Quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam
Có thể khẳng định QLRR là xu thế tất yếu của quản lý hải quan hiện đại. Cơ chế này đã được cơ quan Hải quan của nhiều nước trên thế giới áp dụng như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc…Đặc biệt trong bối cảnh thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam cũng tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua. Năm 2023, tổng kim ngạch XNK hàng hóa của Việt Nam đã đạt hơn 681 tỷ USD. Công tác QLRR ngày càng chứng tỏ được vai trò là phương tiện hữu hiệu của cơ quan Hải quan trong thực hiện “mục tiêu kép” vừa tạo thuận lợi cho hàng hóa XNK, hành khách XNC hợp pháp vừa đảm bảo kiểm soát, phát hiện các trường hợp gian lận và vi phạm trong lĩnh vực hải quan, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Bằng việc áp dụng quản lý rủi ro kết hợp với chuyển đổi từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, ngành Hải quan đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong phương thức quản lý hải quan, từ thủ công sang tự động hóa dựa trên đánh giá rủi ro; qua đó làm giảm đáng kể tỉ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa, góp phần đơn giản hoá thủ tục hải quan, giảm thời gian thông quan, tiết kiệm nguồn lực cho cả cơ quan Hải quan và doanh nghiệp, giảm chi phí của doanh nghiệp trong quá trình thông quan hàng hóa XNK. Cùng với đó, phương thức quản lý dựa trên cơ sở đánh giá rủi ro, giảm sự can thiệp của công chức Hải quan trong hoạt động quản lý hải quan và giảm thiểu sự tiếp xúc giữa doanh nghiệp với cơ quan Hải quan. Hiện hệ thống nghiệp vụ QLRR được xây dựng khá hoàn chỉnh cả về hành lang pháp lý và hệ thống quy trình, biện pháp nghiệp vụ QLRR, quản lý tuân thủ, tạo cơ sở cho việc áp dụng QLRR, quản lý tuân thủ trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan. Đặc biệt, ngành Hải quan đã chủ động kiểm soát, ngăn ngừa, phát hiện các vi phạm, buôn lậu, gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ QLRR như: thiết lập tiêu chí phân luồng kiểm tra, xây dựng hồ sơ rủi ro, hồ sơ doanh nghiệp trọng điểm, triển khai kế hoạch, chuyên đề kiểm soát rủi ro, xác định trọng điểm, tăng cường lựa chọn kiểm tra không xâm nhập bằng máy soi container, cung cấp thông tin giám sát trực tuyến…, góp phần chống thất thoát ngân sách nhà nước. Điều này cho thấy công tác QLRR có hiệu quả cả trên khía cạnh tạo thuận lợi thương mại và khía cạnh kiểm soát. Mặt khác, đánh giá, phân loại mức độ rủi ro đối với hàng hóa theo tiêu chí đối với nhà xuất khẩu, nhà sản xuất ở nước ngoài để phân loại mức độ rủi ro đối với hàng hóa…Nguyên tắc QLRR được thực hiện sâu rộng và thực chất góp phần phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra.
Nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của công tác quản lý rủi ro vào hoạt động nghiệp vụ Hải quan, nhằm phục vụ tốt hơn hoạt động nghiệp vụ của bản thân cũng như hoạt động toàn ngành đạt được chất lượng và hiệu quả cao, cần nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về lĩnh vực nhằm đưa ra các giải pháp và kiến nghị để công tác QLRR nhằm đạt hiệu quả tối ưu. Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã chọn đề tài “Quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam” để thực hiện nghiên cứu luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề án
2.1. Mục tiêu tổng quát
Phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng công tác quản lý rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
– Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng công tác quản lý rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
– Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng công tác quản lý rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
– Đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
– Thang đo các thành phần về việc áp dụng công tác quản lý rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam tác động như thế nào đến việc quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, gồm những yếu tố nào ?
– Yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến sự việc áp dụng công tác quản lý rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công, Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam ?
– Trên cơ sở nào đề xuất kiến nghị để tăng cường công tác quản lý rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam ?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Các vấn đề liên quan đến Công tác quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
– Nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu của ngành hải quan.
– Phạm vi về thời gian: Thời gian thu thập dữ liệu: nghiên cứu thu thập dữ liệu trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2023.
