Quy chế pháp lý Khu công nghệ cao

Quy chế pháp lý Khu công nghệ cao

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết và lý do lựa chọn đề tài

Các Khu công nghệ cao ở Việt Nam, đặc biệt là các Khu công nghệ cao quốc gia cần phải có khung pháp lý đồngbộ, chính sách vượt trội để tiếp tục phát triển, thúc đẩyvà nângtầmnăng lựccạnh tranh cho nềnkinh tế. Nhìn lại nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế tronghoạt độngcủa các Khu công nghệ cao quốc gia trong thời gian vừa qua, người thực hiện đề tài nhận thấy một trong những nguyên nhân chính là sự khôngđồngbộ của xây dựng, ban hành và thực thi Quy chế pháp lý cho các Khu công nghệ cao quốc gia. Cách xây dựng Quy chế pháp lý về Ban quản lý Khu CNC quốc gia không hợp lý, thiếu bình đẳng. Và chínhtừ sự bất cập nàyđãdẫn đến việc ban hành một số chính sách cho các Ban quản lý cũng không bình đẳng và thiếu hợp lý; làm triệt tiêu động lực quản lý vàphát triển các Khu CNC quốc gia.

Cụ thể, có hai nội dung đáng chú ý từ khung pháp lý hiện hành vể tổ chức và hoạt động của các KCNC nói chung và KCNC quốc gia nói riêng.

Thứ nhất, quyđịnhvề thành lập và hoạt động của bộ máy quản lý Khu công nghệ cao quốc gia.Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam có ba khu công nghệ cao quốc gia, gồmKhu Công nghệ cao Hòa Lạc, Khu công nghệ cao TP.HCM và Khu công nghệ cao Đà Nẵng đều do Thủ tướng thành lập, tuy nhiên lại có ba quy chế pháp lý khác nhau về bộ máy quản lý các Khu công nghệ cao này.

Thứhai, cho đến thờiđiểmhiện nay các Khu CNC quốc gia đều hoạtđộngtrên cơsởmộtbản quychếchung được ban hành bởi Nghị định 99/2003/NĐ-CP ngày 28/8/2003 của Chính phủ. Tuy nhiên, nội dung quy định của quy chế tiếp tục bộc lộ sự tiếp cận thiếu thông suốt của nhà nước về mô hình, thực tiễn hoạt động của các Khu CNC để từ đó có thể biến quy chế thành công cụ pháp lý hữu hiệu đáp ứng nhu cầu đó của các Khu.

Những hạn chế lớn trong xây dựng và thực hiện quychế hoạt độngcủa Khu CNC quốc gia làm phát sinh nhu cầu bức thiết cần phải tìm kiếm giải pháp hữu hiệu để điều chỉnh, bổ sung, thậm chí thay thế. Thực trạng vànhu cầu đó thúc đẩy nghiên cứu sinh thực hiện đề tài nghiên cứu này cho chương trình nghiên cứu sinh của mình. Dựa trên chủ đề tập trung nghiên cứu, đề tài có tên “Quy chế pháp lý Khu công nghệ cao.”

2. Mục tiêu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Theo đó, mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

+ Đánh giá thực trạng quy định và hoạt động của Khu công nghệ cao tại Việt Nam.

+ Khảo sát và đánh giá tính khoa học hiệu quả trong kinh nghiệm xây dựng và phát triển mô hình Khu

công nghệ cao của các nước trên thế giới.

+ Đề xuất mô hình hoạt động điển hình, phù hợp bối cảnh nền kinh tế Việt Nam cho các Khu công nghệ

cao hiện nay.

+ Đề xuất giải pháp pháp lý cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động và phát huy vai trò thúc đẩy mạnh mẽtiến trình phát triển kinh tế của các Khu CNC, đặc biệt là trên các nội dung nghiên cứu điển hìnhmột sốhoạt động quản lý (đất đai; vốn tài chính và nghiên cứu phát triển R&D, đổi mới sáng tạo, ươm tạo).

+ Đề xuất hoàn thiện pháp luật cho mô hình hoạt động và công tác quản lý của Ban quản lý ngày càng hiệu quả, xứng tầm một trung tâm, đầu tàu phát triển KHCN, thúc đẩyhoạt động KHCN phải thực sự trởthành động lực phát triển kinh tế-xã hội của cả nước.

