải trọng gây ra. Từ đó tăng khả năng chịu kéo của bê tông. Sự kết hợp hiệu quả đó đã tận dụng được các tính chất đặc thù của hai loại vật liệu.
Sàn bê tông ứng lực trước là sàn được áp dụng theo nguyên lý này. Nhờ đó sàn có các ưu điểm: Tăng khả năng chịu lực, vượt nhịp lớn, hạn chế độ võng và vết nứt của sàn,
Sàn nấm là sàn bê tông cốt thép không có dầm, bản sàn tựa trực tiếp lên cột hoặc tường. Tại vị trí sàn tựa lên đầu cột ứng suất cục bộ rất lớn, dễ đâm thủng sàn. Để khắc phục, đầu cột được cấu tạo có tán như hình nấm để đỡ sàn, tán cột có thể là hình vuông, hình tròn, chữ nhật hay đa giác đều. Sàn nấm có mặt dưới phẳng nên nhìn thông thoáng, thẩm mỹ, thông gió và chiếu sáng tốt.
Tuy nhiên, sàn nặng nề, khả năng vượt nhịp không cao. Chiều rộng thích hợp với sàn nấm thường từ 4 đến 8m đối với bê tông cốt thép thường.

1.2. GIỚI THIỆU SÀN BUBBLEDECK
Sàn Bubbledeck là loại sàn sử dụng các quả bóng rỗng từ nhựa tái chế để thay thế phần bê tông không hoặc ít chịu lực ở giữa chiều cao tiết diện sàn. Ở bên trên và bên dưới của quả bóng được gia cường bằng các lớp lưới thép được tính toán cụ thể. Các quả bóng nhựa có vai trò giảm thiểu phần bê tông không cần thiết đối với khả năng chịu lực của kết cấu sàn, giảm nhẹ trọng lượng của sàn, cải thiện các khả năng cách âm, cách nhiệt.
Công nghệ này thi công không quá phức tạp, cho phép giảm 35% khối lượng bê tông so với sàn truyền thống. Từ đó góp phần giảm được trọng lượng tổng thể của công trình và tăng khả năng vượt nhịp. Sàn có khả năng chịu lực theo hai phương, không dùng dầm nên giảm chiều cao xây dựng mỗi tầng, cải thiện khả năng cách âm, cách nhiệt cho sàn.
Công nghệ lắp ghép, bán lắp ghép cho phép công xưởng hóa và cơ giới hóa các quá trình chế tạo, vận chuyển, lắp đặt nên thi công nhanh, sử dụng ít lao động, sản phẩm làm ra có độ chuẩn hóa cao. Do sử dụng các vật liệu tái chế trong sản xuất và thi công nên công nghệ này giúp giảm chi phí vật liệu và thân thiện với môi trường.
Công nghệ Bubbledeck đã được đề cử giải Môi trường Châu Âu dành cho sự bền vững, dành giải sáng tạo Jersey 2005 (sản phẩm mới thiết thực nhất). Đây là giải pháp sàn nhẹ chính thức được công nhận tại nhiều quốc gia ở Châu Âu và đã được cấp chứng nhận kỹ thuật Hà Lan CUR86, có giá trị tương đương với tiêu chuẩn xây dựng. Ngoài ra, công nghệ này còn đạt được nhiều giải thưởng danh giá như: Giải thưởng xây dựng Hà Lan 1999, giải thưởng môi trường công nghiệp Hà Lan 1999, giải thưởng sáng tạo Hà Lan 2000, giải thưởng xây dựng của năm, Đan Mạch 2004… Cùng với các giải thưởng ấy, Bubbledeck còn nhận những bằng sáng chế đã được công nhận trên thế giới: Bằng sáng chế Đan Mạch số 166462 do Patentdirektoratet Đan Mạch cấp, bằng sáng chế Châu Âu số: EP 0552201 do văn phòng cấp bằng sáng chế Châu Âu cấp, bằng sáng chế Hoa Kỳ số 5396747 do văn phòng cấp bằng sáng chế Hoa Kỳ cấp… Cùng với những giá trị đã được khẳn định ấy, trong 7 năm đầu tại Đan Mạch và Hà Lan, hơn một triệu m2 sàn Bubbledeck đã được ứng dụng thi công cho các tòa nhà cao tầng. [11]
Năm 2007, Bubbledeck đã có mặt tại Việt Nam với tên giao dịch: Bubble Deck Viet Nam Joint Venture Company và Việt Nam là quốc gia thứ 15 trên thế giới tiếp cận công nghệ này. Trong thời gian từ 2007 đến 2009, công ty TADITS đã đầu tư công sức để thử nghiệm thiết kế, thi công sàn Bubbledeck sao cho phù hợp với điều kiện tại Việt Nam. Với mong muốn đưa nhanh công nghệ sàn tiên tiến này vào thực tiễn xây dựng ở Việt Nam. Công ty TADITS đã cải thiện một số công đoạn trong chế tạo sàn Bubbledeck, cụ thể là thay thế phần bản bê tông dày 6cm trong thiết kế Bubbledeck loại B bằng lớp gỗ công nghiệp dày 18 – 20mm và sáng chế ra các chi tiết chuyên dụng khác cho phù hợp, để thực hiện công xưởng việc chế tạo loại Bubbledeck cải tiến này, được gọi tên là Cdeck. [6]
Nhờ cải tiến này, từ năm 2009 đến nay, Cdeck đã được ứng dụng trên 50 công trình, trong đó có công trình cao đến 45 tầng. Tính đến tháng 9/2011 đã có trên 30 công trình với diện tích sàn lên đến 300000 m2 được thi công thành công. Nhịp sàn lớn nhất đã thi công là sàn của giảng đường phật học tại chùa Lân, thiền viện Yên Tử vượt nhịp 21,6m, không dầm, không ứng lực trước, sàn dày 60cm.
Sáng chế này của TADITS đã được tác giả Jorgen Breuning thừa nhận là sáng chế phụ thuộc và cho phép phổ biến trong thực tiễn. Sáng chế này đã được tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO xét duyệt và đồng ý cấp bằng sáng chế quốc tế PCT. [6]

Hình 1.1: Khu giảng đường phật học chùa Lân, sử dụng công nghệ Bubbledeck
Sàn Bubbledeck được chia làm 3 loại:
+ Bubbledeck loại A.


Hình 1.2: Mô hình Bubbledeck loại A
Tấm Bubbledeck bao gồm lưới thép dưới, quả bóng và lưới thép trên, tạo thành những modun toàn khối ở công xưởng, sau đó vận chuyển đến công trường lắp đặt sau trên các tấm ván khuôn truyền thống và đổ bê tông toàn khối. Loại sàn này có tính toàn khối cao.
+ Bubbledeck loại B.
Là cấu kiện bán toàn khối, có phần dưới của quả bóng và lưới thép dưới được đổ bê tông tại nhà máy với chiều dày 6cm, phần bê tông đúc sẵn này thay thế ván khuôn sàn.
Tại công trình, sau khi lắp đặt cốt thép nối, thép gia cường, sẽ đúc toàn khối phần bê tông còn lại của sàn. Với cách này, tính toàn khối trong bê tông không cao, việc vận chuyển, cẩu lắp gặp nhiều khó khăn, dễ gây nứt tại liên kết giữa các tấm Bubbledeck.

Hình 1.3: Mô hình Bubbledeck loại B
+ Bubbledeck loại C.
Là các tấm Bubbledeck hoàn chỉnh, được đúc sẵn ở công xưởng rồi mới phân phối đến chân công trình. Loại này chỉ sử dụng cho các cấu kiện nhỏ như cầu thang, ban công.


Hình 1.4: Mô hình Bubbledeck loại C
Bên cạnh những ưu điểm vượt trội của 3 loại trên, thì vẫn còn tồn tại những nhược điểm cơ bản khi ứng dụng vào điều kiện thi công ở Việt Nam hiện nay, đó là:
– Đối với loại B và C. Việc cẩu lắp nặng nề, khó khăn, tốn kém, dễ xảy ra nứt đối với lớp bê tông đúc sẵn, tính toàn khối không cao, sự truyền lực qua các thanh thép nối giữa các tấm Bubbledeck chưa đạt độ tin cậy.
Đối với loại A. Việc cẩu lắp các mô đun lưới thép và bóng dễ mất ổn định, các công đoạn thi công còn mang tính thủ công, chưa thể hiện được tính công xưởng hóa và cơ giới hóa.
Để khắc phục được các nhược điểm ở trên, các chuyên gia Việt Nam đã cải tiến thành công và đã ứng dụng hiệu quả công nghệ này với tên gọi Cdeck. Cho đến nay, Cdeck dần khẳng định ưu thế về kỹ thuật và kinh tế tại Việt Nam.

Hình 1.5: Mô hình Cdeck ở Việt Nam
Ứng dụng cho nhà ở, văn phòng, căn hộ, villa, khách sạn, trường học, khu đỗ xe, bệnh viện, trường học, phòng thí nghiệm, …
Bảng 1.1: Các thông số cơ bản của các dạng sàn BD cơ bản [10]
| TT | Chiều dày sàn (mm) | Đường kính bóng (mm) | Số lượng bóng/m2 | Bê tông (m3/m2) | Cốt thép (Kg/m2) | Trọng lượng (Kg/m2) |
| 1 | 230 | 180 | 25 | 0.148 | 22.9 | 370 |
| 2 | 280 | 225 | 16 | 0.184 | 23.4 | 460 |
| 3 | 340 | 270 | 11.1 | 0.220 | 27.1 | 550 |
| 4 | 390 | 315 | 8.16 | 0.256 | 28.2 | 640 |
| 5 | 450 | 360 | 6.25 | 0.292 | 36.4 | 730 |
Hình 1.6: Khả năng chịu mô men của sàn Bubbledck
Đồ thị mô tả mối quan hệ khả năng vượt nhịp – chiều dày sàn, tương ứng với khả năng chịu momen cho từng cỡ sàn. Quá trình xác định nhịp lớn nhất mà Bubbledeck có thể vượt qua dựa trên tiêu chuẩn British standard BS 8100 và Eurocode 2. Có bổ sung hệ số 1.5 để kể đến việc giảm nhẹ bản thân sàn so với sàn đặc truyền thống.
Tỉ số giữa nhịp và chiều cao tính toán của tấm sàn L/d ≤ 30 đối với sàn đơn, L/d ≤ 39 đối với sàn liên tục, L/d ≤ 10,5 đối với sàn ngàm một phương.
Với cùng một khả năng chịu lực, sàn Bubbledeck chỉ sử dụng 50% khối lượng bê tông so với sàn đặc, hoặc cùng độ dày thì sàn Bubbledeck có thể chịu tải gấp đôi tấm sàn đặc nhưng chỉ sử dụng 65% lượng bê tông. Trong những vùng chịu lực phức tạp như khu vực quanh cột, vách, lõi có thể bỏ bớt bóng để tăng khả năng chịu lực của sàn.
Khi thiết kế chống uốn, bề dày của phần bê tông có ứng suất nén tập trung ở phần bê tông đặc, nằm giữa phần ngoài cùng của quả cầu và bề mặt tấm sàn. Đôi khi, với những tấm sàn chịu ứng suất lớn, khối ứng suất sẽ hơi lấn sang vùng quả cầu rỗng nhưng nó tác động không đáng kể đến khả năng chịu lực của sàn.
Theo Báo cáo của Đại học Công nghệ Eindhoven, Hà Lan [10], Bubbledeck được so sánh cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn với tấm sàn đặc. Nó hoạt động cũng tương tự như tấm sàn đặc về cả điều kiện trước mắt và lâu dài.
Theo báo cáo thử nghiệm của đại học kỹ thuật Darmstadt, Đức. [10], kết quả từ thí nghiệm thực tiễn so sánh với tính toán lý thuyết, giữa sàn đặc và sàn Bubbledeck cho thấy, sự thống nhất giữa lý thuyết và thực tế, sự chênh nhau về độ võng là rất nhỏ. Các nghiên cứu và thí nghiệm cho thấy, nếu như cùng khả năng chịu lực thì Bubbledeck có độ cứng chống uốn xấp xỉ 87% so với sàn đặc.
Bảng 1.2: Bảng so sánh một số tiêu chí giữa sàn BD và sàn đặc [10]
| Theo % sàn đặc | Bubbledeck so với sàn đặc | ||
| Cùng khả năng chịu lực | Cùng độ cứng chống uốn | Cùng thể tích bê tông | |
| Khả năng chịu lực | 100 | 105 | 150 |
| Độ cứng chống uốn | 87 | 100 | 300 |
| Thể tích bê tông | 66 | 69 | 100 |
Các báo cáo trên được trích từ các báo cáo ở hội nghị thường niên về bê tông và kết cấu bê tông, được tổ chức tại một số nước ở Châu Âu. [10]
Từ các kết quả thí nghiệm thực tế đã khẳng định cường độ chịu cắt phụ thuộc vào khối lượng hiệu dụng của bê tông. Khả năng chịu cắt đo được từ 72-91% so với sàn đặc. Để tính toán khả năng chịu cắt của sàn Bubbledeck, người ta đưa vào hệ số 0.6, sử dụng cho khả năng chịu cắt của tấm sàn đặc với cùng chiều cao. Điều này đảm bảo được sự an toàn, khả năng chịu lực của sàn.

Hình 1.7: Các quả bóng được bỏ bớt tại nơi các chân cột và tường
Tại những vị trí có lực cắt lớn như khu vực xung quanh cột, vách, lõi có thể bỏ bớt bóng để tăng khả năng chịu lực của sàn .
Dựa theo báo cáo thử nghiệm (“Biegung”) của đại học kỹ thuật Darmstadt, Đức. [10], khả năng chịu lực được xác định theo tỉ số a/d = 3.7 (Tỉ lệ giữa khoảng cách từ vị trí đặt lực đến gối tựa, chia cho độ dày của bản sàn). Khả năng chịu cắt xác định được bằng 72 – 78% khả năng chịu cắt của sàn đặc tương tự.
Báo cáo “Tối ưu hoá kết cấu bê tông”/ John Munk và Tomas Moerk – Đại học chuyên ngành kỹ thuật Horsens, Đan Mạch. [10], khả năng chịu cắt được xác định theo tỷ số a/d (khoảng cách từ vị trí đặt lực đến gối đỡ chia cho độ dày của bản sàn), a/d = 2.3. Sau đây là kết quả:
Bảng 1.3: So sánh khả năng chịu cắt giữa sàn BD và sàn đặc [10]
| Khả năng chịu lực cắt (theo % sàn đặc) | a/d=2.3 |
| Sàn đặc | 100 |
| Bubbledeck | 76 |
Theo Báo cáo của Cty Tư vấn kỹ thuật AEC/ Giáo sư M.P. Nielsen – Đại học Kỹ thuật Đan Mạch [6], khả năng chịu cắt trung b́ình xác định được bằng 91% so với tấm sàn đặc. Tiến hành thí nghiệm trên tấm sàn BD dày 230 hoặc 450mm. Không xảy ra hiện tượng chọc thủng cục bộ. Dạng vết nứt cũng tương tự như của sàn đặc.
Dựa trên báo cáo thử nghiệm (“Biegung”) của Đại học kỹ thuật Darmstadt, Đức. [10], khi a/d = 3.7, khả năng chịu cắt xác định được bằng 72 – 78% khả năng chịu cắt của tấm sàn đặc tương tự.
Khả năng chịu cắt của sàn Bubbledeck, so sánh với khả năng chịu cắt của sàn đặc theo phần trăm, được tóm tắc trong biểu đồ sau:

Hình 1.8: So sánh khả năng chịu cắt của sàn Bubbledeck
Theo báo cáo khoa học của Koning và Bienfait b.v.(Hà Lan), tiến hành thí nghiệm 3 mẫu Bubbledeck với 3 mẫu sàn đặc (cùng lượng cốt thép). Khả năng neo giữ ở cả 2 dạng sàn trên là như nhau. Đồng thời không có sự khác biệt về khả năng từ biến ở 2 loại sàn này.
Theo chứng nhận Đức số P-SAC 02/IV-065 theo DIN 4102-2, khuyến nghị thiết kế: Khả năng chịu lửa của Bubbledeck phụ thuộc lớp bê tông bảo vệ theo bảng sau:
Bảng 1.4: Tương quan giữa lớp bê tông bảo vệ và thời gian chịu lửa
| Ứng suất thép | Hệ số sử dụng thép | Khả năng chịu lửa (phút) | ||||
| 30 | 60 | 90 | 120 | 180 | ||
| 190 | 66% | 17mm | 17mm | 17mm | 17mm | 17mm |
| 286 | 100% | 17mm | 29mm | 35mm | 42mm | 55mm |
Theo báo cáo TNO cho toà nhà cao tầng Weena/ Rotterdam. [10], sàn Bubbledeck chiều dày 330 mm, lớp bê tông bảo vệ 2mm, có khả năng chịu lửa trong 60 phút. Sàn Bubbledeck chiều dày 230mm, lớp bê tông bảo vệ 35mm, có khả năng chịu lửa trong 120 phút.
- Khả năng cách nhiệt [10]
Các tính toán về khả năng cách nhiệt của Bubbledeck do một chuyên gia tư vấn năng lượng thực hiện đã chỉ ra rằng Bubbledeck hoạt động cách nhiệt tốt. Kết quả chứng minh rằng Bubbledeck có thể chịu nhiệt cao hơn 39% so với tấm sàn đặc tương đương có cùng chiều dày.
Bằng việc loại bỏ lượng bê tông ở thớ giữa bản sàn, Bubbledeck đã góp phần đáng kể vào việc tác động có lợi đến môi trường. Khi tiến hành xây dựng công trình, cần phải xem xét ảnh hưởng trực tiếp của công trình tới môi trường, bao gồm các tài nguyên được sử dụng, cũng như khí thải, rác thải, nước thải sinh ra từ quá trình thi công xây dựng.
Đối với công nghệ sàn Bubbledeck, cứ mỗi 10000m2 sàn, tiết kiệm được:
- 1100 m3 bê tông.
- 183 chuyến xe trộn bê tông.
- 2585 tấn lực truyền xuống móng.
- 420 tấn khí thải co2.
- Ngoài ra, còn phải kể đến sự hạn chế lượng rác thải do không gia công ván khuôn và cốt thép trên công trình.
Việc thi công công nghệ này có nhiều cách để thực hiện, tùy theo điều kiện thi công của từng địa phương, từng quốc gia mà ta có thể chọn phương án cụ thể cho phù hợp. Mỗi loại Bubbledeck sẽ có một quy trình thi công, tuy nhiên, nhìn chung không khác nhau mấy. Ở Việt Nam, hiện nay các nhà thầu chủ yếu sử dụng loại Bubbledeck đã được cải tiến và có tên gọi là Cdeck. Riêng trong luận văn này, tôi xin đề cập đến biện pháp thi công Cdeck trong điều kiện thi công ở Việt Nam. Sau đây là trình tự các bước:
Ván đáy của tấm Cdeck được tổ hợp từ các tấm ván gỗ công nghiệp có kích thước cơ sở 1,22 x 2,44m hoặc 1 x 2m . Chọn tấm ván đáy tấm Cdeck có chiều rộng 2,44m, chiều dài là bội số của 1,22m. Với kích thước này, tấm Cdeck vừa phù hợp với bề rộng của thùng xe tải vận chuyển, lại vừa phù hợp với kích thước của ván gỗ công nghiệp.
- Lớp lưới thép:
Lưới thép có chiều rộng tối đa là 2,43m, chiều dài theo yêu cầu của tấm Cdeck, hai lớp lưới thép đặt theo nguyên tắc thanh thép dọc của lưới thép nằm dưới, thép ngang nằm trên. Các thanh thép liên kết với nhau bằng nối buộc tại công xưởng. Đường kính, khoảng cách các thanh thép theo yêu cầu thiết kế.
- Lớp bóng nhựa:
Bóng nhựa được sản xuất từ nhựa tái chế, không có khả năng phản ứng hóa học với bê tông và cốt thép, không độc hại cho con người. Kích thước và chiều dày của bóng tùy thuộc vào yêu cầu cụ thể của từng loại sàn.
- Các chi tiết liên kết:
Chi tiết kê và neo: Liên kết lớp lưới thép dưới với ván đáy bằng thép lập là dày 2mm thông qua vít, đồng thời con kê đảm bảo chiều dày lớp bê tông bảo vệ.
Chi tiết sườn cứng: Sườn thép đặt dọc theo lớp lưới thép, sườn cứng liên kết lớp lưới thép dưới bằng mối hàn, liên kết với lớp thép trên bằng nối buộc, sườn có tác dụng định vị cốt thép trong kết cấu, đồng thời tạo sự ổn định cho tấm Cdeck trong quá trình vận chuyển, cẩu lắp. Khoảng cách các điểm hàn, vị trí các sườn, đặt theo thiết kế. Sự kết hợp tổng thể các liên kết: kê, neo, sườn cứng, cũng nhằm không cho các quả bóng bị đẩy nổi do lực đẩy Ác-si-mét trong quá trình đổ bê tông. Ngoài ra cần phải xem xét đến tác động xung kích của bê tông từ đầu vòi bơm.

– Kiểm tra chất lượng và số lượng các chi tiết bao gồm: Ván đáy, lưới thép, bóng nhựa và các chi tiết liên kết.
– Ghi mã số từng tấm tại các góc tấm ván của từng tấm Cdeck, kiểm tra số lượng và hình dạng các tấm Cdeck theo đúng sơ đồ lắp đặt.
– Đánh dấu vị trí móc cẩu khi cẩu lắp.
– Cẩu thử để kiểm tra độ ổn định tổng thể.
Các tấm Cdeck được xếp ở xưởng theo chồng, mỗi chồng cao tối đa 7 lớp, được cẩu nguyên chồng lên phương tiện, nhằm tạo sự ổn định cho các tấm Cdeck. Tấm Cdeck cẩu lên sàn xe, được kê trên các thanh gỗ tiết diện 80x100mm, 4 hàng theo chiều dài, tương đương với vị trí móc cẩu.
- Vận chuyển các tấm Cdeck
Vận chuyển trên xe tải, chiều cao của các tấm Cdeck phải phù hợp với quy định an toàn trong giao thông, thùng xe phẳng, xe chạy tốc độ vừa phải.
- Cẩu lắp cấu kiện Cdeck
Mỗi tấm Cdeck cần có 8 móc nâng, xếp thành 2 hàng song song, mỗi hàng 4 móc thông qua đòn treo, ở vị trí khoảng 1/5 chiều dài cấu kiện tính từ mỗi đầu vào. Móc cẩu phải được luồn qua điểm giao của sườn cứng và cốt thép lớp trên. Các đoạn cáp qua 8 móc nâng dài bằng nhau. Lưu ý rằng lực nâng như nhau cho từng điểm móc và cấu kiện luôn ở trạng thái nằm ngang trong quá trình cẩu lắp. Cần buộc dây điều khiển vào 2 góc đối diện để hướng cấu kiện vào vị trí trên xà gồ.
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN KY THUAT\LUAN VAN LOP K26 XDDD\TRUONG TUYEN NHAT damchiu cat