– Phạm vi không gian: Quản trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
Luận văn được nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để tổng hợp các lý thuyết và nghiên cứu trước để hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam nói riêng để hình thành nên cơ sở lý thuyết của đề tài.
Về phương pháp phân tích, luận văn giới hạn sử dụng một số kỹ thuật phân tích thống kê mô tả để đánh giá sự biến động theo thời gian về quy mô và cấu trúc dữ liệu thứ cấp (các báo cáo, nghiên cứu đã có, liên quan) theo các chỉ tiêu khác nhau để nhận diện thực trạng rủi ro và công tác quản trị rủi ro hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
6.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm các cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, quy trình liên quan đến quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công, Sản xuất xuất khẩu của ngành hải quan.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đánh giá được thực trạng và đưa ra những ưu điểm và hạn chế cũng như các yếu tố tác động đến việc triển khai áp dụng quản lý rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công, Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam. Đồng thời, đề tài đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao năng lực quản lý rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu nhằm mang lại hiệu quả quản lý cho Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu và cho xã hội. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu hữu ích cho quá trình nâng cao năng lực quản lý rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, là nguồn tư liệu tham khảo của các đơn vị hải quan địa phương và ngành Hải quan, góp phần nâng cao năng lực quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan hiện đại trong thời gian đến.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản Trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải Quan Tỉnh Quảng Nam.
Chương 2 : Kết quả phân tích công tác quản Trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu Cục Hải Quan Tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Một số hàm ý nhằm hoàn thiện công tác quản Trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu Cục Hải quan Tỉnh Quảng Nam.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT, NHẬP KHẨU THEO LOẠI HÌNH GIA CÔNG – SẢN XUẤT XUẤT KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN
1.1. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU THEO LOẠI HÌNH GIA CÔNG – SẢN XUẤT XUẤT KHẨU
1.1.1. Khái quát chung về rủi ro, quản lý rủi ro
Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối với hàng hóa, phương tiện vận tải. Như vậy, có thể hiểu đơn giản, thủ tục hải quan là các thủ tục cần thiết để đảm bảo hàng hóa, phương tiện vận tải được xuất khẩu hoặc nhập khẩu qua biện giới.
Về khái niệm kiểm soát rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan được quy định tại Khoản 21 Điều 3 Thông tư 81/2019/TT-BTC, quy định cụ thể như sau:
– Kiểm soát rủi ro là việc cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, kiểm tra sau thông quan, thanh tra, điều tra và các biện pháp nghiệp vụ khác để phòng ngừa, ngăn chặn, làm giảm thiểu tần suất, hậu quả hoặc phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan.
Theo luật Hải quan năm 2014 định nghĩa về Rủi ro và Quản lý rủi ro như sau:
Rủi ro là nguy cơ không tuân thủ pháp luật về hải quan trong việc thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.
Quản lý rủi ro là việc cơ quan hải quan áp dụng hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ hải quan khác có hiệu quả.
1.1.2. Quản trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo loại hình gia công – sản xuất xuất khẩu tại Hải quan
– Gia công (GC) là hoạt động thương mại, bên nhận gia công sẽ sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu để làm theo yêu cầu của bên đặt gia công. Hưởng thù lao việc gia công sản phẩm từ bên đặt / thuê gia công.
– Sản xuất xuất khẩu (SXXK) là loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu, trong đó doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài về Việt Nam, tiến hành chế biến, sản xuất ra sản phẩm, sau cùng xuất khẩu sản phẩm đó ra thị trường quốc tế. Hai quá trình nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm được tách biệt hoàn toàn với nhau.
– Về chính sách thuế của loại hình GC-SXXK: theo các quy định hiện hành có nêu rõ nguyên liệu, vật tư nhập khẩu thuộc 02 loại hình GC-SXXK được hoàn toàn miễn thuế nhập khẩu, thuế VAT và miễn thuế xuất khẩu sản phẩm. Nhưng thương nhân thực hiện hai loại hình này có trách nhiệm theo dõi, quản lý sử dụng nguyên vật liệu và báo cáo tình hình định kỳ/đột xuất theo yêu cầu quản lý của cơ quan hải quan nhằm đảm bảo việc thực hiện nghiêm các quy định, chống thất thu thuế, chống lại các hành vi gian lận thương mại.
Tại địa bàn Quảng Nam, loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu là loại hình chiếm tỷ lệ chủ yếu cả về số lượng doanh nghiệp , kim ngạch xuất nhập khẩu, lượng tờ khai làm thủ tục hải quan.
– Quản trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Hải quan:
Việc tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ là cơ hội cho các đối tượng lợi dụng để buôn lậu, ảnh hưởng đến quyền lợi của các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, làm tổn hại đến thị trường, gây thất thu thuế cho ngân sách nhà nước… Đặc biệt, với việc được hưởng chế độ miễn thuế nhập khẩu và tạo điều kiện thuận lợi khi làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp đã lợi dụng chế độ chính sách ưu đãi để gian lận, đối phó, tránh sự phát hiện của cơ quan Hải quan.
Thực tế, trong thời gian qua, cơ quan Hải quan đã phát hiện một số trường hợp vi phạm. Điển hình như việc một số doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng vải về Việt Nam để may quần áo xuất khẩu nhưng thực tế không xuất khẩu hoặc hoán đổi nguyên vật liệu có giá trị cao thành nguyên vật liệu có giá trị thấp để xuất khẩu và bán nguyên vật liệu vào thị trường nội địa để hưởng chênh lệch.
Với lượng doanh nghiệp lớn, phân bổ ở hầu hết các cục hải quan tỉnh, thành phố, cũng đặt ra cho cơ quan Hải quan nhiều khó khăn, thách thức. Cụ thể, thời gian thực hiện kiểm tra, giám sát kéo dài từ khi nhập khẩu, trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cho đến khi sản phẩm được xuất khẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng dẫn đến khó khăn cho công tác quản lý, giám sát của cơ quan Hải quan, đặc biệt trong các khâu quản lý định mức, báo cáo quyết toán tình hình sử dụng nguyên vật liệu đang thực hiện theo nguyên tắc doanh nghiệp tự khai tự chịu trách nhiệm.
1.1.3. Vai trò của quản Trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo loại hình gia công – sản xuất xuất khẩu tại Hải quan
Áp dụng các biện pháp Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, nhằm giúp cơ quan hải quan:
1. Cơ quan hải quan áp dụng quản lý rủi ro để quyết định việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải; hỗ trợ hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
2. Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan bao gồm việc thu thập, xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, phân loại mức độ rủi ro; tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp.
3. Cơ quan hải quan quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động tích hợp, xử lý dữ liệu phục vụ việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.
1.1.4. Phân loại quản trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo loại hình gia công – sản xuất xuất khẩu
Việc phân loại mức độ rủi ro trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh được thực hiện dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật của người khai hải quan.
Căn cứ theo những mục đích, phạm vi và tiêu chí nhất định, người ta có thể phân loại rủi ro với những nhóm loại rủi ro. Các tiêu chí phân loại cơ bản có thể dựa trên tính chất, mức độ của rủi ro; theo các góc độ kinh tế, tài chính; theo cơ chế đánh giá rủi ro; theo nguồn gốc, hậu quả rủi ro…
1.2. NỘI DUNG QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU THEO LOẠI HÌNH GIA CÔNG – SẢN XUẤT XUẤT KHẨU
Nhận diện rủi ro là: Bước này chỉ ra và ghi lại tất cả những rủi ro tiềm ẩn thông qua một quy trình mang tính hệ thống, theo đó chỉ ra những rủi ro có thể phát sinh, lý do vì sao và cách thức phát sinh rủi ro, từ đó hình thành cơ sở để phân tích sâu hơn những rủi ro đó. Kết quả xác định được danh mục các rủi ro, phạm vi tác động của rủi ro.
Bước này sử dụng dữ liệu và thông tin nhằm lượng hóa các kết quả, hậu quả có thể xảy đến nếu có rủi ro và/hoặc nếu không xác định được rủi ro cụ thể. Kết quả xác định cấp độ dự kiến của rủi ro trên cơ sở định lượng và định tính, hoặc kết hợp cả hai loại trên.
