Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động ngân hàng khách hàng cá nhân đang ngày càng trở nên quan trọng. Sự phát triển của tín dụng khách hàng cá nhân đã trở thành yếu tố quyết định đến việc tồn tại và phát triển của các Ngân hàng Thương mại (NHTM). Tín dụng khách hàng cá nhân (TDKHCN) không chỉ mang lại nguồn thu ổn định và sự phát triển lâu dài cho NHTM mà còn tạo cơ hội để xây dựng hình ảnh thương hiệu và tiếp cận khách hàng để bán kèm các dịch vụ khác.
Song hành với những lợi ích mà tín dụng mang lại, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiệt hại tối đa khi rủi ro xảy ra . Một trong những rủi ro quan trọng đó là nợ xấu, nợ quá hạn gây ảnh hưởng tiêu cực do việc thu hồi nợ khó khăn tồn tại nguy cơ mất vốn vay và làm suy yếu tình hình tài chính của các NHTM. Rủi ro nợ xấu đe dọa sự ổn định hoạt động của các NHTM và có thể tác động tiêu cực đến sự ổn định của nền kinh tế.
Đặc biệt, trong giai đoạn 2020 – 2022, đại dịch COVID – 19 đã lan rộng trên toàn cầu và gây ra tác động tiêu cực chưa từng có tiền lệ đến tất cả các khía cạnh của đời sống, kinh tế, sản xuất kinh doanh, việc làm và thu nhập của người lao động. Tình hình phong tỏa dài hạn để đối phó với đại dịch đã khiến cho hầu hết các cá nhân, doanh nghiệp đều bị sụt giảm nguồn thu nhập nghiêm trọng, làm nợ xấu và nợ quá hạn tăng cao. Do đó các NHTM cần thực hiện các biện pháp kiểm soát và hạn chế rủi ro trong hoạt động TDKHCN nhằm đảm bảo an toàn và sự ổn định trong tình hình mới.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong những ngân hàng có vốn góp sở hữu nhà nước và có uy tín hàng đầu trong ngành. Được thành lập từ ngày 26/04/1957, BIDV hiện có 190 chi nhánh tại các tỉnh/thành phố, hơn 25.000 cán bộ, trên 871 điểm mạng lưới, 57.825 ATM và POS tại 63 tỉnh/thành phố, 6 các quốc gia hiện diện thương hiệu, cùng quan hệ hợp tác với nhiều ngân hàng của các quốc gia trên thế giới, BIDV đã đạt được những thành tựu đáng tự hào khi được trao giải thưởng “Ngân hàng Khách hàng cá nhân tốt nhất Việt Nam – Best Retail Bank” do Tạp chí The Asian Banker bình chọn. Ngoài ra, BIDV cũng nhận được giải thưởng “Ngân hàng chuyển đổi số tiêu biểu năm 2020” và giải thưởng “Ngân hàng Khách hàng cá nhân Tiêu biểu trong 5 năm liên tiếp (2016-2020)” do Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế tại Việt Nam và Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phối hợp bình chọn.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn (BIDV Sông Hàn) là một trong 190 chi nhánh chính thức của BIDV, hoạt động tại 129 Lê Lợi, phường Hải Châu I, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng từ ngày 23/05/2015 đến nay. BIDV Sông Hàn đã có một tốc độ tăng trưởng đối với TDKHCN đáng kể nhưng cũng phải đối mặt với tình hình đáng lo ngại khi chỉ tiêu nợ xấu và nợ quá hạn tăng lên. Đây là hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nợ quá hạn, nợ xấu, có xu hướng ngày càng gia tăng theo sự tăng trưởng tín dụng. Với tỷ trọng dư nợ KHCN trên tổng dư nợ toàn Chi nhánh ngày càng tăng, phân bổ trên một số lượng khách hàng lớn nên việc xảy ra tình trạng nợ quá hạn không được kiểm soát triệt để, mang lại hậu quả với mức độ rất lớn đối kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh. Mặt khác, trước áp lực tăng trưởng tín dụng nên việc thẩm định cấp tín dụng đối với khách hàng cá nhân còn thấp. Chính vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra là Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân là hoạt động phải được chú trọng trên hết, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng và tăng thêm lợi nhuận kinh doanh, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của BIDV Sông Hàn nói riêng cũng như toàn bộ hoạt động kinh doanh của chi nhánh nói chung.
Xuất phát từ những lập luận trên đây, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn” làm Đề án thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh với mục tiêu tăng cường QTRR trong hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn. Đề án đã cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng hiện tại, đánh giá cẩn thận các ưu điểm và hạn chế để từ đó đề xuất những giải pháp thiết thực và phù hợp để BIDV Sông Hàn có thể nâng cao khả năng KSRR của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp cụ thể để tăng cường QTRR tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn.
2.2. Mục tiêu cụ thể
(1) Phân tích thực trạng QTRR trong hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn.
(2) Đánh giá các hạn chế hiện tại trong việc QTRR hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn và xác định nguyên nhân gây ra những hạn chế này.
(3) Đề xuất giải pháp thiết thực và một số kiến nghị có hiệu quả nhằm tăng cường QTRR trong hoạt động TDKHCN tại BIDV Sông Hàn.
Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài cần được giải quyết, bao gồm:
(1) Thực trạng QTRR hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn như thế nào?
(2) Nguyên nhân nào tác động đến các hạn chế của công tác QTRR hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn?
(3) Các giải pháp nào cần đề xuất nhằm tăng cường để hạn chế rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là QTRR trong hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu thực hiện tại BIDV Sông Hàn.
– Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo kết quả kinh doanh liên quan đến KSRR trong hoạt động TDBL của BIDV Sông Hàn trong giai đoạn 2021 – 2023.
Trong đề án, chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, chưa có điều kiện và không có điều kiện thực hiện phương pháp định lượng. Các nguồn số liệu chủ yếu là số liệu thứ cấp của Chi nhánh và một số nguồn khác. Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề án kết hợp và tổng hợp các phương pháp sau:
– Phương pháp thống kê và so sánh: Đề án sử dụng số liệu từ các báo cáo và thống kê kết quả kinh doanh của BIDV Sông Hàn trong giai đoạn 2021 – 2023. Phương pháp này cho phép tác giả phân tích, so sánh và đưa ra nhận xét về thực trạng QTRR hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp, suy luận logic: Trên cơ sở các văn bản, số liệu thống kê thu thập được, tác giả đã phân tích, đánh giá những hạn chế và và xác định nguyên nhân gây ra những hạn chế trong QTRR tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn. Từ đó, tác giả suy luận logic để đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm tăng cường QTRR trong hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn trong thời gian tới.

6.1. Về mặt nghiên cứu khoa học
Đề án đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan đến QTRR trong tín dụng khách hàng cá nhân của NHTM.
6.2. Về mặt thực tiễn
Từ các số liệu thực tế của BIDV Sông Hàn về tỷ lệ nợ xấu khách hàng cá nhân tăng cao trong giai đoạn 2021 – 2023, đề án đã đi sâu phân tích thực trạng, đánh giá những thành tựu đã đạt được cùng những hạn chế và nguyên nhân gây ra các hạn chế trong công tác KSRR trong tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV Sông Hàn. Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị có tính khả thi, phù hợp với BIDV Sông Hàn như: nghiêm túc tuân thủ quy định, nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, nâng cao chất lượng nhân sự, chuyển giao, chia sẻ và đa dạng hóa rủi ro, …, đồng thời đề án cũng đưa ra một số kiến nghị đối với BIDV, nhằm tạo điều kiện để BIDV Sông Hàn thực hiện hiệu quả các giải pháp trên.
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, đề án được thiết kế gồm 3 chương chính, như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng khách hàng cá nhân và kiểm soát rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại.
Chương 2: Thực trạng Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn.
Chương 3: Giải pháp tăng cường kiểm soát để hạn chế rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
❖ Khái niệm rủi ro tín dụng
Khái niệm RRTD có nhiều quan điểm nghiên cứu khác nhau.
• Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank), “Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng”.
• Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nợ và lãi”.
Bên cạnh đó, tại Việt Nam thì RRTD được định nghĩa như sau:
• Nguyễn Văn Tiến (2010): “Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu đủ được đầy đủ gốc và lãi khoản vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc lãi không đúng kỳ hạn. Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn thì ngân hàng không chịu bất cứ rủi ro tín dụng nào. Trong trường hợp người vay tiền phá sản thì việc thu hồi gốc lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó, ngân hàng có thể gặp Rủi ro tín dụng”.
• Ngân hàng Nhà nước (2018), Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/5/2018: “Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất (tổn thất tài chính, tổn thất phi tài chính) làm giảm thu nhập, vốn tự có dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của ngân hàng thương mại chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.
• Ngân hàng Nhà nước (2021), Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.
Từ các quan điểm trên, để phù hợp pháp luật Việt Nam, trong khuôn khổ đề án này, RRTD được hiểu là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ việc người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán. Điều này có nghĩa là RRTD phát sinh khi khách hàng không thanh toán đầy đủ gốc, lãi hoặc thanh toán không đúng kỳ hạn.
❖ Khái niệm rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Nirav Choksi, Armaan Joshi (2022) cho rằng “Rủi ro tín dụng đề cập đến rủi ro thua lỗ mà người cho vay phải đối mặt do người đi vay không trả được tiền gốc và lãi. Trong phạm vi cho vay cá nhân, đánh giá rủi ro tín dụng liên quan đến việc xác định liệu một cá nhân có nên được cấp tín dụng hay không. Với sự bùng phát của đại dịch và cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra sau đó, việc đánh giá rủi ro tín dụng đã trở thành vấn đề trọng tâm đối với các tổ chức tín dụng”.
1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Theo Ashish Kumar Srivastav (n.d), RRTD được phân loại như Sơ đồ 1.1:
Sơ đồ 1.1. Phân loại rủi ro tín dụng
(Nguồn: Ashish Kumar Srivastav (n.d))
• Rủi ro vỡ nợ: Là khi bên vay không thể trả đủ nợ gốc và lãi suất cho khoản vay hoặc các công cụ nợ khác. Vỡ nợ xảy ra do khả năng trả nợ tín dụng của cá nhân giảm sút hoặc do những xáo trộn bên ngoài như thay đổi điều kiện thị trường hoặc kinh tế biến động.
• Rủi ro tập trung: Xảy ra khi các NHTM có thể tập trung vào một lĩnh vực hoặc một nhóm người đi vay. Do đó, việc tập trung danh mục đầu tư là rất rủi ro vì nếu có bất kỳ điều kiện bất lợi nào trong lĩnh vực, khu vực đó hoặc cá nhân người đi vay, khoản vay có thể không thu hồi được.
• Rủi ro đối tác: Các ngân hàng thường tham gia vào các giao dịch liên quan đến các hợp đồng phái sinh hoặc bất kỳ hình thức tài trợ thương mại nào. Trong những trường hợp như vậy, các bên cũng có thể không tôn trọng hợp đồng, do thiếu trung thực, khả năng tài chính yếu, sự suy giảm tình hình kinh doanh, hay thậm chí là các hành vi gian lận hoặc gây hại của bên đối tác, từ đó không trả được nợ.
• Rủi ro chủ quyền: Một số ngân hàng mua trái phiếu chính phủ. Họ cũng có thể tiếp xúc với các chính phủ nước ngoài. Những chính phủ đó có thể không thanh toán được các nghĩa vụ nợ do bất ổn chính trị hoặc kinh tế.
1.1.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Xuất phát từ bản chất của mối quan hệ tín dụng và từ khái niệm cũng như dấu hiệu của rủi ro tín dụng, có thể thấy những đặc điểm sau:
– Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp
Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại, thất thoát về vốn xảy ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng. Biểu hiện rõ ràng của đặc điểm này là trong thực tế, ngân hàng thường biết sau cũng như biết không đầy đủ và chính xác những khó khăn, thất bại trong hoạt động kinh doanh của khách hàng có thể gây ra rủi ro tín dụng.
– Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp
Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng. Đây là đặc điểm tất yếu của rủi ro tín dụng do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối liên hệ gián tiếp với rủi ro tín dụng khiến sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng càng thể hiện rõ ràng.
– Rủi ro tín dụng có tính tất yếu luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tin dụng của ngân hàng
Thông tin không cân xứng là nguyên nhân khiến các nhà kinh tế cũng như các nhà ngân hàng cho rằng kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng. Do không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay cho hoạt động kinh doanh của khách hàng đi vay, bất cứ một khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro đối với các ngân hàng.
1.1.4. Nguyên nhân và ảnh hưởng của rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Theo Ashish Kumar Srivastav (n.d), mức ảnh hưởng và nguyên nhân gây ra RRTD như sau:
– Nguyên nhân gây ra RRTD khách hàng cá nhân tại các NHTM:
+ Tập trung tín dụng: Khi các NHTM tập trung vào một/nhóm người vay có liên hệ với nhau hoặc một lĩnh vực/ngành sẽ gây ra sự tập trung tín dụng. Khi có yếu tố tác động đến hoạt động của một/nhóm người vay hoặc một lĩnh vực/ngành sẽ gây ra RRTD với quy mô lớn cho các NHTM.
+ Quy trình cấp tín dụng: Sự không tuân thủ hoặc tuân thủ đầy đủ sẽ gây ra RRTD cho NHTM, cụ thể:
• Đánh giá, thẩm định không đầy đủ: Để thẩm định trước cho vay, ngân hàng cần kiểm tra chính xác các thông tin: (1) lịch sử tín dụng, (2) năng lực tài chính, (3) phương án vay, (4) điều kiện cho vay và (5) TSĐB.
• Ra quyết định chủ quan: Xảy ra khi mà lãnh đạo cấp cao được trao toàn quyền quyết định. Khi lãnh đạo được phép đưa ra các quyết định độc lập mà không cần phải có bất kỳ sự phê duyệt nào thì có thể có những trường hợp bỏ qua các đánh giá trước khi cấp tín dụng hoặc thả lỏng điều kiện cho vay,….
• Giám sát không đầy đủ: Về dài hạn, giá trị của TBĐS có thể xấu đi theo thời gian. Nếu có bất kỳ sự suy giảm nào về giá trị TSĐB, khách hàng vay cần bổ sung hoặc thay thế TSĐB theo yêu cầu. Ngoài ra, còn có các trường hợp tranh chấp TSĐB gây gia tăng RRTD. Các ngân hàng cần xác minh sự tồn tại, giá trị TSĐB và các vấn đề về pháp lý của TSĐB để tránh rủi ro.
+ Hiệu suất theo chu kỳ: Nền kinh tế mang tính chu kỳ, có thể trải qua giai đoạn suy thoái hoặc tăng trưởng. Trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế, có thể đánh giá người đi vay uy tín và tài chính tốt. Tuy nhiên, khi nền kinh tế đi xuống, khách hàng có thể suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập, gây RRTD cho NHTM.
– Ảnh hưởng của rủi ro TDKHCN đối với các NHTM:
+ Dự phòng rủi ro cho vay tăng: Khi cho vay, các NHTM phải trích lập quỹ dự phòng khả năng vỡ nợ từ người đi vay. Nếu xảy ra tình trạng vỡ nợ nghiêm trọng, khoản dự phòng này sẽ tăng lên và sẽ làm giảm lợi nhuận của các NHTM.
+ Tổn thất tài chính: Việc vỡ nợ sẽ dẫn đến thua lỗ vì các ngân hàng không nhận được số tiền đáng lẽ phải nhận được.
+ Căng thẳng về tính thanh khoản: Khi nhiều khách hàng mất khả năng trả nợ sẽ dẫn đến việc NHTM bị giảm nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn và có thể gây ra khủng hoảng thanh khoản.
+ Thiệt hại về uy tín: Việc vỡ nợ nặng nề chắc chắn sẽ dẫn đến mất uy tín ngân hàng, bởi vì khách hàng sẽ cảm thấy rằng các nhà lãnh đạo ngân hàng không đủ năng lực để xử lý công việc kinh doanh.
+ Chi phí đi vay cao: RRTD cao sẽ dẫn đến chi phí đi vay từ thị trường liên ngân hàng của các NHTM cao hơn do họ sẽ phải đối mặt với thời hạn vay chặt chẽ hơn để bù đắp rủi ro.
1.1.5. Tác động của rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân
- Đối với hoạt động ngân hàng
Rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân nói riêng xảy ra có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh làm giảm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng. Dù xảy ra ở mức độ nào thì rủi ro tín dụng cũng để lại những thiệt hại cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân làm cho lợi nhuận suy giảm: khi xảy ra ở mức độ nhẹ là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng hơn là ngân hàng không thu được cả vốn lẫn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Mặt khác ngày nay, hoạt động tín dụng cá nhân chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng tài sản có của một ngân hàng thương mại, đó là hoạt động tạo ra lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng. Do vậy, nếu có rủi ro trong hoạt động tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân thì lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm sút.
Rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân làm giảm uy tín của ngân hàng: một ngân hàng có rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân lớn thể hiện là một ngân hàng kinh doanh kém, điều này thể hiện nguy cơ bị mất vốn cao, trong khi đó, ngân hàng kinh doanh bằng nguồn vốn huy động được từ nguồn tiền gửi, tiền tiết kiệm của dân cư, do vậy dân chúng sẽ thiếu lòng tin vào khả năng kinh doanh và khả năng hoàn trả của ngân hàng. Kết quả là khả năng huy động vốn của ngân hàng gặp khó khăn. Đồng thời, các ngân hàng nước ngoài cũng vì thế mà xa lánh, không cấp hạn mức tín dụng, không mở quan hệ tín dụng…
Rủi ro tín dụng trong cho vay làm giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng: các khoản tín dụng cá nhân có rủi ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn, trong khi đó thì ngân hàng phải thanh toán những khoản tiết kiệm, tiền gửi của dân cư khi đến hạn. Khi rủi ro tín dụng ở mức nhẹ thì ngân hàng có đủ khả năng để chi trả, nhưng khi rủi ro tín dụng xảy ra ở mức độ nghiêm trọng, khi đó uy tín của ngân hàng bị giảm sút dẫn đến việc rút tiền của dân cư tăng lên thì khả năng thanh khoản của ngân hàng bị giảm sút nghiêm trọng.
Rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân có thể dẫn đến phá sản: khi rủi ro tín dụng cá nhân xảy ra với tình trạng kéo dài không khắc phục được, vớisự tác động trên 3 phương diện trên đến một mức độ nào đó thì sẽ đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản.
- Đối với nền kinh tế:
Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng với tư cách là trung gian của đời sống kinh tế, nó có quan hệ trực tiếp và thường xuyên với các tổ chức kinh tế, vì vậy kinh doanh ngân hàng gặp phải rủi ro tất yếu sẽ gây ra những ảnh hưởng đối với nền kinh tế và đời sống kinh tế xã hội. Rủi ro làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm, từ đó ngân hàng không có khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng và chi trả chậm đối với người cho vay. Vì vậy, xét trong nền kinh tế, rủi ro làm cho sản xuất bị đình trệ, các doanh nghiệp phải đóng cửa, hàng hoá không đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường, tới một chừng mực nào đó làm giá cả hàng hóa tăng vọt, đó chính là một trong những nguyên nhân của lạm phát. Mặt khác, các ngân hàng thường lập một hệ thống chặt chẽ có mối liên hệ với nhau, khi một ngân hàng gặp phải rủi ro có nguy cơ dẫn đến phá sản dễ dàng kéo theo tình trạng khủng hoảng của cả hệ thống ngân hàng, gây mất ổn định trên thị trường tiền tệ. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế phát triển, mọi hoạt động thanh toán giao dịch của khách hàng đều được thực hiện qua ngân hàng, các doanh nghiệp song chủ yếu nhờ vốn ngân hàng, nên khi ngân hàng gặp rủi ro lớn có thể gây chậm trễ trong công tác thanh toán của khách hàng, làm cản trở trực tiếp quá trình chu chuyển vốn tất yếu làm giảm lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp.
Để đạt được lợi nhuận cao, thu hút thêm nhiều khách hàng, nâng cao sức cạnh tranh, các NHTM luôn tìm cách mở rộng hoạt động tín dụng, cung ứng nhiều hơn các sản phẩm dịch vụ phục vụ khách hàng, song song với đó các ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn. Các loại rủi ro này luôn tiềm ẩn làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận, lỗ hoặc mất vốn dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn vốn để chi trả tiền gửi cho khách hàng. Các NHTM do không thu hồi được các khoản nợ và lãi đến hạn, dẫn đến mất khả năng thanh toán, nếu nghiêm trọng và kéo dài dễ gây hiệu ứng phản ứng dây chuyền, đe dọa đến hàng loạt các NHTM khác do khách hàng đua nhau rút tiền gửi, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng tài chính, tiền tệ.
Tóm lại, rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
1.2. QUẢN TRỊ VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NHTM
1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Theo quan điểm hiện đại, quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm tối đa hoá lợi nhuận trong phạm vi mức rủi ro có thể chấp nhận. Kiểm soát rủi ro tín dụng ở mức có thể chấp nhận là việc NHTM tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, nhằm tăng doanh thu tín dụng, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt được hiệu quả trong kinh doanh tín dụng cả trong ngắn hạn và dài hạn. “Hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử cho sự thành công của Ngân hàng trong dài hạn” (Basel Committee on Banking Supervision, 2000).
Theo PGS. TS Đinh Xuân Hạng và Th.S Nguyễn Văn Lộc trong giáo trình “Quản trị tín dụng Ngân hàng thương mại” của Học viện tài chính (2012) thì: “Quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng là tổng hóa các biện pháp, các chính sách để nắm bắt được sự phát sinh và lượng hóa được những tổn thất tiềm ẩn từ đó tìm cách giảm thiểu hoặc loại bỏ những tổn thất này”.
Như vậy, quản trị rủi ro tín dụng là quá trình các ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ chức, triển khai thực hiện và giám sát, kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận. Kiểm soát rủi ro ở mức có thể chấp nhận được là việc NHTM tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, nhằm tăng doanh thu tín dụng, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt được hiệu quả trong kinh doanh tín dụng cả trong ngắn hạn và dài hạn.
1.2.2. Mục tiêu, nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân
1.2.2.1. Mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chủ đạo đem lại phần lớn lợi nhuận cho NHTM. Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân hướng vào việc hạn chế rủi ro tín dụng cá nhân và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM ngay trong những điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không ngừng gia tăng gây ảnh hưởng đến nhu cầu của cá nhân và hộ gia đình. Cụ thể hơn, quản trị rủi ro tín dụng cá nhân nhằm vào việc hạ thấp tỷ lệ rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàn cho hoạt động kinh doanh bằng các chính sách, các biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng cá nhân một cách an toàn và hiệu quả.
Ngoài ra, quản trị rủi ro tín dụng cá nhân còn đảm bảo việc thực hiện kinh doanh tín dụng đúng theo các quy định của Nhà nước và quy định của pháp luật.
1.2.2.2. Nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Ủy ban Basel được thành lập bởi các Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10 vào năm 1975. Ủy ban này bao gồm đại diện cao cấp của các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng và bản than ngân hàng trung ương của các nước Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Ủy ban tổ chức họp thường niên tại trụ sở Ngân hàng thanh toán quốc tế tại Washington hoặc tại thành phố Basel – Thụy Sỹ. Ban Thư ký thường trực của Ủy ban này cũng có trụ sở làm việc tại Thủ đô Washington – Hoa Kỳ.
Các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng KHCN khuyến nghị bởi Ủy ban Basel tập trung vào các vấn đề
- Nguyên tắc 1: Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp
Ủy ban Basel yêu cầu Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt và định kỳ (ít nhất 1 năm/lần) rà soát lại các chiến lược rủi ro tín dụng, các chính sách rủi ro tín dụng đốivới KHCN. Chiến lược này cần bao hàm mức độ chấp nhận rủi ro, khả năng ứng phó dự kiến nếu có xảy ra các loại hình rủi ro tín dụng KHCN. Trên cơ sở này, Ban Tổng giám đốc có trách nhiệm trong khi thực hiện chiến lược quản trị rủi ro tín dụng và xây dựng các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay KHCN.
- Nguyên tắc 2: Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh
– Các ngân hàng cần xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (đối tượng khách hàng, điều khoản, điều kiện cấp tín dụng…). Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng để có thể bao quát được các loại hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối với từng khách hàng. Ngân hàng cần có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng KHCN với sự tham gia của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia, đồng thời cần phát triển đội ngũ nhân viên quản trị rủi ro tín dụng KHCN có kinh nghiệm, có kiến thức, nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản trị rủi ro tín dụng KHCN.
– Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được trong sổ sách kế toán của ngân hàng và sổ sách kế toán kinh doanh, nội bảng và ngoại bảng.
- Nguyên tắc 3: Duy trì một quy trình quản lý, đo lường và giám sát có hiệu quả
– Ngân hàng cần có hệ thống quản trị các danh mục tín dụng KHCN hiệu quả, có hệ thống giám sát đối với các điều kiện liên quan đến từng khoản tín dụng KHCN, bao hàm việc xác định quy mô thích hợp các khoản dự phòng, xây dựng và sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro nội bộ trong quản trị rủi ro tín dụngKHCN. Hệ thống xếp hạng cần phù hợp với tính chất, quy mô và tính phức tạp trong hoạt động ngân hàng.
– Ngân hàng cần có hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích giúp ban điều hành đánh giá rủi ro tín dụng cho các hoạt động trong và ngoài bảng cân đối kế toán; có hệ thống giám sát cơ cấu và chất lượng tổng thể của danh mục tín dụng.
- Nguyên tắc 4: Đảm bảo kiểm soát đầy đủ đối với rủi ro tín dụng KHCN
– Ngân hàng cần thiết lập hệ thống đánh giá độc lập và liên tục đối với các quy trình quản trị rủi ro tín dụng KHCN của ngân hàng và các kết quả đánh giá này cần thông báo cho Hội đồng quản trị và ban quản lý cấp cao.
– Quy trình cấp tín dụng KHCN cần phải được quản lý chặt chẽ, mức cho vay phải nằm trong các chuẩn mực an toàn và giới hạn cho phép. Kiểm soát nội bộ cần báo cáo kịp thời đến các cấp quản lý về những trường hợp ngoại trừ trong các chính sách, quy trình và hạn mức.
– Ngân hàng cần có hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản tín dụng có dấu hiệu xấu đi, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề và các tình huống tương tự.
1.2.3. Nội dung và quy trình quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Quá trình quản trị rủi ro bao gồm 4 nội dung: nhận biết, đo lường, kiểm soát, xử lý tổn thất. Mặc dù có sự phân đoạn trong qui trình quản lý rủi ro tín dụng song một nguyên tắc có tính xuyên suốt là các khâu được phân ra trong qui trình phải luôn có sự liên hệ gắn bó với nhau, tạo thành một chu trình liên tục có vậy mới bảo đảm kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã định. RRTD một khi đã xác định thì cần phải được phân tích, đo lường và đưa ra các biện pháp quản lý theo dõi. Cũng trong quá trình quản lý theo dõi, hệ thống quản trị rủi ro tín dụng phải có khả năng xác định tìm ra các nguy cơ rủi ro mới và công việc của quản trị rủi ro lại được lặp lại.
Quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả không có nghĩa là rủi ro không xảy ra mà là rủi ro có thể xảy ra nhưng xảy ra trong mức độ dự đoán trước và Ngân hàng đã chuẩn bị đủ nguồn lực để bù đắp các rủi ro có thể xảy ra đó.
Nhận diện
Xử lý tổn thất
Đo lường
Phòng ngừa và Kiểm soát
Sơ đồ 1.2: Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
1.2.3.1. Nhận biết rủi ro tín dụng
Nhận biết rủi ro tín dụng là việc phát hiện, xác định được các nguy cơ rủi ro tồn tại trong hoạt động tín dụng. Sự phát triển của công nghệ, thị trường và xu hướng toàn cầu hoá làm cho số lượng rủi ro ngày càng gia tăng và khả năng xảy ra rủi ro sẽ thường xuyên hơn. Vì vậy, một hệ thống quản trị rủi ro có hiệu quả phải là hệ thống có khả năng nhận biết hầu hết các rủi ro hiện hữu trong tín dụng. Bất kỳ khoản vay nào cũng có thể có vấn đề, việc sớm nhận biết vấn đề và có những biện pháp theo dõi nhanh chóng, chuyên nghiệp giúp các vấn đề, tổn thất có thể giảm đến mức thấp nhất. Những dấu hiệu cảnh báo sẽ giúp ngân hàng có thể nhận biết và có giải pháp xử lý sớm các vấn đề một cách hiệu quả. Do đó, để nhận diện rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện bằng các phương pháp: lập bảng câu hỏi nghiên cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ tín dụng, đặc biệt quan tâm điều tra các hồ sơ đã có vấn đề. Kết quả phân tích cho ra những dấu hiệu, biểu hiện, nguyên nhân rủi ro tín dụng, từ đó nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu nhất để phòng chống rủi ro.
* Các yếu tố nhận biết rủi ro trước khi cho vay được áp dụng tại BIDV Sông Hàn
– Hồ sơ khách hàng không hợp pháp, hợp lệ về mặt hình thức, không khớp đúng về mặt nội dung; có dấu hiệu giả mạo về sổ sách, chứng từ (con dấu, chữ ký, số liệu)
– Khách hàng không trung thực khi cung cấp thông tin, có vấn đề về đạo đức, uy tín trong công việc và cuộc sống; có lịch sử vay nợ xấu (có nợ xấu trong 03 năm gần nhất và/hoặc nợ cần chú ý trong 12 tháng gần nhất)
– Khách hàng kinh doanh chứng khoán, cá độ, bài bạc…
– Khách hàng cao tuổi (trên 65 tuổi), có dấu hiệu các bệnh nghiêm trọng về sức khỏe… Tài sản bảo đảm có tranh chấp, thuộc quy hoạch, không có địa chỉ rõ ràng, thuộc khu vực dân cư thưa thớt, hạ tầng chưa phát triển, khả năng chuyển nhượng thấp…
– Công việc, thu nhập không ổn định: hợp đồng lao động ngắn hạn; cơ quan công tác hoặc cơ sở kinh doanh mới thành lập, nhỏ lẻ, manh mún; khách hàng kinh doanh một số ngành nghề nhạy cảm như cầm đồ…
– Hệ số trả nợ cao (trên 60%)
– Điểm xếp hạng tín dụng thấp (<75 điểm), xếp hạng tín dụng loại B trở xuống
* Các yếu tố nhận biết rủi ro sau khi cho vay được áp dụng tại BIDV Sông Hàn
– Khách hàng nghỉ việc hoặc thay đổi công việc, hoạt động kinh doanh gặp khó khăn…
– Khách hàng kinh doanh chứng khoán, cá độ, bài bạc thua lỗ.
– Khách hàng hoặc người thân có vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, ly dị
– Khách hàng chậm trả gốc, lãi
Trên đây là các dấu hiệu nhận biết rủi ro, giúp cán bộ tín dụng thẩm định, đánh giá khách hàng một cách chi tiết, hạn chế được các trường hợp rủi ro. Tuy nhiên, các dấu hiệu nhận biết trên đây là chưa đủ. Trong quá trình thẩm định, cán bộ tín dụng phải vận dụng nhiều kinh nghiệm thực tế tích lũy được để thẩm định khách hàng. Bên cạnh việc dựa trên hồ sơ khách hàng cung cấp, cán bộ tín dụng phải đi tìm hiểu thực tế nơi ở, nơi làm việc của khách hàng, tìm hiểu địa chính địa phương xác minh thông tin khách hàng cung cấp và tìm hiểu các thông tin liên quan.
* Một số công cụ nhận diện rủi ro tín dụng:
– Xếp hạng rủi ro tín dụng
Ngân hàng cần thiết lập một hệ thống xếp hạng rủi ro đối với các danh mục tín dụng KHCN của mình. Hệ thống xếp hạng giúp ngân hàng nhận định chung về danh mục cho vay khách hàng cá nhân, phát hiện sớm các khoản cho vay KHCN có khả năng gây tổn thất cho ngân hàng, và là cơ sở xác định mức trích lập quỹ dự phòng rủi ro. Các mức rủi ro có thể khác nhau giữa các ngân hàng.
– Nhận diện rủi ro qua thẩm định thông tin thực tế:
Thông qua việc phỏng vấn khách hàng, người có liên quan, khảo sát tình hình thực tế địa phương, tình hình khách hàng và thông qua các mối quan hệ của khách hàng tại địa phương giúp cán bộ tín dụng xác định định tính phù hợp trong việc sử dụng khooản vay đúng mục đích, xác định rõ nguồn thu nhập và phương án vay vốn. Từ đó, nhận diện được các rủi ro tín có thể xảy ra
– Nhận diện rủi ro qua quy trình tín dụng
Quy trình cho vay và quản lý tín dụng cá nhân được soạn ra với mục đích giúp cho quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoa học, nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân. Một quy trình tín dụng hợp lý và thống nhất sẽ giúp cán bộ tín dụng nhận diện được các rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động cho vay khách hàng cá nhân, từ đó có thể quản lý khoản vay một cách chặt chẽ tránh sự chủ quan, giảm thiểu nguy cơ phát sinh rủi ro tín dụng do các nguyên nhân chủ quan trong quá trình phân tích, đánh giá cũng như kiểm tra, kiểm soát tín dụng.
1.2.3.2. Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường rủi ro tín dụng là bước tiếp theo sau khi đã phát hiện được nguy cơ rủi ro. Trên thực tế các bước này khá gần gũi với nhau và thường được gộp chung lại trong quá trình thực hiện tác nghiệp. Mục đích của các bước này là giúp cho toàn bộ bộ máy quản trị rủi ro hiểu chính xác và nhất quán nguy cơ rủi ro đã xác định, phân tích rõ nguyên nhân và quan trọng nhất là lượng hoá mức độ rủi ro có thể xảy ra đối với Ngân hàng để định giá rủi ro có thể chấp nhận được; trích lập dự phòng rủi ro.
Mô hình định tính về rủi ro tín dụng KHCN
Là mô hình truyền thống đánh giá khách hàng cá nhân vay dựa vào chủ quan từ phía ngân hàng. Theo mô hình này, các ngân hàng chủ yếu sử dụng các thông tin khác nhau về người vay theo phương pháp 5C hoặc mô hình 6C để đưa ra nhận xét chủ quan của mình.
– Mô hình 6C
+ Tư cách người vay (Character): CBTD phải chắc chắn rằng người vay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn.
+ Năng lực của người vay (Capacity): Người đi vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, người vay có phải là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp.
+ Thu nhập của người vay (Cashflow): xác định nguồn trả nợ của khách hàng vay.
+ Bảo đảm tiền vay (Collateral): là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.
+ Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ.
+ Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng.
Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song có hạn chế là phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD.
Mô hình định lượng rủi ro tín dụng
– Mô hình xác suất vỡ nợ
Mô hình xác suất vỡ nợ còn gọi là phương pháp ước tính tổn thất tín dụng KHCN dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ (Internal Ratings Based- IRB). Đây là phương pháp được áp dụng theo Hiệp định mới về tiêu chuẩn vốn quốc tế của Basel II. Việc sử dụng IRB để ước lượng tổn thất tín dụng KHCN đã được ủy ban Basel khuyến khích các nước tham gia sử dụng. Việc ước lượng tổn thất phụ thuộc vào ba yếu tố chính là:
(i) xác suất không trả nợ của khách hàng cá nhân (Probability of Default, PD);
(ii) tỷ trọng tổn thất ước tính (Loss Given of Default, LGD);
(iii) tổng dư nợ của khách hàng cá nhân tại thời điểm khách hàng không trả được nợ (Exposure at Default, EAD).
Từ đó, Ngân hàng sẽ ước tính được tổn thất (Expected Loss, EL) như sau:
EL = PD x EAD x LGD
Phương pháp IRB là một quy trình phức tạp, đòi hỏi ngân hàng phải có một hệ thống công nghệ quản lý mạnh và hệ thống dữ liệu lịch sử đầy đủ trong một giai đoạn cũng như phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, trình độ quản trị ngân hàng và các quy định về công khai thông tin.
– Mô hình xếp hạng tín dụng
Xếp hạng tín dụng KHCN là ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng và thiện chí trả nợ (gốc, lãi hoặc cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu.
Đứng trên góc độ ngân hàng thì XHTD là đánh giá mức độ rủi ro của đối tượng khách hàng nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng thông qua thang điểm được xác định bởi những thông tin tài chính và phi tài chính của khách hàng. Và từ thang điểm mà khách hàng đạt được ngân hàng có thể đánh giá khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính như trả nợ gốc và lãi trong hoạt động cấp tín dụng.
Hệ thống XHTD giúp NHTM quản trị rủi ro tín dụng bằng phương pháp tiên tiến, giúp đánh giá mức độ tín nhiệm KHCN, thiết lập mức lãi suất cho vay phù hơp với dự báo khả năng thất bại của từng nhóm khách hàng. NHTM có thể đánh giá hiệu quả danh mục cho vay thông qua giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh nguồn lực vào nhóm khách hàng an toàn. XHTD chủ yếu dự báo nguy cơ vỡ nợ theo ba cấp độ cơ bản là nguy hiểm, cảnh báo và an toàn dựa trên xác suất không trả được nợ. Cơ sở của xác suất này là dữ liệu về các khoản nợ quá khứ trong vòng một khoảng thời gian nhất định trước đó của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được.
Dữ liệu được phân theo ba nhóm:
+ Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng
+ Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành.
+ Nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ tình hình số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi.
xác suất không trả được nợ của khách hàng. Trong đó, mô hình xếp hạng tín dụng là phương pháp lượng hóa mức độ rủi ro thông qua đánh giá thang điểm, các chỉ tiêu đánh giá trong những mô hình chấm điểm được áp dụng khác nhau đối với từng loại khách hàng.
XHTD KHCN tiếp cận đến tất cả các yếu tố có liên quan đến rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN, các NHTM không sử dụng kết quả XHTD nhằm thể hiện giá trị của khách hàng vay vốn mà đây là căn cứ để NHTM đưa ra ý kiến hiện tại dựa trên các nhân tố rủi ro thông qua việc phân tích các thông tin trong quá khứ cũng như hiện tại của khách hàng, từ đó có chính sách tín dụng và giới hạn cho vay phù hợp đối với từng đối tượng khách hàng. Ngoài ra, XHTD còn giúp ngân hàng hiểu rõ những rủi ro mà ngân hàng sẽ đối mặt khi cấp tín dụng cho khách hàng.
1.2.3.3. Phòng ngừa, kiểm soát rủi ro tín dụng
Kiểm soát rủi ro tín dụng là sử dụng các biện pháp, các kỹ thuật, các công cụ, chiến lược, các chương trình nhằm mục tiêu phòng chống và kiểm soát các rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động ngân hàng, đảm bảo toàn bộ các bộ phận và cá nhân trong ngân hàng tuân thủ các quy định của pháp luật, thực hiện các chiến lược, chính sách đảm bảo mục tiêu an toàn và hiệu quả trong hoạt động ngân hàng. Kiểm soát rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay KHCN bao gồm kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay.
– Kiểm soát trước khi cho vay bao gồm: kiểm soát quá trình thiết lập chính sách, thủ tục, quy trình cho vay; kiểm tra quá trình lập hồ sơ vay vốn và thẩm định, kiểm tra tờ trình cho vay và các hồ sơ liên quan.
– Kiểm soát trong khi cho vay: kiểm soát một lần nữa hợp đồng tín dụng; kiểm tra quá trình giải ngân, điều tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích xin vay hay không, giám sát thường xuyên khoản vay…
– Kiểm soát sau khi cho vay: kiểm soát việc đôn đốc thu hồi nợ, kiểm soát tín dụng nội bộ độc lập, đánh giá lại chính sách tín dụng.
1.2.3.4. Xử lý tổn thất
Đây là khâu cuối cùng của quá trình quản lý rủi ro tín dụng. Theo đó, tổn thất dự kiến được coi là chi phí hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, nó thường được tính vào giá của khoản tín dụng và được bù đắp bằng nguồn dự phòng. Tổn thất ngoài dự kiến nếu quỹ dự phòng không đủ bù đắp thì phải bù đắp bằng nguồn vốn tự có.
Cũng như đối với các loại rủi ro khác, kỹ thuật tài trợ rủi ro tín dụng bao gồm các phương án:
– Tự khắc phục: Là việc ngân hàng dùng nguồn tài chính tự có của mình để bù đắp cho khoản mất mát, tổn thất mà rủi ro tín dụng KHCN gây ra. Nguồn vốn tự có dùng để bù đắp tổn thất tín dụng KHCN chủ yếu từ việc thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dụng KHCN thường xuyên từ lợi nhuận hàng năm của ngân hàng.
– Chuyển giao rủi ro: Là việc chuyển giao toàn bộ hoặc một phần kinh phí bù đắp tổn thất cho đối tượng khác bên ngoài gánh chịu (chuyển giao trách nhiệm tài chính). Chuyển giao có thể là các phương pháp kiểm soát rủi ro tín dụng KHCN, hoặc phương án tài trợ rủi ro tín dụng KHCN.
Đối với hoạt động quản trị rủi ro tín dụng KHCN của ngân hàng, phương pháp chuyển giao tài trợ rủi ro tín dụng KHCN được thực hiện chủ yếu là bằng các hợp đồng bảo hiểm.
– Trung hòa rủi ro: là việc thực hiện trao đổi những đặc điểm có lợi cho nhau với một đối tượng khác để hai bên cùng có lợi, hạn chế mức độ tổn thất. Phương pháp trung hòa còn được hiểu là một chiến lược giảm thiểu rủi ro trong đó thời gian đáo hạn của tài sản và nợ phải trả phù hợp với nhau, tối thiểu hóa các tác động của lãi suất lên giá trị ròng theo thời gian… Trong quản trị rủi ro tín dụng, nó được thực hiện bằng các hợp đồng tương lai (Future) hoặc hợp đồng hoán đổi (SWAP).
Ngoài ra còn một số biện pháp xử lí rủi ro tín dụng KHCN như: Khi xảy ra rủi ro tín dụng thì ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp xử lý sau:
– Phát mại tài sản: Ngân hàng nên cố gắng thuyết phục khách hàng cá nhân tự nguyện bán tài sản của mình. Nếu khách hàng cá nhân không có thiện chí thì ngân hàng sẽ tiến hành bán các tài sản cầm cố, thế chấp theo sự giám sát và phán quyết của cơ quan pháp luật.
– Trả nợ thay: Yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay cho người vay.
– Khởi kiện: Trong trường hợp cần khởi kiện, ngân hàng nhanh chóng hoàn thiện ngay các thủ tục pháp lý cần thiết để khởi kiện người vay.
– Các biện pháp khuyến khích trả nợ: Miễn, giảm một phần lãi suất, tính lại lãi… áp dụng cho các khách hàng cá nhân có thiện chí trả nợ gốc.
– Xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng KHCN: Về nguyên tắc, biện pháp này chỉ sử dụng đối với các khoản nợ xấu tín dụng KHCN.
1.2.4. Chỉ tiêu đánh giá kết quả quản trị rủi ro TDKHCN của NHTM
- Các chỉ tiêu đo lường chất lượng nợ
– Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay KHCN:
| Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay KHCN | = | Tổng dư nợ quá hạn cho vay KHCN | x 100% |
| Tổng dư nợ cho vay KHCN |
Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng tín dụng, qua đó phản ánh hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng KHCN. Nợ quá hạn cho vay KHCN phát sinh khi khoản vay đến hạn mà khách hàng cá nhân không hoàn trả được toàn bộ hay một phần tiền gốc hoặc lãi vay. Nợ quá hạn cho vay KHCN thường là biểu hiện yếu kém về tài chính của khách hàng cá nhân và là dấu hiệu rủi ro tín dụng cho Ngân hàng. Chỉ tiêu này còn cho thấy tình hình nợ quá hạn cho vay KHCN tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng KHCN của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay.
Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Thống đốc NHNN về phân loại nợ, trích lập dự phòng, các TCTD thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm:
– Nợ quá hạn dưới 10 ngày – Nợ đủ tiêu chuẩn – Nhóm 1
– Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày – Nợ cần chú ý – Nhóm 2
– Nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày – Nợ dưới tiêu chuẩn – Nhóm 3
– Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày – Nợ nghi ngờ – Nhóm 4
– Nợ quá hạn trên 360 ngày – Nợ có khả năng mất vốn – Nhóm 5
Do việc phân loại chất lượng tín dụng được tính theo thời gian như vậy, nên những khoản tín dụng ở Việt Nam tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.
– Tỷ lệ nợ xấu cho vay KHCN:
| Tỷ lệ nợ xấu cho vay KHCN | = | Tổng dư nợ xấu cho vay KHCN | x 100 |
| Tổng dư nợ cho vay KHCN |
Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ra trong hoạt động của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì việc phân loại nợ được thực hiện như sau: Nợ xấu cho vay KHCN là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4 và 5:
– Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu
+ Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
– Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần thứ 2. Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
+ Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai.
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn.
+ Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
Tỷ lệ nợ xấu cho vay KHCN cho biết trong 100 đồng tổng dư nợ KHCN thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu tín dụng KHCN. Chính vì vậy tỷ lệ nợ xấu cho vay KHCN là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Nợ xấu cho vay KHCN phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn.
Tỷ lệ nợ xấu cho vay KHCN được quy định nhỏ hơn hoặc bằng 3% được coi là tỷ lệ đảm bảo an toàn mà TCTD phải đảm bảo cần hướng tới.
Tỷ lệ nợ xấu cho vay KHCN càng cao thì NHTM càng gặp khó khăn trong kinh doanh, vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán, giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ xấu cho vay KHCN càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp.
Trong quá trình đánh giá tỷ lệ nợ xấu của NHTM cần phải so với các chỉ nhánh NHTM trong cùng hệ thống ngân hàng. Đây là chỉ tiêu đánh giá quản trị rủi ro tín dụng của chỉ nhánh này so với chi nhánh khác trong cùng một hệ thống NH. Để từ đỏ có những đánh giá chính xác về hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của NH. Nếu tỷ lệ nợ xấu của NHTM so với chỉ nhánh NHTM khác thấp hơn điều đó cho thấy quản trị rủi ro tín dụng của NHTM tốt hơn và ngược lại. Ngoài ra, cần phải so sánh tỷ lệ nợ xấu của NHTM so với toàn hệ thống ngân hàng. Có thể tỷ lệ nợ xấu qua các năm của NH tăng lên có thể là do nguyên nhân khách quan hoặc nguyên nhân chủ quan. Do vậy, để đánh giá tốt hơn quản trị rủi ro tín dụng của NHTM cần so sánh với hệ thống NHTM. Nếu tỷ lệ nợ xấu của NHTM thấp hơn so với tỷ lệ xấu chung của toàn hệ thống NH, điều đó cho thấy quản trị rủi ro tín dụng của NHTM hiệu quả hơn so với mặt bằng chung của toàn ngành. Còn nếu tỷ lệ nợ xấu của NHTM cao hơn so với tỷ lệ nợ xấu chung của toàn hệ thống thì NHTM nên xem xét và đưa ra những giải pháp để hoàn thiện hơn trong quản trị rủi ro tín dụng của mình.
Một số chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá hoạt động QTRRTD:
- Quy mô cho vay KHCN
Quy mô tín dụng không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, tuy nhiên, nếu quy mô tín dụng tăng trưởng quá nóng, không tương ứng với khả năng kiểm soát của ngân hàng thì lúc đó, quy mô tín dụng sẽ phản ánh hoạt động quản trị rủi ro tín dụng. Quy mô cho vay KHCN thể hiện rõ qua các chỉ tiêu:
| Dư nợ cho vay KHCN trên tổng tài sản | = | Tổng dư nợ cho vay KHCN |
| Tổng tài sản của KHCN | ||
| Dư nợ KHCN bq trên số lượng cán bộ TD KHCN | = | Tổng dư nợ cho vay KHCN |
| Tổng số cán bộ tín dụng bình quân | ||
| Số lượng KHCN trên số lượng cán bộ TD KHCN | = | Tổng số KHCN |
| Tổng số cán bộ tín dụng bình quân |
- Dự phòng rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN
Dự phòng rủi ro đánh giá khả năng bù đắp tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng khi rủi ro xảy ra. Khi ngân hàng phải sử dụng quỹ dự phòng, điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng đang gặp phải tình trạng rủi ro mất vốn, do đó, dự phòng rủi ro là chỉ tiêu phản ánh tình trạng rủi ro mất vốn.
Căn cứ theo thông tư 02/2013/TT-NHNN của NHNN việc trích lập dự phòng RRTD:
“Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung.
Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể
Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể”.
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN:
| Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN | = | Dự phòng rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN được trích lập | x 100% |
| Tổng dư nợ cho vay KHCN |
Tỷ lệ này phản ánh khả năng bù đắp rủi ro từ hoạt động tín dụng KHCN. Một tỷ lệ thấp hơn cho thấy chất lượng tín dụng tốt hơn.
| Tỷ lệ bù đắp rủi ro mất vốn trong cho vay KHCN | = | Dự phòng rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN được trích lập | x 100% |
| Dư nợ cho vay KHCN có khả năng mất vốn |
Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi ro cho vay KHCN có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành các khoản nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5).
Nếu tỷ lệ này cao, có thể xuất phát từ các nguyên nhân chính: (i) các khoản vay KHCN có độ rủi ro cao; (ii) ngân hàng có đủ khả năng tài chính để phòng hộ rủi ro tín dụng KHCN.
- Một số chỉ tiêu khác
Hoạt động quản trị rủi ro trong cho vay KHCN giúp nhân viên ngân hàng kiểm soát được thực trạng hồ sơ xin cấp tín dụng có đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ với quy định của NH. Công tác nhận diện rủi ro, kiểm tra kiểm soát rủi ro… phản ánh được số hồ sơ không đạt yêu cầu xin cấp tín dụng. Điều này làm giảm thiểu rủi ro cho NH. Bởi có rất nhiều khách hàng bằng mọi cách, tìm mọi thủ đoạn để xin vay được vốn mà sử dụng không đúng mục đích… Một số tiêu chí khác phản ánh hoạt động quản trị rủi ro như:
– Số lượng hồ sơ KHCN không đạt yêu cầu cấp tín dụng
– Số lượng KHCN sử dụng vốn cấp tín dụng sai mục đích
– Số vụ được xử lí nhằm thu hồi vốn bằng cách bán tài sản, khởi kiện…
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
1.2.5.1. Yếu tố khách quan
Thứ nhất, thị trường tài chính. Với một thị trường tài chính phát triển bên cạnh kênh huy động vốn ngân hàng sẽ có những hình thức huy động vốn khác như huy động từ cổ phiếu và trái phiếu… Việc phát triển thị trường tài chính không những hạn chế rủi ro tín dụng từ phía doanh nghiệp mà còn nâng cao khả năng quản lý rủi ro của ngân hàng. Khi các doanh nghiệp có khả năng huy động vốn trung và dài hạn trên thị trường chứng khoán, ngân hàng chỉ cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạn, qua đó sẽ tăng cường khả năng kiểm soát cũng như hạn chế rủi ro cho ngân hàng.
Thứ hai, môi trường kinh tế. Hoạt động của ngân hàng thương mại có thể được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Vì vậy, sự ổn định hay mất ổn định của nền kinh tế sẽ có tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng- đặc biệt là hoạt động tín dụng. Các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng. Một nền kinh tế ổn định tỷ lệ lạm phát vừa phải sẽ tạo điều kiện cho các khoản tín dụng có chất lượng cao. Tức là các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường ổn định thì khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn, từ đó mà có thể trả vốn và lãi cho ngân hàng. Ngược lại khi nền kinh tế biến động thì các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cũng thất thường ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới khả năng thu nợ của ngân hàng.
Thứ ba, cơ chế chính sách. Các chính sách của nhà nước ổn định hay không ổn định cũng tác động đến chất lượng tín dụng. Khi các chính sách này không ổn định sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó gây trở ngại cho ngân hàng khi thu hồi nợ và ngược lại. Bên cạnh đó, môi trường pháp lý của Nhà nước (quy định, định chế, nguyên tắc, phương thức vận hành…) có ảnh hưởng tới quản trị rủi ro tín dụng, bởi vì các ngân hàng đều chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp của nhà nước ban hành, do đó hoạt động quản trị rủi ro tín dụng cũng bị điều chỉnh và chịu ảnh hưởng từ hệ thống quy định trong hoạt động tín dụng.
Thứ tư, yếu tố điều kiện tự nhiên. Khi các biến động bất thường xảy ra như động đất, núi lửa, bão lũ, lụt lội, hạn hán, dịch bệnh gia súc và dịch bệnh cây trồng… gây thiệt hại cho hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ thì rủi ro sẽ xuất hiện, đồng thời các ngân hàng có khả năng sẽ không thu hồi được toàn bộ vốn, nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ xuất hiện.
Thứ năm, môi trường xã hội. Quan hệ tín dụng được thực hiện trên cơ sở lòng tin. Nó là cầu nối giữa ngân hàng và khách hàng. Trong trường hợp môi trường xã hội không tốt, lợi dụng lòng tin để lừa đảo sẽ gây ra những rủi ro lớn cho ngân hàng.
1.2.5.2. Yếu tố chủ quan
Thứ nhất, chính sách tín dụng của ngân hàng: Chính sách tín dụng thể hiện khẩu vị rủi ro của ban lãnh đạo ngân hàng đối với từng ngân hàng, từng loại khách hàng cụ thể. Đối với mỗi khách hàng, ngân hàng có thể đưa ra các chính sách khác nhau cho phù hợp. Ví dụ như với các khách hàng có uy tín với ngân hàng thì ngân hàng có thể cho vay không có tài sản đảm bảo, có hạn mức cao hơn, lãi suất ưu đãi hơn; còn đối với các khách hàng khác, việc có tài sản đảm bảo là cần thiết.
Thứ hai, quy trình quản lý cấp tín dụng: Quy trình quản lý cấp tín dụng là tập hợp những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiến hành trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Nó bao gồm các bước bắt đầu từ khâu chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra trong quá trình cho vay cho đến khi thu hồi được nợ. Quy trình quản lý cấp tín dụng của ngân hàng thương mại cần được thiết lập chặt chẽ mới đảm bảo không có các sai sót trong quá trình cấp và kiểm soát tín dụng, từ đó đảm bảo nguồn vốn, tránh rủi ro cho ngân hàng. Công tác tổ chức của ngân hàng cần cụ thể hoá và sắp xếp có khoa học, có tính linh hoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc đã quy định nhằm phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn hệ thống cũng như với các bộ phận liên quan khác. Qua đó sẽ tạo ra sự hiệu quả, đảm bảo các khâu kiểm soát tốt khách hàng, tránh xảy ra những rủi ro không đáng có đối với ngân hàng.
Thứ ba, năng lực cán bộ tín dụng: Chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng là nhân tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và trong hoạt động tín dụng nói riêng. Sỡ dĩ như vậy là vì cán bộ tín dụng là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu của quy trình tín dụng, từ bước đầu tiên đến bước cuối cùng. Vì vậy một cán bộ có phẩm chất tốt là một cán bộ có thể hiểu rõ khách hàng, luôn nắm được các thông tin của khách hàng, từ đó đưa ra những phương án xử lý tốt nhất khi cần thiết.
Thứ tư, phẩm chất khách hàng: Phẩm chất của khách hàng là nhân tố quyết định đến việc khách hàng sử dụng vốn vay có đúng và hiệu quả hay không. Nếu phẩm chất của khách hàng không tốt, thể hiện ở việc không sử dụng vốn đúng mục đích, không dự đoán được những biến động lên xuống của nhu cầu thị trường; không hiểu biết nhiều trong việc sản xuất, phân phối và khuyếch trương sản phẩm… thì sẽ dễ dàng bị thất bại trong kinh doanh. Từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng, chất lượng tín dụng của ngân hàng bị ảnh hưởng.
Thứ năm, khả năng kiểm soát: Thông qua kiểm soát nội bộ giúp cho nhà lãnh đạo ngân hàng nắm được tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra; phát hiện những thuận lợi, khó khăn, sai trái từ đó đề ra các biện pháp giải quyết kịp thời. Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định, thể lệ, chính sách và mức độ phát hiện kịp thời các sai sót cũng như nguyên nhân dẫn đến những lệch lạc trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng.
Thứ sáu, tài sản đảm bảo: Là chiếc phao cứu sinh lớn nhất và là cuối cùng của Ngân hàng trong trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán. Chính vì vậy cần kiểm soát chặt chẽ từ khâu thẩm định cho đến khâu thế chấp, phải đảm bảo chắc chắn đây là nguồn trả nợ tin cậy của khách hàng trong trường hợp xấu nhất.
Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại, để tiếp cận một cách có hệ thống, khoa học, đầy đủ về các quan điểm về rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân, nội dung của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Trên cơ sở những lý luận đó, vận dụng vào thực tiễn hoạt động quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân cho phù hợp với điều kiện, đặc điểm hoạt động của từng ngân hàng để giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro tín dụng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Qua nghiên cứu vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân để làm cơ sở đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân ở Chương 2.
THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH SÔNG HÀN
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH SÔNG HÀN
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn
Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam – Chi Nhánh Sông Hàn có mã số thuế 0100150619-173 được cấp vào ngày 23/5/2015, cơ quan Thuế đang quản lý: Cục Thuế Thành phố Đà Nẵng.
Địa chỉ trụ sở Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn đặt tại Số 129 Lê Lợi, phường Hải Châu I, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
BIDV Sông Hàn hoạt động theo mô hình chi nhánh hỗn hợp bán lẻ xen lẫn bán buôn, với nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa năng và tiện ích cao cho khách hàng trên nền tảng công nghệ hiện đại nhằm góp phần nâng cao năng lực tài chính, quản lý, và trình độ cán bộ trong hệ thống.
Tính đến hết ngày 31/12/2023, BIDV Sông Hàn đạt tổng dư nợ cho vay khách hàng là 4,330.7 tỷ đồng, huy động vốn là 4,161.3 tỷ và tổng số cán bộ là 81 người.
* Các nhiệm vụ chủ yếu:
Sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tài sản và các nguồn lực khác của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Hoàn trả đầy đủ và đúng hạn tiền vốn cho khách hàng gửi tiền theo thỏa thuận, các khoản nợ, phí thu phí trả trong bảng Tổng kết Tài sản trong phạm vi số vốn do BIDV Sông Hàn quản lý.
Hoàn trả các khoản tín dụng do BIDV Sông Hàn trực tiếp cho vay hay thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng được BIDV Sông Hàn bảo lãnh nếu khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.
* Các nghiệp vụ được phép thực hiện:
Nhận tiền gửi Tiết kiệm, Tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của các Tổ chức, dân cư trong nước và nước ngoài bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ.
Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng và các hình thức huy động vốn khác phục vụ yêu cầu kinh tế và hoạt động kinh doanh Ngân hàng
Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt nam và ngoại tệ đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân và hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế, theo cơ chế tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán khác: thanh toán, chuyển tiền trong nước và quốc tế, chi trả kiều hối, thanh toán Séc và các dịch vụ Ngân hàng khác.
Thực hiện nguyên tắc an toàn kho quỹ, bảo hiểm tiền mặt, ngân phiếu thanh toán và các ấn chỉ quan trọng. Đảm bảo chi trả tiền mặt , ngân phiếu thanh toán chính xác và kịp thời.
Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam giao trong thời điểm nhất định.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn
BIDV Sông Hàn được tổ chức theo cơ cấu chức năng, gồm: 05 khối với 11 phòng trực thuộc, thực hiện các chức năng nhiệm vụ cụ thể. Đứng đầu chi nhánh là Ban giám đốc chi nhánh, chịu trách nhiệm điều hành chung các hoạt động của chi nhánh. Trong Ban giám đốc có sự phân công phụ trách các khối trực thuộc. Đứng đầu mỗi phòng là các trưởng phòng/giám đốc phòng, có trách nhiệm quản lý trực tiếp trong lĩnh vực mình phụ trách, đồng thời tham mưu, đề xuất ý kiến lên Ban Giám đốc chi nhánh về các chính sách, biện pháp cần thiết để tạo điều kiện cho hoạt động của bộ phận mình có hiệu quả hơn.
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE AN 2024\SAU BAO VE\Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