Đề tài được nghiên cứu sinh thực hiện trên cơ sở đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định như sau:

+ Đối tượngnghiên cứu: Thể chế pháp lý hiện hành của Khu công nghệ cao ở Việt Namvà một số nước

được lựa chọn nghiên cứu.

+ Nội dung thể chế phân tích, đánh giá chuyên sâu:

 Quy chế pháp lý quản lý và sử dụng đất trong Khu CNC.

 Quy chế pháp lý về huy động và sử dụng vốn trong Khu CNC.

1

 Quy chế hỗ trợ, liên kết thúc đẩy hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo,ươm

tạo CNC và doanh nghiệp CNC của các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động trong Khu CNC.

 Quy chế pháp lý tổ chức và hoạt động của Ban quản lý Khu CNC

Việc lựa chọn nội dung điển hình để phân tích chuyên sâu như trên xuất phát từ hai lý do chính: Một, do giới hạn thời gian thực hiện đề tài. Việc phân tích sẽ dàn trải và sơ sài nếu nghiêncứu sinh đề cập đến tất cả các vần đềpháp lý phát sinh từ hoạt động của Khu công nghệ cao – một thực tế có va chạm với gần như tất cả các lĩnh vực pháp lý. Hai, đất đai, vốn tài chính và nghiên cứu phát triển R&D, ươm tạo CNC là vấn đề xương sống và lĩnh vực pháp lý đặc thù của Khu công nghệ cao.

+ Đối tượng khảo sát, đánh giá: Thực tiễn hoạt động của Khu công nghệ cao TP.HCM. + Thời gian thực hiện nghiên cứu: 2017- 2019

3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài thông qua việc giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đề ra gồm:

Thứ nhất, nội dung trình bàyđã hệ thốngđược tìnhhình nghiên cứu của vấn đề và các nội dung có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài. Nội dung thảo luận đã giới thiệu các cơ sở lý thuyết kinh tế trong việc xác định vai trò của Khu CNC và cả lý thuyết định vị mô thức tồn tại của các thiết chế khoa học công nghệ này.Đặc biệt, đề tài đã chọn lọc và phân tích các cơ sở lý luận cho quá trình hoạt động và tăngcườngquyền tự chủ, tự

quyết của các Khu CNC– yếu tố đảm bảo và tăngcườngtính hiệu quả cho các đơn vị này. Trên cơ sở các lý thuyết này, mô hình tồn tại và hoạt động của các Khu CNCsẽ được xácđịnh, từ đó là cơsở cho việc xác định quy chếpháp lý kèm theo.

Thứ hai, trên cơ sở kết quả nghiên cứu tình huống, đề tài đã lựa chọn và phân tích kinh nghiệm hoạt động của các Khu CNC điển hình tại các nước trong khu vực áp dụng thành công mô hình này. Đặc biệt, từ cácluận cứkhoa học được thừa nhận và có độ tin cậy cao, luận án đã chỉ ra thực trạnghoạt độngcủa các Khu CNC của Việt Nam cũng như những hạn chế, thiếu hụt của thể chế pháp lý dành cho đối tượng này. Kết quả nghiên cứu vì vậy vừa đặt nền móng về mặt lý luận lẫn thực tiễn cho những phân tích và đề xuất sau này trong việc hoàn thiện khung pháp lý đối với các Khu CNC quốc gia tại Việt Nam.

Thứ ba, luận án đã đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện khung pháp lý về quychế hoạt độngcủa Khu CNC ở Việt Nam. Cụ thể, đề xuất của đề tài có ý nghĩa cho việc xác định rõ địa vị pháp lý của các Khu CNC cấp quốc gia, đề xuất mô hình tăngcườngquyền tự chủ cho các Khu CNC cấp quốc gia và đặc biệt đã đưa ra cácgợi ývề hoàn thiện khung pháp lý phù hợp.

Trên thực tế, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả cũng đã tham gia và đóng góp vào quá trình xây dựng pháp luật đối về nội dung có liên quan bằng những kết quả nghiên cứu mà tác giả có được. Cụ thể, nhiều giải phápđược đề xuất từ việc phân tích của luận án đã được tiếp nhận trong quá trình xây dựng dự thảo mới cho Nghị định thống nhất về quy chế pháp lý các tất cả các Khu CNC quốc gia.

2

CHƢƠNG 1 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1. Các nghiên cứu có liên quan được thực hiện trong nước

1.2. Các nghiên cứu quốc tế

2. Câu hỏi nghiên cứu

Để tiếp cận cácmục tiêu nghiên cứu của đề tài, quá trình nghiên cứu được thực hiện thông qua quá trình giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:

 Bản chất pháp lý của Khu công nghệ cao là gì?

 Kinh nghiệm của một số nước điển hình trong việc xây dựng Quy chế pháp lý Khu CNC.

Quy chế pháp lý phù hợp cho sự hoạt động hiệu quả của các Khu công nghệ cao Việt Nam là gì? 3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, luận ánsử dụngmột số cơsở lý thuyết có liên quan đến đềtài. Cụ thể:

Các lý thuyết kinh tế về vai trò của khoa học công nghệ đối với nền kinh tế.

Lý thuyết kinh tế cho sự tồn tại của Khu công nghệ cao..

Lý thuyết kinh tế cho sự tồn tại độc lập của Khu công nghệ cao.

Lý luận về vai trò và chức năng kinh tế của nhà nước

Cơ sở lý luận về thực thi nguyên tắc quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ

Cơ sở lý luận về phân cấp quản lý và cuối cùng là cơ sở lý luận về trao quyền tự quyết cho cơ sở. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở nền tảng tư duy tiếp cận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Thông quađó, trong từng nội dung cụ thể của luận án, nghiên cứu sinh sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý phù hợp với nội dung đề cập. Cụ thể, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học sau đây:

 Phương pháp tổng hợp.

 Phương pháp phân tích luật học.

 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia.

 Phương pháp nghiên cứu so sánh.

5. Những điểm mới khoa học của luận án

Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu được xác định, qua quá trình thực hiện, kết quả nghiên cứu đạt được của đề tài đã đóng góp một số điểm mới trong khoa học pháp lý về Khu công nghệ cao như sau:

Tiếp cận đối tượng nghiên cứu trên cơ sở các lý thuyết có liên quan.

Đóng góp khoa học trước hết của Luận án là cung cấp phương thức tiếp cận đối với Khu CNC trên cơsởcác lý thuyết có liên quan. Thực tế, các nghiên cứu có liên quan về đề tài được côngbố trước đâychỉ trình bày lýdo cho sự hiện diện của các Khu CNC trên cơ sở đánh giá về đóng góp kinh tế của Khu đối với hoạt động kinh doanh và nền kinh tế. Với luận án, trên cơ sở hướng tiếp cận căn bản từ lý luận đến thực tiễn, nội dungđãphân tích lý do cho sự hiện diện của các Khu CNC trên cơ sở các lý thuyết kinh tế có liên quan, gồm lý thuyết về vai trò của khoa học, công nghệ đối vơi tri thức, lý thuyết về NIS và RIS và đặc biệt là đặt tiền đề để ghinhận sự tồn tại độc lập của các Khu CNC trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã trangbị cơsở lý luận để từ đó tiếp cận và đưa ra những định hướng, đề xuất phù hợp trong xây dựng quy chế hoạt động Khu công nghệ cao sau đó.

Quy chế pháp lý Khu công nghệ cao
Quy chế pháp lý Khu công nghệ cao

Xác định rõ địa vị pháp lý của các Khu công nghệ cao cấp quốc gia.

Rõ ràng, hiệu quả hoạt động của một đơn vị kinh tế – pháp lý Khu CNC phụ thuộc rất nhiều vào địa vị pháp lý của đơn vị đó.Việc xácđịnhvà định vị sai địa vị pháp lý của đơn vị dẫn đến hậu quả là đơn vị kinh tế đó không có đầy đủ thẩm quyền và năng lực để tiến hành các hoạt động mang lại hiệu quả như những mục tiêu được đặt rađốivớihọ. Hay nói cách khác, địa vịpháp lý không tương xứng có thểbiến các mục tiêu hoạtđộngtrởthành nhữngảo vọngxa vời. Trong khi đó, khả năng đóng góp và xu hướng phát triển của các Khu CNC không nhữngđược khẳngđịnhvề mặt lý thuyết mà còn về mặt thực tiễn kinh nghiệm của nhiều nước. Tình huống này hiện tại đang xảy ra đối với việc ghi nhận địa vị pháp lý của các Khu CNC tại Việt Nam, đặc biệt là Khu CNC TP.HCM.

Trên cơsởkếtquảnghiên cứu, đềtài khẳngđịnh rằng, Khu CNC cấp quốc gia cần được xác định lại, tương xứngvới “cấp quốc gia”hữu danh vô thực mà Chính phủ đang dành cho các Khu CNC như hiện nay. Đặc biệt, đề tài đã chỉ ra sự phân biệt đối xử trong quy chế pháp lý giữa các Khu CNC cùng cấp – cấp quốc gia. Vàđươngnhiên từ đó, đề tài đã đưa ra lập luận để đề nghị Chính phủ áp dụng một chính sách chung, công bằng vàkhông tính phân biệt đối xử giữa các Khu, nhất là việc cần thiết phải áp dụng chính sách ứng xử cởi mở hơn đối với Khu CNC TP.HCM. Đây là đề xuất nhằm xoá bỏ tình trạng Chính phủ hiện đang áp dụng nhiều quy chế khác nhau cho cùng một loại Khu CNC quốc gia như hiện nay.

Đề xuất mô hình tăng cường quyền tự chủ cho các Khu công nghệ cao cấp quốc gia

Nhiều lý thuyết chỉ ra rằng, thể chế cởi mở và việc ghi nhận quyền tự quyết là con đường khai phóng, đưa các đơn vị kinh tế – pháp lý có tính độc lập vượt qua sức ì và phát triển vượt bậc. Điều nàygần đâyđã được phản ánh qua ý kiến của nhiều chuyên gia, tại nhiều đàn tìm kiếm giải pháp hướng ra cho TP.HCM hay các đơn vị kinh tế – hành chính đặc thù trong tương lai.

Các Khu CNC, mô hình phát triển trên cơ sở lý thuyết về phát triển nền kinh tế tri thức và thâm dụng khoa học công nghệ, cũng cần các tiền đề như thế về thể chế pháp lý để tồn tại, hoạt động, phát triển và từ đó đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội cũng như sự tiến bộ chung của cộng đồng. Điều đặc biệt là quy chế pháp lý hoạt độnghiệu quả đồngthời tăngcườngquyền tự chủ cho các đơn vị cơ sở cũngđãvà đangđược vận dụngkhá linh hoạt vào xã hội Việt Nam. Chính vì vậy, mô hình một Khu công nghệ cao với quyền tự chủ lớn hơn và quyền tựquyết rộng hơn là một đề xuất mới từ kết quả nghiên cứu của đề tài này.

Các gợi ý về hoàn thiện khung pháp lý phù hợp

Kết quả nghiêncứu của đề tài đãđưa ra các khuyến nghị về mặt chính sách cho quá trình nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa Khu CNC, đặc biệt là trên cơ sở mô hình tăngcườngquyền tự chủ, tự quyết của khu như vừa đềcập tại điểm mới nói trên. Cụ thể, các đề xuất tiếp theo này nhằm hoàn thiện thể chế pháp lý liên quan đến các lĩnh vực pháp luật được lựa chọn nghiên cứu của đề tài (do giới hạn dung lượng thời gian): quản lý đất đai; huyđộngvàsử dụng vốn tài chính ; hoạt động nghiên cứu phát triển và ươm tạo công nghệ.

Về lĩnh vực đất đai, đề tài đã đưa ra các đề xuất để giải quyết các vấn đề đang tồn tại là: (i) Ban quản lýKhu CNC đang chịu sự trói buộc không cần thiết khiđưara quyết định liên quanđến cấp quyền sử dụngđất và sửdụng đất trong Khu CNC, (ii) sự tham gia không cần thiết của cơ quan quản lý địa phương trong nhiều tình huống không cần thiết khi Khu CNC là đơn vị kinh tế – pháp lý cấp quốc gia và có quyền tự quyết nhất định nhưđã đềxuất, và (iii) nhiều quy định quản lý đất đai trong nội bộ Khu dành cho Khu chưa được thực hiện trôi chảy.

Về lĩnh vực huyđộngvà sử dụng vốn tài chính, trên cơ sở tìm kiếm nguồn huyđộngtài chính một cách hợp lý cho Khu CNC hoạt độngđộc lập và tự quyết, đề tàiđãtìm kiếm giải pháp nhằm (i) phân luồng việc kiểm soát nguồn thu giữa Khu CNC và cơ quan thuế, (ii) thực hiện đúng các quy định về chia sẻ tài chính trong thu ngân sách, và (iii) thúc đẩy quá trình phát triển nguồn thu tại Khu CNC thậm chí bằng các quyết định tự ưu đãi trong nội

6

bộ khu, để tăng nguồn tài chính huyđộngcho Khu CNC mà không làm hoặc ít làmảnh hưởngnhất đến mức thu ngân sách chung.

Về hoạt độngnghiên cứu phát triển và ươm tạo công nghệ, đề tài đã tìm kiếm giải pháp để Khu CNC phát huyđược nănglực của mình trong các hoạt động này. Nghiên cứu phát triển có thể được xem là hoạt động quan trọng, đặc thù và lợi thế nhất của Khu CNC với các khu kinh tế khác. Điều này cũngđã được xácđịnh trong các chiến lược phát triển của Khu CNC theo địnhhướngtạo môi trường để Nghiên cứu – Ươm mầm – Ứng dụng. Tuy nhiên, với địa vị pháp lý hiện tại, quy chế pháp lý hiện thời, mục tiêu và hoạt độngđộngnày đang đi vào ngõ cụt. Xác định các nguyên nhân nào và giải pháp nào giải quyết tình huống đó vì vậy là một điểm mới trong đóng góp của đề tài này với vấn đề nghiên cứu.

6. Bố cục của đề tài

Trên cơ sở phạm vi, đối tượng, các vấn đề nghiên cứu cũng như mục tiêu của đề tài, luận án được thiết kếthành 3 phần, gồm:

– Phần mở đầu.

– Phần nội dung với 4 chương:

 Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài

 Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Quy chế pháp lý Khu công nghệ cao

 Chương 3: Kinh nghiệm củamộtsốnước điển hình trong việc xây dựng Quychếpháp lý Khu công

nghệ cao

Chương 4: Quy chế pháp lý Khu công nghệ cao ở Việt Nam: Thực trạng và hướng hoàn thiện – Phần kết luận.

7

CHƢƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG QUY CHẾ PHÁP LÝ KHU CÔNG

NGHỆ CAO

1. Cơ sở kinh tế đối với hoạt động của Khu công nghệ cao 1.1. Vai trò của Khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế

Thực ra, nhìn nhận vai trò quan trọng của tri thức trong phát triển kinh tế không phải là ý kiến mới. Adam Smith đã đề cập đến đóng góp quan trọng của đội ngũ chuyên gia. Friedrich List nhấn mạnh đến các thiết chế và hạ

tầng tạo ra và đóng góp về mặt tri thức. Schumpeter và nhóm quan điểm này thì đưa ra quan điểm về vai trò của sáng tạo đối với quá trình phát triển năngđộngcủa nền kinh tế. Cáctiếp cận đền tảngđó là tiền đề tạo ra làn sóng nghiên cứu và phân tích về vai trò của kỹ thuật, tri thức và “sáng tạo” (innovation) trong suốt một thế kỷ qua.

Theo OECD, các chính sách của nhànước cóliên quan đến khoa học – công nghệ, công nghiệp và giáo dục đều phải hướngđến trọngtâm mới là nền kinh tế tri thức [50].Đó là lý do vì sao, ảnh hưởng của sự tiến triển vềmặt công nghệ lên nền kinh tế và phát triển về sau này thường được xem xét ở góc tiếp cận rộng, với nội dung của một hệ thống đổi mới quốc gia (NIS – national innovation system), và theo đó, NIS ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế tri thức [51].

Đến lúc này, định vị NIS và phân tích tácđộngcủa nó đối với quá trình phát triển còn có nhiều ý nghĩa hơn. Việc nắm bắt các yếu tố của NIS, kiến tạo và thực thi hiệu quảcác yếu tố của một NIS vì vậy phải là mục tiêu của chặngđườngphát triển kinh tế. Đáng nói hơn là chính NIS đã trở một trong số nhóm lý thuyết quan trọng cho sựhiện hiện các chính sách phát triển công nghệ và các Khu công nghệ cao (STP).

Về mặt lý thuyết, NIS được sử dụng để chỉ đến “mối tương tác đầy phức tạp giữa các cá nhân, thiết chế và tổchức trong quá trình sản sinh các ý tưởng và sángtạo mới để từ đó manglại sự giàu có cho quốc gia” [55]. Nói cách khác, đổi mới không phải luôn luôn diễn ra theođườngtuyến tính khi mà các thiết chế R&D vẫn đang sản xuất ra cácý tưởngvà sản phẩm mới. Thay vào đó, NIS (hoặc hệ thống đổi mới khu vực – Regional Innovation System (RIS)) mang hàm ý rằng trong hệ thống đó chúng ta có thể “xác định các nhân tố, các mối tương tác, môi trường và các nhà tiên phong sản xuất ra các tổ hợp và ý tưởng hữu dụng về mặt kinh tế [56].

Thực ra, trong nền kinh tế tri thức, tốc độ và lợi thế dịch chuyển vượt trội là khía cạnh chính yếu của cạnh tranh. Vì vậy, thông tin, công nghệ, và kinh tế mạng lưới trở thành những điều kiện thiết yếu cho sự phát triển công nghiệp trong vùng. Suy cho cùng, nhiều khi không hẳn là NIS hay RIS mà điều quan trọng là cần phải tạo ra sựphát triển kinh tế khu vực nhanh và đổi mới nhiều hơn [75].Chỉ có điều, nếu quản lý ở phạm vi quốc gia chúý đến các điều kiện chung, khuyến khích đổi mới cũng như thiết lập tầm nhìn chiến lược cho nền kinh tế quốc gia thìởcấp độ khu vực, các chính sách và hoạt động quản lý hướngđến mức độ tích hợp các nghiên cứu, sáng tạo vào chiến lược phát triển khu vực [76]. Đặc biệt, khác với NIS, RIS ra đời là để thúc đẩy văn hóa sáng tạo, môi trường và năng lực cạnh tranh cho sự phát triển kinh tế vùng.

1.2. Cơ sở xây dựng Khu công nghệ cao (Khu CNC)

Trong nhiều nghiên cứu các chuyên gia chưa thật sự gắn chặt cơ sở lý luận lý giải cho sự ra đời của các Khu CNC với lý thuyết về cụm (cluster theory). Điều này, cùng với lý thuyết về vị trí (location theory), một phần còn chứng tỏ sự phổ quát của lý thuyết về cụm trước nhu cầu phát triển các cụm công ty nghiên cứu quanh các cơsởđào tạo [89]. Đương nhiên, trong hệ sinh thái đổi mới quốc gia lẫn khu vực, có nhiều chủ thể khác nhau đóng vai trò thúc đẩy tiến trình của chính sách công nghệ NIS và RIS, như nhà nước và chủ thể công khác. Dù vậy, Công viên khoa học hay Cụm tập trung nghiên cứu vẫn được xem là công cụ quan trọng, hữu ích bởi những lợi thế của cách tiếp cận này. Hay nói cách khác, chính vai trò của Khu CNC đối với nền kinh tế – xã hội là lý dođể xâydựng và nâng cao hiệu quảhoạtđộngcủa các thựcthểnày. Từgóc nhìn nghiêncứucơsở lýthuyết, Khu CNC cũngđược đánhgiá là có vai trò quan trọngđối với quátrình “biến đổi và phát triển của khu vực” trong trục tri thức.Đặc biệt, hoạt độngcủa Khu CNC đã tạo ra khả năng tận dụng rất nhiều nguồn lực tại chỗ cho các công ty hướng

8

đến cáccông nghệ non trẻ cũng như sự thành công của các công ty đó. Điều quan trọng là các Khu CNC đãđưara nhiều dịch vụ cũng như cơ chế hỗ trợ đầy ý nghĩa cho khu vực, thông qua đó tạo dựng mạng lưới và trao đổi giữa trường đại hoc, giới nghiên cứu, kỹ sư và cộngđồngdoanh nghiệp. [104]. Hơn tất cả, vai trò đó của Khu CNC đối với quá trình phát triển và thúc đẩy cạnh tranh vẫn đang tiếp tục diễn ra và tăng mạnh [105].

2. Cơ sở lý luận pháp luật về Khu công nghệ cao

2.1. Cơ sở lý luận về vai trò và chức năng quản lý kinhtế của nhà nước

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUY CHẾ PHÁP LÝ KHU CÔNG NGHỆ CAO

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *