Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị được ghi nhận trong một sốvăn bản chính trị – pháp lý của Liên hợp quốc bao gồm các vănbảnmang tính chất Tuyên ngôn như Hiến chương của Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước Quốc tế về các quyền Dânsự vàChính trị năm 1966.

Bấtkỳai cũngđượctựdo theo tôn giáo mình thích hoặc không theo mộttôn giáo nào. Theođạo, chuyểnđạohaybỏđạotrong khuônkhổcủa pháp luật hiện hành là quyền tự do của mỗi người. Nhà nước Việt Nam thừa nhận và đảmbảochomọicông dân có hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáođều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi; không có sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Các tôn giáođược nhà nước thừa nhậnđềubìnhđẳng trước pháp luật. Mọi người cần ý thức tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáocủangườikhác, đồngthời chốnglạinhững phầntửlợidụng tôn giáo chống lại giaicấpcông nhân, lợi ích dân tộc. Nhà nước chủ trương tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, bảođảmmọisinh hoạt tôn giáo bình thường trong khuônkhổpháp luật, nghiêm cấm những âm mưu lợi dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo.

Trước yêucầuquản lý nhà nước đốivớilĩnhvựctôn giáo; trước sựphục hồi, phát triển nhanh chóng, phức tạpcủa các tôn giáo và âm mưu lợi dụng tôn giáo, nhân quyền chống phá nước ta; trong khi đó pháp luật về tôn giáođã bộc lộnhữngbấtcập, yếukém, thiếu tínhđồngbộ, tính thống nhất, nhiều vấn đề phát sinh trong hoạt động tôn giáo chưa được pháp luật bổ sung, điềuchỉnh; chưa đápứngđược yêucầuquản lý nhà nước về tôn giáo trong tình hình mới… Những thiếu sót đó là một trong những nguyên nhân gây ra sự lúng túng, thiếu thống nhất khi xử lý đối với hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật, làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.

Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng dựa trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và căncứvàođặc điểmtín ngưỡng, tôn giáoở Việt Nam. Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, việc bảo vệ và phát triển quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo luônđược ưu tiên trong chính sách của Đảng và Nhà nước, trở thành một trong những vấn đề lớn thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành và cộng đồng quốc tế.

Tôn giáo có ảnh hưởng khá sâu sắc đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, tôn giáo tham gia thực hiện nhiều chức năngđốivớixãhộivừa mang những ưu điểm và hạn chế; để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tiêu cực, nhà nước cần phải quản lýhoạt động tôn giáo, đảm bảo cho những hoạt động tôn giáo diễn ra phù hợpsựphát triển chung của xã hội. Thời gian qua, việc quản lýnhà nước đối với hoạtđộng tôn giáo cho thấy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn một số tồn tại như hiệntượnghạnchế, thu hẹp, thậm chí vi phạm quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo; trong quản lý có nơi còn nóng vội, giảnđơnkhi giải quyếtvấnđềliên quan đến tôn giáo dẫn đến vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, làm giảm lòng tin trong bộ phận quần chúng có đạo về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước; có nơilạithụ động, buông lỏng quản lý dẫn

tớikỷ cương pháp luật không được giữ nghiêm; việc kiểm tra, giám sátvà xửlý các hành vi vi phạm quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo còn chưa kịpthời, chặt chẽ và kiên quyết. Nguyên nhân của tình trạng trên còn nhiều, nhưng chủyếulà do trongbộmáy nhà nước và ở ngoài xã hộichưa nhận thức đầyđủ, toàn diện về ý nghĩa,tầmquan trọng và vai trò của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chưa ý thức được sự cần thiết phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được pháp luật quy định.

2

Cầntiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước tiếp tục hoạch định và hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên các lĩnh vực khác nhau;đồngthờitạocơ sở pháp lýđể nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đấu tranh chống lại các thế lực lợi dụng tôn giáo, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế, xã hội.

Vớinhững lý do nêu trên, chúng tôi chọnđề tài“Quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làmđề tàiluận án tiến sĩchuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án a. Mục đích nghiên cứu của luận án

Trên cơ sởnghiêncứunhữngvấnđề lý luận pháp luậtvề tôn giáo vàthực trạng pháp luật về tôn giáo cũng như thực tiễn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đề xuất các giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay.

b. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để thực hiện được mục đích trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ sau:

+ Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về tôn giáo, vai trò của pháp luật về tôn giáo; tiêu chí hoàn thiện pháp luật về tôn giáo và các yếu tố bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

+ Đánh giá thực trạngbảođảmquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo dựa trên quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảngvà Nhà nước;những thành

tựu bảođảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.

+ Đánh giá thực trạng pháp luậtvề tôn giáoở Việt Nam hiện nay qua các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực tôn giáo hiện hành; phân tích, làm sáng tỏ thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo; trên cơ sở đó rút ra những ưu điểm, nhược điểm vàchỉ rõ nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế.

3

+ Làm rõ sự cần thiết khách quan phải đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay, nêu quanđiểmvà các giải pháp hoàn thiện.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu pháp luật về tôn giáo và công cụ pháp lýđể đảmbảopháp lý cho các tổchức, cá nhân tôn giáo trong hoạtđộngtôn giáo trêncả phương diện lý luận và thực tiễn. Các côngcụpháp lýđóđược thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực tôn giáo và gắn liền với việc thực hiện pháp luật về tôn giáo, về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyềntựdo không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; trongđónhấn mạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền với cuộc đấu tranh chống những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vìmục đích ngoài tôn giáo.

3.2. Phạm vi nghiên cứu – Phạm vi về không gian

+ Quốc tế: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người và được các quốc gia trên thế giới ghi nhận và đảm bảo. Luận án nghiên cứu quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dânđược ghi nhận tronghệthống pháp luật quốc tế như các công ước, điều ước quốc tế, kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới. Trong phạm vi này, tác giả sẽ phân tích nội dung, giới hạn của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các công ước quốc tế và thể hiện trong pháp luật của một số nước trên thế giới. Từ những nghiên cứu, sẽ làmcơ sởđể so sánh, đánh giá pháp luật, thực tiễn pháp luật Việt Nam trong việc đảm đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

+ Việt Nam: Pháp luật về tôn giáo có thể được nghiên cứu từ nhiều góc độ với những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi một luận án không thể nghiêncứu được hết các vấn đề đó. Luận ánnghiên cứu đề tài“Quyềntự

4

do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay” dướigóc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Những nghiên cứu cụ thể đượcđề cậptrong luận án được giớihạn nhằmhướng đến việc đảmbảoquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay.

+ Phạm vi về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu pháp luật và việc thực hiện pháp luật về tôn giáo trong giaiđoạnhiện nay từ thời điểm ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004) đếnthờiđiểmhiện tại. Bên cạnh đó, luận án cũng khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về tôn giáo ở Việt Namtừnăm 1945 cho đến trước khi ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo như một sự so sánh để thấy được bước tiến của pháp luật về tôn giáo.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cách tiếp cận nghiên cứu

+ Tiếpcậnchuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính: Phân tích, luận giải các vấn đề lý luận về tôn giáo, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.

