Quyền của người đồng tính song tính chuyển giới và liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tínhcấpthiết của đề tài
Tro ngbấtkỳthờiđạinào,đờisống xãhộiluôn cósựđa dạng, phong phú nhất định. Sự thể hiện cảm xúc, tình cảm hay xu hướng giới tính không nằm ngoài quy luật đó. Trước đây, chúng ta hầu như chỉ nhắc đến một xã hội với những gia đình là sự kết hợp giữa một nam vàmột nữvới mục đích duy trì nòi giống. Khi đó, việc một người yêu người cùng giới tính hay mong muốn có giới tính khác là những điều rất kỳ lạ, thậm chíbịxem là bệnh hoạn [73, tr.8]. Thựctế,đồngtính, song tính, chuyển giới hay liên giới tính đã tồn tại từ rất lâu trong xã hộivà đượckhắc họa rõ nét trong xãhội hiện đại ngày nay.
Quyền con người là một trong những giá trị cao nhất mà các quốc gia đều đề cao và bảo vệ. Mỗi quốc gia đều xây dựng một hệthống pháp luật riêng dựa trên các điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội và các giá trị truyề n thống văn hóa của quốc gia để bảo đảm các quyền conngười được thựchiện một cách tốt nhất và đầy đủ nhất.Sựphát triển của quyền con người gắn liền với sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhộicủamỗiquốc gia. Trong lý luậnvềquyền conngườihiệnđại,quyềncủangười đồngtính, song tính, chuyển giới và liên giới tính, cũng như quyền củanhóm khác
nhưngườinhiễm HIV/AIDS, lao động di cư… ngày càng được quan tâm nhiề u hơn. Tro ng đó, nhó m người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính liên quan rất nhiề u đến cácvấn đềvềgiới, giới tính, thể hiện giới, xu hướng tínhdụcvàbảndạng giới. Quyề n của các đối tượng này trở thànhvấn đềgây tranh luận ở nhiều quốc gia trên thế giới trong quá trình xây dựng và thi hành pháp luật. Tuy vậy, thực tiễn cho thấy xu hướng ủng hộ quyề n của các đối tượngnày trên thế giới cũng ngày càng gia tăng.
TạiViệt Nam,ngườiđồngtính, song tính, chuyển giới và liên giới tính làđối tượng ngày càng được giới kho a học quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây. Tro ng lĩnh vực khoa học pháp lý,dư địanghiên cứu về quyền và pháp luậtvềquyề n của các đối tượngnày còn khá nhiều.
Về lý luận, một số vấn đề vẫn chưa được làm rõ, ví dụ: bản chất quyền của người đồngtính, song tính, chuyển giới và liên giới tính; lý do pháp luật phải ghi nhận
1
quyền của các đối tượngnày; vị trí c ủa quyền của các đối tượng này trong hệ thống
phápluật…Đâylà nhữngvấnđềcầnđượcnghiên cứu, luận giải thấuđáođểgó p phần xây dựng, bổ sung hệ thống cơ sở lý luậnvềquyền và pháp luậtvềquyền của ngườiđồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính.
Vềthực tiễn, cũng giống nhiề unướctrênthếgiới,ngườiđồngtính, song tính, chuyển giới và liên giới tính là một nhóm chiếm thiểu số vềdân số (bên c ạnh nhóm dịtính chiếm đa số) và ngày càng hiện diện rõ nét trong xã hội Việt Nam. Xét một cách tổng thể, theo pháp luật Việt Nam nhóm đối tượng này hiện hay cógầnnhư đầy đủcác quyền như những người dị tính khác. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, họ vẫn chưa được pháp luật công nhận một số quyền như quyền kết hôn cùng giới, quyềnvềcon cái hoặc có quyền đã đượcghi nhận nhưng chưa có cơ chế thực thi (chuyển đổi
giới tính)… Bên cạnhđó,mộtsốquyền trong lĩnhvựckhác như tư pháp hình sự,
quyền dân sự, trợ giúp pháp lý, xác định giới tính… vẫn còn những rào cản trong thực tế. Cùngvớiquan niệm truyền thống của các tầng lớp xã hội, sựkỳ thị,phân biệt đối xử đốivới các đối tượngnày xảy ra khá phổ biến.Từ đó, có thểnhận thấy pháp luật vềquyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính tại Việt Nam còn có những khoảng trống nhấtđịnh.
Hiến phápnướcCộng hò a xãhộichủnghĩa Việt Nam ban hành năm 2013đãnhấn mạnh“cá c quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xãhộiđượccông nhận, tôn trọng,bảovệ,bảođảmtheo Hiến pháp và pháp luật” (kho ản 1 Điều 14) và“Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bịphân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.” (Điều 16). Những quy định mới này của Hiế n pháp năm 2013 đặt ra nhiề u yêu cầu đốivớiviệc hoàn thiệnhệthống pháp luậtvềquyền conngườinói chung và quyền của người đồngtính, song tính, chuyể n giới và liên giới tính nói riêng. Bên cạnhđó,hiện nay Vi ệt Nam đ ang trong quá trình tổ chức thi hành ho ặc xây dựng, hoàn thiện một số văn bảnpháp luật liên quanđến quyền củacácđốitượngnày như: Bộluật dânsựnăm 2015, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014, Luật chuyển đổi giới tính, Bộ luật lao động…
Xuất pháttừbốicảnh nêu trên, việc nghiêncứuvềquyềncủangười đồngtính,
2
song tính, chuyển giới và liên giới tínhsẽgóp phần ho àn thiện pháp luật nhằm bảo đảmquyền con người, nâng cao giá trị xãhội củapháp luật tại Việt Nam và phù hợp vớixuhướngchungcủathếgiới. Chính vì vậy, tác giảđãquyếtđịnhchọnđềtài “Quyền c ủa người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để triểnkhai nghiên cứu ở quy mô luận án tiến sĩ luậthọcvới mong muốn góp phần giải mã toàn diện và có hệ thống các nội dung có liên quan.
2. Mục đích và nhi ệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mụcđích nghiên cứu của luận án là đưa ra được những lập luận xác đáng, toàn diện và phù hợp cho một hệ thống giải pháp hoàn thiệ n hệ thố ng pháp luật Việt Nam vềquyềncủangườiđồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính thời gian tới.
2.2. Nhiệmvụnghiên cứu
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án có các nhiệmvụnghiên cứu sau đây:
– Nghiên cứu nhữngvấn đề lý luậnvề người đồng tính, song tính, chuyển giới vàliên giới tính; lý luận về quyền và pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính; các yếu tố ảnhhưởng đếnvi ệc xây dựng, thi hành pháp luậtvềquyền c ủa các đối tượng này; xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế, pháp luật các quốc gia trên thế giới về quyềncủacác đối tượngnày.
– Nghiên cứu thực tiễn pháp luật về quyền c ủa người đồng tính, so ng tính, chuyể n giới và liên giới tính tại Việt Nam (thực trạng người đồng tính, song tính, chuyể n giới và liên giới tính; quy định pháp luật về quyền c ủa cácđối tượng này và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành pháp luật).
– Trên cơ sởkếtquảđạtđượctừviệcnghiêncứulý luận và thực tiễn, luận án nghiên c ứu đưa ra các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiệ n pháp luật Việt Namvềquyềncủangườiđồngtính, song tính, chuyể n giới, liên giới tính và gó p phần thúcđẩy thi hành phápluật vềquyềncủa các đối tượngnày thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu
3
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nhận thức, thực tiễn và pháp luậtvềquyề n của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính tại Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiêncứuquyề ncủangườiđồngtính, song tính, chuyể n giới và liên giới tính trong hệ thố ng pháp luật Việt Nam, trọng tâm đánh giá là các quyền đặc thù,đangbịhạn chế, chưa được ghi nhận hoặc đã đượcghi nhận nhưng có nhiềuvấn đềtrong thực tế ; có đối chiếuvớipháp luật quốc tế, pháp luật một sốquốc gia trên thếgiới vềquyềncủangườiđồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Vềphương pháp luận,đểgiải quyết những nhiệmvụđặtra, luận ándựatrên phương pháp luận duyvậtbiện chứng và duyvật lịch sử củaChủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm lý luận, đường lối của Đảng Cộ ng sản Việt Nam vàpháp luật của Nhànước.
Luận ánsử dụngmột số phương pháp nghiêncứucụ thể sau đây:
– Phương pháp phân tích, tổnghợp:đượcsử dụng bao quát trongtấtcảcác chương,mụccủaluận ánđểphát hiện, luận giảithuyết phụcvềcácnộidung liên quanđến chủđề luậnán.
– Phương pháp cấu trúc hệ thống: được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và 3 của luận án nhằm nhậndiện và đánh giá pháp luậtvềquyề ncủangườiđồngtính, song tính, chuyể n giới và liên giới tính trong mối liênhệvớihệ thống pháp luậtvềquyề n con người tại Việt Nam.
– Phương pháp luật học so sánh: được sử dụng chủyếu trong chương 2 và 4 của luận án để làm sáng tỏ sự phát triển c ủa pháp luật về quyề n c ủa người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính trên thế giới thời gian qua và những bàihọckinh nghiệm phùhợpvớitình hình Việt Nam.
– Phương pháp thống kê, phân tích số liệu: được sử dụng chủ yếu trong tất cả các chương của luận án nhằm tập hợp, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và thực trạng người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính; quan điểmvềngười đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính và quan điểmvềmột số vấn
4
đề liên quan đến pháp luậtvềquyền của người đồng tính, song tính, chuyể n giới vàliên giới tính tại Việt Nam hiện nay.
– Phương pháp phân tích tình huống thực tiễn: đượcsửdụng chủ yếutrong chương 3 và chương 4 nhằm làm rõ thực trạngngườiđồngtính, song tính, chuyể n giới, liên giới tính; thực tiễn thi hành pháp luật về quyền của các đối tượng này và cóthêm các cơ sở để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thi hành pháp luật.
– Phương pháp lịch sử: được sử dụng chủyếu trong chương 2 và chương 3 nhằm nhận diện các đặc điểm và sự thay đổi, phát triển trong nhận thứcvềngười đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính; quyền của người đồng tính, so ng tính, chuyể n giới và liên giới tính và pháp luậtvềquyền của các đối tượng này tại Việt Nam thời gian qua.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
– Về tổng thể, luận án là công trình nghiên cứu toàn diện về nhận thức, thực tiễn và pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính, chuyể n giới và liên giới tính tại Vi ệt Nam.
-Vềhướngtiếp cận, luận án tiếpcậnnghiên cứuvấnđềtheohướngđa ngành, liên ngành. Nghiên cứuvềngười đồng tính, song tính, chuyển giới, liên giới tính vàpháp luật về quyề n của các đối tượng này không chỉ tiếp cận theo góc độ luật học màcòn phải kết hợp với cácgóc độvềxã hội học [1 ], [59], tâm lý học, nhân học, triết học [82], [86]… Hướng nghiên cứu đa ngành, liên ngành đã tạo điều kiện cho tác giảluận án có cái nhìn tổng thể, toàndiện về vấnđề nghiên cứu.
– Luận án đ ã xây dựng, bổ sung và làm sâu sắc thêm hệ thống lý luận về quyề n vàpháp luậtvềquyề n của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính; lýluận vềcác yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng, thi hành pháp luật về quyền của cácđối tượngnày và đánh giá được xuhướngphát triển của pháp luật quốc tế, pháp luật các quốc gia trên thế giới về quyềncủa các đối tượngnày.
– Luận án đã đánh giá được thực trạngngười đồng tính, song tính, chuyển giới vàliên giới tính tại Việt Nam; tập trung phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về quyền c ủa người đồng tính, so ng tính, chuyển giới và liên giới tính thời gian qua từ đó rút ra nguyên nhâncủacác hạn chế, khó khăn.
5
– Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đưa ra được các quan điểm và giải pháp ho àn thiện pháp luật, thi hành pháp luậtvềquyề n củangười đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tínhdướigóc nhìn tổng thể, đồng bộ và phù hợp vớiđiều kiện củaViệt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
– Kếtquảnghiên cứu của luậnán sẽgó p phần xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Namvềquyềncủangười đồngtính, song tính, chuyển giới và liên giới tính.
– Luận án góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập c ủa pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính ở Việt Nam hiện nay bằng việc đưa ra các giảipháp hoàn thiệnhệ thống pháp luật, thi hành pháp luật dựa trên các yêu cầuvềcông nhận, tôn trọng, bảovệvà bảođảmquyề n con người. Các giải pháp của luận án có thể phục vụ trực tiếp cho các cơ quan xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính.
– Luận án là nguồ n tài liệu tham khảo tin cậy và cần thiếtđể phụcvụ hoạt động nghiên cứu khoa học và giảng dạy trong các cơ sở nghiên c ứu, giáo dục và đàotạo vềpháp luật và quyền con người.
7. Cơ cấu của luận án
Ngo ài phầnmở đầu, kết luận,danh mục công trình công bố c ủa tácgiảvà danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 4 chương như sau:
Chương 1: Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Những vấn đề lý luận về quyền và pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính tại Việt Nam hiện nay
Chương 4: Quanđiểmvà giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềquyềncủangười đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính tại Việt Nam

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu thực trạngngườiđồngtính, song tính, chuyển giới và liên giới tính tại Việt Nam
1.1.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu pháp luậtvềquyềncủangườiđồngtính, song tính, chuyển giới và liên giới tính tại Việt Nam (thực trạng và các giải pháp)
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu 1.2.1. Nhận xét tổng quát
Số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án tương đối phong phú vàđa dạng,đượctiếpcậntừnhiều gócđộkhác nhau, có tính chấtliên ngành kho ahọcxã hội.Sốlượngcác công trình nghiêncứucủacáctổchức xãhộicũng chiếm số lượng đángkể, chủ yếu xoay quanh thực trạng người LGBTI trong xã hội ViệtNam. Một số công trình nghiên cứu của các tổ chức xãhội đã đề cập trựcdiện đến cácnhu cầupháp lý, quyền của người LGBTI. Các công trình nghiên cứu được công bố trên các sách, t ạp chí chuyên ngành, đề tài, luận văn, luận án chiếm số lượng khá nhiều so với các công trình của các tổ chức xã hội, đặc biệt trong giai đoạn 5 năm gần đây. Bản thân nghiên cứu sinh cũng đã cómột số công trình công bố liên quanđến nội dungđề tài luậnán.
Có thể nhận thấy kết quả của các công trình nghiên cứu đã cung cấp nhiều kiến thức lý luận cơ bản về người LGBTI, quyền c ủa người LGBTI và pháp luật về quyề n củangườiLGBTI.Đâylà những tư liệurấtquýđốivớiviệc triển khai nghiên cứu luận án.
Tuy nhiên, mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án khá nhiều nhưng theo khảo cứu của tác giả luận án thì đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu trực diện, đầy đủvà hệ thống về quyền của người LGBTI theo pháp luật Việt Nam hiện nay. Các nghiêncứuthườngtậptrung vào nhómđồngtính, chuyển giới hoặc về nhóm LGBT nói chung. Các nghiên cứu về quyền của nhóm liên giới tính còn khá mờ nhạt, rời rạc.
Từnhữngđánh giá, phân tíchvềtình hình nghiêncứutrên đây, tácgiảluận án cho rằng, việc nghiên cứu tổng thể pháp luật về quyền c ủa người LGBTI tại Việt Nam là một điều rất cần thiết. Điều này càng có ý nghĩa trong bối cảnh triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và thực thi các cam kết của Việt Nam về quyền con người.
1.2.2. Những ưu điểm, những nội d ung nghiên cứu đã sángtỏ và được luận án kế thừa, phát triển trong nghiên cứuđề tài
Căn cứ tình hình nghiên cứu trongnướcvà ngoài nước liên quan đến chủ đề luận án, có thể nhận thấy một số nội dung đã được giải quyết và luận án có thể tiếp thu với nhữngmức độ khácnhau như sau:
25
Trên phương diện lý luận: cácvấnđềcơ bảnvềngườiLGBTI, quyề ntựnhiên, quyền củangườiLGBTI; khái quát pháp luật quốctếvà pháp luậtmộtsốquốc gia trên thế giới về quyềncủa ngườiLGBTI.
Trên phương diện thực trạng: một số thực trạng người LGBTI tại Việt Nam hiệ n nay;mộtsốhạnchế,bấtcậptrong pháp luậtvềquyền củangườiLGBTI hiện nay (quyền liên quanđếnquanhệsống chung củacặpđôicùng giới, quyền chuyể nđổi
giới tính, xácđịnhgiới tính…).
Trên phương diện giải pháp: một số giải pháp về quan hệ sống chung của cặp đôi cùng giới, ho àn thiện pháp luậtvềchuyểnđổigiới tính và xácđịnhgiới tính, hoàn thiện pháp luậtvềquyền của ngườiLGBTI trong một số lĩnhvựckhác (tư pháp hình
sự, bìnhđẳnggiới…).
1.2.3. Nhữngvấn đề liênquanđến chủđềluận án nhưng chưađược giảiquyết thấu đáo hoặc chưa được đặt ra trong các công trình nghiên cứu đã công bố
Có thể nhận thấy, các nghiên cứu ở nướcngo ài đã cung c ấp khá nhiề u kiến thức vềmặt lý luận cũng như thực tiễn pháp luậtvềquyề n của người LGBTI trên thế giới nhưngnộidung nghiêncứuthực tiễn Việt Nam còn khá khiêm tốn. Đốivớicác nghiên cứu ở trong nước,một số vấn đề liênquan đến chủ đề luận án chưa được giải quyết thấu đáo hoặc chưa được đặt ra như sau:
Về lý luận: nghiên cứu quan niệmvềngườiLGBTI chưa luận giải sâu sắc từ cơ sở lý thuyết xu hướng tính dục và bản dạng giới; chưa nghiên cứu rõ cơ sở lý luận vềquyền và pháp luật về quyề n c ủa người LGBTI; nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia trên thế giớivềquyề n của người LGBTI còn rời rạc, chưa đánh giáchung được sự phát triển qua các giai đoạn và rút ra các mô hình phổbiến; chưa phân tích, đánhgiá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đếnviệc xây dựng, thi hành pháp luậtvềquyềncủangườiLGBTI;mộtsốnghiêncứucònhạnchếvềmặtlý luận cũng nhưnhậnthức vềngườiLGBTI.
Vềthực trạng: chưa nghiêncứumộtcách tổngthểthực trạngngườiLGBTI tại Vi ệt Nam hiện nay (mới chủ yếu tách riêng nhóm LGBT để nghiên cứu); một số lĩnh vựcpháp luậtvềquyền của nhóm LGBTI còn chưa được nghiên cứu sâu (nhóm liên giới tính; tiếp cậnpháp luật,trợgiúp pháp lý; con cái; sinh con theo phương pháp
kho a học; laođộng; thểthao; nghĩa vụ quân sự…); chưa đánh giá tổng thể cơ chế bảo vệquyềncủangườiLGBTI Việt Nam;vấnđềthi hành pháp luậtchỉmớiđánh giá
26
dướigóc độ bất cập của các quy định pháp luật, chưa tiếp cận dựa trên các nhóm chủthể cụ thể (ngườiLGBTI, cơ quan nhànước,tổ chức xã hội).
Về giải pháp:một số giảipháp đưa ra được học theo kinh nghiệm c ủa cácnước trên thế giới (vídụghi nhận quyềnkếthôn cùng giới, thừa nhận người chuyển giới
khô ng cần phẫu thuật, nhận con nuôi chung…) là chưa thực sự phù hợp với điều kiện của Vi ệt Nam; tương ứng với các hạn chế trong nghiên cứu về thực trạng, một số giải
pháp đưa ra trong các nghiên cứu còn chưathực sự sâu sắc…
1.3. Nhữngvấnđề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Xuất phát từ việcphân tích thực trạng tình hình nghiên cứu liênquan đến chủ đềluận án nêu trên, luận án xác định những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu khá đa dạng và toàn diện như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ nhận thứcvềngười LGBTI trên cơ sở lý thuyết xu hướngtínhdụcvàbảndạng giới; lập luậnđầyđủ,toàn diện hơnvềsựtồntạimột cách khách quan, tự nhiên của người LGBTI.
Thứ hai, nghiên cứu làm rõ lý luậnvềquyền của người LGBTI và pháp luậtvềquyền củangườiLGBTI (bản chất quyền củangườiLGBTI; lý do pháp luật phải ghi nhận quyềncủangườiLGBTI;vịtrícủaquyền củangườiLGBTI tronghệthống
pháp luật…); cácyếu tốảnhhưởng đếnviệc xây dựng, thi hành pháp luậtvềquyề n của ngườiLGBTI.
Thứ ba, nghiên cứu tổng thể sự phát triển, các mô hình chủyếu củapháp luậtvềquyềncủa ngườiLGBTI trên thế giới.
Thứ tư, nghiên cứu tổng thể, toàn diệnvềthực trạng người LGBTI tạiViệt Nam hiện nay và những vấn đề pháp lý đặt ra trong việc công nhận, tôn trọng, bảovệvàbảo đảmquyềncủangườiLGBTI.
Thứ năm, nghiên c ứu, đánh giá thực trạng pháp luậtvềquyề n của người LGBTI tạiViệt Nam hiện nay, trongđótậptrung vào những quyềnđặcthù, chưađượcghi nhận/đã đượcghi nhận nhưng còn hạn chế,bất cậpvà một số cơ chếbảovệquyền. Nộidung nghiêncứunày củaluận án cũnghướngđếncácdựán,dựthảo luật liên quan đến quyề n củangườiLGBTI đang được xây dựng hoặc thi hành tại Việt Nam hiện nay.
Thứ sáu, nghiên cứu các quan điểm, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật vềquyền của người LGBTI dưới góc nhìn tổng thể, đồng bộ và phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
27
1.4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoahọc
Trên cơ sở đánh giá tình hình nghiên cứu, việc nghiên cứu luận án được thực hiện dựatrên một số lý thuyết, học thuyết sau đây:
– Lý thuyếtvềxuhướngtính dục,bảndạng giới:Đâylà hai lý thuyếtrấtquan trọng đốivớiviệc nghiên cứu cơ sở lý luậnvềngười LGBTI. Trong đó, lý thuyếtvềxu hướng tínhdục(xu hướng tình cảm, c ảm xúccủamộtngười) là cơ sở đểnghiên cứuvềngườiđồngtính vàngườisong tính. Lý thuyếtvềbảndạng giới (nhận thức, mong muố n về giới tính của một người) là cơ sở để nghiên cứu về người chuyển giới và góp phần phân biệt người chuyển giới vớingườiliên giới tính.
– Học thuyếtvềquyề n tự nhiên, quyền pháp lý: Tro ng lịch sử, những người theo học thuyếtvềquyền tự nhiên (natural rights) cho rằngquyền con người là những gìbẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng. Các quyề n con người, dođó, không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứcá nhân, giai cấp,tầng lớp,tổchức, cộngđồnghay nhànướcnào và không một chủ thể nào, kể c ả nhà nước có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người. Ngược lại, những người theo học thuyếtvềquyề n pháp lý (legal rights) cho rằng các quyề n con người không phải là những gì bẩm sinh, vố n có một cách tự nhiên mà phải do nhànướcquy định trong pháp luật. Như vậy, theo học thuyết này, phạm vi, giớihạnvà ởgóc độ nhất định, thời hạn hiệu lực của các quyền con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như: phong tục, tập quán, truyề n thống văn hó a… của xãhội ấy.
Đểnghiên cứuvềquyềncủangườiLGBTI, tác giảluận án dung hò a hai học thuyết nói trên. Theođó,quyề n conngườilàđặcquyền (quyề ntựnhiên) nhưngđểhiện thực hóa thì phải được pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia ghi nhận và bảo đảm thực thi. Pháp luật ghi nhận quyề n khô ng phủ nhậnbản chất đặcquyề n tự nhiên của quyền con người và nó còn phụ thuộc vào cácđặcđiểm chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi quốc gia. Việc dung hòa hai học thuyết nói trên xuất phát từ đặc thù của ngườiLGBTI cũng như những hạn chế,khó khăn phát sinhnếupháp luật khô ng ghi nhận các quyềncủangườiLGBTI.
– Lý thuyếtvềsự công bằng: Công bằng là giá trị pháp luật cơ bản, có thể được hiểu là mong muốn hoạt động phù hợp với các quyền và nghĩa vụ, đem đến cho từng ngườicáicủamình vàbảođảmcácđiềukiệnđểthực hiện cáckhảnăngcủatừng người [85 ]. Trongđó,bìnhđẳnglàyếutốcơ bảnđểhợpthành sựcông bằng. Bình
28
đẳng trướcpháp luật là điều kiện cơ bản để đạt đến sự côngbằng. Nguyên t ắc công bằng phùhợpnhất là nguyên tắcbảo đảm những điềukiện tốt nhất cho sự thựchiện vềsự tự trị của cá nhân, bảo đảm mức độ tương quan của tự do và bình đẳng. Vì vậy, lý thuyếtvềsự công bằng là cơ sở quan trọngvềmặtkhoa học, thực tiễnvà đạo đức đểnghiêncứuvềquyền và pháp luậtvềquyề n củangườiLGBTI – nhó m thiểusốtrong xã hội luôn tìm kiếm các giá trị bìnhđẳng.
Đểnghiên cứu đưa ra được những lập luận xác đáng, toàn diện và phù hợp cho một hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyề n c ủa người LGBTI tại Việt Nam thời gian tới, luận án c ần làm rõ nhiều vấn đề liên quan đến lý luận cũng như thực tiễn vấn đềnày tạiViệt Nam.Từ đó, có cơ sở để đánhgiá thực trạng pháp luậtvềquyề n củangười LGBTIvà đề xuấtgiải pháp cụ thể để hoàn thiện quy định pháp luật cũng như thúc đẩy thi hành hành pháp luật về quyền của người LGBTI.Vớikếtquả tổng quan tình hình nghiên cứu và căn cứvào các lý thuyết, học thuyết có liên quan đến chủđềnghiên cứu, luận ánđặtramộtsốcâu hỏi nghiên cứu chính cầnđượcgiải quyết như sau:
Câuhỏi1: Các lý thuyết nào giải thích cho quyền củangườiLGBTI? Phạm vi quyền của người LGBTI có đồng nhất vớihệ thống quyề n con người nói chung hay không?
Câu hỏi 2: Tại sao cần ghi nhận quyềncủangườiLGBTI bằng pháp luật?
Câu hỏi 3: Nhữngyếu tố nào ảnh hưởng đếnviệc xây dựng và thi hành pháp luật vềquyềncủangườiLGBTI?
Câu hỏi 4: Pháp luậtvềquyền củangườiLGBTI tại Việt Nam đã đáp ứng được nhucầucủa xã hội hay chưa?
Câu hỏi 5: Cần có những giảipháp như thếnào đểhoàn thiện pháp luật và thúcđẩy thi hành phápluật vềquyềncủa ngườiLGBTI tại Việt Nam?
Dựatrên câu hỏi nghiên cứu, luận án đặt ra giả thuyết khoa học như sau:
“Quyền của người LGBTI là một trong những vấn đề mới và phức tạp của pháp luật về quyền con người hiện đại. Nghiên cứu quyền của người LGBTI cần dựa trên một số lý thuyết về xu hướng tính dục, bản dạng giới, học thuyết về quyền tự nhiên… QuyềncủangườiLGBTI baogồmhệthống nhiều quyền khác nhau, trongđócónhững quyền đặc thù chỉ dành cho người LGBTI. Pháp luật là một trong những công cụ quan trọng để bảo vệ, bảo đảm quyền của người LGBTI. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởngđếnviệc xây dựng, thi hành pháp luậtvềquyềncủangườiLGBTI (văn hóa,
29
khoa học, công nghệ…). Hệ thống pháp luật về quyền của người LGBTI tại Việt Nam mặc dù đã có một số tiến bộ nhưng về cơ bản chưa thực sự đáp ứng nhu cầu của xãhội. Cần có cá c giải pháp tổng thể, đồng bộ vàphù hợp để hoàn thiện pháp luật, thúcđẩy thi hành pháp luật về quyền của người LGBTI tại Việt Nam.”
Ti ểu kết Chƣơng 1
Tổng thuật các công trìnhđãcôngbốtrong và ngo àinướcliên quanđếnđềtài luận án c ho thấy đã có nhiều nghiên cứu về các vấn đề: nhận thức về người đồng tính, song tính, chuyển giới, liên giới tính; quyề n củangười đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính. Một số công trình, tài liệu đã nghiên cứu khá sâuvềmột số nội dung liên quanđếnchủđềcủaluận án.Mộtsốtácgiảđãphân tích thực trạnghệthống pháp luật hiện hành quy địnhvềquyề n của người đồng tính, song tính, chuyể n giới, liên giới tính và kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các quyđịnhđó.
Tuy nhiên,điểmluận các công trìnhđãcôngbốcũng cho thấy chưa có tác giảnào đặt pháp luậtvềquyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính là đối tượng nghiên cứu một cách trực tiếp và toàn diện, trong tính chỉnh thể, tính hệ thống và mối quan hệ hữu cơ của nó với cácbộphận cấu thành hệ thống pháp luật vềquyền con người. Vì vậy, cácvấnđềlý luậnvềquyề n, pháp luậtvềquyền của ngườiđồngtính, song tính, chuyển giới và liên giới tính chưađượcgiải quyết thấu đáo. Các mô tả, đánhgiávềthực trạngvà đềxuất giảipháp trong các công trình đãnghiên cứu trước luận án hầu như chưa thực sự toàn diện, thống nhất; hoặc tập trung vàomộtkhía c ạnh, mộtbộphận quy định của pháp luậtvềquyền của các đối tượng này (vídụvấn đề kết hôn cùng giới, chuyển đổi giới tính).Tiếp cận vấn đề pháp luật vềquyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính ở góc nhìn tổng thể, góp phần định ra mô hình tổng quan và đề xuất hoàn thiện pháp luật, giải pháp thi hành pháp luật chính là nhiệmvụnghiên cứu tiếp theo của luận án.
Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án đ ã xác định 05 câu hỏi nghiên cứu chính cần giải quyết và giả thuyết khoa học. Các chương tiếp theo của luận án sẽđi tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu này và kiểm chứng giả thuyết kho a học của luận án.
30
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN
CỦA NGƢỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH, CHUYỂN GIỚI
VÀ LIÊN GIỚI TÍNH
2.1. Nhữngvấnđề lý luậnvềquyền của ngƣời đồng tính, song tính, chuyển giới và liên gi ới tính
2.1.1. Người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính 2.1.1.1. Người đồng tính và người song tính
Tro ng xãhộihiện nay, cách hiểu và cách nhận diệnvềvấnđềđồngtính, song tính còn có sự khác nhau nhất định. Một số quan điểm cho rằng đồng tính, song tính
là điều trái tự nhiên, giới tính thứ ba, bệnh tâm thần, lưỡng tính… Tuy vậy, cũng cónhững quanđiểmcho rằngđồngtính, so ng tính là nhữngđiềutựnhiên củaxã hội. Xét dưới góc độ khoa học, để hiểuvềđồng tính hay song tính trước hết cầnhiểuvềthuậtngữtính dục và xuhướngtính dục.
Ngaytừnhững năm 1970,Hộiđồnggiáodụcvà thông tinvềtình dục ởMỹ(Sexuality Information and Education Council of the United States – SIECUS) đã đưa ra định nghĩa hiện đại về tính dục như sau: “Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọikhía cạnhđặctrưngcủacon trai hoặc con gái,đànông hoặcđànbà và biến động suốt đời.Tínhdụcphản ánh tính cách con người, không phảichỉlà bản chất sinh dục. Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống. Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người và do đó tác động trở lại xã hội.”[179] Như vậy, tínhdụcngười là toàn bộ con người đó như là người nam hayngườinữvà nhữngyếutốtạonên tínhdụccũng là những thành phần làm nên nhân cách – tổng thể những phẩm chất tâm lý đặc trưng ở một con người, thể hiện ra bằng hành viứngxử.
Xu hướng tính dục là một trongbốnyếu tố tạo nên tính dục, chỉ việc chịu sự hấp dẫn (có tính bền vững) về tình cả m, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một người đối với đối tượng thuộc giới nào đó[94]. Xu hướng tính dục khácvớiba cấu thành khác của tính dục bao gồ m giới tính sinh học (do các yếu tố sinh học quyđịnh),bảndạng giới (cảm nhận tâm lý mình là nam hay nữ) và thể hiện giới [94] (sự
31
thể hiện và vai trò về nam tính hay nữ tính trong đời sống, thể hiện hành vi cư xử theo kiểu nam hay nữvềmặt tâm lý xã hội). Thuậtngữ“xu hướng tìnhdục”khô ng được sử dụngở đâyvì nó chỉ đơn thuầnvềmặt sinh lý, tình dục còn “xu hướng tínhdục” được hiểu bao gồm cảmặt tình c ảm, quan hệ khăng khít. Hiện nay có các xu hướng tính dục thườnggặplà:
(1) Dễ nhận thấy nhất, đông đảo nhất trong xã hội là xu hướng tính dục khác giới – Heterosexual(bịhấpdẫnvềmặttình cảmvà tìnhdụcvớingườikhác giới tính, khô ng baogiờmong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra) vàthường đượcgọi là người dị tính. Vì đây là xu hướng tính dục phổ biến nhất của loài người nên mô hình gia đình với sự kết hợp giữa một nam và một nữ là mô hình đông đảo nhất trong xã hội, trở thành quan niệm truyền thống của nhiều quốc gia trên thế giới.
(2) Cùng giới – Homosexual (bịhấpdẫnvớingười cùng giới tính, không baogiờmong muốn mình có giới tính khácvớigiới tính khiđượcsinh ra), khôngchỉcóởnam giới (tiếng Anh gọi là gay) mà ở cả nữ giới (tiếng Anh gọi là lesbian), được gọi chung là người đồng tính.
(3) Xuhướngsong tính – Bisexual (mộtngườikhông cho rằng mình mang giới tính khác với giới tính sinh học của bản thân và bị hấp dẫn với c ả hai giới tính nam vànữ).Trướcđây, xuhướngnày được sửdụng với thuật ngữ là lưỡng giới. Tuy nhiên, nếu sửdụng thuậtngữnày sẽ dễdẫn đến cách hiểu là người đó mang trong mình cảhai giới tính nam vànữ.Thực chất, họcó cảhai xu hướng tínhdụcdị tính và đồng tính, khô ng phải mang hai giới tính. Từ đó, thuật ngữ song tính được sử dụng để thay thế thuậtngữlưỡnggiới.
(4) Không bị hấp dẫn tính dụcvớibất cứgiới nào (asexual – vô tính): đây là xu hướng tính dục chưa được nghiên cứu nhiều. Người vô tính khô ng bao giờ có nhu cầu tình dục. Hấp dẫn tình dục đối với họ là một khái niệm xa lạ và không cần thiết trong cuộc sống.Ngườivô tính cũng chia ra làm nhiều dạng, cóngườivô tính tuyệtđối, khô ng cómộtchútcảmxúc nàovớicảhai giới; nhữngngườibi-asexual là những người không phải vô tính 100% (trong đó bao gồm nhiều dạng khác nhau như có cảm xúc (đơn thuần) với hoặc lànam, hoặc là nữ, hoặc là cả hai).Ởnhiề u quốc gia, ngay cả khi tìm hiểu về những người không có quan hệ tìnhdục, giới nghiên cứu vẫn luô n có quan niệm rằng vô tính làvấn đề cần được chữa trị. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác đã khẳngđịnh,vô tính là một trong những xu hướng tính dục của loài người.
32
Hiện nay, số lượng người dị tính chiếm đa số trong xã hội (và cũng đượcnhiề u người cho r ằng chỉ có dị tính mới là tự nhiên). Tro ng khi đó, nhóm đồng tính, song tính hay vô tính chiếm số ít trong xãhội (bịnhiề u người cho rằng trái tự nhiên). Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng, đây đều lànhững xu hướng tính dục ho àn toàn tựnhiên c ủa loài người. Ví dụ, ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xó a bỏđồngtính ra khỏi danh sách cácbệnh tâm thần [120]. Mộtngườicó giới tính nam hoặc nữ ho àn toàn có thể là người dị tính, đồng tính, song tính hoặc vô tính. Việc xem một xu hướng tính dục nào là trái tự nhiên do nhiều người chưa biết về nó, chưa hiểu nêndẫn đến chỉbiết đến dị tính mà không biết hoặc kỳ thịxu hướng tính dục ít phổbiến khác.
Cũng c ần biết rằng không phải lúc nào xu hướng tính dục cũng được biểu lộ ra đểmọi người nhận thấy và nhiều khi nó được giấu kín. Đây là điều phổ biến đối với các xu hướng tínhdụcđồng tính và song tính. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, ví dụ như các xu hướng tính dục này chiếm số ít trong xã hội, dễ bị kỳ thị, xa lánh nênhọkhông muốn công khai. Ngaycảxuhướngđóđãphát triển nhưthếnàoởmộtcáthểcũng chưađượcchínhbảnthânhọhiểu rõ vàsựhình thành, phát triển ởmỗingườilà khác nhau. Nhiề ungườiphảiđến lúc trưởng thànhmớinhận dạng đầy đủ xu hướng tính dục của mình. Tuy nhiên, nhiề u nhà khoa học chia sẻ quanđiểm cho rằngnó đãhình thành từ rất sớm ởhầuhết mọi người ngay từ khi còn nhỏdo những tác động qua lại phức tạp của các yế u tố sinh học (yếu tố chính và cơ bản), tâm lý và đời sống xã hội. Trong đó, yếu tố tâm lý, xã hội chỉ là yếu tố phụ, góp phần thể hiện rõ ràng hơn xu hướng tính dục còn yế u tố sinh học vẫn là yếu tố cơ bản quyết địnhxuhướngtính dục.Mộtsốngườiđãcốgắng trong nhiề u nămđểthayđổixu hướng tính dục từ đồng tính chuyển sang dị tính nhưng không thành công. Do đó các nhà tâm lý khô ng coi xu hướng tính dục là sự lựa chọn có ý thức mà người ta có thể tùyý thay đổi được vàđó là bảnchất tự nhiên, vốn có của mỗi con người từ khi sinh ra.
Với những nền tảng về xu hướng tính dục như trên, chúng ta có thể tìm hiểu sâu hơnvềkhái niệm người đồng tính và người song tính như sau:
(1) Người đồng tính: Dưới góc độ kho a học, theo quan điểm của Hiệp hội tâm lýhọcMỹ(American Psychological Association – AP A)đồngtính hoàn toàn không phải là một sự rối loạn tâm sinh lý mà là một hiện tượng sinh học tự nhiên, chịu sự tácđộng qua lại phức tạp của các yếu tố di truyền và yếu tố môi trường tử cung trong giai
33
đoạn đầu ở thai nhi [173]. Các hành vi tìnhdục đồnggiới, quanhệyêu đương đồng giới là một trong các dạng thứcgắnbó bình thường để đáp ứng các nhu c ầu cơ bản của con ngườivềtình yêu,sự gầngũi và quan tâm.
AP A khô ng đưa ra lý gi ải kho a học cho hiệ n tượng trên mà chỉ nêu các dẫn chứng, nghiêncứuđểđưađếnkếtluận có tính chất hiển nhiênvềsựtồntạicủaxu hướng tính dục đó nhằm loại bỏ đồng tính luyế n ái ra khỏi các bệnh về rối loạn tâm thần vàhướng dẫn xã hội giúp đỡ những người đồng tính luyến ái hòanhập cộng đồng để cócách nhìn cảm thô ng hơnvớinhững người này. AP A đã loại đồng tính ra khỏi danh sách các triệu chứngvà bệnh rối loạn tâm thần vào năm 1973.Đồng thờivào tháng 12/1992, AP A đã đưa ra lời kêu gọi thế giới cùnghành động để bảovệ quyền lợi của nhữngngườiđồngtính [148].
Kết quả các cuộc nghiên cứu, thống kê và khảo sát của các nhà nghiên cứu tâm thần học, nhi kho a đều đi đến kết luận đồng tính không phải là sự rối loạn tâm thần mà là một hiệ n tượng bình thường trong tự nhiên. Những người có xu hướng tính dục này ho àn toàn không phải do sự lựa chọn chủ quan của họ. Do vậy, có thể khẳng định
lạirằngđồngtính không phải là giới tínhthứba như suy nghĩcủanhiềungườivàcũng không phải làmộttrào lưu. Vềmặtsinh học,ngườiđồngtínhvẫnlà nam giới/nữgiới.
(2)Ngườisong tính: Song tính làmộtkhái niệm chung,bởivì giữamỗingười song tính khác nhau sẽ rất khác nhau. Ví dụ, những người cảm thấyhấpdẫnbởi cảnam và nữ có thể không nhất thiết phải nhận dạng mình là song tính – họ có thể xem mình chủ yếu là đồng tính hoặc dị tính, hoặc họ có thể lựa chọn không gắn bất cứ cái “nhãn”nào cả. Nhiều trường hợp, một người có thể có cảm xúchấp dẫnvới cảnam và nữ, nhưng chỉ quan hệ tìnhdụcvới mộtgiới, hoặc không hề có quan hệ tình dục. Sựhấp dẫnkhô ng nhất thiết phải được cân đo, cảm xúc với hai giới tính không nhất thiết ngang nhau hoặctồntạitrong cùngmộtthờiđiểm.Điềunàyphụthuộc vào những người mà họ tiếp xúc, bởi cảm xúc luô n là điều phức tạp và khô ng đoán trước được.Các nghiên cứu cho thấy hành vi song tính chiếm tới gần 1/3 trong số những ngườinăngđộngtìnhdục[133].Mộtvài nghiêncứutrênthếgiới cho thấy người song tính chiếm tới gần 50% trong tổng số cộng đồng người LGBT [133].
Hiện nay cũng có nhiề u nhận xétvềngườiso ng tính. Những nhận xét thường xoay quanh việcngườisong tính làngườilưỡnglự,khôngdứtkho át, băn kho ăn,
34
muốn đặt“hai chân” ởhai nơi, lăng nhăng, tò mò, nhất thời, đang dần chuyển sangđồng tính hay dị tính, theo mốt,muốn gây chú ý… Xã hội thường có xuhướngphân mọithứra làm haithứđốilập: nam hoặcnữ,cùng giới hoặc khác giới màbỏqua
nhữngkhảnăng khác (cảhai, khô ng cái nàocả,mộtcái khác…).Đólàmộttrong những lý dongườisong tính thườngbịchốibỏ(bisexual erasure).Vềthực chất, những quan niệm này hoàn to àn không đ úng đắn, góp phần làm cho sựkỳ thịngười song tính bị gia tăng.
Một sốngườido hiểu biết nhầm lẫnvềngười đồng tính và người song tính nên cho rằng cóthểthay đổi đượcxu hướng tính dục này bằng các biện pháp y học, dược học. Nhóm khác lại nghĩ nguyên nhân c ủa hiện tượng đồng tính là do các tác động vềmặt tâm lý, tinh thần nên đã tìm mọi cách thuyết phục, ép buộc người đồng tính kết hônvớingườikhác giớiđểthayđổitình trạng trên. Thực tế, các biện pháp y học nhằm thay đổi các đặc điểm giới tính sinh học không thể làm thay đổi xu hướng tính dụccủangười đồng tính. Vì vậy, việc ép buộc hay yêu cầu người đồng tính kết hô n vớingườikhác giới không thể thay đổi được tình trạng trên mà chỉ gây ra những ức chế tâm lý khiến người đồng tính bị trầm cảm, suy nhược tinh thần và sức khỏe, thậm chí có thể dẫn đến hành vi tự tử. Như vậy, xu hướng tínhdụcdù là đồng tính, dị tính hay song tính đều là những yếu tố tồn tại bền vững và ổn định ở mỗi cá nhân con người, là điều không thể thay đổi được bằngbất kỳbiện pháp nào cả.
Vớingười đồng tính (và cả đối với người song tính khi thể hiện xuhướng đồng tính), họ phải đối mặt với hội chứng sợ đồng tính luyế n ái (homo pho bia). Có thể hiểu đây chính là thái độ ghê sợ, định kiến củaxã hội đốivới nhóm người đồng tính hoặc bản thân người đồng tính tự sợ chính bản thân mình [149]. Nguyên nhân của điều này có thể do xuất phát từ niềm tin tôn giáo khi tôn giáo đó có thái độphản đốihành viđồngtính, do thiếu hiểu biết, thiếu những trảinghiệm tiếp xúcvớingườiđồngtính hoặc do những c ảm giác chủ quan mặc định việc căm ghét người đồng tính [165]. Hội chứng trên bao gồm chứng tự sợ đồng tính và chứng ghê sợ đồng tính.
Mặcdù ghê sợ song tính và ghê sợ đồng tính là hai khái niệm khác nhau nhưng chúng cũng có những đặc điểm chung: yếu tố bịhấp dẫnbởingười cùng giới tính làmột phần của song tính luyến ái, người theo chủ nghĩa dị tính luyến ái xem dị tính làlốisống“đúngđắn”và áp dụng quan niệm nàyđốivớingườisong tính cũng nhưđồng tính. Người song tính cũngbịkỳ thị trên khía c ạnh khác: quan niệm rằng song
35
tính luyến ái khô ngtồntạivà nhữngngườisong tính thì không chung thủy. Quan niệm song tính luyế n ái khôngtồntạibắtnguồ ntừquan niệmnhịnguyên giới tính cho rằng con người là hoàn toàn đồng tính hoặc hoàn toàn dị tính; những người song tính cóthểlà nhữngngườiđồngtính nhưngtỏra mình làdịtính hoặcđangthửnghiệm tình dục; và một người không thể là song tính trừ khi người đó bị hấp dẫn bởi nam và nữ bằng nhau. Những câu nói phổ biến, chẳng hạn như “người ta là đồng tính, dị tính hoặc nói dối” nhấn mạnh quan niệm phânđôi đối vớixuhướngtính dục.
Công khai xu hướng tính dục của người đồng tính (và cả người song tính) là việc họ công khai vấn đề đồng tính với chính bản thân mình, với những người xung quanh hoặc gia nhập vào cộng đồng đồng tính. Hình thức công khai có thể là với tất cả mọi ngườihoặc với một số ít người. Công khai là một thử thách lớn đốivới người đồng tính vì họ phải vượt qua được những trở ngại đến từ bản thân và xã hội [150]: đối mặt với những nghi vấn về giới tính khác người của mình; chấp nhận thách thức từ những người có tâm lý ghê sợ đồng tính luyến ái trong xã hội, chấp nhận việc có thể bị bạo hành, ngược đãi,kỳ thịvà đối xử bất công; đối diện với trách nhiệm, niềmkỳvọng
của giađình vềmột ngườicon bình thường như xã hội vẫnhiểu…
2.1.1.2. Người chuyển giới
Khác với người đồng tính hay song tính, để hiểu về người chuyể n giới (transgender) cần phải hiểuvềthuậtngữbản dạng giới. Thuật ngữ này đượchiểu làvi ệc một người tự nhận mình mang một giới tính nào (có thể giống hoặc khác với giới tính sinh học khi được sinh ra) [95]. Từ đó, có thể hiểu khái quát, nếu một người sinh ravà tựnhận mình mang giới tính giốngvớigiới tính sinhhọckhi được sinh ra, cótình cảm, cảm xúc với người cùng giới tính với mình thì người đó là người đồng tính. Nếungười này có tình cảmvớingườikhác giới tính với mình thì đó là người dị tính. Tuy nhiên nế u người nói trên tự nhận mình mang giới tính khác với giới tính sinh học khi được sinh ra thì đó là người chuyể n giới [48]. Tương tự như xu hướng tính dục, bảndạng giới cũng là một trongbốn yếu tố của tính dục. Các xuhướngvề bảndạng giới làđiềuhoàn toàntựnhiên trong xã hội. Do vậy,nếumộtngườicó nhận thức, mongmuốn có giới tính khác với giới tính khi sinh ra thì cũng là điều bình thường. Sau khi thực hiệ n phẫu thuật, người chuyể ngiới đượcgọivớimột kháiniệm đầy đủhơnlà “ngườichuyểnđổi giới tính”(transsexual).
Có hai dạngngườichuyển giới là:ngườichuyể n giới nam sangnữ(male to
36
female) và người chuyển giới nữ sang nam (female to male). Ở góc độ xu hướng tính dục, có thể phân chia thành người chuyển giới đồng tính (vídụngười chuyể ngiới từnam sangnữvàchỉyêunữgiới),ngườichuyển giới song tính (vídụngườichuyể n giới từnam sangnữvà cóthểyêu c ả nam giới vànữgiới) và người chuyển giớidịtính (vídụngườichuyểngiới từ nữsang nam và chỉ yêu nữ giới).
“Nghiêncứutrênthếgiới cho thấytỷlệngườichuyển giới chiếmtừ0.1%đến 0.5% dânsố.Mộtđiềutravềgiám sátmộtsố hành vi thiểusố trong xã hội ởMassachusetts (Mỹ) cho thấy có khoảng 0.5% người trong độ tuổi từ 18-64 tự nhận mình là người chuyển giới. Gần đây, trong các cuộc điều tra dân số tại Mỹ và trên thế giới đã có câu hỏi nhằm xác định bản dạng giới và xu hướng tính dục. Số liệu ước tínhmớinhất cho thấy có khoảng 0.3% dânsốMỹlàngườichuyển giới. Việc thu thập số liệu về tỷ lệ người chuyển giới gặp nhiều khó khăn do sự kỳ thị xã hội khiến người chuyển giới không thể hiện hoặc công khai giới tính mong muốn của mình. Sốliệu tại nhiều nước châu Âu ghi nhận tỷ lệ người phẫu thuật chuyển giới từ nam sang nữ cao gấp từ 2.5 lần đến 6 lần tỷ lệ người chuyển giới từ nữ sang nam. Điều này cónguyên nhân là do người chuyển giới từ nữ sang nam ít tìm đến các cơ sở phẫu thuật chuyểnđổigiới tính hơn. Cácyếutố văn hóa, xã hội, quan niệmvềvai trò giới vàtình dục cũng như chi phí tiến hành phẫu thuật chuyển giới tính khiến những số liệu tại các cơ sở y tế không phản ánh đúng thực tế.”[77, tr.9]
Tro ng xã hội, khô ng phải ai cũng có nhận thức đúngđắnvàđầyđủvềngười chuyển giới. Dưới đây là một số nét cơ bản vềngườichuyển giới:
(1) Người chuyể n giới được sinh ravớimột giới tính sinh học bình thường, hoàn chỉnh (phân biệt rõ là nam hay nữ) nhưng l ại có cảmnhận và mo ngmuốn giới tính của mình không trùngvớigiới tính sinh học đang có.
(2) Khôngcầnphải phẫu thuật chuyển đổi giới tính thìmớiđượcxem là người chuyển giới. Một người có nhận thức, mong muốn có giới tính ngược lại sovớigiới tính sinh học của mình sẽ được xem là người chuyển giới. Ở một số quốc gia, người chuyển giới khôngcầnphẫu thuậtvẫncóthểđượcthayđổigiớitờtùy thân. Tuy nhiên,mộtsốquốc gia khác yê u cầuphải phẫu thuật chuyểnđổigiới tính thì mới được thừanhận. Có thể nhận thấy mặc dù người chuyển giới và chuyể n đổi giới tính
tồn tại ở mọi xã hội, mọi nơi trên thế giới [110] nhưng những khái niệm này vẫn được hiểu một cách khá nhầm lẫn và gây lúng túng ngay c ả với những người trong cuộc khi
37
khô ng thể xác địnhbảndạng giới c ủa mình. Nhìn chung, “transgender” là một thuật ngữcó nội hàm rất rộng [113].
(3) Đa số các trường hợp như nam giới thường hay giả/cải trang làm nữ giới hoặc ngược lại là người chuyển giới. Trừmột số người cải trang thành người có giới tính khác để phục vụ nhu c ầu công việc/giải trí (họ có thể là người dị tính, đồng tính hoặc song tính) thì đa số những người này đều là người chuyển giới. Như đ ã nêu, vì người chuyển giới nhận thức, mongmuốn có giới tínhngượclạinênhọđãcảitrang nhưvậy. Trong trườnghợpnày,họkhông phẫu thuật chuyể nđổi giới tính vì pháp luật chưa cho phép hoặc không có điều kiện kinhtế.
Cũng có nhiề ungườicho rằngngườichuyể n giới làđiềubấtbình thường, nam khô ng ra nam,nữkhông ranữ.Đôikhi,mộtsốngườicòn xem mong muốnđược sống đúng giới tínhcủangườichuyể n giới làsựbệnh hoạn,khô ngtựnhiên, không thể chấp nhận được. Nhiều gia đình khi biết con mình là người chuyển giới đã ép con phải sống đ úngvớigiới tính khi được sinh ra, giam lỏng, không cho họ tiếp xúc với
xãhộibên ngoài… Tuy vậy,bảndạng giớicủangườichuyển giới làmộtđiềutựnhiên, không thể thay đổi và họ có nhu cầu can thiệp y tế đốivới cơ thể để phùhợp vớibảndạng giới của mình.
Đối với người chuyển giới, họ phải đối mặt với sự kỳ thị từ xã hội nặng nề hơn so với người đồng tính hay song tính. Một nguyên nhân rất quan trọng của tình trạng này là do phần đông người chuyể n giới không thể che giấu bản dạng giới của mình, khi thể hiện thì rất rõ ràng (vídụnhư người chuyển giới từ nam sangnữ thườnghay cải trang thành nữ, dùng son phấn…) nên bị lộ nhiề u hơn so với người đồng tính (ít nói ra xuhướngtínhdụcvớingườikhác, thườngchỉthểhiện trong suy nghĩ hoặc giấu ngườixung quanh, dù có yêungườicùng giới tính cũng khôngthểhiện quavẻbềngo ài như người chuyể n giới). Bên cạnh đó, nhiề u người chuyển giới (ví dụ nam sang nữ)khi chưa tiến hành phẫu thuật thường thích đóng giả nữ, sửdụng son phấn khiến nhiề ungườitrong xãhộihiểu nhầmhọlàngườiđồngtính. Chínhđiềunàyđôikhi làm cho người đồng tính kỳ thị người chuyể n giới vì cho rằng người chuyển giới làm cho xã hội hiểu nhầm về đồng tính.
Nhiều người chuyể n giới đã phẫu thuật chuyển giới nhưng chưa đượcpháp luật và xã hội thừa nhận nên khó tiếp cận với các dịchvụy tế, khó kiếm việc làm… Đôi khimộtsốngườichuyển giới(đãphẫu thuật) vì chưađượcđổilạigiấytờtùy thân
38
nên khó khăn trong các quan hệ dân sự, xã hội hoặcbịxâm hại cơ thể nhưng khôngđược bảo vệ thích đáng. Bản thân những người chuyể n giới ở những quốc gia đã thừa nhậnvềmặtpháp lý nhưng trongđờisống xãhộihọvẫncó cuộc sốnghếtsứckhókhăn. Điều này xuất phát phầnlớn từ định kiến của xã hội.
2.1.1.3. Người liên giới tính
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH, CHUYỂN GIỚI VÀ LIÊN GIỚI TÍNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Quyền của người đồng tính song tính chuyển giới và liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay Quyền của người đồng tính song tính chuyển giới và liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay Quyền của người đồng tính song tính chuyển giới và liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay Quyền của người đồng tính song tính chuyển giới và liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay

