Quản trị hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Đối với một ngân hàng – một đơn vị kinh doanh vốn thì vốn giữ vai trò quan trọng vì không có vốn, ngân hàng sẽ không thể tồn tại. Nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là huy động từ các tổ chức kinh tế và nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư.
Nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất của mỗi ngân hàng. Nguồn vốn huy động được chính là nguyên liệu đầu vào với ngân hàng để từ đó ngân hàng sẽ luân chuyển và điều phối để tạo ra những sản phẩm thiết thực cho thị trường. Để đảm bảo đầu vào của ngân hàng được đều đặn và chi phí ít nhất luôn là mục tiêu đầu tiên với mỗi ngân hàng. Trong giai đoạn hệ thống ngân hàng đang cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc duy trì được nguồn vốn đầu vào giá rẻ là rất cấp bách. Các ngân hàng thương mại hiểu rõ được nhiệm vụ hàng đầu này và đã luôn cố gắng tạo sự khác biệt, cải tiến trong dịch vụ để thu hút nhiều khách hàng hơn nữa.
Huy động vốn chiếm tỷ trọng lớn trong các hoạt động của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Từ năm 2013 đến nay BIDV luôn giữ vị trí cao trong khối NHTMCP tại Việt Nam về quy mô huy động vốn, quy mô tín dụng, quy mô bán lẻ với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2013-2013 tương ứng xấp xỉ 40%/năm.
Nguồn vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao trong huy động của các NHTM nên việc cân đối kỳ hạn khó đảm bảo. Do đó, việc quản trị nguồn vốn và tăng cường huy động tiền gửi với chi phí phù hợp và ổn định là yêu cầu cấp thiết và vô cùng quan trọng. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Sông Hàn không nằm ngoài vòng quay sử dụng vốn. Để gia tăng hiệu quả kinh doanh, đảm bảo an toàn hoạt động, BIDV chi nhánh Sông Hàn xác định nhiệm vụ quản trị nguồn vuốn huy động là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam có hình thức huy động vốn còn hạn chế, chưa phù hợp và chưa đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế. Nguồn vốn và sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại có sự chênh lệch đặc biệt là sự chênh lệch về kỳ hạn. Điều này đã ảnh hưởng đến hiệu quả và an toàn hoạt động của ngân hàng, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Hiện nay, với sự phát triển của hệ thống tài chính, rất nhiều NHTM đang và chuẩn bị hoạt động với số lượng chi nhánh/phòng giao dịch trải đều trên các địa bàn và đảm bảo cả về quy mô và chất lượng hoạt động; đồng thời với sự phát triển của các công nghệ truyền thông thì việc chọn được nơi gửi tiền là điều không hề khó khăn cho khách hàng. Tuy nhiên, thực tế hoạt động nhận tiền gửi còn gặp nhiều khó khăn do cạnh tranh giữa các NHTM trở nên ngày càng gay gắt trong việc thu hút khách hàng đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động nhận tiền gửi. Vì vậy để có sự phát triển ổn định các NHTM phải thường xuyên quan tâm tới việc hoàn thiện hoạt động nhận tiền gửi trong suốt quá trình hoạt động của mình.
Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Sông Hàn huy động tiền gửi giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Để gia tăng hiệu quả kinh doanh, đảm bảo an toàn hoạt động, BIDV chi nhánh Sông Hàn đã xác định nhiệm vụ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng huy động vốn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Trong 03 năm vừa qua, hoạt động nhận tiền gửi của BIDV chi nhánh Sông Hàn liên tục tăng trưởng nhưng so với định hướng phát triển thì những kết quả đạt được khá khiêm tốn, bộc lộ nhiều điểm yếu, thị phần huy động vốn chiếm tỷ lệ rất thấp, nền vốn phụ thuộc nhiều vào các khách hàng tiền gửi lớn, tiền gửi ngắn hạn chiếm đến 70% cơ cấu tiền gửi đã ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của chi nhánh.
Ngoài ra, cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh và lan rộng ra tất cả các lĩnh vực, cùng với đó là sự ra đời của hàng loạt công nghệ mới ứng dụng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng (Fintech), tác động làm thay đổi các kênh phân phối và sản phẩm tiền gửi truyền thống của ngân hàng. Đồng thời hành vi của khách hàng cũng có sự thay đổi, khách hàng có xu hướng ít đến ngân hàng hơn mà chủ yếu thực hiện các giao dịch điện tử, các khách hàng cũng có những yêu cầu mới đối với hoạt động nhận tiền gửi của NHTM, đòi hỏi các ngân hàng cần nghiên cứu, có các biện pháp để giải quyết tốt các vấn đề phát sinh trong điều kiện mới, tối đa hóa trải nghiệm của khách hàng trong quá trình gửi tiền, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng thời đại CMCN 4.0.
Trước những vấn đề trên, với mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện hoạt động nhận tiền gửi tại BIDV chi nhánh Sông Hàn, tôi đã chọn đề tài: “Quản trị hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn” làm đề tài nghiên cứu.
2.1. Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở phân tích đánh giá những điểm mạnh, những tồn tại trong hoạt động quản trị hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Sông Hàn, qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Sông Hàn.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
Để đáp ứng được mục tiêu tổng quát, luận văn chia nhỏ thành các mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất: Lý luận chung về hoạt động huy động vốn của các Ngân hàng thương mại.
Thứ hai: Đánh giá về thực trạng hoạt động quản trị hoạt động huy động vốn của BIDV Việt Nam – chi nhánh Sông Hàn trong thời gian qua, bao gồm những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
Thứ ba: Đề xuất được các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị hoạt động huy động vốn tại BIDV – chi nhánh Sông Hàn.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu:
Để đáp ứng mục tiêu tổng quát cũng như các mục tiêu cụ thể, luận văn cần trả lời các câu hỏi: “Làm thế nào để quản trị hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn?”. Để trả lời câu hỏi đó, đề tài đặt ra những câu hỏi liên quan sau:
- Quản trị hoạt động huy động vốn bao gồm những nội dung là gì? Tiêu chí nào được dùng để đánh giá kết quả việc quản trị hoạt động huy động vốn của NHTM? Nhân tố nào ảnh hưởng đến việc quản trị hoạt động huy động vốn của NHTM?
- Quản trị hoạt động huy động vốn của BIDV Việt Nam – chi nhánh Sông Hàn trong thời gian qua đã có những thành công và hạn chế nào? Nguyên nhân là gì?
- Cần đưa ra những giải pháp gì để hoàn thiện việc quản trị hoạt động huy động vốn của BIDV Việt Nam – chi nhánh Sông Hàn trong thời gian tới?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu về công tác quản trị nguồn vốn huy động tại các ngân hàng thương mại, cụ thể:
+ Các quy định pháp luật về hoạt động nhận tiền gửi của NHTM Việt Nam như: Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy chế về tiền gửi tiết kiệm;
Thông tư số 32/2016/TT-NHNN ngày 26/12/2016 của NHNN về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 23/2014/TT-NHNN ngày 19/08/2014; Thông tư số 02/2018/TT-NHNN ngày 12/02/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 32/2016/TT-NHNN ngày 26/12/2016; Thông tư số 02/2018/TT-NHNN ngày 18/02/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 32/2016/TT-NHNN ngày 26/12/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
+ Các báo cáo tổng kết về công tác huy động của BIDV Việt Nam nói chung và của chi nhánh Sông Hàn nói riêng.
+ Các khách hàng cá nhân và tổ chức có gửi tiền tại BIDV chi nhánh Sông Hàn
+ Các giao dịch viên của BIDV chi nhánh Sông Hàn
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Đề tài nghiên hoạt động quản trị nguồn vốn huy động của BIDV CN Sông Hàn.
+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu thực hiện tại BIDV chi nhánh Sông Hàn.
+ Về thời gian : Số liệu của đề tài nghiên cứu được thu thập trong 3 năm từ 2021 đến 2023. Những giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị hoạt động huy động vốn tại BIDV chi nhánh Sông Hàn được xem xét nghiên cứu áp dụng cho giai đoạn 2024- 2027 và một số năm tiếp theo.
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu viết luận văn là thu thập dữ liệu, quan sát, thống kê, điều tra khảo sát chọn mẫu, tổng
4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Số liệu được thu thập từ các báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh hàng năm của BIDV chi nhánh Sông Hàn, báo cáo tổng kết hoạt động ngân hàng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hàng năm của NHNN, dữ liệu chi tiết về khách hàng tiền gửi của BIDV chi nhánh Sông Hàn, ý kiến đánh giá của khách hàng tiền gửi qua khảo sát điều tra.
4.2. Phương pháp quan sát
Quan sát thực tế quá trình hoạt động của bộ máy kế toán, các quy trình nghiệp vụ để nắm bắt, hiểu rõ được hoạt động huy động vốn tại BIDV chi nhánh Sông Hàn.
4.3. Phương pháp thống kê
Các phương pháp thống kê được sử dụng bao gồm: thống kê mô tả, phân tích sự biến động theo thời gian; phân tích cơ cấu; phân tích mức độ hoàn thành kế hoạch,.. để phân tích đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn tại BIDV chi nhánh Sông Hàn trong giai đoạn 2021-2023.
4.4. Phương pháp điều tra, khảo sát
Thực hiện khảo sát ý kiến các giao dịch viên nhằm tìm hiểu về những vấn đề nảy sinh trong hoạt động huy động vốn tại BID Sông Hàn
Đồng thời khảo sát ý kiến của khách hàng về hoạt động huy động vốn của ngân hàng: thiết kế mẫu khảo sát để thu thập thông tin đánh giá theo đối tượng khách hàng tổ chức và dân cư, tiến hành thu thập khoảng 200 mẫu đánh giá (phiếu khảo sát của tổ chức và dân cư phân bổ theo tỷ lệ khách hàng tiền gửi tổ chức và dân cư tại chi nhánh).
4.5. Phương pháp tổng hợp
Qua quá trình thu thập dữ liệu, quan sát, điều tra, khảo sát thực hiện thống kê và phân tích, tác giả tổng hợp lại, hệ thống hóa được vận dụng trong xây dựng cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu đề ra.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
5.1. Ý nghĩa khoa học
Trên cơ sở đánh giá thực trạng Quản trị hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn, Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm các cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, quy trình liên quan đến Quản trị hoạt động huy động vốn trong hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng thương mại.

5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đánh giá được thực trạng và đưa ra những ưu điểm và hạn chế cũng như các yếu tố tác động đến Quản trị hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn; Đồng thời, đề tài đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực quản trị trong hoạt động huy động vốn để mang lại hiệu quả tốt nhất. Vì vậy kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu hữu ích cho hoạt động quản trị trong công tác huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn, là nguồn tư liệu tham khảo của hệ thống Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam góp phần nâng cao năng lực quản trị trong hoạt động huy động vốn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về quản trị huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị huy động vốn tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn.
Chương 3: Giải pháp quản trị huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Sông Hàn.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG TẠI NHTM
“ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là quản trị nguồn vốn huy động, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ ngân hàng”
1.1.2. Hoạt động huy động vốn của NHTM
1.1.2.1. Khái niệm về nguồn vốn huy động của NHTM
Là nguồn vốn mà NHTM huy động được từ các tổ chức, cá nhân trong xã hội, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM và là cơ sở để ngân hàng cho vay, do đó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh và sự phát triển của ngân hàng. Khác với vốn điều lệ, đối với vốn huy động từ nhận tiền gửi, NH không có quyền sở hữu, chỉ có quyền sử dụng và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho người gửi khi khoản tiền gửi đến hạn hoặc khi khách hàng có yêu cầu rút tiền đồng thời phải dành một phần vốn huy động để dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN Việt Nam trong từng thời kỳ.
Tiền gửi NHTM huy động bao gồm tiền gửi không kỳ hạn (KKH), tiền gửi có kỳ hạn (CKH), tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng từ nợ ngắn hạn (chứng chỉ tiền gửi) và dài hạn (trái phiếu) ngân hàng và các hình thức nhận tiền gửi khác
- Vốn tự có của NHTM
Là nguồn vốn do NHTM tự tạo lập được, tuy chỉ là một phần nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM nhưng giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động của NH. Đây là nguồn vốn được NHTM sử dụng để trang bị tài sản, cơ sở vật chất hoặc đầu tư, góp vốn liên doanh, là yếu tố quyết định khả năng thanh toán cho khách hàng khi NH thua lỗ và là điều kiện pháp lý để thành lập NH. Ngoài ra số lượng vốn tự có còn là tiêu chí quyết định quy mô hoạt động, năng lực phát triển của NHTM. Theo thông tư quyết định 1564/QĐ-NHNN năm 2018 về đính chính Thông tư 16/2018/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
quy định về vốn tự có của NHTM Việt Nam bao gồm 2 thành phần vốn cấp 1 và vốn cấp 2:
– Vốn cấp 1 bao gồm: Vốn điều lệ; Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ; Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ; Lợi nhuận không chia; và Thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có) trừ đi các khoản giảm trừ theo quy định của NHNN.
– Vốn cấp 2 bao gồm: 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật; 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp luật; Quỹ dự phòng tài chính; Quỹ dự phòng chung; Trái phiếu chuyển đổi và các công cụ nợ do NHTM phát hành khác thỏa mãn tất cả những điều kiện do NHNN quy định trừ đi các khoản giảm trừ theo quy định của NHNN.
(i) Huy động vốn: Là hoạt động mà NHTM huy động tiền gửi được từ các tổ chức, cá nhân trong xã hội, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM và là cơ sở để ngân hàng cho vay, do đó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh và sự phát triển của ngân hàng. Khác với vốn điều lệ, đối với vốn huy động từ nhận tiền gửi, NH không có quyền sở hữu, chỉ có quyền sử dụng và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho người gửi khi khoản tiền gửi đến hạn hoặc khi khách hàng có yêu cầu rút tiền đồng thời phải dành một phần vốn huy động để dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN Việt Nam trong từng thời kỳ.
Tiền gửi NHTM huy động bao gồm tiền gửi không kỳ hạn (KKH), tiền gửi có kỳ hạn (CKH), tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng từ nợ ngắn hạn (chứng chỉ tiền gửi) và dài hạn (trái phiếu) ngân hàng và các hình thức nhận tiền gửi khác.
(ii) Các khoản vay phi tiền gửi: Bên cạnh việc huy động vốn, đôi khi các NHTM phải đi vay các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước hoặc vay của NHNN để bù đắp sự thiếu hụt trong thanh toán, chi trả hoặc dự trữ theo quy định. Các khoản vốn vay của NHTM gồm:
– Vay NHNN: NHNN cho vay chủ yếu dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của NHTM đáp ứng đủ điều kiện của NHNN hoặc cho vay tái cấp vốn.
– Vay các tổ chức tín dụng khác trong và ngoài nước: Đây là các khoản vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng hoặc giữa NH với các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng.
1.1.2.2. Vai trò của nguồn vốn huy động trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Nguồn vốn quyết định quy mô, kết cấu tài sản và khả năng sinh lời.
Đối với NHTM vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Nguồn vốn ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thông qua danh mục tài sản mà nó tài trợ cả về quy mô và cơ cấu. Trên cơ sở nguồn vốn tạo lập, ngân hàng sử dụng để cho vay, đầu tư (Chứng khoán), mua sắm tài sản cố định, gửi tiền tại ngân hàng khác và thực hiện dự trữ theo quy định để đảm bảo khả năng thanh toán. Như vậy, nguồn vốn có vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định danh mục tài sản đầu tư, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của NHTM. Quy mô, cơ cấu nguồn vốn quyết định đến chi phí trả lãi, quy mô, thành phần tài sản với thành phần ấy lại quy định tiền lãi thu được nên nguồn vốn có vai trò quyết định đối với chi phí trả lãi và thu nhập từ đó quyết định lãi ròng của ngân hàng. Để tăng thu nhập từ lãi, các ngân hàng thường tìm kiếm các nguồn vốn có chi phí thấp, tăng quy mô nguồn vốn, quản lý lãi suất phải trả bình quân và tối đa các tài sản sinh lời, tức là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Đối với một ngân hàng, khả năng nguồn vốn lớn là điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về qui mô, khối lượng tín dụng và thời hạn cho vay. Đó là một yếu tố để thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Đây cũng là điều kiện bổ xung thêm vốn tự có của ngân hàng, tăng cường cơ sở vật chất và quy mô hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực.
Nguồn vốn của ngân hàng lớn giúp ngân hàng kinh doanh đa năng trên thị trường. Không chỉ đơn thuần cho vay mà NH còn mở rộng hình thức liên doanh, liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua (Leasing), mua bán nợ (Factoring), kinh doanh trên thị trường chứng khoán… Chính các hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh, tạo vốn cho ngân hàng, tăng sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
1.1.2.3. Đặc điểm của nguồn vốn huy động
Đặc điểm tiền gửi của khách hàng
Tiền gửi tại NHTM có qui mô rất lớn so với các nguồn khác và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của ngân hàng. Khi khách hàng có yêu cầu thanh toán, tiền gửi phải được thanh toán ngay, cả khi đó là tiền gửi có kì hạn chưa đến hạn. Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc. Do vậy chi phí thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi, đồng thời ngân hàng phải mua bảo hiểm cho tiền gửi. Tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, thường nhạy cảm với các biến động về lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kì chi tiêu và một số yếu tố khác. Lãi suất cao là một yếu tố kích thích các doanh nghiệp, dân cư gửi và cho vay.
Đặc điểm giấy tờ có giá
Loại công cụ này mang tính ổn định cao hơn so với tiền gửi tiết kiệm. Chi phí lãi suất cao so với tiền gửi tiết kiệm cùng kỳ hạn đi kèm với lãi suất cao là khả năng rủi ro cao hơn so với tiền gửi kỳ hạn ngắn. Mệnh giá trái phiếu lớn nên phạm vi đối tượng khách hàng bị giới hạn. NHTW ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn trong nước. Theo Quy chế này, các tổ chức tín dụng được thanh tra ngân hàng đánh giá là có tài chính lành mạnh sẽ được cấp giấy phép phát hành. Do đó, một số ngân hàng nhỏ sẽ bị hạn chế trong việc huy động vốn theo hình thức này.
Đặc điểm các khoản đi vay
Khác với tiền gửi, nguồn tiền vay có thời hạn và qui mô xác định trước nên tạo thành nguồn tiền ổn định cho ngân hàng. Tuy nhiên tỷ trọng của nguồn tiền vay thường thấp hơn nguồn tiền gửi. Ngân hàng hoàn toàn chủ động quyết định khối lượng vay phù hợp với nhu cầu sử dụng khi cần thiết.
Với nguồn tiền vay này, ngân hàng có thể không phải chịu dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi. Nhưng do rủi ro lớn hơn nên lãi suất trả cho tiền vay thường lớn hơn lãi suất cho tiền gửi với cùng kì hạn. Cũng có những khoản vay từ NHTW hay vay TCTD khác với lãi suất thấp song thời hạn ngắn và chỉ nhằm đảm bảo thanh toán tức thời khi nhu cầu thanh toán của khách hàng tăng cao. Hơn nữa, việc vay NHTW cũng phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ trong từng thời kì.
Đặc điểm các nguồn khác
Nhìn chung, các nguồn khác trong ngân hàng thường không lớn, phần lớn không phải trả lãi nhưng chi phí để có và duy trì cũng rất đáng kể. Việc gia tăng các nguồn này nằm trong chính sách tăng nguồn thu cho ngân hàng và bị ảnh hưởng rất lớn bởi khả năng thực hiện và mở rộng các loại hình dịch vụ khác.
1.1.2.4. Các phương thức tạo lập vốn của NHTM
Huy động vốn
Để thu hút được tiền gửi phí giao dịch của các tổ chức và cá nhân, ngân hàng sử dụng các tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế xã hội hoặc phát hành các loại giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, giấy chứng nhận quản trị nguồn vốn huy động. Ngân hàng phát hành thẻ tiết kiệm không kỳ hạn để thu hút những món tiền nhỏ lẻ hoặc những khoản tiền có thời gian nhàn rỗi ngắn.
Tài khoản này có thể gửi thêm hoặc rút ra bất cứ lúc nào nhưng không được phát hành séc (đây là điểm khác biệt với tiền gửi giao dịch). Do nhu cầu gửi tiền của khách hàng rất đa dạng tùy theo kế hoạch sử dụng tiền của khách hàng trong hiện tại cũng như tương lai nên ngân hàng quy định nhiều loại kỳ hạn gửi tiền cho khách hàng lựa chọn, có thể kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng v.v.. để thu hút tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. [4]
Vay các tổ chức tín dụng khác
Các NHTM có thể vay vốn của các tổ chức tín dụng khác. Đây là các khoản vay thông thường mà các NHTM vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ để bổ xung dự trữ bắt buộc, bù đắp thiếu hụt trong cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn với lãi suất thoả thuận. Tuy nhiên, đây là nguồn vốn thường có thời hạn ngắn và chi phí cao nên việc vay mượn có tính tạm thời. Về lâu dài, các NHTM tìm cách khai thác nguồn vốn tiền gửi để trả khoản nợ này.
Vay chiết khấu hay tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương
Việc vay vốn từ Ngân hàng Trung ương nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời của nguồn vốn do sự giảm sút số vốn hiện có so với tài sản của Ngân hàng Thương mại.
Tuy nhiên, nhu cầu khoản vay này phải phù hợp với mục tiêu của Ngân hàng Trung ương. Ở nhiều nước, khoản vay này phải ký quỹ bằng thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác. Đặc điểm nguồn vốn này là thời hạn ngắn. Do đó các NHTM phải tăng cường huy động các nguồn vốn khác để trả nợ ngay khi đến hạn.
Nhận vốn uỷ thác đầu tư
Đối với một số NHTM, ngoài nguồn vốn huy động, vay tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương, còn có thể nhận được nguồn vốn uỷ thác đầu tư của Nhà nước và các tổ chức tài chính trong nước, quốc tế theo các chương trình, dự án có mục tiêu cụ thể.
Để được nhận nguồn vốn này, các ngân hàng phải lập dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay. Hiện nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đang nhận vốn uỷ thác của các dự án: Phục hồi và phát triển nông thôn, dự án tín dụng nông thôn…
Các nguồn vốn khác
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, các Ngân hàng Thương mại có thể sử dụng kết dư trên các tài khoản thanh toán vãng lai như chênh lệch thu hộ lớn hơn chi hộ các ngân hàng khác trong thanh toán liên hàng. Ngoài ra còn có thể có số dư trên các tài khoản ký quỹ hoặc các khoản quản lý, giữ hộ nhưng số vốn này không nhiều và ngân hàng không chủ động trong việc tập trung nguồn vốn này.
Như vậy, các NHTM tạo lập nguồn vốn chủ yếu bằng phương thức huy động vốn để khai thác nguồn vốn nhàn rỗi của khách hàng. Trong trường hợp mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn NH, có thể vay vốn các tổ chức tín dụng hoặc dưới hình thức chiết khấu của Ngân hàng Trung ương và có thể nhận vốn uỷ thác đầu tư cùng với số vốn của chủ sở hữu để có nguồn vốn với quy mô nhất định đủ tài trợ cho danh mục tài sản. Trong số các phương thức này, huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội giữ vai trò quan trọng nhất do nó cho phép khai thác, phát huy nội lực để phát triển kinh tế. Đồng thời nguồn vốn này thường có chi phí thấp hơn so với các nguồn vốn khác vì nguồn này nhận được trực tiếp từ người gửi tiền
1.1.2.5. Phân loại nguồn vốn huy động của NHTM
Trong xu thế thị trường tài chính ngày càng phát triển, các chủ thể trong nền kinh tế có rất nhiều sự lựa chọn loại hình đầu tư phù hợp, vừa sinh lợi vừa đảm bảo an toàn. Do đó các NHTM cần có các giải pháp phù hợp, thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi phù hợp với hành vi, động cơ, mục đích gửi tiền của khách hàng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng cường hoạt động tiền gửi của NHTM. Có thể phân loại tiền gửi theo các tiêu chí cơ bản sau đây:
a. Phân theo đối tượng khách hàng gửi tiền
– Tiền gửi của khách hàng tổ chức: Để đảm bảo an toàn tài sản đồng thời sinh lời cho nguồn tiền, các tổ chức có thể gửi số tiền nhàn rỗi vào NHTM để thực hiện các giao dịch thanh toán, sử dụng các dịch vụ tiện ích do NH cung ứng.
Đối với tổ chức thì hoạt động sản xuất kinh doanh mới là nguồn lợi nhuận chủ yếu so với lãi tiền gửi NH và các hoạt động của tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào quyết định điều hành của ban lãnh đạo. Do đó tiền gửi của khách hàng tổ chức có đặc điểm là số lượng khách hàng tổ chức thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số lượng khách hàng gửi tiền ở NHTM nhưng số dư tiền gửi của một khách hàng lại có giá trị lớn và khá ổn định, ít chịu ảnh hưởng của chính sách lãi suất, ngoài ra việc các khách hàng tổ chức có gửi tiền vào ngân hàng hay không sẽ phụ thuộc vào mối quan hệ của ngân hàng với ban lãnh đạo của tổ chức và khả năng phục vụ của ngân hàng cho hoạt động của tổ chức đó.
– Tiền gửi của KHCN: Là một bộ phận thu nhập bằng tiền của dân cư gửi vào NHTM để đảm bảo an toàn, thanh toán, tiết kiệm và sinh lời. Tuy số dư tiền gửi của một KHCN thường có giá trị nhỏ nhưng do số lượng KHCN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số khách hàng của NHTM, vì vậy tổng số dư tiền gửi của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của NHTM. Đối với KHCN, mục tiêu quan trọng của họ là lợi tức nhận được, do đó đặc điểm của tiền gửi dân cư là chịu ảnh hưởng khá lớn từ các chính sách lãi suất của các NHTM.
b. Phân theo kỳ hạn gửi tiền
– Tiền gửi không có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định, khách hàng gửi tiền vào NHTM với mục đích được ngân hàng thực hiện thanh toán và thu chi hộ theo yêu cầu của khách hàng [6, tr 28]. Đây là nguồn vốn tiền gửi có chi phí thấp nhất, gắn liền đến mọi hoạt động giao dịch của NHTM. Tiền gửi KKH có các đặc điểm cơ bản sau:
+ Khách hàng được rút tiền gửi hoặc yêu cầu ngân hàng thực hiện thanh toán vào bất cứ lúc nào và không bị hạn chế số lần giao dịch.
+ Đồng thời, do khách hàng có thể sử dụng tiền gửi không kỳ hạn vào bất cứ lúc nào nên nguồn vốn này không có sự ổn định.
+ Số dư tiền gửi của từng khách hàng không lớn nhưng số lượng khách hàng lại rất nhiều, làm cho tổng số dư tiền gửi không kỳ hạn thì lớn và tại một thời điểm nhất định, một phần tiền gửi không kỳ hạn sẽ có tính ổn định tương đối, mặt khác các NHTM còn yêu cầu khách hàng phải đảm bảo duy trì số dư tối thiểu trên một tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, do đó các NHTM vẫn có thể sử dụng một phần tiền gửi KKH của khách hàng vào hoạt động cho vay nhưng phải đảm bảo tính toán kỹ lưỡng khả năng chi trả của mình.
+ Đối tượng sử dụng tài khoản tiền gửi KKH là doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân… Nhìn chung khách hàng có xu hướng gửi tiền KKH tại các NHTM có quy mô lớn, mạng lưới giao dịch rộng khắp, sản phẩm dịch vụ đa dạng, tiện ích, công nghệ hiện đại.
– Tiền gửi có kỳ hạn: Là hình thức tiền gửi huy động các khoản tiền để dành, tạm thời chưa sử dụng, mà khi gửi vào khách hàng chỉ được rút ra sau một khoảng thời gian nhất định [6, tr 33]. Khi gửi tiền sẽ có sự thỏa thuận rõ ràng giữa khách hàng gửi và ngân hàng về số lượng, kỳ hạn, lãi suất của khoản tiền gửi. Tiền gửi CKH có các đặc điểm cơ bản sau:
+ Khách hàng chỉ được rút tiền và được hưởng lãi theo kỳ hạn đã thỏa thuận với ngân hàng tại thời điểm gửi tiền, tuy nhiên trong thực tế do quá trình cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, để có thể thu hút khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, nhiều NHTM vẫn cho khách hàng rút tiền trước thời hạn với lãi suất thấp (thường bằng lãi suất tiền gửi KKH).
+ Đối tượng khách hàng chủ yếu là các tổ chức, cá nhân có các khoản tiền nhàn rỗi, chưa có nhu cầu sử dụng ngay, do đó gửi tiền vào NH để hưởng lãi và để đảm bảo an toàn, dự phòng cho tương lai…
+ Tiền gửi CKH có kỳ hạn được xác định rõ ràng nên có tính ổn định cao, NHTM có thể chủ động sử dụng nguồn tiền gửi này để cho vay.
+ Lãi suất của tiền gửi CKH thường cao hơn nhiều so với tiền gửi KKH.
c. Phân loại theo mục đích gửi
– Tiền gửi tiết kiệm: Các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích tích lũy, để dành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hoặc cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai. Tiền gửi tiết kiệm có đặc điểm:
+ Khách hàng gửi tiền tiết kiệm thường là những hộ có thu nhập thấp và trung bình, để dành một khoản tiền gửi vào NH (thường là các khoản tiền tiết kiệm đều đặn hàng năm) với mục đích vừa tích lũy tiền cho một mục đích nhất định, vừa đảm bảo an toàn cho khoản tiền tiết kiệm và để sinh lợi.
+ Khách hàng không được sử dụng tài khoản tiền gửi tiết kiệm để phát hành séc và thực hiện các giao dịch thanh toán.
+ Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với ngân hàng.
+ Tiền gửi tiết kiệm có xu hướng ổn định, ít nhạy cảm với những thay đổi trong lãi suất do đó để thu hút ngày càng nhiều tiền gửi tiết kiệm, các NHTM cần mở rộng mạng lưới hoạt động, cung cấp các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm đa dạng, phong phú, nhiều tiện ích.
– Tiền gửi thanh toán: Là tiền gửi của tổ chức hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán cho khách hàng khi họ có yêu cầu. Tiền gửi thanh toán có đặc điểm:
+ Chủ tài khoản được chủ động và linh hoạt sử dụng các hình thức thanh toán: lập giấy chuyển tiền, phát hành séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu…để thực hiện các giao dịch thanh toán.
+ Khoản tiền gửi thanh toán này có thể được trả lãi (rất thấp) hoặc không được trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng nhưng thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng những dịch vụ ngân hàng với mức chi phí thấp.
+ Mục đích của khách hàng gửi không phải để hưởng lãi mà chủ yếu để được NHTM cung cấp các dịch vụ thanh toán đồng thời đảm bảo an toàn cho khoản tiền, do đó để thu hút tiền gửi thanh toán, các NHTM cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ, tiện ích các sản phẩm dịch vụ thanh toán để tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo an toàn cho khách hàng trong quá trình giao dịch.
– Tiền gửi hưởng lãi: Là loại tiền gửi có lãi suất thông thường cao hơn các loại tiền gửi khác, dành cho khách hàng tổ chức và cá nhân có số tiền lớn muốn gửi tiền để hưởng lãi. Tiền gửi hưởng lãi có đặc điểm:
+ Khách hàng gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi do đó NHTM phải trả lãi suất thỏa đáng cho khách hàng, thường cao hơn rất nhiều so lãi suất các loại tiền gửi khác, thời gian gửi càng dài thì lãi suất càng cao và các NHTM thường sử dụng công cụ lãi suất để cạnh tranh, thu hút tiền gửi của khách hàng.
+ Đây được xem như là một kênh đầu tư của khách hàng, do vậy số dư tiền gửi của một khách hàng thường khá lớn. Các khách hàng gửi tiền tuy chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng tổng số dư tiền gửi của nhóm khách hàng này lại chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tiền gửi của NHTM.
+ Lãi của tiền gửi hưởng lãi được trả theo lãi suất cố định với kỳ hạn xác định hoặc lãi suất thay đổi định kỳ theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng tại thời điểm gửi.
– Tiền gửi khác: Đây là loại tiền gửi xuất phát từ nhu cầu của khách hàng gắn liền với các nghiệp vụ khác của ngân hàng như tiền gửi ký quỹ đảm bảo thư tín dụng, tiền gửi đặt cọc, tiền gửi séc bảo chi,…
d. Phân loại theo tính chất thường xuyên
– Nhận tiền gửi qua tài khoản: NH mở tài khoản cho khách hàng để nhận tiền gửi. Là hình thức nhận tiền gửi có tính chất thường xuyên, bất cứ lúc nào khách hàng cũng có thể dễ dàng gửi tiền và rút tiền. Nhận tiền gửi qua tài khoản luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tiền gửi của NHTM, là yếu tố quan trọng giúp phân biệt giữa NH với các định chế tài chính khác trên thị trường tài chính.
– Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu: là hình thức nhận tiền gửi có tính chất không thường xuyên. Ngân hàng nhận tiền gửi dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, theo đó NHTM xác định nghĩa vụ trả nợ với chủ sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác nhất định. Trước khi phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu, NHTM phải có kế hoạch phát hành nêu rõ: mục đích, thời gian phát hành, lãi suất, tổng giá trị phát hành… Tuy nhiên, hoạt động này không diễn ra thường xuyên, ngân hàng chỉ thực hiện khi có nhu cầu, do vậy khách hàng chỉ có thể mua giấy tờ có giá tại thời điểm NHTM phát hành. Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc nhận tiền gửi nên thường cao hơn lãi suất của hình thức nhận tiền gửi qua tài khoản.
1.1.3. Khái niệm quản trị nguồn vốn huy động tại NHTM
Quản trị nguồn vốn huy động là một bộ phận quan trọng trong quản trị hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung, tập trung tạo nền tảng vốn huy động vững chắc đảm bảo cho các nhu cầu kinh doanh của NHTM.
“Quản trị nguồn vốn huy động của NHTM là việc thiết lập, tổ chức điều hành chiến lược, chính sách, chương trình huy động vốn nhằm đạt mục tiêu kinh doanh của ngân hàng”.
Quản trị nguồn vốn huy động là đảm bảo đủ vốn để đáp ứng yêu cầu sử dụng với chi phí và rủi ro ở mức thấp nhất có thể và chính việc đạt được các yêu cầu này là cơ sở để ngân hàng đạt được các mục tiêu kinh doanh nói chung: lợi nhuận cao, rủi ro, chi phí thấp, dịch vụ nhiều và rẻ…Trong đó, nhu cầu sử dụng vốn bao gồm các nhu cầu cơ bản sau: nhu cầu đảm bảo khả năng thanh toán, cho vay và đầu tư (không bao gồm nhu cầu vốn cho đầu tư tài sản cố định). Chi phí huy động và các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí huy động bao gồm các chi phí trả lãi, chi phí quản lý, chi phí chung cho bộ máy huy động vốn và khối lượng vốn lưu động. Trong đó, việc giảm khối lượng huy động vốn nhằm tiết kiệm chi phí huy động sẽ ảnh hưởng đến khả năng mở rộng cho vay, đầu tư. Thêm vào đó, lãi suất do thị trường quyết định nên khả năng tiết kiệm chi phí chủ yếu phụ thuộc vào việc cắt giảm chi phí liên quan đến tổ chức bộ máy huy động vốn. Bên cạnh tiết kiệm chi phí huy động, khả năng hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất có thể chính là mục tiêu cơ bản lâu dài của các NHTM trong công tác huy động vốn. Rủi ro liên quan đến hoạt động huy động vốn như rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro liên quan đến việc sử dụng vốn (rủi ro tín dụng, rủi ro thừa vốn); rủi ro liên quan cơ cấu nguồn vốn huy động trong cân đối nguồn vốn huy động so với vốn chủ sở hữu, nguồn vốn huy động so với vốn đi vay…
1.1.4. Mục tiêu quản trị nguồn vốn huy động
* Tạo lập và giữ vững sự ổn định của nguồn vốn huy động, đảm bảo đủ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh tiền tệ.
Đây là mục tiêu quan trọng nhất và là mục tiêu có tính cạnh tranh nhất trong toàn bộ hoạt động của các NHTM. Trong điều kiện hệ thống NHTM phát triển mạnh về số lượng như hiện nay, vấn đề cạnh tranh trong huy động nguồn vốn là rất gay gắt, thậm chí còn mang ý nghĩa sống còn. Vì vậy, việc giữ vững sự ổn định của nguồn vốn huy động có ý nghĩa rất quan trọng.
* Gia tăng nguồn vốn huy động một cách hợp lý để không ngừng mở rộng quy mô hoạt động.
Các NHTM đều có chiến lược không ngừng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh. Muốn vậy, trước hết phải mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh tiền tệ, từ đó có thể mở rộng các hoạt động kinh doanh khác. Gia tăng nguồn vốn huy động là mục tiêu mà bất kỳ một ngân hàng nào cũng phải hướng đến.
* Đảm bảo duy trì khả năng thanh toán và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Đây là mục tiêu mang tính bắt buộc trong quản trị nguồn vốn huy động. Đảm bảo duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng sẽ tạo dựng niềm tin cho khách hàng. Đó là điều kiện để thu hút tiền gửi ngày càng nhiều hơn, ổn định hơn. Bên cạnh đó, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh luôn luôn phải được thấu suốt trong quá trình quản lý và sử dụng nguồn vốn huy động.
Ba mục tiêu trên phải được thực hiện đồng bộ. Tuy nhiên, tùy từng tình hình cụ thể mà nhấn mạnh mục tiêu này hay mục tiêu khác. Đây chính là sự linh hoạt trong quản trị nguồn vốn huy động, sự linh hoạt này sẽ giúp ngân hàng đạt hiệu quả tối ưu trong hoạt động kinh doanh.
1.1.5. Vai trò của quản trị nguồn vốn huy động của NHTM
1.1.5.1. Đối với NHTM
Quản trị nguồn vốn huy động góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh. Thông qua quản trị nguồn vốn huy động, NHTM có thể đo lường được mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, từ đó các NHTM phải không ngừng hoàn thiện các loại hình sản phẩm huy động và phát triển các dịch vụ gia tăng để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng; đảm bảo an toàn trong huy động vốn tiền gửi, phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
1.1.5.2. Đối với khách hàng
Quản trị nguồn vốn huy động góp phần cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội gia tăng tiêu dùng trong tương lai, cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Từ đó, nhiều khách hàng có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ của ngân hàng như dịch vụ thanh toán, dịch vụ tín dụng…
1.1.5.3. Đối với nền kinh tế
Quản trị nguồn vốn huy động góp phần hạn chế lượng tiền mặt lưu thông bên ngoài ngân hàng, khuyến khích thanh toán qua tài khoản, phát triển hệ thống thẻ ATM, giảm các giao dịch bằng tiền mặt để giảm bớt rủi ro; Điều tiết lượng tiền trong nền kinh tế, giúp ổn định thị trường tiền tệ và kiểm soát được lạm phát.
1.2. NỘI DUNG QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA NHTM
1.2.1. Xác lập mục tiêu, chiến lược huy động vốn trong ngắn hạn và dài hạn
Là cơ sở đặt ra để làm định hướng tới đối với mọi hoạt động, mọi tổ chức. Trong quản trị nguồn vốn huy động, xác định được mục tiêu chính là vấn đề quan trọng đầu tiên để hoạch định chương trình, chính sách huy động vốn theo từng năm, từng thời kỳ theo mục tiêu dài hạn ngắn hạn.
Mục tiêu dài hạn: định hướng mang tầm chiến lược đối với hoạt động kinh doanh của bất kỳ ngân hàng nào. Mục tiêu trong quản trị ngồn vốn là đảm bảo đáp ứng đủ vốn cho nhu cầu sử dụng trên cở sở thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng và tối thiểu hóa chi phí nhằm đạt lợi nhuận tốt nhất. Nắm bắt tình hình thị trường và các chích sách mới của chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, định hướng kế hoạch dài hạn lãi suất, siết các khoản vay kinh doanh bất động sản.v.v.. các chính sách có lợi và bất lợi để kịp thời đưa ra các quyết định dài hạn của ngân hàng phù hợp, đồng thời đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn trong nền kinh tế, đảm bảo đúng quy định của ngân hàng Nhà nước và pháp luật Việt Nam.
Mục tiêu ngắn hạn: Đưa ra các sản phẩm huy động đa dạng về kỳ hạn, lãi suất, các chế độ ưu tiên, chương trình quà tặng khuyến mãi hấp dẫn, mức độ rủi ro phù hợp với nhu cầu người gửi tiền cá nhân doanh nghiệp có nguồn vốn nhàn rỗi. Xây dựng biện pháp quản trị nguồn vốn phù hợp với diễn biến thị trường, tạo sự cân bằng giữa vốn đầu tư và vốn tại quỹ.
1.2.2. Tổ chức bộ máy và mạng lưới huy động vốn
Trên cơ sở các nguồn lực đã được xác định, nhà quản trị thực hiện phân bổ các nguồn lực về con người, sắp xếp bộ máy, mô hình tổ chức quản lý nhằm đảm bảo hiệu quả huy động vốn.
Cụ thể hóa các chiến lược huy động vốn thành các chỉ tiêu cụ thể, giao cho các bộ phận nhằm đảm bảo đạt được nguồn vốn đa dạng, phong phú. Đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn một cách kịp thời, nhanh chóng.
Bộ máy huy động vốn và mức độ mở rộng của mạng lưới huy động tùy thuộc vào tiềm lực tài chính, cũng như mục tiêu quản trị nguồn vốn huy động của ngân hàng trong từng thời kỳ.
Một vấn đề sẽ tác động lớn đến chiến lược thu hút tiền gửi của ngân hàng chính là những thay đổi to lớn của hệ thống chuyển giao dịch vụ ngân hàng. Một hệ thống chuyển giao phù hợp sẽ tuỳ thuộc vào đặc điểm khách hàng mà ngân hàng muốn phục vụ. Các yếu tố như máy ATM, công nghệ thông tin phát triển sẽ tác động đến hệ thống chuyển giao. Việc tăng hay giảm hệ thống chuyển giao (mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch) sẽ phụ thuộc vào thị trường khách hàng mà ngân hàng muốn phục vụ và nhiều yếu tố khác nữa.
Đồng thời một ngân hàng có mạng lưới hoạt động rộng, địa điểm giao dịch đặt tại các vị trí quan trọng, trung tâm, thuận tiện trong giao thông sẽ giúp ngân hàng thu hút được nhiều nguồn vốn hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí thực hiện giao dịch. Tuy nhiên, việc mở rộng mạng lưới hoạt động cần tuy thuộc vào năng lực của từng ngân hàng và phải nhận được sự cho phép của NHNN Việt Nam.
1.2.3. Xây dựng chính sách huy động vốn nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng
Chính sách huy động vốn: Là một hệ thống bao gồm các quy định, các công cụ, hình thức nhằm đạt mục tiêu đề ra. Chính sách huy động vốn chỉ rõ quy mô, kết cấu nguồn vốn cần huy động, mức lãi suất, kỳ hạn… có thể áp dụng cũng như nguồn tài nguyên về công nghệ, nhân lực tài chính. Trên cơ sở đó, công tác huy động vốn bao gồm những nội dung mà từng bộ phận liên quan sẽ sử dụng các công cụ, các mức lãi suất, các kỳ hạn, xác định đối tượng huy động, phương thức huy động phù hợp với quy mô, cơ cấu vốn cần thiết nhằm đạt các mục tiêu đề ra. Trong đó:
Chính sách kiểm soát sự tăng trưởng về quy mô, cơ cấu nguồn vốn huy động.
Nhà quản trị thực hiện phân tích quy mô, cơ cấu và sự tăng trưởng nguồn vốn huy động qua các thời kỳ nhằm đưa ra các biện pháp tăng quy mô và thay đổi cơ cấu hiệu quả nhất. Đây là nội dung đầu tiên quan trọng trong quản trị nguồn vốn huy động. Gia tăng các nguồn vốn huy động là một trong những chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng, là điều kiện để ngân hàng mở rộng quy mô, nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn. Cơ cấu nguồn vốn có ảnh hưởng đến cơ cấu và sự đa dạng của tài sản và quyết định chi phí cũng như lợi nhuận của ngân hàng. Ngân hàng phải dự đoán sự thay đổi của môi trường để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp mà trong đó chiến lược phát triển quy mô và điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn là một bộ phận quan trọng.
Chính sách lãi suất và chi phí huy động vốn.
Chính sách lãi suất và chi phí huy động vốn là một trong những nội dung quan trọng trong quản trị chi phí ngân hàng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp cân đối thu nhập và chi phí ngân hàng. Quyết định khả năng chiếm lĩnh thị trường, khả năng phát triển và khả năng sinh lời. Theo nguyên tắc lãi suất càng cao ngân hàng càng huy động được nhiều nhưng lãi suất chi phí càng tăng và nếu doanh thu không tăng cùng với tốc độ tăng chi phí, lợi nhuận sẽ giảm tương ứng. Quản trị lãi suất nguồn vốn huy động chính là việc xác định chi phí tương đối từng loại nguồn vốn, xác định các loại và cơ cấu lãi suất phải trả cho các nguồn tiền theo các tiêu chí khác nhau, mức chi phí phải trả bình quân cho một đồng vốn huy động. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất và tuỳ theo tính chất của các nguồn vốn, ngân hàng có thể phân biệt các loại lãi suất này tuỳ thuộc vào mức độ cạnh tranh và chiến lược huy động vốn của ngân hàng.
Quản trị lãi suất nguồn vốn huy động gắn liền với quản trị kỳ hạn. Vì vậy, cần lựa chọn cơ cấu lãi suất sao cho vừa tăng nguồn vốn huy động vừa tiết kiệm chi phí và tăng tính ổn định. Kiểm soát lãi suất của nguồn vốn huy động cũng liên quan chặt chẽ đến việc xác định lãi suất cho vay và đầu tư của ngân hàng.
Chính sách về kỳ hạn huy động vốn hợp lý
Kỳ hạn danh nghĩa: Các nguồn tiền gửi của ngân hàng thường gắn liền với một kỳ hạn nhất định do ngân hàng công bố, đó là kỳ hạn danh nghĩa của nguồn vốn. Các kỳ hạn danh nghĩa thường gắn với một mức lãi suất nhất định và thường kỳ hạn càng dài lãi suất càng cao. Kỳ hạn danh nghĩa có thể được coi là một chỉ tiêu phản ánh tính ổn định của nguồn vốn. Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ danh nghĩa là thu nhập; ổn định vĩ mô; khả năng chuyển đổi của giấy nhận nợ; kỳ hạn cho vay và đầu tư.
Kỳ hạn thực tế của nguồn vốn: liên quan chặt chẽ đến kỳ hạn các khoản cho vay và đầu tư. Đây là thời gian mà các khoản tiền tồn tại liên tục tại ngân hàng và chịu ảnh hưởng của các yếu tố: thu nhập, tình hình kinh tế vĩ mô; khả năng chuyển đổi của các giấy đòi nợ, kỳ hạn cho vay và đầu tư; Nhu cầu chi tiêu đột xuất và lãi suất cạnh tranh giữa các ngân hàng. Lãi suất giữa các nguồn tiền khác nhau cũng ảnh hưởng tới kỳ hạn thực tế của khoản tiền gửi. Sự thay đổi các loại lãi suất sẽ gây ra sự dịch chuyển tiền gửi từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, từ kỳ hạn này sang kỳ hạn khác, từ loại này sang loại khác và làm giảm kỳ hạn thực tế của khoản tiền gửi.
1.2.4. Quản trị rủi ro nguồn vốn huy động và hoạt động khác liên quan
Một trong những nội dung của quản trị huy động vốn là quản trị tuân thủ quy định về an toàn trong hoạt động huy động vốn. Đảm bảo các hoạt động kiểm tra giám sát đối với từng bộ phận thực hiện nghiệp vụ liên quan đến huy động vốn; xác định, đo lường, giám sát, hạn chế và phòng ngừa rủi ro nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả huy động vốn. Một số rủi ro chủ yếu liên quan đến hoạt động huy động vốn như : ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản.
Rủi ro thanh khoản: là khả năng tổn thất xảy ra cho ngân hàng khi ngân hàng mất khả năng chống đỡ các dòng tiền ra. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản:
Tính thanh khoản của nguồn vốn huy động gắn với tính thanh khoản của ngân hàng. Do sự không cân xứng về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Ngân hàng phải cân nhắc so sánh chi phí giữa nắm giữ tài sản lỏng và huy động nhanh. Ngân hàng có xu hướng đáp ứng nhu cầu thanh khoản từ phía bên nguồn vốn chính là khả năng tìm kiếm thêm nguồn vốn mới với chi phí huy động và thời gian nhỏ nhất: xem xét khả năng vay vốn từ NHTW và TCTD khác; tăng lãi suất tiền gửi để cạnh tranh với ngân hàng khác, mở rộng mạng lưới chi nhánh đối tượng khách hàng. Tính thanh khoản của nguồn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: sự phát triển của thị trường tài chính, thị trường công cụ nợ của mỗi ngân hàng và chính sách tiền tệ đang được vận hành, sự gia tăng thu nhập của dân cư và tính nhạy cảm của thu nhập đối với lãi suất. Sự phát triển của các công cụ nợ cho phép các ngân hàng tiếp xúc với các nguồn vốn đa dạng hơn. Ngược lại tại các nước đang phát triển, thị trường công cụ nợ kém phát triển tính thanh khoản của nguồn vốn huy động đang bị giảm thấp.
Trong đó, sự không phù hợp về kỳ hạn nguồn vốn với kỳ hạn sử dụng vốn chính là nguyên nhân của hầu hết các loại rủi ro nói trên.
Rủi ro lãi suất là rủi ro ngân hàng phải gánh chịu khi lãi suất thị trường có biến động. Rủi ro lãi suất phát sinh từ cách thức ngân hàng điều hành hoạt động của mình, rủi ro thừa vốn hay quy mô, cơ cấu: sản Nợ không phù hợp với khả năng kinh doanh; rủi ro đọng vốn khi nợ quá hạn so với tổng dư nợ cao. Đó là trạng thái mất cân bằng giữa huy động và sử dụng vốn của NHTM khi ngân hàng có khả năng huy động vốn song không tiếp cận được với khách hàng hoặc không lựa chọn được các khách hàng tin cậy để cho vay. Trên góc độ vĩ mô, đó là tình trạng hiệu quả đầu tư xã hội thấp, tiết kiệm ở mức cao. Ngoài ra, khi ngân hàng huy động với lãi suất cao, chi phí huy động cao, ngân hàng buộc phải cho vay với lãi suất cao đồng nghĩa với việc ngân hàng chấp nhận rủi ro hơn để bù đắp chi phí và có lãi.
Rủi ro tái tài trợ tài sản Nợ (TSN) hoặc tái đầu tư tài sản Có (TSC): Do sự không cân xứng về thời hạn tài sản có và tài sản Nợ. Rủi ro tái tài trợ tài sản Nợ: Ngân hàng huy động kỳ hạn ngắn và cho vay với kỳ hạn dài hơn. Nếu lãi thị trường tăng, ngân hàng chịu lỗ. Ngược lại, rủi ro tái đầu tư tài sản Có: Ngân hàng huy động với kỳ hạn dài trong khi cho vay với kỳ hạn ngắn hơn. Nếu lãi suất thị trường giảm, ngân hàng chịu lỗ. Rủi ro này cũng có thể xảy ra khi ngân hàng cho vay cố định và với lãi suất thả nổi và huy động với lãi suất.
Rủi ro do sự giảm giá trị tài sản: là khả năng giá trị ròng của ngân hàng bị suy giảm khi lãi suất thị trường biến động. Rủi ro lãi suất tác động đến giá trị tài sản có rủi ro kỳ hạn. Đây là rủi ro giảm giá trị ròng của ngân hàng khi tồn tại sự không cân xứng về kì hạn giữa TSC và TSN. Giá trị thị trường của TSC hay TSN dựa trên khái niệm về giá trị hiện tại. Nếu lãi suất thị trường tăng lên, mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên làm cho giá trị hiện tại của TSC và TSN giảm xuống và ngược lại là hạn TSC nhỏ hơn TSN: ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi lãi suất thị trường giảm. Cụ thể, khi lãi suất giảm thì giá trị hiện tại của TSC và TSN đều tăng, nhưng mức tăng của TSC nhỏ hơn mức tăng của TSN nên thu nhập của ngân hàng tăng chậm hơn chi phí ngân hàng phải bỏ ra, dẫn đến giá trị ròng của ngân hàng giảm. Kỳ hạn TSC lớn hơn kỳ hạn TSN: ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi lãi suất thị trường tăng. Cụ thể, khi lãi suất tăng thì giá trị hiện tại của TSC và TSN đều giảm, nhưng mức giảm của TSC lớn hơn mức giảm của TSN, thu nhập của ngân hàng giảm nhiều hơn chi phí làm cho giá trị ròng của ngân hàng giảm xuống.
Trường hợp rủi ro khi kỳ hạn TSN và kỳ hạn TSC cân bằng.
Biện pháp phòng ngừa là làm cho kỳ hạn TSC và kỳ hạn TSN cân xứng với nhau để hạn chế rủi ro lãi suất song có thể ảnh hưởng đến khả năng lợi nhuận ngân hàng. Ngân hàng có thể dùng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất đối với một danh mục tài sản Có hay tài sản Nợ hay sử dụng một cách chọn lọc với một bộ phận tài sản nhất định thông qua các hợp đồng: Hợp đồng kỳ hạn: Hợp đồng kỳ hạn trái phiếu, Kỳ hạn tiền gửi (FFD); Kỳ hạn lãi suất (FRA); Hợp đồng tương lai; Hợp đồng quyền chọn: Hợp đồng CAPS – Hợp đồng mua quyền chọn mua lãi suất và hợp đồng FLOORS – Hợp đồng quyền chọn bán lãi suất, COOLLARS đồng thời mua và bán lãi suất; Hợp đồng hoán đổi (SWAPS lãi suất).
Ngân hàng huy động ngoại tệ, rủi ro ngoại hối sẽ xuất hiện. Đó là sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại tiền tệ của các khoản ngoại hối nắm giữ, làm cho ngân hàng rơi vào trạng thái trường hoặc đoản về ngoại hối và có thể phải chịu thua lỗ khi tỷ giá biến động. Sự không cân xứng về kỳ hạn tài sản Có ngoại tệ và tài sản Nợ ngoại tệ.
1.2.5. Điều hành mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn.
Công tác huy động và sử dụng vốn luôn luôn song hành với nhau. Do đó, các chính sách, chương trình, kế hoạch nguồn vốn được xây dựng cho từng giai đoạn phải phù hợp với yêu cầu sử dụng. Chiến lược huy động vốn bao gồm chiến lược gia tăng quy mô của mỗi nguồn đáp ứng nhu cầu cho vay đầu tư hay đáp ứng các nhu cầu về khả năng chi trả trong một khoảng thời gian nhất định. Khả năng thay thế của các nguồn vốn với các kỳ hạn khác nhau, khả năng tìm kiếm khách hàng gửi tiền mới và tìm kiếm nguồn vốn mới. Chiến lược huy động nguồn được đặt trong kế hoạch sử dụng trong đó chính sách cho vay cũng như các chính sách sử dụng vốn khác (dự trữ, đầu tư, điều chuyển vốn nội bộ) cần phải có những quy định rõ ràng và phải có khả năng truyền đạt đến các bộ phận có liên quan bao gồm mục tiêu, cơ cấu, hạn mức, thời hạn, lãi suất của các hoạt động sử dụng vốn đạt được sự tối ưu hoá vốn khả dụng và gia tăng lợi nhuận.
Vì vậy các nhà quản trị NHTM phải thường xuyên theo sát tình hình, đánh giá kết quả so sánh với thực tế hoạt động từ đó điều chỉnh tiến trình ở từng bộ phận hoặc điều chỉnh các nội dung chính sách huy động vốn nhằm đạt được hiệu quả cao trong quản trị huy động vốn gắn với sử dụng vốn tại ngân hàng.
1.2.6. Xác định hệ thống chính sách Marketing
Để đạt được mục tiêu chiến lược huy động vốn, một hệ thống các giải pháp về nguồn lực, cơ sở vật chất, công nghệ cũng như các chính sách tiếp thị. Khuếch trương cũng được xây dựng nhằm tìm kiếm, khai thác các nguồn vốn đa dạng, phong phú kết hợp tối ưu với nhu cầu sử dụng tối đa hóa lợi nhuận.
Chính sách khách hàng của ngân hàng về huy động vốn:
Hiện nay, khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn ngân hàng, thuận tiện hơn việc cất trữ tiền tệ và sinh lời từ lãi suất. Do đó các ngân hàng cần có chiến lược khách hàng đúng đắn trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong huy động vốn nói riêng.
Thu hút khách hàng, ngân hàng hiểu được động cơ, thói quen và những mong muốn của người gửi tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng gửi tiền thông qua phân tích lợi ích của khách hàng. Mục đích gửi tiền của doanh nghiệp thường là nhờ ngân hàng quản lý, ký quỹ hoặc nhờ chi trả trong thanh toán khi các cá nhân gửi tiết kiệm có mục đích là hưởng lãi. Mục đích của tiền gửi trên loại tài khoản khác nhau cũng rất khác nhau như tiền gửi giao dịch để phát hành séc thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn để dành tiền cho tiêu dùng, đầu tư trong tương lai đồng thời hưởng lãi.
Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng xem xét đặc điểm đối tượng khách hàng mà ngân hàng tài trợ (xem xét nhu cầu đầu tư, hình thức tài trợ, thị hiếu của khách).
Trên cơ sở những thông tin của khách hàng trong hoạt động huy động và hoạt động sử dụng vốn, ngân hàng có thể đưa ra hệ thống các chính sách và biện pháp phù hợp để có được quy mô và cơ cấu nguồn vốn mong muốn. Hệ thống chính sách đáp ứng và gợi mở nhu cầu liên quan đến huy động vốn bao gồm :
Các chính sách liên quan đến sản phẩm và dịch vụ tiền gửi ngân hàng.
Các chính sách về giá cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và chi phí dịch vụ được coi là giá cả của các sản phẩm và dịch vụ tài chính.
Các chính sách về tổ chức kỹ thuật: Đây là các chính sách và biện pháp nhằm tạo thuận lợi, nhanh chóng, đơn giản trong quan hệ với khách hàng. Bao gồm việc bố trí mạng lưới thu hút vốn, hoàn thiện công nghệ ngân hàng, cơ chế tài chính đồng thời tổ chức thông suốt hệ thống thanh toán nhanh chóng, an toàn, chính xác.
Các chính sách trong phục vụ và giao tiếp: Các chính sách này được các NHTM rất quan tâm nhằm tạo, củng cố uy tín trên thị trường, gắn bó với khách hàng truyền thống và hấp dẫn khách hàng mới. Thái độ phục vụ thân thiện, chu đáo, bố trí hệ thống thanh toán khoa học là những điều hết sức thiết để giữ vững khách hàng hiện có và thu hút thêm khách hàng mới.
1.3. CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA NHTM
Quy mô huy động vốn được thể hiện qua chỉ tiêu tổng số dư huy động vốn (Số dư các loại tiền gửi thời điểm hoặc bình quân cho từng thời kỳ). Quy mô là chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng. Quy mô huy động gia tăng đáp ứng cho hoạt động tài trợ không ngừng tăng trưởng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng hoạt động, nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn.
Tỷ trọng nguồn vốn huy động =(Tổng nguồn vốn huy động)/(Tổng tài sản nợ) X100%
Tỷ lệ này phản ánh trong tổng số nguồn vốn của NHTM tại một thời điểm, nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng bao nhiêu phần trăm. Tỷ lệ này càng cao cho thấy NHTM có khả năng huy động vốn tốt. Tuy nhiên, tỷ lệ này cũng bị giới hạn bởi qui định tỷ lệ vốn tự có tối thiểu của NHTM tại mỗi những thời điểm khác nhau.
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn= ((tổng nguồn vốn cuối kỳ-tổng nguồn vốn đầu ký) )/(Tổng nguồn vốn đầu kỳ) X100%
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động phản ánh khả năng mở rộng, phát triển ổn định của NHTM. Từ đó NHTM có thể chủ động mở rộng thị trường, phát triển các hoạt động kinh doanh khác như cấp tín dụng, dịch vụ…
Thị phần nguồn vốn huy động= (Tổng nguồn vốn huy động của 01 ngân hàng)/(Tổng nguồn vốn của các ngân hàng trên địa bàn ) X100%
Tỷ lệ này phản ánh khả năng chiếm lĩnh thị phần huy động vốn của NHTM so với các NHTM khác trên địa bàn hành chính. Tỷ kệ này càng cao phản ánh quy mô nguồn vốn huy động và khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại so với các ngân hàng thương mại khác.
Một yếu tố quan trọng khác được đưa ra để đánh giá khả năng huy động vốn của NHTM là cơ cấu nguồn vốn. Cơ cấu nguồn vốn được phản ánh thông qua tỷ trọng của từng loại vốn trong tổng vốn của Ngân hàng. Quy mô của loại vốn i được sử dụng để tính tỷ trọng của nó trong tổng vốn huy động.
Tỉ trọng của loại vốn i=(Quy mô của loại vốn i)/(Tổng vốn huy động)
Việc tính toán tỷ trọng vốn nợ tương đối phức tạp. Nó có thể được thực hiện dựa trên việc sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại vốn: theo đối tượng huy động, theo kỳ hạn, theo tính chất hay theo loại tiền. Theo mỗi khía cạnh, những phân tích, đánh giá được đưa ra sẽ phản ánh một cách đầy dủ hơn khả năng huy động vốn của NHTM. Tỷ trọng loại vốn nào cao phản ánh ưu thế của Ngân hàng trong việc huy động loại vốn đó. Mặt khác, nó cũng cho thấy sự chú trọng của Ngân hàng vào những hình thức huy động nhất định. Qua đó, có thể nhận thấy chính sách huy động vốn của ngân hàng và đánh giá được ngân hàng có đạt được mục tiêu trong trường hợp thực hiện thay đổi cơ cấu vốn hay không. Việc nhận xét cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu VCSH hay cơ cấu vốn nợ của một ngân hàng không phải là vấn đề đơn giản. Sự đánh giá đó, ngoài việc phải căn cứ trên cơ sở các số liệu đó còn cần được đặt trong sự nhìn nhận đặc điểm cũng như môi trường kinh doanh cụ thể của Ngân hàng. Mỗi ngân hàng duy trì cho mình một cơ cấu vốn riêng, tuỳ vào điều kiện của ngân hàng. Sự áp đặt cơ cấu vốn giống các ngân hàng khác có thể gây bất lợi hoặc không phát huy được thế mạnh của bản thân ngân hàng.
1.3.3. Chỉ tiêu chi phí huy động vốn
Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, nguồn vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thường không thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Do vậy, ngân hàng phải huy động vốn để sử dụng với một chi phí nhất định. Do chi phí huy động vốn tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng nên khi xét hiệu quả huy động vốn, phải xét đến chi phí huy động vốn. Chi phí huy động vốn được tính như sau:
Chi phí huy động vốn =lãi trả cho nguồn huy động+chi phí huy động khác
Trong đó, lãi trả cho nguồn huy động là thành phần quan trọng ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả huy động:
Lãi trả nguồn huy động = Quy mô huy động * Lãi suất huy động
Chi phí huy động khác trong hệ thống vốn rất đa dạng và không ngừng gia tăng trong điều kiện các ngân hàng gia tăng cạnh tranh phi lãi suất. Nó bao gồm chi phí trả trực tiếp cho người gửi tiền (quà tặng, quay số trúng thưởng, kèm bảo hiểm…), chi phí tăng tính tiện ích cho người gửi tiền (mở chi nhánh, quầy phòng, điểm huy động, trang bị máy đếm tiền, soi tiền cho khách hàng kiểm tra, huy động tại nhà, tại cơ quan…), chi phí lương cho bộ phận nguồn vốn, chi phí bảo hiểm tiền gửi…Một số chi phí khác được tính chung vào chi phí quản lý và rất khó phân bổ cho hoạt động huy động vốn. Việc xác định chi phí huy động vốn là công việc phức tạp và khó khăn, quyết định tới hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại. Vì vậy, huy động vốn được coi là hiệu quả xét trên phương diện chi phí khi: Ngân hàng huy động được vốn với chi phí thấp để sử dụng, trong khi vẫn đạt được yêu cầu về sự phù hợp giữa huy động và sử dụng vốn. Ngân hàng quản lý chi phí thường xuyên, coi đây là công việc quan trọng vì khi có thay đổi cơ cấu nguồn hay lãi suất đều làm thay đổi chi phí trả lãi. Thông thường các ngân hàng chịu chi phí thấp với nguồn vốn có thời hạn ngắn do tính ổn định không cao và ngược lại chịu chi phí cao với nguồn vốn có thời hạn dài do tính ổn định của nó. Chi phí vốn huy động sẽ tác động đến thu nhập của việc sử dụng nguồn vốn huy động. Vì thế các ngân hàng luôn tìm cách giảm tối đa chi phí để tăng lợi nhuận. Thu nhập là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả huy động vốn. Chỉ tiêu này được tính như sau:
Thu nhập từ sử dụng vốn = Doanh thu từ lãi sử dụng vốn – Chi phí huy động vốn
Ngoài ra, để xem xét hiệu quả huy động vốn, người ta cũng thường xuyên sử dụng thêm chỉ tiêu: Tỷ suất lợi nhuận vốn huy động (TSLNVHĐ). Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
TSLNHDV =Thu nhập sau thuế vốn huy động/ Chi phí vốn huy động *100%
1.3.4. Phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn
Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận. Theo đó ngân hàng sẽ chuyển hoá nguồn vốn tiền gửi, tiền vay, vốn chủ sở hữu thành các loại tài sản như ngân quỹ, tín dụng, chứng khoán, các tài sản khác theo một phương thức thích hợp, nhằm thoả mãn các mục tiêu mà ngân hàng đặt ra. Tài sản mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng còn nguồn vốn liên quan tới chi phí chủ yếu của ngân hàng, chi phí trả lãi. Quy mô huy động càng tăng, tài sản càng tăng, khả năng sinh lời có thể càng lớn hơn hoặc ngược lại. Nếu dùng chỉ tiêu chênh lệch thu chi từ lãi (thu nhập từ lãi – chi phí trả lãi) để đo mối liên hệ sinh lời giữa nguồn vốn và tài sản thì sinh lời tăng khi lãi suất bình quân của tài sản phải lớn hơn lãi suất bình quân của nguồn vốn, hoặc lãi suất biên của tài sản phải lớn hơn lãi suất biên của nguồn vốn. Điều này có nghĩa là nguồn vốn và sự gia tăng nguồn vốn với quy mô và cấu trúc nhất định, cần được phân bổ (tạo thành) các tài sản sinh lời thích hợp. Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả huy động vốn càng cao.
Tỷ lệ thanh khoản ngân = (tài sản có tính thanh khoản/tổng tài sản)
Công thức tính: Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) = Thu nhập lãi thuần/Tài sản Có sinh lãi trung bình
Hoặc: NIM = Tỷ suất sinh lợi của Tài sản Có sinh lãi (YOEA) – (trừ) Tỷ lệ chi phí hình thành Tài sản Có sinh lãi (COF)
Cũng như các doanh nghiệp khác, ngân hàng phải có các khoản tài sản để đưa vào hoạt động kinh doanh và tạo ra lợi nhuận. Để đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng, người ta phân loại tài sản thành các dạng: Tài sản Có sinh lãi (như các khoản cho vay, khoản đầu tư tài chính…), Tài sản Nợ (Huy động khách hàng, Vay từ các ngân hàng khác…) và tài sản thông thường (ví dụ như tài sản cố định là văn phòng, máy móc thiết bị…).
Thu nhập sản sinh ra từ các khoản Tài sản Có sinh lãi được hạch toán dưới khoản mục Thu nhập lãi thuần (và các khoản tương tự). Để đo lường hiệu quả tạo lợi nhuận của các Tài sản Có sinh lãi của ngân hàng, người ta tính tỷ lệ NIM như trên.
Tỷ lệ NIM cao là một dấu hiệu quan trọng cho thấy ngân hàng đang thành công trong việc quản lý tài sản và nợ. Ngược lại, NIM thấp sẽ cho thấy ngân hàng gặp khó khăn trong việc tạo lợi nhuận.
Ở các ngân hàng bán lẻ nhỏ, tỷ lệ NIM có khuynh hướng cao hơn các ngân hàng bán sỉ lớn.
1.4. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA NHTM
– Môi trường kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội
Nền kinh tế trong và ngoài nước thuận lợi, tăng trưởng nhanh, ổn định, nguồn tích luỹ của xã hội có điều kiện gia tăng nếu ngân hàng sử dụng được các biện pháp huy động vốn thích hợp. Nếu điều kiện chính trị ổn định, người dân yên tâm khi gửi tiền vào ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng có khả năng tăng trưởng nguồn vốn huy động. Ngược lại, nền kinh tế ở giai đoạn suy thoái, môi trường đầu tư thu hẹp, doanh nghiệp thua lỗ, sản xuất đình trệ thu nhập giảm thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng mở rộng nguồn vốn huy động của NHTM.
– Cơ chế chính sách của Nhà nước.
Quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng không thể nằm ngoài sự bảo hộ và điều chỉnh của hệ thống pháp luật. NHTM là trung gian tài chính và hoạt động của nó có ảnh hưởng đến hệ thống tài chính quốc gia. Do đó, so với lĩnh vực ngành kinh doanh khác, Nhà nước có sự kiểm soát chặt chẽ hơn về phương diện pháp luật và chính sách trên nhiều lĩnh vực khác nhau như cạnh tranh, phá sản, cơ cấu tổ chức ngân hàng. Hành lang pháp lý ảnh hưởng đến huy động vốn của NHTM, cụ thể: quy định tỉ lệ huy động vốn so với vốn tự có, quy định về phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, quy định mức cho vay của NHTM đối với một khách hàng; quy định tỷ lệ dữ trữ bắt buộc cho các khoản huy động vốn ngắn hạn nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản, các qui định khác của pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Do vai trò quan trọng của tiền gửi, nhất là tiền gửi của dân cư trong tổng nguồn vốn của NHTM, nhân tố khách quan tác động đến huy động vốn của ngân hàng được đề cập tới đầu tiên chính là yếu tố thuộc về đối tượng này. Do đó, nhiều NHTM chọn khách hàng cá nhân làm khách hàng chiến lược và thu được thành công. Đây là điều không dễ dàng vì khách hàng cá nhân có những đặc điểm tâm lý khá phức tạp:
Lo sợ rủi ro khi giao dịch bằng tiền với ngân hàng
Ngại phiền phức thủ tục trong quá trình giao dịch
Không muốn để lộ thông tin với ngân hàng trong trường hợp khách hàng là người có thu nhập cao
Mặc cảm không giao dịch với ngân hàng trong trường hợp khách hàng là người có thu nhập thấp. Những đặc điểm tâm lý trên cùng với sự ưa thích sử dụng tiền mặt là rào cản khiến huy động vốn từ khách hàng cá nhân trở nên rất khó khăn với NHTM.
– Sự cạnh tranh từ các đối thủ
Đối thủ của một NHTM trong việc huy động vốn không chỉ là những ngân hàng khác, những tổ chức tín dụng có cùng nghiệp vụ quản trị nguồn vốn huy động hay phát hành giấy tờ có giá. NHTM còn phải cạnh tranh với các công ty bảo hiểm và thị trường chứng khoán để thu hút vốn từ các chủ thể trong nền kinh tế. Kết quả là một dòng vốn không nhỏ không tới các NHTM mà chuyển sang các công ty bảo hiểm. Tuy nhiên, một điểm đặc biệt giúp ngân hàng vẫn huy động được vốn là các công ty bảo hiểm cần đầu tư quỹ dự phòng nghiệp vụ để sinh lời. Một loại hình đầu tư mà các công ty bảo hiểm, nhất là bảo hiểm nhân thọ thường xuyên sử dụng với quy mô lớn là gửi tiền có kỳ hạn tại các ngân hàng. Mặt khác, NHTM có thể làm đại lý bán bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm đồng thời thực hiện thanh toán hộ các công ty này.
– Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất và mạng lưới hoạt động ngân hàng: Vì sản phẩm ngân hàng mang tính chất vô hình nên cơ sở vật chất vững mạnh, khang trang, bãi đậu xe tiện nghi, an toàn cùng với công nghệ ngân hàng hiện đại sẽ là điều khách hàng cảm nhận rõ nhất, ấn tượng nhất về ngân hàng hiện đại, an toàn cho nhu cầu gửi tiền.
Đây là một trong các nguồn lực để ngân hàng hoạt động có hiệu quả. Đó là mạng lưới các chi nhánh, các điểm giao dịch với đặc thù ,vị trí, hệ thống thông tin và thiết bị khác.
Tài sản vô hình quan trọng nhất của ngân hàng là uy tín, định vị thương hiệu ngân hàng, chất lượng phục vụ trong hệ thống ngân hàng. Thuộc nhóm này phải kể đến các quan hệ mà ngân hàng đã tạo lập được với khách hàng hiện có, khách hàng tiềm năng, các trung gian tài chính và các cơ quan nhà nước. Các khách hàng được ngân hàng huy động vốn đều có tâm lý là muốn đảm bảo chắc chắn tiền của mình không bị rủi ro và có lãi. Bởi vậy, họ tìm đến những ngân hàng có uy tín, có thương hiệu lớn. Như vậy những NHTM có thương hiệu, có uy tín cao sẽ thu hút được nguồn vốn cao hơn những NHTM khác.
– Lãi suất huy động vốn
Lãi suất là mối quan tâm hàng đầu khi một cá nhân hoặc tổ chức kinh tế nào đó muốn gửi tiền vào ngân hàng. Ngày nay, có rất nhiều sự lựa chọn cho khách hàng. Khách hàng sẽ ưu tiên cho yếu tố lãi suất cao nếu như các ngân hàng có cùng các hệ số an toàn cũng như các tiện ích mà ngân hàng đó cung cấp. Điều này hoàn toàn hợp lý vì nhà đầu tư nào cũng muốn khoản đầu tư của mình sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất.
Tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, thường nhạy cảm với các biến động về lãi suất, tỷ giá, chu kỳ chi tiêu và nhiều nhân tố khác. Lãi suất cao là một nhân tố kích thích các doanh nghiệp và dân cư gửi và cho vay.
– Các hình thức huy động vốn
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau, vì mục đích đảm bảo an toàn hoặc lấy lãi phục vụ cho mục đích tiêu dùng, khách hàng có nhu cầu gửi tiền, lấy lãi khác nhau. Do vậy, để có thể huy động được nhiều vốn trong dân cư, các ngân hàng thương mại phải đưa ra các hình thức huy động đa dạng. Khi có nhiều sự lựa chọn, ngân hàng sẽ đáp ứng được mọi nhu cầu của khách hàng trong việc đảm bảo nguồn đầu tư của họ có thể được sinh lợi một cách tốt nhất. Điều này đồng nghĩa với việc số lượng người gửi và số tiền gửi cũng sẽ tăng lên, kéo theo chi phí huy động sẽ giảm xuống.
– Các dịch vụ cung ứng
Một ngân hàng có dịch vụ tốt, đa dạng sẽ là lợi thế cạnh tranh rất tốt. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, để trang bị được hệ thống dịch vụ đem lại tiện ích tối đa cho khách hàng là điều mà mọi ngân hàng phải cam kết thực hiện và từ đó có thể đảm bảo được nguồn huy động ổn định cho chính ngân hàng
Trong Chương 1, đề tài đã hệ thống hóa một số lý luận về quản trị nguồn vốn huy động của NHTM. Tổng quan về NHTM, nguốn vốn huy động và các phương thức huy động vốn của các NHTM. Các chỉ tiêu đánh hiệu quả huy động vốn của NHTM, những yếu tố tác động đến hiệu quả huy động vốn của NHTM. Quản trị nguồn vốn và các yếu tố tác động đến quản trị nguồn vốn
Những cơ sở lý luận này là tiền đề để phân tích khái niệm quản trị nguồn vốn huy động của BIDV CN Sông Hàn ở Chương 2 tiếp theo đề xuất các giải pháp quản trị huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Sông Hàn trong chương 3.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH SÔNG HÀN
2.1. TỔNG QUAN VỀ BIDV CHI NHÁNH SÔNG HÀN
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của BIDV chi nhánh Sông Hàn
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của BIDV chi nhánh Sông Hàn
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của BIDV chi nhánh Sông Hàn
2.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV chi nhánh Sông Hàn 2021 -2023
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG TẠI BIDV CN SÔNG HÀN
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG DE AN 2024/Quản trị hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sông Hàn