Xử lý rủi ro là việc tìm cách giảm khả năng hoặc hậu quả của rủi ro bằng cách áp dụng các biện pháp kiểm soát và tác nghiệp nhằm thay đổi các mức độ rủi ro để phù hợp với khả năng chấp nhận của cơ quan Hải quan. Tùy thuộc loại rủi ro mà áp dụng phương pháp xử lý rủi ro phù hợp.
Là các hành động được thực hiện theo Quy trình Quản lý rủi ro đã được ban hành nhằm đưa ra các hành động sớm phát hiện rủi ro để có cách thức phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm có thể xảy ra.
1.3. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU THEO LOẠI HÌNH GIA CÔNG – SẢN XUẤT XUẤT KHẨU
1.3.1. Quy trình quản trị rủi ro
a) Quy trình quản lý rủi ro hải quan:
Quy trình quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nói riêng cũng như trong quản lý hải quan nói chung theo các quy định, hướng dẫn hiện hành được mô tả tại Hình 1.1 (Vũ Quốc Bảo, 2016). Trình tự áp dụng quy trình các Bước trong quy trình có thể được thực hiện một phần hoặc đầy đủ các Bước để phù hợp và đáp ứng yêu cầu quản lý rủi ro trong từng lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hải quan.

Hình 1.1: Sơ đồ quy trình quản lý rủi ro của cơ quan Hải quan
Bước 1: thực hiện đánh giá tình hình, xác định mục tiêu và yêu cầu quản lý rủi ro trên cơ sở phân tích, đánh giá các yếu tố liên quan đến môi trường, điều kiện, các tác động ảnh hưởng đến quá trình áp dụng quản lý rủi ro; tình hình, kết quả, hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện thủ tục, các biện pháp nghiệp vụ hải quan; xác định mục tiêu, yêu cầu quản lý; dự kiến các hoạt động để đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu quản lý.
Bước 2: thực hiện đánh giá phân loại rủi ro trên cơ sở kết quả thu thập, phân tích thông tin, xác định, lập danh sách rủi ro; phân tích rủi ro; đánh giá tuân thủ pháp luật, phân loại mức độ rủi ro; xây dựng, quản lý và áp dụng phù hợp các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn có liên quan khác.
Bước 3. Thực hiện tổng hợp thông tin để lựa chọn, quyết định áp dụng biện pháp kiểm soát rủi ro phù hợp với loại, mức độ rủi ro, mức độ tuân thủ; lập kế hoạch, phương án thực hiện biện pháp kiểm soát rủi ro; tổng hợp, phân loại, cung cấp thông tin, cảnh báo rủi ro, hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ khác.
Bước 4: thực hiện kiểm soát rủi ro thông qua các hoạt động nghiệp vụ kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan, thanh tra và các biện pháp nghiệp vụ khác trên cơ sở kết quả phân luồng, cảnh báo rủi ro, thông tin quản lý rủi ro, kế hoạch, phương án kiểm soát rủi ro; trong đó có thể thay đổi hình thức, mức độ kiểm tra, giám sát khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm; cập nhật kết quả thực hiện vào hệ thống để quản lý.
Bước 5. thực hiện theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc áp dụng quản lý rủi ro, kết quả thực hiện các biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm soát rủi ro; quản lý, lưu trữ, cung cấp thông tin và điều chỉnh, bổ sung áp dụng quản lý rủi ro phù hợp với tình hình thực tế.
b) Tác động đối với hiệu quả quản trị rủi ro :
Cốt lõi của quy trình quản lý rủi ro hải quan nằm ở Bước 2, Bước 3. Khi đó, các rủi ro được xác định, nhận diện, đo lường, đánh giá và sẽ được áp dụng các biện pháp kiểm soát rủi ro phù hợp trên cơ sở phê duyệt của các cấp thẩm quyền đối với đê xuất của cán bộ, công chức chuyên trách quản lý rủi ro tác nghiệp trực tiếp hoạt động nghiệp vụ này. Các vấn đề cốt lõi nêu trên đồng thời cũng là mục tiêu hướng tới của công tác quản trị rủi ro – như đã được học viên trình bày, làm rõ khái niệm về quản trị rủi ro tại tiểu mục 1.1.1.5.
1.3.2. Nguồn nhân lực quản trị rủi ro
– Quy mô nguồn nhân lực:
– Trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
– Đạo đức nghề nghiệp:
1.3.3. Nguồn lực công nghệ quản trị rủi ro
– Cơ sở pháp lý, chính sách, quy định, hướng dẫn về ứng dụng kết quả khoa học công nghệ vào quản lý, điều hành của cơ quan quản lý và ứng dụng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động, có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa;
– Nhận thức về vai trò của nguồn lực công nghệ góp phần tạo ra những thay đổi tích cực trong áp dụng thực tiễn nguồn lực này vào công tác quản trị rủi ro, rút ngắn thời gian xử lý thông tin, kịp thời đưa ra biện pháp kiểm soát rủi ro phù hợp, từ đó có thể nhanh chóng tạo lập sự cân bằng giữa tạo thuận lợi và kiểm soát;
– Cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ứng dụng trong quản lý, quản trị rủi ro đến với mỗi cơ quan, tổ chức khi họ chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả nguồn lực công nghệ và các nguồn lực khác có liên quan để đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, xây dựng, phát triển các kỹ thuật, mô hình quản lý mới.
1.3.4. Quy mô hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
1.3.5. Đặc điểm hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
1.4. KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU THEO LOẠI HÌNH GIA CÔNG – SẢN XUẤT XUẤT KHẨU TẠI HẢI QUAN
Một là, nghiên cứu xây dựng bổ sung vào hệ thống các nguyên tắc quản lý, quản trị rủi ro hiện tại các nguyên tắc về chuyển giao rủi ro và nguyên tắc thực hiện quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt. Theo đó, cơ quan Hải quan có thể thực hiện chuyển giao một số loại rủi ro (không tương thích, hiệu quả thấpnếu cơ quan Hải quan xử lý rủi ro, việc xử lý rủi ro không phù hợp với chiến lược phát triển hải quan, chính sách điều hành hoạt động của Cục Hải quan …) sang các cơ quan chức năng, cơ quan thực thi phù hợp khác để tổ chức thực hiện kiểm soát rủi ro có hiệu quả hơn.
Về nguyên tắc quản lý độc lập đối với các rủi ro riêng biệt, đối với các loại rủi ro có tính độc lập tương đối với nhau, thiệt hại do một loại rủi ro nào đó gây nên không nhất thiết sẽ làm tăng xác suất xảy ra với các loại rủi ro khác nên dẫn đến trong quá trình quản lý các loại rủi ro, chúng phải được điều tiết riêng biệt, không gộp các loại rủi ro khác nhau vào chung một nhóm để đưa ra cùng một phương pháp quản trị rủi ro.
Hai là, trong hoạt động giám sát và kiểm tra, cần thiết xây dựng cơ chế, quy chế kiểm tra rủi ro, thiết lập chức năng kiểm toán nội bộ nhằm giám sát độc lập đối với các rủi ro được lựa chọn và các hệ thống, quy trình quản lý rủi ro, giám sát việc xây dựng, triển khai mô hình, chính sách quản lý rủi ro, giám sát các hồ sơ rủi ro. Các chức năng này có thể được thực hiện thông qua việc trao bổ sung nhiệm vụ cho đơn vị, bộ phận thanh tra-kiểm tra tại Cục Hải quan hoặc thông qua hoạt động kiểm tra định kỳ của cơ quan chuyên trách về quản lý rủi ro của Tổng cục Hải quan hoặc cũng có thể thông qua hoạt động kiểm toán, kiểm tra như cơ quan Kiểm toán nhà nước đã và đang thực hiện đối với các cơ quan, Ban ngành trong những năm gần đây.
Ba là, khuyến nghị xây dựng mô hình khung quản trị rủi ro phù hợp thông lệ chung, gồm các nội dung cơ bản về chiến lược, cấu trúc quản trị rủi ro, chính sách – thủ tục – báo cáo, công cụ quản trị rủi ro và công nghệ thông tin, tự động hóa.
Bốn là, xây dựng văn hóa quản lý rủi ro, thực hiện hướng dẫn, hỗ trợ phương pháp tiếp cận quản lý rủi ro, quản trị rủi ro, duy trì các mô hình, chính sách quản lý rủi ro hiện hành, đào tạo nghiệp vụ và hướng dẫn các đơn vị liên quan thực hiện quản lý, kiểm soát, xử lý rủi ro thông qua đơn vị đầu mối, điều phối quản lý rủi ro tại Cục Hải quan.
Năm là, nghiên cứu bổ sung cơ chế xử lý rủi ro và đề xuất áp dụng biện pháp kiểm soát rủi ro an toàn thực phẩm, kiểm dịch hàng hóa nhập khẩu theo hướng quản lý chúng tại các khu vực riêng bảo đảm có sự giám sát của cơ quan hải quan, lô hàng tiếp theo được phép sử dụng kết quả đã kiểm tra trước đó để làm thủ tục thông quan trừ trường hợp có dấu hiệu rủi ro, dấu hiệu vi phạm, trong trường hợp đó, sẽ yêu cầu người nhập khẩu phải thực hiện kiểm tra chuyên ngành theo quy định, nếu kết quả kiểm tra chuyên ngành không đạt tiêu chuẩn sẽ buộc tái xuất đối với lô hàng này.
Sáu là, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào công tác quản lý hải quan, giúp tự động đo lường, hỗ trợ công tác quản lý, quản trị rủi ro, tăng cường an ninh, an toàn nhưng cũng đồng thời đáp ứng tạo thuận lợi cho thương mại hợp pháp. Gồm việc cung cấp các dịch vụ điện tử nâng cao; kỹ thuật số tích hợp, tương tác, truy cập thông tin chuỗi cung ứng hàng hóa; xử lý dữ liệu lớn trên cơ sở khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo; trang cấp thiết bị công nghệ hiện đại, di động, thông minh, kiểm tra không xâm nhập… giúp đơn vị, công chức Hải quan có thể tương tác, trao đổi thông tin nghiệp vụ theo thời gian thực.
KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU THEO LOẠI HÌNH GIA CÔNG – SẢN XUẤT XUẤT KHẨU CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM
2.1. GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Cục Hải quan Quảng Nam
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan Quảng Nam
* Chức năng
Giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức thực thi pháp luật về hải quan, các quy định khác của pháp luật có liên quan trên địa bàn hoạt động theo quy định của pháp luật.
* Nhiệm vụ
1- Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện các quy định của nhà nước về hải quan trên địa bàn hoạt động của Cục Hải quan, gồm:
a) Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, chuyển cửa khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh tại các địa bàn hoạt động hải quan và các địa điểm khác theo quy định của pháp luật;
b) Tổ chức thực hiện các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan;
c) Áp dụng biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; phòng, chống ma túy và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và địa bàn hoạt động được giao theo quy định của pháp luật;
d) Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
đ) Kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật;
e) Tổ chức thực hiện chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về hải quan;
g) Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
h) Thống kê nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thuộc phạm vi quản lý của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật.
2- Hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các Chi cục Hải quan, Đội Kiểm soát hải quan và tương đương thuộc đơn vị trong việc tổ chức, triển khai nhiệm vụ được giao.
3- Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về hải quan theo quy định của pháp luật.
4- Xử lý vi phạm hành chính hoặc khởi tố đối với các vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại đối với các quyết định hành chính của các đơn vị trực thuộc và giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
5- Kiến nghị những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung các quy định của Nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; các quy định của Tổng cục Hải quan về chuyên môn nghiệp vụ và quản lý nội bộ; báo cáo Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan những vướng mắc phát sinh, các vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết của Cục Hải quan.
6- Tổ chức triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và phương pháp quản lý hải quan hiện đại vào hoạt động của Cục Hải quan.
7- Phối hợp với các đơn vị trên địa bàn, cơ quan nhà nước và các tổ chức có liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao.
8- Tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về hải quan trên địa bàn.
9- Hướng dẫn, giải thích các vấn đề thuộc phạm vi quản lý của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật.
10- Hợp tác quốc tế về hải quan theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.
11- Tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của Cục Hải quan; thực hiện chế độ báo cáo theo chế độ quy định.
12- Quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức, người lao động của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Tài chính.
13- Quản lý, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, ấn chỉ thuế; quản lý, sử dụng phương tiện, trang bị kỹ thuật và kinh phí hoạt động của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật.
14- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan giao và theo quy định của pháp luật.
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG DE AN 2024/ Quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu theo loại hình Gia công – Sản xuất xuất khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