+ Tiếpcậnliên ngành: Tiếpcậnvấnđềnghiêncứuquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật về tôn giáo dướigóc độ luậthọc, có sự phối hợp của nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn như khoa học lịch sử, xã hội học, tôn giáo học…

+ Tiếpcậnlịch sử: Quan điểm lịchsử cụthể được quán triệt trong quá trình nghiên cứu, đặc biệt xem xét mối quan hệ này qua từng giai đoạnlịch sửkhác nhau. Đồng thời, khi phân tích đánh giá từng mặt của mối quan hệ nàyđược quán triệt trong những bối cảnh lịch sử và những điềukiện cụthể nhìn nhậndướigóc độ logic phát triển.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài luận án“Quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay” sử dụng phương pháp tiếpcậnliên ngành. Đề tài dựa trên cơsở lý luận chính là học thuyết Mác – Lênin, tưtưởngHồChí Minh. Tham khảo học thuyết chủ quyền nhân dân, học thuyết phân chia quyền lực, lý luận

5

nhà nước và pháp luật; vận dụng cơ sở lý thuyết về phương pháp luận duy vật biến chứng, duy vật lịch sử, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo. Luận án còn sử dụng tổng thể các phương pháp nghiêncứunhư: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương phápđiềutra xã hộihọc, phương pháphệthống, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích -dựbáo. Nghiên cứu pháp luật quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và vấnđề bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo làm cơ sở đối chiếu, so sánh pháp luật bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế;đưa ra những giải phápbảo đảmquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay; cụ thể như sau:

Chương 1: Tácgiảchủyếusửdụng phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích. Qua thống kê và tổng hợp các công trình nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước về những vấnđềcó liên quanđếnnộidung luận án, tác giả phân tích những nội dung cơ bản trong các công trình nghiên cứuđóvà đưa ra đánh giá về tình hình nghiên cứu.

Chương 2: Tácgiả sử dụngphương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh để đưa ra các quan niệm, bản chất, đặc điểm, lịch sử hình thành và phát triển về quyền con người; Khái niệm pháp luật tôn giáo, khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm và bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Nộidung Quyền con người, Quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo; pháp luậtvềtôn giáo cũng như vai trò, nội dung, đối tượng điều chỉnh, các điềukiện đảm bảo củapháp luật về tôn giáo.

Chương 3: Tác giảchủ yếu sửdụng phương pháp lịchsửcụ thể, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh để đánh giá quá trình hình thành và phát triểncủapháp luật về tôn giáoở ViệtNam qua các giai đoạn lịch sử; thực trạng pháp luậtvềtôn giáoở ViệtNam hiện nay qua các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành,đặcbiệt đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về tôn giáo, từ đó chỉ ra những

6

hạnchế, bấtcậpvà nguyên nhân. Đồng thời, khái quát pháp luật về tôn giáoởmộtsố nướctrên thế giới để so sánh với pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam.

Chương 4: Luận ánsửdụng phương pháp phân tích -dựbáo, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịchsửvà phương pháp thống kê; làm rõ các quan điểm, chủtrươngcủaĐảng,Nhànướcvà những yêu cầuđặt ra từ đóđưa ra các giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Đâylà công trình chuyên khảo, nghiên cứu một cách toàn diện và cóhệ thống pháp luậtvề tôn giáo, về quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay. Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học của luận án:

Một là, làm sáng tỏ khái niệm, vị trí của pháp luật về tôn giáo trong hệthống pháp luật Việt Nam, làm sáng tỏ vai trò, đặc điểm, nội dung của pháp luật về tôn giáo. Đặc biệt, làm rõ những yếutố ảnh hưởng đến việc đảmbảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay.

Hai là, làm sángtỏthực trạngbảođảmquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo dựa trên quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; những nguyên nhân và hạn chế của thực trạng cũng như thực tiễn thực hiện quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Đánh giá những thành tựu bảođảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.

Ba là, luận án đưa ra hệ thống các quanđiểmvà giải phápđảmbảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay trêncơ sởphân tích sự biếnđổi của đờisống tôn giáo ở Việt Namdướitác động của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và cótính đến đặc trưng của hoạtđộng tôn giáo. Ngoài các giải pháp trước mắt, luận án chú trọng đến các giải pháp ở tầm chiến lược, lâu dài góp phần xây dựng luật tín ngưỡng, tôn giáo.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa khoa học

7

Luận án nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về tôn giáo. Kết quả nghiên cứu của luận án làm rõ những vấnđề lýluận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật về tôn giáo, một lĩnh vực cầncósựnghiêncứumộtcáchđầyđủởViệt Nam. Luận án cũng góp phần luận giải tính tất yếu và yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về tôn giáo.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam trong thời gian qua còn bộc lộ một số điểmhạnchế. Điều này xuất phát từ việc pháp luật về tôn giáo chưa thực sự đồng bộ, thống nhất và việc xã hội, nhà nước nói chung và ngành quản lý nhà nước về tôn giáo nói riêng do ảnh hưởngcủa nhữngyếutốlịchsửnênđôikhi còn có nhận thức chưa đúngvềquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Vì vậy, những kết quả nghiên cứu và những giải pháp của luận án cóýnghĩa đốivớiviệc đảmbảoquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo, hoàn thiện và thực hiện pháp luậtvề tôn giáoở Việt Nam hiện nay. Luận án còn cóthể được sử dụng làmtài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảngdạyvề khoa học pháp lý nói chung, pháp luậtvề tôn giáo nói riêng và cho ngành quản lý nhà nước về tôn giáo.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phầnmở đầu,kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo, phụlục, luận án gồm 4 chương, 11 tiết

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.

Chương 2. Cơ sở lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Chương 3. Thực trạngvề quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Chương 4. Những quanđiểmvà giải phápbảođảmquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay.

Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.1.1. Nhóm công trình nghiêncứunhững vấn đề chung về tôn giáo, chính sách, pháp luật về tôn giáo

1.1.1.2. Nhóm công trìnhđềcậpđếnthực trạng và thực tiễn áp dụng chính sách, pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.2. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.2.1. Những ưu điểm, những kết quảnghiên cứu mà Luận án sẽ tiếp tục kế thừa, phát triển

Từ các công trình nghiên cứu đến tôn giáo, chính sách, pháp luật về tôn giáo và nhận định khái quát về nội dung của các công trình nghiên cứu này, có thể thấy một số kết quả nổi bật như sau:

21

Thứ nhất, các công trình nghiêncứuđãkhái quátđượcđặcđiểm, tình hình tôn giáoở ViệtNam cũng như sự biến đổi của các tôn giáo ở Việt Nam dướisự tácđộng củabốicảnh quốc tế và khu vực. Theo các tác giả, đời sống tôn giáoở ViệtNam hiện nay có những biểu hiện tiêu biểu đáng lưu ý như: xu hướng gia tăng số lượng tín đồ các tôn giáo và sự phân bố lạibản đồtôn giáo; sự đa dạng trong hệ thống tôn giáo; hiệntượng cải đạodiễn ra mạnh mẽ, nhất là vùng dântộcthiểusố;việc tăngcườngxây dựnghệthốngtổchức hành chính đạo, kiện toàn đội ngũ nhân sự của các tôn giáo; xu hướng các tôn giáo ngày càng gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, hoà nhập sâu rộng vào đờisống kinhtế- xãhộiđấtnước;văn hoá tôn giáo ngày cànghộinhậpvớivăn hoádân tộc, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; cácthế lựcthù địch tăng cường lợi dụng vấnđềtôn giáo và dân tộc

đểchống phá cách mạng Việt Nam,v.v…

Thứ hai, các công trình nghiên cứuđãcho thấysự cầnthiết quản lý nhànướcbằng pháp luậtđối vớilĩnh vực tôn giáo. Quản lý nhà nước bằng pháp luật nhằmđịnh hướng, tạothuậnlợicho các tổ chức, tínđồtôn giáo hoạtđộng theo đúng tôn chỉ, mụcđích, hiến chương, điềulệcủacác tôn giáo phù hợp vớimụctiêu, lợiíchcủanhànước;khônglợidụng hoạtđộngtôn giáo xâm hạiđếnlợiích nhà nước, trậttựchung xãhộivàlợiíchhợpphápcủacông dân; phát huy giá trị tíchcựccủatôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứba, các công trình nghiêncứuđãkhái quát quá trình hình thành, phát triểncủachính sách tôn giáoởViệt Nam, nhất là phương diện quản lýnhànướccũng đượclàm rõ:từviệcsớmkhẳng địnhmô hình nhànướcthế

tụcvề tôn giáo, các nguyên tắc cơ bản khi giải quyếtvấnđềtôn giáo, cho đến xây dựng và hoàn thiệnhệthống pháp luậtvềtôn giáoởViệt Nam.Đồng thời, vạch ra những nétchủ yếutrong việc thực thi chính sách ấyở thựctiễnđờisống các tôn giáo trong giaiđoạncách mạng dântộcdânchủcũng nhưcách mạng xã hội chủ nghĩa.

22

Thứ tư, các công trình nghiên cứuđãđưa ra cái nhìn khái quát về sự ra đời và địa vị pháp lý của“luậtpháp về tôn giáo” ở châu Âu; các mối quanhệgiữa nhà nướcvớiGiáo hội;mốiquanhệgiữa luật pháp tôn giáo cácnước trên thế giới với luật pháp về tôn giáoở ViệtNam;đãđưara những nguyên tắctrong việc xây dựng luật pháp tôn giáo và có cái nhìn đối sánhvớipháp luật về tôn giáo ở Việt Nam.

Thứ năm, các công trình nghiên cứu đã khái quát sự hình thành và phát triển của pháp luật về tôn giáoở ViệtNam qua từng giai đoạn lịchsử và được đánh dấu bằng sự ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật.

1.2.2. Về những vấn đề còn chưa được giải quyết thấu đáo hoặc cần phải tiếp tục nghiên cứu

Nghiêncứuquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luậtvề tôn giáo trong những nămgầnđâyđã được các nhà nghiên cứu, các cơ sở nghiên cứu khoa học và các cơ quan quản lý quan tâm. Tuy nhiên, trong các công trình nghiêncứu được công bố mớichỉ dừng lại ở việc phân tích khái quát sự đổi mớivề đườnglốivà chính sách tôn giáo của Đảngvà nhà nước ta, còn việc nghiên cứu trên phương diện lý luận; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước vềtôn giáo chưa được chú trọng. Việc nghiên cứu pháp luật về tôn giáo chủ yếu chỉ khái quát và điểmlạinhững văn bản quy phạm pháp luậtđiềuchỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực tôn giáo đã được ban hành từ năm 1945 đến nay. Đã cómộtvài công trình là luận án tiến sĩ và thạc sĩ nghiêncứuvề việc hoàn thiện pháp luậtvề tôn giáoở nước ta và cómộtvài bài nghiêncứuviết trên

tạpchí có nói về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng cho đến nay, thực tiễn quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo cũng như pháp luật về tôn giáo có nhiều thayđổi, vì vậy, việc tiếp tục nghiêncứunhữngvấnđề lý luận và thực tiễn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay là thực sựcầnthiết. Luận án sẽ tiếp tục tập trung vào khoảng nghiên cứu còn trống sau:

Về lý luận: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bảncủa con người, tuy nhiên việc tiếpcậnquyền conngườitrongđócó

23

quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như là một yêucầucủa quá trình hoàn thiện pháp luật về tôn giáo chưa có công trình nàođề cập một cáchcụ thể. Từ cách tiếp cận dựa trên quyền, luận án phân tích rõ pháp luật về tôn giáo là công cụđể bảovệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọingười và là môi trường pháp lý thuận lợi để nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

– Quan niệm pháp luật về tôn giáo chưa thống nhất, lập luận khoa học cho các quan niệm trênđược đưa ra còn sơ sài; vì vậy, nhiệmvụđặtra cho luận án là: trên cơ sở phân tích một cách khoa học các quan niệm trước đây vềpháp luật tôn giáo để đưa ra quan niệm của mình và đặc biệt nhìn nhận vị trícủa pháp luật về tôn giáo trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Phân tích vai tròcũng như đặc điểm và chỉ rõ nội dung điều chỉnh của pháp luật về tôn giáo.

-Về đặc điểmcủa pháp luậtvề tôn giáo:vớiviệc kế thừa các nghiên cứu đã được thực hiện, luận án cần triển khai thêmmột bướcđể làmrõ nhữngđặc điểmcủa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bổ sung những đặc điểm mới chưa được đề cậptrong các công trình nghiêncứutrước. Mộtvấnđề khác cũng đã được nhà nghiêncứu đề cập nhưngmớichỉ ở mức độkhái quát mà chưa làm rõđược phápluật về tôn giáo không phải điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội trong hoạt động tôn giáo, đối với hoạt động tôn giáo thuần túy, pháp luật không can thiệp và các tín đồ, chức việc, chức sắc các tôn giáo thực hiện theo Hiến chương, Đạoquy, giáo lý, giáo luật của mình. Vìvậyluận án cần phải làm sáng tỏ vấnđề này ở mức cần thiết.

– Mặc dùđã có những công trình nghiêncứuvề quyền con người, quyền công dân, nghiêncứuvề pháp luật tôn giáo, mộtcôngcụđể đảmbảo quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo của mọingười, nhưng phân tích và làm rõthực trạngđảmbảoquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo và đưara những giải phápđể đảmbảoquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thì chưa được đề cập. Vì vậy, luận án đặt ra nhiệm vụ cần phải nghiên cứu các yếutố tác động đến việcđảmbảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực trạng thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; trên cơ sở xác định các nhântố ảnh hưởng đếnquá trình

24

điều chỉnh, đảmbảovà thực hiện pháp luật về tôn giáo hiện nay, luận án đưa ra những giải phápđảm bảoquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay.

Về thực trạng: Quá trình xây dựng và phát triển pháp luật về tôn giáo qua các giaiđoạnlịchsửcủa nhà nước ta, qua các bảnHiến pháp cũngsẽđược luậnán xem xét cho việc nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật hiện hành được toàn diện.

Các nghiêncứuđược thực hiệnđã đề cậpmộtcách khái quátvề các quy định của pháp luật hiện hành về tôn giáo cũng như thực trạng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên việc phân tích nguyên nhân của những thành

tựu và hạn chế của các quy định pháp luật cũng như việc thực hiện pháp luật về tôn giáo chưa được nhìn nhận một cách có hệ thống. Vì vậy, luận án sẽ tiếp tục tìm hiểu thực trạng pháp luậtvề tôn giáo cũng như thực tiễn thực hiện quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo và phân tích rõ nguyên nhân cũng nhưnhững thành tựu và hạnchế để làmcơ sở cho việc đề xuất các giải phápđảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Về giải pháp: Trên cơ sở lý luận cũng như thực trạng pháp luật về tôn giáo và thực trạng thực hiện quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo, luận án cónhiệm vụ đưa ra các giải pháp đảmbảoquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay.

1.3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.3.1. Cơ sở lý luận

Pháp luật về tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề mới và phức tạp, chưa có sự nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này. Vì vậy, để cónhận thức đúng đắn về vấn đề này, luận án sử dụng cơ sở lý thuyết như sau:

– Các quanđiểmcủa chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất, sự phát sinh và phát triển của tôn giáo; thái độ của đảng mác xít với các tôn giáo và quanđiểmvề nhà nước và pháp luật; một số lý thuyết trong nghiên cứu tôn giáo vàluật pháp được sử dụng như lý thuyết xã hội học tôn giáo, luật học so sánh.

25

– Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, đặc biệtlà nhữngdấuấncủa ChủtịchHồChí Minh trong việc xây dựng pháp luật về tôn giáo.

– Các quan điểm của Đảng, Nhà nước trong cách nhìn nhận, phân tích cácvấnđềtôn giáo, tôn trọng và bảođảmquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, sựhình thành và phát triển của pháp luậtvề quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ 1945 đến nay.

– Dựa vào lý thuyết xã hội học thực hiện pháp luật để phân tích thực tiễn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; luận án đặc biệt coi trọng các phương pháphệ thống, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh pháp luật, dựbáo để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn ở trong và ngoài nước; thông qua các điềukiện, hoạtđộngthực hiện pháp luật như cácđiềukiện chung, chuyên môn và cá nhân nhằm đánh giá quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật về tôn giáo, thực trạng những thành tựu và hạn chế và chỉra những nguyên nhân của thành tựu và hạnchế đóđể làm cơ sởcho việc đề xuất các giải pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

1.3.2. Hướng tiếp cận nghiên cứu

Trên cơ sở tậphợp, hệ thống các công trình nghiêncứucó liên quanđến đề tài luận án đã được thu thập, luận án sẽ kế thừa có chọn lọc trên cơ sởphân tích, đánh giá các kếtquả nghiêncứuđó. Từđó, đưa ra những quanđiểm của mình về vấn đề nghiên cứu.

– Phương pháp nghiêncứuvănbảnhọckhi tiếpcậncác khái niệm, thuật ngữ liên quan đến tôn giáo và luật pháp; phương pháp so sánh để tìm sựtương đồng, khác biệt và sựtác độngqualạigiữa luật phápvề tôn giáo của một số quốc gia với luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam từ đó rút ra những kinh nghiệmcầnthiết; phương pháp nghiêncứulịch sử, đặtsựphát triểncủatôn giáo và luật phápvềtôn giáo trong dòng chảy của lịch sử, đồngthời nhìn nhận những biến cố lịch sử xã hội – tôn giáo như là nguyên nhân căn bản tácđộng tới tiến trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tôn giáo; phương pháp

26

tổng hợp, thống kê giúp tác giả nắmbắtnhững giữ liệu về tình hình tôn giáo, thực trạng thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp và có liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam.

– Cùng với việc nghiên cứu trực tiếp các quy định pháp luật hiện hành về tôn giáo, các bản Hiến pháp của nước ta qua các thời kỳ, luận ánsẽ xem xét quá trình thực hiện những quy định này trong thực tiễn để từ đó có nhữngđánh giá toàn diệnvề các quyđịnhcủa pháp luật, làm tiềnđề cho các giải pháp cụ thể trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

1.3.3. Khung phân tích để làm rõ lý thuyết

Vớimục đích làm sâu sắc thêm pháp luậtvề tôn giáocả vềphương diện lý luận và thực tiễn, tác giả cần làm rõ vai trò cũng như những đặc điểm và nộidung của pháp luậtvề tôn giáo. Từđó, làm cơ sở để soi chiếu thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về tôn giáo, những thành tựu, hạn chếvà chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó. Để giải quyếtđược vấn đề này, tác giả đặt ra giả thuyết như sau:

Hệ thống pháp luật về tôn giáoở ViệtNam hiện nay đã khá hoàn thiện cơ bảnđápứngđượcnhucầucủa cuộc sống, song trước sựbiếnđổicủa xãhội, của đờisống tôn giáo đã bộc lộ một số điểmhạnchế, bất cập nhất định do một số quy định thiếu cụ thể, không còn phù hợp với thực tiễn và một sốnội dung mới phát sinh trong hoạt động tôn giáo nhưng chưa có quy định điều chỉnh; ngoài ra, do nhận thức và cơ chế phối hợp giữa các ngành trong quản lý nhà nước về tôn giáo nên việc thực hiện pháp luật tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vẫn còn những hạn chế cần khắc phục.

Từ đó, tác giả nghiên cứu và giải đáp có hệ thống các câu hỏi như sau:

1. Tín ngưỡng, tôn giáo là gì? Giớihạnvà nộidung quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo? Pháp luật về tôn giáo? Vaitrò, đặc điểmvà nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo?

27

2. Thực trạng và thực tiễn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáoởViệt Nam từ khi ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004) cho đến nay; quy định của pháp luật về tôn giáo? Thực hiện pháp luật về tôn giáo?

3. Tính tấtyếuhoàn thiện pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam? Các giải phápđảmbảoquyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay cho mọi người và tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thực hiện quản lýnhà nước về hoạt động tôn giáo.

Tiểu kết chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật về tôn giáo là một vấnđề mớivà đã được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên việc tiếp cận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như là một yêu cầucủa quá trình hoàn thiện pháp luật về tôn giáo chưa có công trình nàođềcậpmộtcáchcụthể; các nghiêncứuđược thực hiệnđã đề cậpkhái quátvềcác quy định của pháp luật hiện hành về tôn giáo; việc phân tích nguyên nhân của những thànhtựuvà hạnchế của các quyđịnhpháp luật cũng như việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật về tôn giáo chưa được nhìn nhậnmộtcách cóhệ thống. Vì vậy, việc đánh giá thực trạng cũng nhưthực tiễn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều điểm không còn cập nhật với thực tế. Nghiên cứu quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như một cơsở nền tảng để xâydựng và hoàn thiện phápluật chưa được đề cập, đặc điểm, nội dung của pháp luật về tôn giáo đã được đề cập nhưng chưa thật rõ.

Từ những nội dung đã được đề cập hay còn bỏ trống kể trên, luậnán sẽtậptrung xem xét, luận giải và làm sángtỏcảvềlý luận và thực tiễn trong những chương tiếp theo. Để giải quyết các vấn đề đó, ngoài các phương pháp nghiên cứu và tiếp cận truyền thống, luận án còn sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành.

28

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

2.1.1. Khái niệm

2.1.1.1. Khái niệm tín ngưỡng

Vấnđề tín ngưỡng, hiện nay giới khoa học xã hội còn đang có nhiều ý kiến khác nhau khi nói tới khái niệm tín ngưỡng, bởi chúng có mối liên hệ và sự chuyển hóa trong những bối cảnh nhất định. Từ cổ xưa, khi con người xuất hiện thì cuộc sống của họluôn phảiđấutranhđể sinhtồnvà phát triển;họ

phảiđấutranhvớithiên nhiên (thời tiết, khí hậu, thiên tai, thúdữ…), đấu tranh giữa cá thể vớicá thể, vớicộngđồngngườitrongmộtxã hộiđầytrắc

trở… Những hiệntượngthiên nhiên (nhưsấmchớp, bãotố,nước, lửa…), những hiện tượng xã hội (người giàu, kẻ nghèo, người tốt, kẻ xấu, người làm

vua, kẻăn mày,…) họkhông thể giải thíchđược. Từđóconngườiđã suy nghĩ những hiện tượng thiên nhiên, bản thân con người, xã hội là do có những “đấngsiêu nhiên” tạora, mình phải cầu, cúng những“đấngsiêu nhiên” tác độngcho đời sống con ngườiđược tốthơn. Nhưvậyniềm tin vàomộtđấng siêu nhiênđã hình thành ngàymộtlan rộng tronghầuhếtcộngđồngngười trên thế giới; đó chính là tín ngưỡng.

TheoTừ điểntiếng Việt phổ thông, tín ngưỡng nghĩa là lòng tin và sựngưỡngmộmộttôn giáo haymộtchủnghĩa nào đó. Nhìn chung, đa sốcác nhà nghiêncứuđềucho rằng: tín ngưỡng có hai nghĩa. Nghĩa rộng, tín ngưỡng phản ánh niềm tin và sự ngưỡng mộ, sùng kính của con ngườivề một chủthuyết, mộtlực lượngnào đó. Tín ngưỡng tôn giáochỉlà mộtdạng của tín ngưỡng nói chung. Theo nghĩa hẹp, tín ngưỡng là đức tin, niềm tin vào lực

29

lượng siêu nhiên, là một bộ phận cấu thành chủ yếu của tôn giáo. Cơ sở của tín ngưỡng là niềm tin, sựngưỡng vọng của conngườivào những cái “siêu nhiên” (hay nói gọn lại là “cái thiêng”) – cái đối lập với cái “trần tục”, cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được.

Cóngườiđồngnhất tín ngưỡngvớitôn giáo, cóngườilạicoi tín ngưỡngnằmdướitôn giáo trong bậc thang phát triển; tín ngưỡng mang tính dân gian, gắnvớisinh hoạt văn hóa dân gian; trong tín ngưỡng cósựhòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ và nghilễ còn phân tán, không có những quy định chặt chẽ; tín ngưỡng thường không có tổ chức hoặc cótổchức ở dạng sơ khai nhất; tín ngưỡng cũng không cóhệ thống giáo lýmà chỉcó các vậtđược tôn thờ bao gồm: hiệntượngthiên nhiên (mưa bão,

sấmchớp, lũ lụt,…),vậtthể (nước, lửa, bến nước, núi non, sông biển,…), con

người(ngườiđã mất, ngườicó côngvớiđấtnước, vớidân, siêu nhân,…),

nhânvậtsiêu thực (thần thánh, tiên, thượngđế,…);khi nóiđếntín ngưỡng thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một cộng đồng người.

Cũng bàn về khái niệm tín ngưỡng, PGS.TS Nguyễn Đức Lữ cho rằng “Tín ngưỡng chỉ là niềm tin, đức tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng của con ngườivào cái gìđómà ngườita cho là siêu phàm, là caocả và đẹpđẽ”[9, tr.30].

Theo tác giả Phương Anh thì“Tínngưỡng là niềm tin và sựngưỡng vọng về một lực lượng tiên thiên, tuyệt đối hay thần thánh nào đó. Lực lượngđócóảnhhưởngđếnhành vi của ngườitin theo, hoặc có thể chi phốiđến hành vi nhưng ở một giới hạn nhất định” [2, tr.15].

Từ những nhận định như trên, có thể định nghĩa khái niệm “tín ngưỡng” mộtcách khái quát như sau: Tín ngưỡng là niềm tin, làsựngưỡng mộvào các đấngsiêu nhiên hay những người được cho là thần thánhởthếgiới siêu thực, cósứcmạnh tác động vào đời sống hiện tại của con người nênđược tôn thờ.

2.1.1.2. Khái niệm tôn giáo

30

Theo từ điển tiếng việt (Viện ngôn ngữ – 1996): Tôn giáo là hình tháiýthức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng những lực lượng siêu nhiên cho rằng những lực lượngsiêu nhiên quyếtđịnhsốphận con người, conngườiphải phục tùng và tôn thờ. Tôn giáonảysinhrấtsớm, từtrong xã hội nguyên thủy. Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng hay những vị thầnlinh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái nào đó.

Theo từ điển Tôn giáo (2001 – Marguerite Mariethiollier): Tôn giáo bao hàm một mặt, sự tìm kiếmsự thậtvề nguồn gốc của thế giới và của con người và những quanhệ của nóvớithần thánh. Mặtkhác, mộttậphợpnhững tín ngưỡng, một nhu cầu thương yêu và xúc cảm, một quan hệ hài hòa giữa vũ trụvi mô và vũ trụ vĩ mô, nó là sựthể hiện của cái thiêng và sựtổchức những nghi thức cá nhân và xã hội.

Nhà triết học duyvậtsiêu hìnhcổHiLạpDemocrite (460BC-370BC)đã xem tôn giáo phát sinhtừniềm tin và sựsợ hãi của con người, ông viết:

“Conngườithường rơi vào hoàn cảnh khó khăn, họkhó có thể khắc phục được, họ dao động giữa niềm tin, hy vọng và sự sợ hãi. Con ngườicần có sựgiúp đỡ. Còn theo nhà triết học Hà Lan Baruch Spinoza (1632-1677) thì tiếp cậntôn giáo ở khía cạnh tâm lý con người, ông viết: “Các điều kiện sống thực

tế đã hình thành trạng thái tâm lý nhất định. Khi con người lâm vào hoàn cảnh khó khăn, bế tắc, không tìmđược cách giải quyết thìhọtin vào hiện tượng thần thánh cứu giúp họ”. Còn nhà triết học duy vật người Anh Bettrand Rusell (1872-1970) cho rằng tôn giáo hình thành bởi ba nỗi sợ hãi của con người: sợthiên nhiên, sợ con ngườivớinhau và sợ chính bản thân mình. Nhà triết học duy tâm biện chứngnổitiếng HegelngườiĐức Geogre Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831)đã dựa trên suy luậntừtôn giáođểhình thành“tưtưởng triết học Hegel” ông cho rằng Thượng Đế là sự thể hiện cao nhất của lý tính hay nói cách khác Thượng Đế chính là tinh thần tuyệt đối.

Vớicách nhìn tôn giáotừgóc độtư tưởng, triết học của các nhà kinhđiển Mác – Lênin. Các định nghĩa “Tôn giáo là tiếng thờ dài của chúng sinh bị

31

áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trậttựkhông có tinhthần” [134, tr.570]. Ph. Ăng-ghen cho rằng: “tấtcả các tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào đầu óc của conngười-củanhữnglực lượng ở bênngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ;chỉlà sựphản ánh trongđónhững lực lượngtrần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [135, tr.437].

Gầnđâymột số nhà nghiên cứu tôn giáo Việt Nam cũng đưa ra những lý giải hoặc chia sẻ quanđiểmcủa mìnhvề tín ngưỡng, tôn giáo. Từđiển tiếng Việt, xuấtbảnnăm 1992, đưa ra địnhnghĩa “Tôngiáo là hình tháiýthức xã hộigồmnhững quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượngsiêutựnhiên, cho rằng những lực lượngsiêutựnhiên quyếtđịnhsốphận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ”. Giáo sư Đặng Nghiêm Vạntrong sách Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam, xuất bảnnăm 1998 cho rằng:“Tôngiáo là thế giới siêu nhiên vô hình được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lạihư ảogiữa con người và thế giớiđó nhằmlý giải những vấnđề trêntrần thế, cũng như ở thế giới bên kia trong những hoàn cảnh lịch sử, địa lý khác nhau, của từng cộng đồng tôn giáo hay xã hội khác nhau” [109, tr.42]. Năm 1997, trong một nghiên cứu, Phó Giáo sưNguyễn Văn Kiệm cho rằng làmộttôn giáo phảihộiđủcácđiềukiện như:

“Một niềmtin vào đấng siêu nhiên có vai trò quyết định đối với vận mệnh của con người trong cuộc sống hiện tại cũng như cuộc sống bên kia; một hệ thống lễ nghiđôikhiđơngiản, đôikhi phức tạp, cầukỳnhằm giúp tínđồthường xuyên gắn bó với niềm tin; một tổ chức nhân sự ít nhiều quy mô về hệ thốngđiềuhành việc hànhđạocủa tínđồ;hệthống luân lýđạođức chongườitu hành, đây là thành tố được coi là quan trọng nhất” [2, tr.11].

Trong các quy phạm phápluật điềuchỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực tôn giáo ở nước ta chưa cóbấtcứmột văn bản nào giải thích khái niệm, kể cả trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo là vănbảncó giá trịpháp lý cao nhấtđiềuchỉnh trực tiếp lĩnh vực tôn giáo, phần giải thíchtừngữ, khái niệm tôn

32

giáo vẫn bị bỏ ngỏ; do việc giải thích khái niệm tôn giáo khá phức tạp, thậm chí khó có thể thống nhất, nhưng để có một khái niệm làm công cụ cho việc nghiêncứuquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay, chúng tôisửdụng khái niệm tôn giáo theo nghĩa:“Tôn giáo là tín ngưỡng của những người cùng chung một tổ chức, có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và được Nhà nước công nhận”.

2.1.1.3. Khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Tự do tôn giáo, một giá trị tư tưởng của loài người, được hình thành ở Châu Âu với các cuộc cách mạng tư sản thế kỷ XVII – XVIII. Những nhà tưtưởngnhư John Locke (1632-1645), J.J.Rousseau (1712-1778) đã góp phần

tạora lý thuyếtvề một nhà nước chỉcăncứvào nhucầuvà đòi hỏicủa con ngườivào các “khếướcxã hội” mà thôi, chứkhông còn tựa vào những nguyên tắc tôn giáo nữa [75, tr.20]; đã đặt ra nền móng cho quyền tự do tôn giáo khi cho rằng, tôn giáo là vấn đề của cá nhân hơn là của xã hội và vai tròcủa Nhà nước không phải là khuyến khích tôn giáo mà trái lại, là bảovệ quyền của mỗi cá nhân sở hữu niềm tin của họ.

Trong tiến trình vận động của lịch sử, quan niệm về tự do tôn giáo dần trở lên hoàn thiện hơn: Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 đề cập đến tựdo“tấtcả mọingườisinh ra đềubình đẳng, rằngtạohóa chohọnhững quyền không ai có thể xâm phạmđược;trong những quyềnấycó quyềnđược sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [125, tr. 96], song chưa nói cụthể về tự do tôn giáo; sự đóng góp của Đại cách mạng Pháp năm 1789 vàcách mạng tư sản Châu Âu đã có vai trò rất lớn trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội; cuộc cách mạngấyđã tạora mộtquyền lực bằng chínhchủthể con người. Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789 của Pháp, tạiđiều1 có quyđịnh“mọingườisinh ra và sốngtựdo và bìnhđẳng về các quyền” [125, tr.112] và quy định “không ai có thể gây phiền hàdo có ý kiếnkểcả tín ngưỡng này khác, miễn là không có biểu hiện gây rối trật tự công cộng do luật pháp quy định” [125, tr.114], song cũng chưa nói rõ

33

về tựdo tôn giáo. Năm 1905, Luật Phân lynổitiếng của nước Pháp có nói đến quyềntựdo lương tâm và quyền thực hành thờ phụng (điều 1) với“hạn chế duy nhất là phải đảmbảolợiích côngcộng”, Luật Phân ly có đóng gópđặc biệt quan trọng vìđã tìm ra mô hình thỏa ước đã khẳng định ba nguyên

tắc cơ bản đó là; tách giáo hội khỏi nhà nước, tách nhà trường – hệ thống giáo dục ra khỏi giáo dục nhà thờ và coi tôn giáo là việc cá nhân của mỗi người.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong văn bản luật quốc tế về tôn giáođược ghi nhận từ rất sớm trong các văn kiện luật nhân quyền quốc gia và quốc tế. Ở cấp độ quốc gia, có thể kể đến Luật của Rhode Island 1647 và Hiệp ước Hòa bình Augsburg 1555 với những quy định liên quan đến “quyềnđược thừa hưởng về tự do tôn giáo”. Ở cấp độ quốc tế, quyền này được khẳng định ngay

trong văn kiện quốc tế đầutiênvề nhân quyền là Tuyên ngôn Thế giớivề nhân quyền năm 1948; Điều 18 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948địnhnghĩa quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo như sau:“Mọingườiđều có quyềntựdo tư tưởng, tựdo tín ngưỡng và tôn giáo; quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo và niềm tin, cũng như quyền tự do biểu hiện tôn giáo hay niềm tin của mình, một mình hay cùng chung nhau, ở nơi công cộng hayở nơi riêng tư, bằng thuyết giảng, tụclệ, thờ cúng và làm các nghilễ” [125, tr.152]. Cũng theo khoản 1 Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền Dânsựvà Chínhtrịnăm 1966 nêu khái niệm quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo: “Mọi người đều cóquyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong tập thểvới nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờcúng, cầu nguyện, thực hành và giảng đạo” [125, tr.242]. Liên minh châu Âu (EU)hiểu tựdo tín ngưỡng và tôn giáo theo điều 9 và điều10 Hiến chương châu Âu về quyền con người (ECHR), cũng như theo “truyền thống hiến pháp

chung cho các thành viên” (điều 6.3 EU), sẽ được chỉ rõ trong đối thoại giữa cấpđộ quốc gia và cấp độ châu Âu. Theo điều 9.1 Hiến chương châuÂu về

34

quyền con người, sauđóđược tái khẳngđịnhtạiđiều10 Hiến chương châuÂu về nhân quyền “mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo; quyền này bao gồm cả tự do thay đổi tôn giáo hoặc tín ngưỡng, và tự do bàytỏtín ngưỡng hoặc tôn giáomộtmình hoặc trong cộngđồngvớinhững ngườikhác, công khai hoặc kín đáo, dướicác hình thức nhưcầunguyện, truyền giảng, thực hành và thực hiện nghilễtôn giáo”; theođiều10, Hiến chương châu Âuvềcác quyền cơ bản, “quyềntựdo lương tâmđược công nhận, phù hợp với pháp luật quốc gia điềuchỉnh việc thực hiện quyền này”; Liên minh châu Âu hiểu tự do tín ngưỡng, tôn giáo một cách rộng rãi như vậyđể bao gồm đa số hiệntạicủa các định nghĩa trong các quốc gia. Ví dụ điều 19 của Hiến phápBỉnăm 1970, căncứvào Hiến pháp năm 1831, đảmbảo

rằng“tựdo tôn giáo, thực hành công khai và tựdo thể hiệnýkiến của một người trên tất cả các vấn đề được đảmbảo, nhưng hành vi phạm tội khi tự do nàyđược sửdụng có thể bịtrừngphạt”,trong khiđiều20 quyđịnhrằng “không ai có thể có nghĩa vụ đóng góp trong bất kỳ cách nào với các hành vi và nghi lễ của một tôn giáo hoặc thực hiện các ngày nghỉ ngơi”.

Điều19, Hiến phápÝnăm 1948bảovệ tựdo tín ngưỡng, tôn giáoởchừng mực “bấtcứai cũng có quyền tự do tuyên xưng niềm tin tôn giáo của họ dướimọi hình thức, với tư cách cá nhân hoặc với những người khác, và để thúc đẩyhọvà tôn vinh nghi thức ở nơi công cộng hoặc riêng tư, miễn là chúng không gâyhạicho đạo đức xã hội”. Điều4, Luật Cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949 quy định rằng “tự do của đức tin, của lương tâm và tự do tín ngưỡng, tôn giáo hay ý thức hệ, sẽ bất khả xâmphạm”. Điều16 của Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978 đảmbảorằng “tự do tư tưởng, tôn giáo vàgiáo phái của các cá nhânvà cộng đồng được đảmbảokhông cóbấtkỳ giới hạn trong các cuộc tuần hành của họ trừ khi đó là cần thiết để duy trìtrật tựcông cộng được bảo vệ bởi pháp luật”. Hiến pháp của Vương quốc Anh định nghĩa tự do tín ngưỡng, tôn giáo dựa trên sự kết hợpcủa điều9 Hiến chương châu Âu về quyền con người thông qua đạo luật Nhân quyền năm 1998.

35

Từ các định nghĩa pháp lý của tự do tín ngưỡng, tôn giáo, các cơ quan của Liên minh châu Âu đã phát triển thêm khái niệm về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, với các mô tả được cung cấp bởi Hội đồng Liên minh châu Âu vào năm 2009 và nhắc lại trong “hướng dẫn” năm 2013: “Tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo, hay tín ngưỡng, áp dụng đồng đều cho tất cả mọi người. Đó là tự do cơ bản baogồm tấtcả các tôn giáo hay tín ngưỡng, bao gồm cả những gì đãkhôngđược thực hành truyền thống trongmộtquốc gia cụthể, niềm tin của những người thuộc các tôn giáo thiểu số, cũng như niềm tin tôn giáo vô thần và người vô thần. Tự do bao gồm quyền thực thi, thay đổi hoặc từ bỏ tôn giáo hay tín ngưỡng của một người, của ý chí tự do của chính mình”.

Ở châu Á, Trung Quốc là một nước có nhiềuđiểmtương đồng với Việt Nam cả về văn hóa, phong tục tập quán lẫn thể chế chính trị. Trong quanđiểmđối với tôn giáo, trên phương diện pháp luật, các nội dung liên quan đến tôn giáo được thể hiện trong Hiến pháp, các luật, pháp lệnh, nghị định, quy định… Hiến pháp hiện hành của Trung Quốc cómột số điềucăn bản đề cậptới vấnđề tín ngưỡng, tôn giáođólà các điều30, 33, 34, 36, 38, 51.TạiNghịđịnh 145 ngày 31/01/1994 của Trung Quốc quy định: “Các nơi hoạt động của tôn giáo phải đăng ký theo thể thức do Cục Tôn giáo Quốc gia ấn định. Các nơiđókhôngthểdongườinước ngoàiđiềukhiển. Các nơi thờ tựkhôngđược nhận tiền bạc của cáctổchức và cá nhântừnước ngoài gửi về. Tiền bạc do ngườinước ngoài tặng hoặc dâng cúng phảiđược tiếp nhận theo luật pháp quốc gia”; tại điều 251, Luật Hình sự của Trung Quốc quy định: “Nhân viên các cơ quan nhà nước tước đoạttrái phép quyềntựdo tín ngưỡng của công dân và xâm phạm phong tục tập quán dân tộc thiểu số, tình tiết nghiêm trọng sẽ bị xử phạt tù giamdướihainăm”. Điều77, Luật Dân sự quy định: “Tài sản hợp pháp của các đoàn thể xã hội, bao gồm cả đoàn thể tôn giáo, được pháp luật bảo hộ”. Luật giáo dục quy định: “Nhà nước thực hành giáo dục tách rời tôn giáo. Bất cứ tổ chức hay cá nhân nào cũng không được lợi dụng tôn giáođể tiến hành các hoạtđộng cản trở chế độ giáodục của nhà nước”.

36

Ở NhậtBản, tại điều20 Hiến pháp quy định: “Quyền tự do tín ngưỡngđược bảo đảmđối với mọi người. Không một tổ chức nàođược hưởng nhữngđặc ân của chínhphủvà khôngtổchức tôn giáo nàođược sửdụng quyền chính trị. Không ai có thể bịcưỡngbách thamdựhộihọp, lễ nghi tôn giáo. Chính phủ và công sở không phổ biến nền giáo dục thuộc về tôn giáo và cũng không có những hành vi tôn giáo”.

ỞSingapore, tạiđiều15 của Hiến pháp quyđịnh:“Tựdo tôn giáo và quyền phổ biến tôn giáo của mỗi cá nhân là những quyền tự do cơ bản”. Đây có thể xem như quanđiểmcănbảnnhấtvề tôn giáo, làmnềntảng cho các quanđiểmvà chính sách khác. Tạiđiều16 khoản 2 và khoản 3 của Hiến pháp có ghi: “Mỗi nhóm, tổ chức tôn giáo đều có quyền xây dựng của họ và không có ai bị bắt buộc phải theo học hoặc tham gia vào bất cứ nghi lễ tôn giáo, thờ

tự nào khác ngoài tôn giáo mà họ theo”.

ỞViệt Nam, quyền con người, quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáođãđược Nhà nước ta ghi nhận ngaytừ bản Hiếnpháp đầu tiên, nó thể hiện bản chất của nhà nước ta là nhà nước dânchủnhân dân, tôn trọng quyền công dân, quyền con người. Tư tưởng ấy nó vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quátrình lập phápở nướcta qua bốn bản Hiến pháp. Tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quyđịnh:“Mọingườicó quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theomộttôn giáo nào. Các tôn giáo bìnhđẳngtrước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảohộquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo. Không aiđược xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”[40, tr.17-18].Điều1, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quyđịnh:“Côngdân có quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo mộttôn giáo nào. Nhà nước bảođảmquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy” [10, tr. 5].

Như vậy, quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáođược hiểu là mộttrong những quyền cơ bản của công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

37

được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Nội dung cơ bản của quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:

Thứ nhất, Công dân có quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Đây là đặc trưng nổi bật trong nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam, theo đó, mọi người đều cóquyền lựa chọn theo một tôn giáo cụ thể nào đó, có quyền thay đổi tôn giáo vàcũng có quyền không theomộttôn giáo nào. Công dân có quyềntựdo hoạtđộng tín ngưỡng như thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người cócôngvớiđấtnước, vớidân tộc, vớicộngđồngthờ cúng thần thánh, những biểutượngcó tính truyền thống và các hoạtđộngtín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá và đạo đức xã hội của dân tộc. Các tổ chức tôn giáo, tín đồ và chức sắc tôn giáo có quyền sinh hoạt tôn giáo theo giáo lý, giáo luật và lễ nghi của tôn giáo mà mình theo. Khoản 1, Điều 9 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định: “Người có tín ngưỡng, tínđồ đượctự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phụcvụlễ hội, lễ nghi tôn giáo và học

tậpgiáo lý tôn giáo mà mình tin theo” [10, tr.9].

Công dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dânđối với Tổ quốc;hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải theo đúng quyđịnhcủa pháp luật; khôngđược lợidụng tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan.

Tựdo tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạtđộngcủa tôn giáo nằmngoài khuônkhổpháp luật, đi ngược lạilợiích của Tổquốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại cách mạng. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng không có nghĩa là tự do ép buộc người khác bỏ đạo hoặc theo đạo. Đây là một quyền cơ bản của con người, cầnphải được tôn trọng và bảovệ khôngchỉtrong Hiến pháp, pháp luật màcả trong thực tiễn cuộc sống.

38

Thứ hai, Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọnglẫnnhau; không aiđược xâm phạm quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Không ai có quyền bắt người khác phảitừ bỏtín ngưỡng, tôn giáo mà họ đang theo, hoặc bắt người khác phải theo một tôn giáo nào đó. Tín đồ và chức sắc các tôn giáo không tuyên truyền lôi kéo, công kích, chống đối lẫn nhau. Mọi người đều phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác, tôn trọng quyền theo tôn giáo và quyền không theo một tôn giáo nào của ngườikhác; nghiêmcấmmọibiểu hiện lôi kéo ápđặt, vi phạm quyềntựdo tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Khoản 2, Điều9 Pháp

lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quyđịnh:“Trong hoạtđộngtín ngưỡng, tôn giáo, người có tín ngưỡng, tín đồ có trách nhiệm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người khác; thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụcông dân; hoạtđộngtín ngưỡng, tôn giáo theo đúng quyđịnhcủa pháp luật” [10, tr. 9]. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệtđốixửvớimộttôn giáo nào. Ngườicó tín ngưỡng, tôn giáo vàngười không có tín ngưỡng tôn giáo đều bình đẳng như nhau trước pháp luật,đều có nghĩa vụ, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứba, Nhànướcbảođảmquyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáocủacông dân. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dânđược Nhà nước bảođảm bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân là vi phạm pháp luật, phảibịxửlý bằng pháp luật.Lợidụng quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáođểphá hoại hoà bình, độc lập, thống nhấtđấtnước;kíchđộngbạolực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền tráivớipháp luật, chính sách của Nhà nước;chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tàisảncủangườikhác, cảntrởviệc thực hiện quyền và nghĩa vụcông dân, hoạtđộngmê tíndịđoan,… phảibịxửlý nghiêm minh theo quyđịnh củapháp luật.

39

Hoạtđộngtín ngưỡng, tôn giáo có liên quanđếncác mốiquanhệ xãhội, nên quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân nằm trong khuôn khổpháp luật;tạiĐiều8, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo,mộtmặt, khẳngđịnh:

“Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân” [10, tr. 9]; mặt khác cũng quy định phạm vi, giớihạncủa quyềnấy:“Khôngđược lợidụng quyềntựdo tín ngưỡng, tôn giáođểphá hoại hoà bình, độc lập, thống nhấtđấtnước, kíchđộng bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái pháp luật, chính

sách của Nhà nước, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâmhạiđến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tàisảncủa ngườikhác, cảntrở việc thực hiện quyền và nghĩavụcông dân; hoạtđộngmê tíndịđoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác” [10, tr. 9].

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *