Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam

Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam

Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông  đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục và đào tạo giữ vai trò vừa là nền tảng, vừa là động lực phát triển đất nước. Trong giai đoạn phát triển hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã nhận định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Giáo dục và đào tạo cần chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước, là yếu tố cơ bản nhất có tác động quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .

Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

Tuy nhiên, nền GD nước ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội. Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp. Phương pháp, nội dung đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành, chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi cử, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất. Cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật nhiều nơi, còn thiếu và chưa đảm bảo.

Mục tiêu của nghị quyết Nghị quyết 29/NQ-TU ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng về ” Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” có nêu:

“Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.

Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.”

Hiện nay, nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới quản lý giáo dục là đổi mới quản lý chất lượng giáo dục. Muốn vậy, vấn đề có tính quyết định là xây dựng, hoàn thiện hệ thống các chuẩn mực giáo dục và đưa vào thực hiện trong thực tế.

Xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn quốc gia ở các cấp học, bậc học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục và đào tạo, là việc làm có ý nghĩa nhằm tạo điều kiện giáo dục toàn diện cho các thế hệ học sinh, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội.

Muốn thực hiện được các yêu cầu, nhiệm vụ trên đây thì ngành giáo dục cần phải xây dựng được một hệ thống các nhà trường có đầy đủ điều kiện nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Các nhà trường trung học phổ thông cần đạt tới những tiêu chuẩn cần thiết để đảm bảo chất lượng, hiệu quả giáo dục theo yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và đưa giáo dục Việt Nam hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia là quá trình xuất phát từ thực tế của vấn đề thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, đã được Bộ GD&ĐT chỉ đạo cụ thể. Chủ trương xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia mà Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành đã được các cấp quản lý giáo dục cả nước hưởng ứng và chủ trường đó đã như một phong trào, một nhiệm vụ chính trị của các nhà trường góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Việc tăng cường đầu tư cho GD, xây dựng một hệ thống trường chuẩn QG sẽ góp phần từng bước nâng cao chất lượng GD.

Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, công tác xây dựng một hệ thống trường đạt chuẩn QG được Tỉnh Ủy, Sở Giáo dục- Đào tạo Quảng Nam xác định là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt trong việc nâng cao chất lượng GD toàn diện HS và được sự quan tâm của các chính quyền địa phương. Việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở cấp Tiểu học hoặc THCS đạt kết quả tương đối cao. Tuy nhiên ở cấp THPT thì việc xây dựng trường chuẩn quốc gia còn khiêm tốn. Hiện nay chỉ có 2 trường đạt chuẩn (THPT Trần Cao Vân và trường PT Nội trú Dân tộc Tỉnh), trong tổng số 54 trường THPT toàn tỉnh.

Năm học 2013-2014 Tỉnh Ủy Quảng Nam có nghị quyết 41/2013 về phát triển giáo dục của tỉnh đến năm 2020, trong đó có chủ trương xây dựng 15% trường THPT trong toàn tỉnh đạt chuẩn quốc gia.

Sở GD-ĐT Quảng Nam cũng có công văn chỉ đạo xây dựng 10 trường THPT đạt chuẩn quốc gia từ nay đến 2020.

Ở thành phố Hội An, chính quyền thành phố luôn quan tâm đến công tác giáo dục. Từ năm 2006, Hội đồng nhân dân thành phố có chuyên đề bàn về công tác giáo dục, trong đó có chỉ đạo xây dựng trường THPT Trần Quý Cáp đạt chuẩn quốc gia, nhưng đến nay vẫn chưa đạt được.

Trong 10 trường THPT trọng điểm được sở GD-ĐT Quảng Nam chỉ đạo xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia từ nay đến năm 2020, ở thành phố Hội An có 2 trường, đó là trường THPT Trần Quý Cáp và trường THPT Nguyễn Trãi.

Tuy nhiên việc xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia cũng còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc như là: tiêu chuẩn về cơ sở vật chất và trang thiết bị chưa đạt yêu cầu so với quy định, chất lượng chuyên môn, công tác văn phòng chưa đạt yêu cầu, công tác xã hội hóa chưa được quan tâm đúng mức.

Để khắc phục những khó khăn, tồn tại của các trường THPT trên địa bàn thành phố Hội An, cần có những biện pháp quản lý hiệu quả việc xây dựng và phát triển trường THPT đạt chuẩn quốc gia.

Xuất phát từ yêu cầu và thực tiễn trong công tác, tôi chọn đề tài “Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam”, nhằm đề xuất các biện pháp mang tính khả thi và thiết thực giúp đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường chuẩn và phát triển bền vững của các trường THPT ĐCQG trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, đáp ứng yêu cầu của địa phương trong thời kỳ đổi mới.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng vấn đề, đề tài đề xuất các biện pháp xây dựng các trường THPT trên địa bàn Thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam trở thành trường THPT ĐCQG trong giai đoạn hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý trường THPT.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

3.3. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam trong thời gian từ năm 2011-2014.

Đề tài đề xuất các biện pháp của Hiệu trưởng nhằm xây dựng trường THPT thành trường đạt chuẩn quốc gia.

4. Giả thuyết khoa học

Công tác xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam còn nhiều hạn chế, bất cập. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục, có thể đề xuất được các biện pháp hợp lý, khả thi, góp phần thúc đẩy việc xây dựng trường THPT ĐCQG tại thành phố Hội An .

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về trường THPT ĐCQG, xây dựng trường THPT ĐCQG.

5.2. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác xây dựng trường THPT ĐCQG của các trường THPT tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

5.3. Đề xuất các biện pháp xây dựng các trường THPT ĐCQG tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

– Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để nghiên cứu các tài liệu khoa học, các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các văn bản quy định của ngành có liên quan đến hoạt động xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia.

6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

– Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (phương pháp Anket)

– Phương pháp phỏng vấn

– Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

– Phương pháp nghiên cứu hồ sơ, tài liệu

6.3. Phương pháp hỗ trợ

– Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

7. Bố cục đề tài

Luận văn gồm có:

MỞ ĐẦU

Chương 1. Cơ sở lý luận về xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia

Chương 2. Thực trạng công tác xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Chương 3. Biện pháp xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam
Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TRƯỜNG THPT

ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA

1.1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1. Xây dựng chuẩn trường học của một số nước trên thế giới

a. Tiêu chuẩn quốc tế phân loại giáo dục (ISCED) được thiết kế bởi UNESCO vào đầu những năm 1970 để phục vụ như một công cụ thích hợp để lắp ráp, lập và trình bày số liệu thống kê của giáo dục cá nhân cả trong nước và quốc tế. Nó đã được sự chấp thuận của Hội nghị Quốc tế về giáo dục (Geneva, 1975). Sau đó đã được xác nhận bởi UNESCO (Paris, 1978).

Việc phân loại hiện nay, đã được Hội nghị UNESCO thông qua tại kỳ họp thứ 29 (tháng 11 năm 1997), là kết quả sự tham vấn rộng rãi của đại diện các nước trên thế giới. ISCED 1997 bao gồm chủ yếu là phân loại hai biến số: cấp và các lĩnh vực giáo dục.

Bộ sưu tập chương trình của UNESCO luôn được điều chỉnh để có các tiêu chuẩn phù hợp. Các nước thành viên được mời để áp dụng trong các báo cáo thống kê giáo dục để tăng tính so sánh quốc tế, tăng cường sự phối hợp giữa các quốc gia.

Tiêu chuẩn quốc tế phân loại giáo dục thành 5 bậc:

– Bậc 0: Dự bị giáo dục tiểu học

– Bậc 1: Giáo dục tiểu học (Primary education) hoặc giai đoạn đầu tiên của giáo dục cơ bản (Fist stage of basic education).

– Bậc 2: Trung học cơ sở (Lower secondary education) hoặc giai

đoạn thứ hai của giáo dục cơ bản (Second stage of basic education).

– Bậc 3: Giáo dục trung học bậc cao (Upper secondary education).

– Bậc 4: Giáo dục sau trung học và trước đại học (Post-Secondary

non tertiary education).

Ở mỗi bậc học đều có tiêu chí phân loại. Đối với THPT chuẩn xây dựng các tiêu chí như sau:

+ Các tiêu chí chính:

– Hình thành các môn học, học sinh học tập theo các môn học và sử dụng nhiều giáo viên theo các chuyên môn khác nhau.

– Nhà trường hoàn thành đầy đủ các kĩ năng cơ bản và tạo nền tảng giáo dục suốt đời cho người học.

+ Các tiêu chí hỗ trợ:

– Nhập học sau 9 năm, đã hoàn thành chương trình tiểu học và THCS.

– Kết thúc bậc học sau 12 năm học kể từ khi bắt đầu học tiểu học.

– Hình thành năng lực cá nhân để tiếp cận nghề nghiệp.

– Giáo viên dạy theo các môn học chuyên môn.

b. Hệ thống giáo dục Singapore

Hệ thống giáo dục Singapore được phát triển trên cơ sở mỗi học sinh đều có năng khiếu đặc biệt và sở thích riêng biệt. Hệ thống giáo dục ở đây áp dụng cách tiếp cận linh hoạt để giúp học sinh phát triển hết tài năng của bản thân.

Sự nghiệp giáo dục được xem là yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng và phát triển của đất nước Singapore. Bước vào thế kỷ XXI, khi nền kinh tế tri thức là động lực chính cho toàn cộng đồng thì giáo dục lại càng quan trọng hơn trong việc định hình cho tương lai của một quốc gia. Đồng thời thông qua giáo dục mỗi cá nhân có thể nhận biết tiềm năng của mình để góp phần mang lại lợi ích cho cộng đồng, cho đất nước và hướng tới một cuộc sống cá nhân đầy đủ.

Giáo dục Singapore hội đủ các tiêu chuẩn sau:

– Chuẩn mực giáo dục cao

– Môi trường học tập năng động, sáng tạo, được sự hỗ trợ tận tâm của giáo viên

– Có thể học chuyển tiếp hay học tại Singapore vẫn lấy được các bằng cấp của Mỹ, Anh, Úc, Canada…

– Đội ngũ giáo viên, giảng viên giỏi, có bằng cấp quốc tế và rất nhiệt tâm với học sinh, sinh viên…

Thế mạnh của hệ thống giáo dục Singapore nằm trong chính sách sử dụng song ngữ tiếng Anh và tiếng Malaysia, hay Quan Thoại, hay Tamil và một chương trình giảng dạy phong phú, trong đó sự sáng tạo và tính liên kết giữ vai trò chủ đạo. Tất cả mọi người đòi hỏi phải có những kỹ năng cùng với khả năng tương xứng để tồn tại trong môi trường có tính cạnh tranh cao và trang bị cho một tương lai tươi sáng hơn.

Singapore là một quốc gia được xếp hàng đầu trong cả hai lĩnh vực khoa

học và toán học tại một nghiên cứu tập trung ở lứa tuổi học sinh lớp 4 (tiểu

học) và lớp 8 (trung học) được tiến hành tại 49 quốc gia vào năm 2002- 2003.

Các chương trình học:

Ở bậc trung học: Chương trình học ở bậc trung học của Singapore nổi danh trên thế giới về khả năng phát triển cho học sinh lối tư duy sâu và các kỹ năng trí tuệ. Học sinh nước ngoài được chấp nhận theo học chương trình trung học công lập hoặc tư thục và phải thi đầu vào.

Bậc cao đẳng: Các trường cao đẳng đều có các khóa học đa dạng như kinh doanh, công nghệ thông tin, cơ khí, truyền thông đại chúng, thiết kế, viễn thông… Sinh viên tốt nghiệp từ các trường cao đẳng được các nhà tuyển dụng săn tìm, vì họ có thể hòa nhập ngay vào môi trường làm việc nhờ được trang bị kỹ năng thực hành và kinh nghiệm liên quan.

Ở bậc đại học: Các trường đại học công lập tại Singapore được đánh giá rất cao trên thế giới. Ngoài ra, Singapore còn có hệ thống các trường đại học quốc tế phong phú giúp sinh viên có nhiều lựa chọn phù hợp cho riêng mình.

c. Chuẩn quốc gia Hiệu trưởng trường phổ thông trong hệ thống giáo dục nước Anh

Chuẩn quốc gia Hiệu trưởng trường học nước Anh phản ánh quan điểm của Chính phủ Anh về phát triển cán bộ quản lý trường phổ thông, về vai trò lãnh đạo trường học trong thế kỷ XXI. Chuẩn này chỉ rõ vai trò quan trọng của Hiệu trưởng trong việc thực hiện chính sách giáo dục của Chính phủ và triển khai các chính sách này trong trường học nhằm đạt được mục tiêu phát triển của mọi trẻ em với các nhu cầu, nguyện vọng của chúng. Chuẩn quốc gia Hiệu trưởng trường phổ thông được xây dựng trên ba nguyên tắc chính:

– Học tập làm trung tâm

– Tập trung vào quan hệ lãnh đạo

– Phản ánh cao nhất chuẩn nghiệp vụ quản lý trường học.

Các thành phần chính của chuẩn quốc gia hiệu trưởng trường phổ thông bao gồm 6 nội dung:

– Xác định tầm nhìn (vision) và xây dựng kế hoạch chiến lược của nhà trường (hoạch định tương lai – (Shaping the future).

– Quản lý việc dạy và học (Leading learning and teaching).

– Tự phát triển bản thân và phối hợp công tác (Developing self and working with others).

– Quản lý tổ chức (Managing the organization).

– Báo cáo kết quả hoạt động của nhà trường (Securing accountability).

– Xây dựng và củng cố mối quan hệ với cộng đồng địa phương (Strengthening community).

Trong từng thành phần này có các yêu cầu về kiến thức, chất lượng nghiệp vụ (các kỹ năng, các năng lực quản lý) và các hành động cần thiết để các hiệu trưởng đạt được các nhiệm vụ trọng tâm. [31].

1.1.2. Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở Việt Nam

Các quốc gia đều nhận thức đúng vai trò, vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới cải cách giáo dục để đáp ứng những đòi hỏi nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển của đất nước.

Xây dựng trường ĐCQG ở các ngành học, bậc học là một trong những giải pháp nhằm nâng cao chât lượng giáo dục toàn diện cho học sinh của nhà trường, tạo điều kiện tốt để “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài” cho địa phương và cho đất nước

Đổi mới giáo dục ở Việt Nam là phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục của thế giới mà điều căn bản và trước hết là đổi mới việc xây dựng trường THPT ĐCQG.

Xác định được tầm quan trọng trong việc xây dựng trường ĐCQG, trong những năm qua, Bộ GD&ĐT đã ban hành một số văn bản pháp quy về xây dựng trường ĐCQG cho từng bậc học, cấp học.

Từ sau khi cả nước đã cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục đặc biệt quan tâm tới giáo dục trung học nhằm giữ vững và phát huy những thành tựu đã đạt được.

Đối với bậc trung học Bộ GD&ĐT đã ban hành các văn bản pháp quy như:

-“Qui chế công nhận trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia” ban hành kèm theo Thông tư số 06/2010/TT-BGDĐT ngày 26/02/2010 của Bộ GD&ĐT

– “Qui chế công nhận trường trung học đạt chuẩn quốc gia, giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010”, ban hành theo Quyết định số 27/2001/QĐ – BGD&ĐT ngày 05/7/2001 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

– “Qui chế công nhận phòng học bộ môn trường trung học đạt chuẩn quốc gia” ban hành kèm theo Quyết định số 32/2004/QĐ –BGD&ĐT ngày 24/9/2004 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

– “Qui chế công nhận trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia” ban hành kèm theo Thông tư số 47/2012/TT-BGDĐT ngày 07/12/2012 của Bộ GD&ĐT, Bộ GD&ĐT

– Bộ GD&ĐT (2008) “Quy định về phòng học bộ môn”, ban hành kèm theo Quyết định số 37/2008/QĐ – BGD&ĐT ngày 16/7/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

Bên cạnh các văn bản pháp quy vừa nêu trên, Quốc Hội, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có những văn bản pháp quy như:

– Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội về việc đổi mới giáo dục phổ thông; Nghị quyết số 41/2000/QH10 của Quốc hội về phổ cập THCS, THPT.

– Hướng dẫn số 10819/GDTrH ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ GD&ĐT về việc điều chỉnh tiêu chuẩn phổ cập bậc trung học phổ thông (để hoàn thành công tác phổ cập giáo dục bậc trung học phổ thông phải đạt được một tỉ lệ nhất định về số lượng trường ĐCQG bậc trung học phổ thông, có ít nhất 50% trở lên số trường tiểu học, 40% trở lên số trường THCS, mỗi quận huyện phải có ít nhất 1 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia).

– Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục .

Với sự cố gắng của toàn ngành đã tạo ra sự ổn định, phát triển và nâng cao chất lượng của giáo dục trung học. Đồng thời với việc ban hành các văn bản pháp qui về giáo dục THPT và thực tế xây dựng trường trung học đạt chuẩn quốc gia, đã có một số nghiên cứu về việc xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia.

Trong bài viết “Xây dựng trường trung học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001 – 2010”, Hà Thế Truyền (Học viện QLGD) đã tập trung nêu rõ mục tiêu, kết quả xây dựng trường chuẩn quốc gia và giải pháp thực hiện. Tác giả xác định xây dựng trường trung học đạt chuẩn quốc gia là một chủ trương đúng đắn nhằm từng bước xây dựng nhà trường theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, đồng thời đưa hoạt động giáo dục toàn diện của nhà trường vào kỷ cương, nền nếp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Để thực hiện mục tiêu trên, ngoài việc làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến sâu rộng trong toàn ngành và xã hội về công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia, các địa phương cần xây dựng đề án cụ thể trình UBND tỉnh, thành phồ để công tác này trở thành chủ trương chính thức của các cấp chính quyền; trên cơ sở đó có quy hoạch đất và huy động các nguồn lực của địa phương đầu tư cho trường học.

Ngoài ra, vấn đề xây dựng trường ĐCQG đã được nghiên cứu trong các tài liệu:

– Đặng Thành Hưng (2005), “Chuẩn và chuẩn hóa trong giáo dục, những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Hà Nội

– Luận văn thạc sĩ “Biện pháp xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn Quốc gia ở huyện Từ Liêm của Nguyễn Hữu Hải”, năm 2011

– “Biện pháp QL của hiệu trưởng trong việc xây dựng trường THPT chuẩn QG ở Quảng Ninh”, luận văn thạc sĩ của Đặng Lộc Thọ, năm 2004…

– Luận văn thạc sĩ ” Biện pháp xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng của Ngô Thị Kim Thoa” năm 2013

Mỗi Sở GD&ĐT cần có kế hoạch chỉ đạo cụ thể, tập trung xây dựng cho được một số trường chuẩn quốc gia làm mẫu và tạo đà chung, kết hợp với chương trình kiên cố hóa trường lớp để xây dựng trường chuẩn quốc gia, phấn đấu để các trường xây mới đều theo tiêu chuẩn trường chuẩn quốc gia.

Xây dựng nhà trường nói chung, trường THPT nói riêng đạt chuẩn quốc gia ở nước ta là một trong những chủ trương lớn của Đảng. Xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia để đảm bảo tổ chức các hoạt động giáo dục có chất lượng toàn diện, phát huy năng lực cá nhân, tiếp cận nghề nghiệp.

Nhìn chung, nghiên cứu công tác QL nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các nhà trường nói chung và trường THPT nói riêng đã được các cấp quản lý giáo dục, các nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên trên thực tế, còn ít công trình nghiên cứu về quản lý xây dựng trường ĐCQG. Đặc biệt, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về biện pháp xây dựng trường THPT ĐCQG tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Vì vậy, đề xuất các biện pháp xây dựng trường THPT ĐCQG tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam là cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

1.2. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

a. Quản lý

Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát. Nó dùng cho cả quá trình quản lý xã hội, quản lý giới vô sinh cũng như quản lý giới sinh vật. Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý.

Sự quản lý sẽ hình thành khi có những con người tập hợp nhau thành tổ chức hay nhóm. Tổ chức hay nhóm có cấu trúc nhất định gồm những con người cùng hoạt động vì một mục tiêu nào đó.

Để đạt được mục tiêu của tổ chức phải có người đứng đầu điều khiển, tổ chức các hoạt động, tác động đến từng cá nhân trong tổ chức hay nhóm làm cho các hoạt động của mỗi cá nhân đạt hiệu quả, mục tiêu của tổ chức. Người đứng đầu tổ chức hay nhóm gọi là người quản lý hoặc thủ lĩnh. Người quản lý tổ chức có trách nhiệm phân bổ nguồn lực, dẫn dắt sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để hành động theo kế hoạch và đạt đến mục đích. Sự tổ chức, tác động điều khiển của người quản lý thường được định nghĩa: Quản lý là quá trình chủ thể tác động đến khách thể nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị bằng cách vận dụng các hoạt động như kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra [13]

Theo Đặng Quốc Bảo: Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là việc thực hiện hai quá trình liên hệ chặc chẽ với nhau quản và lý. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, gìn giữ, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”, quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào phát triển [1]

Theo Trần Kiểm: Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [26]

Từ những quan niệm đó, quản lý có chung những dấu hiệu sau;

– Hoạt động quản lý được tiến hành trong một nhóm hay một tổ chức

– Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích

– Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp của các cá nhân tổ chức hay nhóm nhằm thực hiện đạt được mục tiêu của tổ chức

Quản lý là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung quản lý càng phức tạp.

Người ta có thể tiếp cận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau, theo nhiều góc độ khác nhau. Theo góc độ tổ chức đó là: cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra. Theo góc độ điều khiển từ quản lý là: lái, điều khiển, điều chỉnh.

Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất – xã hội để đạt được mục đích đã định. [15]

Theo góc độ kinh tế: Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra.

Theo góc độ chung nhất: Quản lý là vạch ra mục tiêu cho một bộ máy, lựa chọn phương tiện, điều kiện tác động đến bộ máy để đạt tới mục tiêu.

Theo Henry Fayol (1841-1925) đã nghiên cứu kĩ bản chất và tính chất công việc của người quản lý và đi đến kết luận rằng: Quản lý đó là dự tính (dự toán và lập kế hoạch), tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra.

Từ rất nhiều định nghĩa dưới các góc độ khác nhau, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát là: Quản lý một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường học, địa phương…) với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp tích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. [15]

Tất cả các quan điểm trên có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thỏa mãn nhu cầu chung và đạt được các mục tiêu đã xác định.

Đề tài tiếp cận khái niệm quản lý là: : Quản lý là quá trình chủ thể tác động đến khách thể nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị bằng cách vận dụng các hoạt động như kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. [14]

Công cụ

Chủ thể quản lý

Khách thể quản lý

Phương pháp

Mục tiêu

Hình 1.1. Sơ đồ mô hình quản lý

b. Quản lý giáo dục

Khoa học quản lý giáo dục đã hình thành và phát triển khá sớm, trở thành yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Về mặt lịch sử, khoa học quản lý giáo dục ra đời sau khoa học quản lý kinh tế, vì vậy nó sử dụng được những thành tựu khoa học quản lý. Theo vấn đề chiến lược phát triển giáo dục thời kỳ CNH-HĐH, trên thế giới còn tồn tại hai xu hướng phát triển về khoa học quản lý giáo dục:

– Xu hướng thứ nhất là thực hiện quá trình quản lý giáo dục trên cơ sở của quản lý kinh tế, coi quản lý cơ sở giáo dục như một loại xí nghiệp đặc biệt.

– Xu hướng thứ hai là quá trình quản lý giáo dục bắt nguồn từ lý luận quản lý xã hội. Xã hội chia làm ba lĩnh vực; Chính trị – xã hội, văn hóa – tư tưởng, và kinh tế, trong đó quản lý giáo dục nằm trong lĩnh vực quản lý văn hóa – tư tưởng.

Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng là quản lý hoạt động giáo dục trong xã hội. Quá trình đó bao gồm các hoạt động có tính giáo dục của bộ máy Nhà nước của các tổ chức xã hội, của hệ thống giáo dục quốc dân, của gia đình.

Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam
Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam

Quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp bao gồm: “quản lý hệ thống giáo dục” là quản lý các hoạt động giáo dục đào tạo diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh, quốc gia) và “quản lý nhà trường” là những hoạt động có mục đích, có hệ thống, có khoa học, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý là quá trình dạy học và giáo dục diễn ra ở các cơ sở giáo dục.

Quy luật của tiến bộ xã hội là thế hệ sau phải lĩnh hội cả những kinh nghiệm xã hội của thế hệ đi trước và tích lũy truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó. Thực hiện quy luật này là chức năng của giáo dục nói chung và quản lý giáo dục nói riêng. Quản lý giáo dục có hai chức năng: ổn định duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của kinh tế xã hội và đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ khoa học kỹ thuật. Như vậy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành của các nhà trường để giáo dục, vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế [2]. Với chức năng trên quản lý giáo dục có vị trí cao nhất trong việc tạo điều kiện xã hội hóa cá nhân, hình thành và phát triển nhân cách, nhằm giúp con người đảm nhận và gánh vác được những yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Trần Kiểm cho rằng: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em.[24]

Theo một số học giả nước ngoài thì “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, …) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” (M.M. Zade).

Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường đều phải thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đánh giá, thông tin. Các chức năng này có mối liên hệ ràng buộc, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tạo sự kết nối từ chu trình này sang chu trình sau theo hướng phát triển, trong đó yếu tố thông tin là trung tâm, là nhân tố quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động của công tác quản lý giáo dục và quản lý nhà trường, là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý. Các chức năng quản lý không phảỉ là cái “nhất thành bất biến”, trái lại nó luôn biến đổi cho phù hợp.

c. Quản lý nhà trường

Trong quản lý giáo dục phải hướng đến quản lý nhà trường. Quản lý nhà trường là một trong những nội dung quan trọng nhất của hệ thống quản lý giáo dục nói chung. Quản lý nhà trường là quản lý cơ sở của giáo dục.

Quản lý nhà trường còn là vấn đề tác động có tổ chức sư phạm, có tính hướng đích đến toàn bộ các mặt của quá trình giáo dục, nên phải kết hợp hài hòa các khoa học: Giáo dục học, Xã hội học, Tâm lý học, Khoa học quản lý…

Theo Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh. [21]

Tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo – giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy trò”, trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở [1]

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: Quản lý nhà trường là những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục [25]

Tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng: Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên và học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD&ĐT trong nhà trường [33]

Như vậy quản lý nhà trường có nhiệm vụ làm cho các thành tố trên vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau, nhằm đưa hoạt động quản lý đạt mục tiêu đề ra.

1.2.2. Khái niệm “chuẩn”, chuẩn quốc gia

Chuẩn là mẫu lý thuyết có tính chất nguyên tắc, tính công khai và tính xã hội hóa, được đặt ra bằng quyền lực hành chính hoặc chuyên môn, bao gồm những yêu cầu, tiêu chí, qui định kết hợp logic với nhau một cách xác định, được dùng làm công cụ xác minh sự vật, làm thước đo- đánh giá hoặc so sánh các hoạt động, công việc, sản phẩm, dịch vụ v.v…trong lĩnh vực nào đó và có khuynh hướng điều chỉnh những sự vật này theo nhu cầu, mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lý hoặc chủ thể sử dụng công việc, sản phẩm, dịch vụ. [23]

Theo từ điển tiếng Việt : Chuẩn là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, hướng theo đó mà làm cho đúng. Hay nói cách khác: Chuẩn là những điều làm căn cứ để đánh giá, phân loại.

Chuẩn quốc gia là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, hướng theo đó mà làm cho đúng, do nhà nước quy định chẳng hạn: Chuẩn trường tiểu học quốc gia, chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học, chuẩn hiệu trưởng…. mỗi tiêu chuẩn có nhiều tiêu chí và yêu cầu cụ thể khác nhau, Hiệu trưởng các trường theo đó mà xây dựng kế hoạch phấn đấu và đánh giá nhà trường trong quá trình xây dựng trường đạt chuẩn.

1.2.3. Trường THPT đạt chuẩn quốc gia

Trường THPT ĐCQG là nhà trường thuộc bậc GD Trung học phổ thông có đầy đủ các tiêu chuẩn đạt với chuẩn qui định trường chuẩn QG do nhà nước qui định bằng pháp luật. Trường có đủ các điều kiện để thực hiện GD toàn diện HS một cách tốt nhất, hoạt động của các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường cũng thể hiện tốt, tính đồng thuận luôn được duy trì, các mặt về XHH GD cũng được phát huy thu hút nhân dân cùng tham gia vào qúa trình QL GD. Thể hiện tốt sự kết hợp giữa ba môi trường GD gia đình- GD nhà trường – GD XH nhằm hình thành cho HS có nhân cách với đủ chuẩn mực XH yêu cầu.

Cụ thể là trường THPT ĐCQG là trường THPT đáp ứng đầy đủ 5 tiêu chuẩn của trường THPT ĐCQG được nêu rõ trong thông tư Số 47/2012/TT-BGDĐT, ngày 07 tháng 12 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành Quy chế công nhận trường THCS, trường THPT và trường THPT có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia [13]

Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý nhà trường

Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh

Tiêu chuẩn 3: Chất lượng giáo dục

Tiêu chuẩn 4: Tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học

Tiêu chuẩn 5: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

5 tiêu chuẩn xây dựng trường THPT ĐCQG là những giải pháp tổng thể, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho trường THPT thực hiện đầy đủ các mục tiêu và kế hoạch giáo dục THPT.

1.2.4. Quản lý xây dựng trường THPT đạt chuẩn Quốc gia

QL trường học trung học phổ thông là hoạt động của các cơ quan QL nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng GD khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực GD để nâng cao chất lượng GD&ĐT trong nhà trường. Để đạt được các tiêu chí theo 5 tiêu chuẩn của trường THPT đạt chuẩn QG được qui định tại qui chế công nhận trường trung học đạt chuẩn QG, người cán bộ QL trong đó bao gồm cả hiệu trưởng cần tập trung vào QL chủ yếu đó là:

a. QL tổ chức nhà trường theo chuẩn QG

– Thành lập các tổ chuyên môn, tổ hành chính và các hội đồng theo qui định trường chuẩn QG. Kiện toàn cơ cấu đội ngũ cán bộ NV tổ hành chính như: Kế toán, văn thư, thủ quĩ, thiết bị, thí nghiệm, thư viện và NV Ytế học đường theo Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV ngày 23/08/2006 của Bộ GD&ĐT và Bộ Nội Vụ.

– Duy trì đủ khối lớp, mỗi lớp không quá 45 HS, trường không quá 45 lớp; Xây dựng trường phát triển qui mô, số lớp, số HS toàn trường theo yêu cầu nhà trường đạt chuẩn QG, kiện toàn tổ chức lớp học.

b. QL hoạt động giảng dạy của GV

– QL nề nếp hoạt động tổ chuyên môn theo chuẩn QG;

– QL hồ sơ sổ sách của GV theo chuẩn QG;

– QL việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS theo yêu cầu trường chuẩn, được thực hiện theo phương châm dạy thực chất, thi thực chất;

– QL việc GV thực hiện quy chế chuyên môn theo yêu cầu trường chuẩn; Tăng cường QL việc thực hiện đổi mới PP giảng dạy của GV nhằm nâng cao chất lượng GD theo chuẩn QG.

– QL việc viết sáng kiến kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo dục.

c. QL hoạt động học tập của HS theo chuẩn QG

– QL việc rèn luyện, ý thức thái độ, động cơ học tập của HS trường chuẩn QG.

– QL việc đổi mới PP học của HS đáp ứng yêu cầu đổi mới GD phổ thông.

– Xây dựng nề nếp học tập, phát huy vai trò tự quản của HS để ổn định nề nếp học tập thường xuyên, liên tục đem lại bầu không khí thuận lợi, nghiêm túc, người dạy và người học luôn làm việc một cách chuẩn mực.

– QL việc GV rèn luyện kỹ năng tự giác đánh giá của HS trường chuẩn QG.

– Phối hợp các lực lượng GD để QL chất lượng học tập của HS.

d. QL hoạt động GD toàn diện của HS trường chuẩn QG

– QL hoạt động GD tư tưởng, chính trị, đạo đức, truyền thống, pháp luật cho HS đáp ứng yêu cầu trường chuẩn QG.

– QL hoạt động GD tư tưởng, chính trị, đạo đức, pháp luật cho HS

– QL hoạt động ngoài giờ lên lớp đáp ứng yêu cầu trường chuẩn QG

– Hoạt động GD thể chất, GD môi trường nhằm tạo ra một lớp người: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.

– QL hoạt động GD lao động, kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp dạy nghề.

– QL GD thẩm mỹ cho HS, GD thẩm mỹ cần được khẳng định vai trò tác dụng và cần được thực hiện đồng bộ có trách nhiệm trong công tác GD.

e. QL việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ QL, GV và NV

QL việc bồi dưỡng nâng cao trình độ của CBQL, GV và NV theo chuẩn QG cần tập trung vào những nội dung sau:

– Xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL, GV và NV đạt chuẩn và trên chuẩn đáp ứng yêu cầu trường chuẩn.

– QL việc bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ QL, GV và NV theo yêu cầu trường chuẩn.

– QL việc tổ chức các hội thảo về chuyên môn cho GV, tổ chức các cuộc thi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho GV.

f. QL việc xây dựng cơ sở vật chất trường chuẩn QG

Để có được CSVC nhà trường theo chuẩn QG cần tập trung QL các nội dung chủ yếu sau:

– QL và phát huy tốt tiềm năng CSVC hiện có: Khai thác sử dụng tối đa số phòng học, phòng làm việc. Đầu tư mua sắm bổ sung trang thiết bị và sửa chữa CSVC.

– Nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo quản TBDH, phân công các nguồn lực hợp lý, đánh giá việc bảo quản và sử dụng TBDH.

– Xây dựng qui hoạch nhà trường theo chuẩn QG.

-Xây dựng khu thể chất.

– Cải tạo cảnh quang sư phạm nhà trường Xanh- Sạch -Đẹp

g. QL việc thực hiện XH hoá GD

– Xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của ba môi trường GD: Nhà trường – Gia đình và XH;

– Đẩy mạnh hoạt động của ban đại diện phụ huynh học sinh các lớp và nhà trường là để thu hút sự tham gia của phụ huynh học sinh vào công tác QL nhà trường.

– Dân chủ hoá trong QL các hoạt động GD của nhà trường.

– Đa phương hoá nguồn lực, huy động lực lượng cộng đồng tham gia xây dựng CSVC nhà trường.

1.3. TRƯỜNG THPT TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN

1.3.1. Vị trí và vai trò của giáo dục Trung học phổ thông

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục phổ thông (gồm bậc tiểu học và bậc trung học) là nền tảng văn hoá của đất nước, là sức mạnh tương lai của dân tộc, đặt cơ sở quan trọng cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt nam.

Giáo dục THPT được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải hoàn thành chương trình tiểu học và trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi (Khoản 1, Điều 26, Luật GD, 2005).

Giáo dục THPT có vai trò hết sức quan trọng cùng với Tiểu học và Trung học cơ sở là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Là giai đoạn cuối của giáo dục phổ thông. Khi hết chương trình THPT, học sinh sẽ bước vào lĩnh vực nghề nghiệp và học chương trình sau phổ thông.

1.3.2. Mục tiêu giáo dục Trung học phổ thông

Giáo dục THPT nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, có liên quan một cách toàn diện đến rất nhiều yếu tố như: mục đích giáo dục, mục tiêu hình thành nhân cách, nhiệm vụ và yêu cầu phổ cập giáo dục, đội ngũ giáo viên…

Luật Giáo dục (2005), Điều 2 và điều 27 chỉ rõ: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.[27]

“ Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng”.[4].

1.3.3. Nội dung giáo dục Trung học phổ thông

Luật Giáo dục (2005), Điều 5 và điều 28 chỉ rõ:  Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học.[27]

“Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” (Điều 23, mục 2, chương II của Luật Giáo dục).

Học xong THPT, học sinh cần đạt được yêu cầu chủ yếu sau:

– Hình thành và củng cố các giá trị về tư tưởng, đạo đức, lối sống phù hợp với mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, mục tiêu giáo dục của cấp học và thích hợp với trình độ, lứa tuổi học sinh trung học phổ thông. Đó là tình yêu gia đình, quê hương, đất nước, tinh thần tự tôn dân tộc; ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá, truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng bảo vệ tổ quốc; có chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn; có lòng nhân ái, ứng xử hợp đạo lý, có văn hoá trong quan hệ gia đình, bạn bè, xã hội; sống lành mạnh, tự tin, giản dị, tiết kiệm; hiểu biết, tôn trọng và chấp hành pháp luật; quan tâm đến những vấn đề cấp bách của đất nước, của toàn cầu.[4]

– Củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, gồm những kiến thức cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết về kỹ thuật và hướng nghiệp, đảm bảo hoàn thành nội dung học vấn phổ thông về tự nhiên, xã hội và con người, gắn với cuộc sống cộng đồng và thực tiễn địa phương.

– Được tiếp tục phát triển và nâng cao các kỹ năng học tập chung và kỹ năng học tập bộ môn, đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống học tập mới, vào thực tiễn sản xuất và đời sống; được củng cố thói quen và phương pháp tự học, năng lực thu thập, xử lí và truyền đạt thông tin, khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề, độc lập suy nghĩ, sáng tạo trong tư duy và hành động; có khả năng sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp thông thường và khả năng ứng dụng một số thành tựu của công nghệ thông tin ở trình độ phổ thông trong giải quyết công việc; có hiểu biết và kỹ năng cần thiết về kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp để có thể vận dụng trong cuộc sống lao động, trong việc lựa chọn hướng phát triển phù hợp với năng lực của bản thân.

– Hiểu biết và có thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên, đạt tiêu chuẩn rèn luyện theo lứa tuổi; giữ gìn vệ sinh cá nhân và môi trường; sử dụng thời gian hợp lý, biết cách làm việc và nghỉ ngơi khoa học.

– Hiểu biết và có khả năng cảm thụ, đánh giá cái đẹp trong cuộc sống và văn học, nghệ thuật, có nhu cầu sáng tạo cái đẹp; sống hoà hợp với thiên nhiên và xã hội.[4]

1.3.4. Phương pháp giáo dục Trung học phổ thông

Phương pháp giáo dục THPT được xác định chung trong phương pháp giáo dục phổ thông: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. [27]

1.4. NHỮNG TIÊU CHUẨN CỦA TRƯỜNG THPT ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA

Trường trung học phổ thông đạt chuẩn QG: Là nhà trường thuộc bậc GD trung học phổ thông có đầy đủ các tiêu chuẩn đạt với chuẩn qui định trường chuẩn QG do nhà nước qui định bằng pháp luật.( theo Thông tư số 47/2012/TT-BGDĐT ngày 07/12/2011 của Bộ GD&ĐT.)

Trường có đủ các điều kiện để thực hiện GD toàn diện HS một cách tốt nhất, hoạt động của các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường cũng thể hiện tốt, tính đồng thuận luôn được duy trì, các mặt về XHH GD cũng được phát huy thu hút nhân dân cùng tham gia vào qúa trình QL GD. Thể hiện tốt sự kết hợp giữa ba môi trường GD gia đình- GD nhà trường – GD XH nhằm hình thành cho HS có nhân cách với đủ chuẩn mực XH yêu cầu.

1.4.1. Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản lý của nhà trường

1. Lớp học:

a. Tối đa không quá 45 lớp, đảm bảo đủ các khối lớp của cấp học;

b. Số lượng học sinh/lớp tối đa không quá 45 học sinh;

2. Tổ chuyên môn:

a. Các tổ chuyên môn được thành lập và hoạt động theo quy định hiện hành của Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (sau đây gọi chung là Điều lệ trường trung học);

b. Hàng năm đề xuất được ít nhất hai chuyên đề chuyên môn có tác dụng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy – học;

c. Có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mỗi giáo viên và của cả tổ chuyên môn; đạt các qui định về đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo;

3. Tổ văn phòng:

a. Đảm nhận các công việc: văn thư, kế toán, thủ quỹ, y tế trường học, bảo vệ và phục vụ các hoạt động của nhà trường theo quy định hiện hành;

b. Quản lý hệ thống hồ sơ, sổ sách của nhà trường. Hướng dẫn sử dụng theo quy định của Điều lệ trường trung học và những quy định trong hướng dẫn sử dụng của từng loại sổ;

4. Hội đồng trường và các hội đồng khác trong nhà trường :

Hội đồng trường và các hội đồng khác trong nhà trường được thành lập và thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định hiện hành của Điều lệ trường trung học; hoạt động có kế hoạch, nền nếp, đạt hiệu quả thiết thực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng nền nếp kỷ cương của nhà trường.

5. Tổ chức Đảng và các đoàn thể:

a. Tổ chức Đảng trong nhà trường đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh. Những trường chưa có tổ chức Đảng cần có kế hoạch và đạt chỉ tiêu cụ thể về phát triển đảng viên trong từng năm học và xây dựng tổ chức cơ sở Đảng;

b. Các đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường được công nhận vững mạnh về tổ chức, có nhiều đóng góp trong các hoạt động ở địa phương;

1.4.2. Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên

1. Hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng đạt tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của Điều lệ trường trung học; thực hiện tốt quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; được cấp quản lý giáo dục trực tiếp xếp loại từ khá trở lên theo qui định hiện hành về chuẩn Hiệu trưởng trường trung học.

Đối với Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng trường trung học phổ thông chuyên thực hiện theo quy định hiện hành của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường trung học phổ thông chuyên.

2. Có đủ giáo viên các bộ môn đạt trình độ chuẩn đào tạo theo quy định, trong đó có ít nhất 30% giáo viên đạt tiêu chuẩn dạy giỏi từ cấp cơ sở trở lên; có 100% giáo viên đạt chuẩn loại khá trở lên theo quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học.

3. Có đủ viên chức phụ trách thư viện, phòng học bộ môn, phòng thiết bị dạy học được đào tạo hoặc bồi dưỡng đủ năng lực nghiệp vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

1.4.3. Tiêu chuẩn 3: Chất lượng giáo dục

Một năm trước khi được đề nghị công nhận và trong thời gian 5 năm được công nhận trường trung học đạt chuẩn quốc gia, tối thiểu phải đạt các chỉ tiêu sau:

1. Tỷ lệ học sinh bỏ học và lưu ban hàng năm không quá 5%, trong đó tỷ lệ học sinh bỏ học không quá 1%.

2. Chất lượng giáo dục:

a. Học lực:

a.1. Số học sinh xếp loại giỏi đạt từ 3% trở lên;

a.2. Số học sinh xếp loại khá đạt từ 35% trở lên;

a.3. Số học sinh xếp loại yếu, kém không quá 5%;

b. Hạnh kiểm:

b.1. Số học sinh xếp loại khá, tốt đạt từ 80% trở lên;

b.2. Số học sinh xếp loại yếu không quá 2%;

3. Các hoạt động giáo dục:

Thực hiện quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thời gian tổ chức, nội dung các hoạt động giáo dục ở trong và ngoài giờ lên lớp.

4. Hoàn thành nhiệm vụ được giao trong kế hoạch phổ cập giáo dục của địa phương.

5. Đảm bảo các điều kiện để cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà trường, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá. Cán bộ quản lý, giáo viên đều sử dụng được máy vi tính trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập nâng cao nghiệp vụ.

1.4.4. Tiêu chuẩn 4 : Tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học

1. Thực hiện quy định công khai điều kiện dạy học, chất lượng giáo dục, quản lý tài chính, tài sản, tự chủ tài chính, các nguồn kinh phí được đầu tư, hỗ trợ của nhà trường theo qui định hiện hành.

2. Khuôn viên nhà trường được xây dựng riêng biệt, có tường rào, cổng trường, biển trường; các khu vực trong nhà trường được bố trí hợp lý, luôn sạch, đẹp. Đủ diện tích sử dụng để đảm bảo tổ chức các hoạt động quản lý, dạy học và sinh hoạt.

a. Các trường nội thành, nội thị có diện tích sử dụng ít nhất từ 6m2/học sinh;

b. Các trường khu vực nông thôn có diện tích sử dụng ít nhất từ 10m2/học sinh;

c. Đối với trường trung học được thành lập từ sau năm 2001 phải bảo đảm có diện tích mặt bằng theo qui định hiện hành của Điều lệ trường trung học;

3. Có đầy đủ cơ sở vật chất theo quy định hiện hành của Điều lệ trường trung học.

4. Cơ cấu các khối công trình trong trường bao gồm:

a. Khu phòng học, phòng bộ môn:

a.1. Có đủ số phòng học cho mỗi lớp học (không quá 2 ca mỗi ngày); diện tích phòng học, bàn ghế học sinh, bàn ghế giáo viên, bảng đúng quy cách; phòng học thoáng mát, đủ ánh sáng, an toàn;

a.2. Có phòng y tế trường học đảm bảo theo quy định hiện hành về hoạt động y tế trong các trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học;

b. Khu phục vụ học tập:

b.1. Có các phòng học bộ môn đạt tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của Qui định về phòng học bộ môn; phòng thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm với đầy đủ trang thiết bị dạy học;

b.2. Có thư viện theo tiêu chuẩn quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường học, chú trọng phát triển nguồn tư liệu điện tử gồm: tài liệu, sách giáo khoa, giáo án, câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra, đề thi …; cập nhật thông tin về giáo dục trong và ngoài nước đáp ứng yêu cầu tham khảo của giáo viên và học sinh;

b.3. Có phòng truyền thống; khu luyện tập thể dục thể thao; phòng làm việc của Công đoàn; phòng hoạt động của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh đối với trường trung học cơ sở và trường phổ thông có nhiều cấp học;

c. Khu văn phòng:

Có phòng làm việc của Hiệu trưởng, phòng làm việc của từng phó Hiệu trưởng, văn phòng nhà trường, phòng họp hội đồng giáo dục nhà trường, phòng họp từng tổ bộ môn, phòng thường trực, kho;

d. Khu sân chơi sạch, đảm bảo vệ sinh và có cây bóng mát;

e. Khu vệ sinh được bố trí hợp lý, riêng cho giáo viên, học sinh nam, học sinh nữ, không làm ô nhiễm môi trường ở trong và ngoài nhà trường;

g. Có khu để xe cho giáo viên, cho từng khối lớp hoặc từng lớp trong khuôn viên nhà trường, đảm bảo trật tự, an toàn;

h. Có đủ nước sạch cho các hoạt động dạy học, nước sử dụng cho giáo viên, học sinh; có hệ thống thoát nước hợp vệ sinh;

4. Có hệ thống công nghệ thông tin kết nối internet đáp ứng yêu cầu quản lý và dạy học; có Website thông tin trên mạng internet hoạt động thường xuyên, hỗ trợ có hiệu quả cho công tác dạy học và quản lý nhà trường.

1.4.5. Tiêu chuẩn 5 : Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

1. Nhà trường chủ động phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước, các đoàn thể, tổ chức ở địa phương đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm thực hiện chủ trương và kế hoạch phát triển giáo dục địa phương.

2. Ban đại diện cha mẹ học sinh được thành lập và hoạt động theo quy định hiện hành về tổ chức và hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh, hoạt động có hiệu quả trong việc kết hợp với nhà trường và xã hội để giáo dục học sinh.

3. Mối quan hệ và thông tin giữa nhà trường, gia đình và xã hội được duy trì thường xuyên, kịp thời, chặt chẽ, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh, phòng ngừa, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường.

4. Huy động hợp lý và có hiệu quả sự tham gia của gia đình và cộng đồng vào các hoạt động giáo dục, tăng cường điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị để nâng cao hiệu quả giáo dục của nhà trường.

1.5. QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÂY DỰNG TRƯỜNG THPT ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA

Khái niệm chức năng quản lý gắn liền với sự xuất hiện và sự tiến bộ của phân công hợp tác lao động trong một quá trình sản xuất của một tập thể người lao động. Quá trình tạo ra một sản phẩm phải trải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn người lao động phải thực hiện một nhiệm vụ hay một chức năng nhất định. Từ chức năng đó của khách thể quản lý (người lao động) làm xuất hiện một cách khách quan dạng hoạt động quản lý chuyên biệt nhất định tương ứng của chủ thể quản lý gọi là chức năng quản lý.

Tất cả các chức năng quản lý gắn bó qua lại và quy định lẫn nhau. Chúng phản ánh lôgic bên trong sự phát triển của hệ quản lý. Sự phân chia chức năng quản lý bắt nguồn từ sự phân công và sự chuyên môn hóa lao động quản lý. Khi phân tích cụ thể, ta thấy quản lý gồm bốn chức năng sau: Chức năng kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng kiểm tra đánh giá.

Với cách tiếp cận quản lý chức năng dựa trên cách hiểu quản lý là Quản lý là quá trình chủ thể tác động đến khách thể nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị bằng cách vận dụng các hoạt động như kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.

Đề tài quan tâm đến vấn đề quản lý xây dựng trường THPT ĐCQG theo các nội dung sau:

1.5.1 Kế hoạch hóa việc xây dựng trường THPT ĐCQG

Kế hoạch hóa là chức năng cơ bản. Căn cứ vào quá trình phát triển của tổ chức căn cứ vào mọi tiềm năng đã có và sẽ có dự báo trạng thái kết thúc của tổ chức (và những trạng thái trung gian) vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và hệ thống các giải pháp, biện pháp, xác định có tính chắc chắn và đảm bảo sự cam kết về các nguồn lực, nhằm đưa tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra.

Kế hoạch hóa là công việc cần làm đầu tiên trong quá trình xây dựng trường THPT ĐCQG. Nó có vai trò khởi đầu, định hướng, là cơ sở huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nhà trường, là căn cứ cho việc kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện các mục tiêu trong quá trình quản lý xây dựng trường THPT ĐCQG.

Tuy nhiên do điều kiện cụ thể và đặc thù của từng trường mà mức độ kế hoạch hóa khác nhau. Lập kế hoạch xây dựng trường THPT ĐCQG phải trả lời được các câu hỏi:

– Làm cái gì? chỉ rõ mục đích công việc, chủng loại, tính chất, nội dung, đặc trưng, số lượng…

– Tại sao phải làm như thế? nêu mục đích, sự cần thiết phải làm việc đó;

– Khi nào làm? chỉ rõ thời gian bắt tay vào công việc, thời gian hoàn thành, thời vụ, định kỳ hay tùy lúc…

– Ở đâu? chỉ rõ địa điểm, vị trí ..

– Ai làm? Chỉ rõ ai phụ trách, một hay nhiều người, ai tham gia, quan hệ với ai

– Làm như thế nào? Nêu rõ phương pháp thực hiện, kỹ thuật, số lượng, tiêu chuẩn cần đạt, giá trị mục tiêu, mức độ mong đợi

Nguyên tắc lập kế hoạch xây dựng trường THPT ĐCQG: Phải đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu; các mục tiêu phải rõ ràng, có thể đạt được và xác đáng; các tiền đề kế hoạch phải thích hợp, các chiến lược, sách lược phải được nhận thức đầy đủ và thực thi rõ ràng; những yếu tố hạn chế phải được xác định và lường trước; phải đảm bảo cam kết về thời gian và nguồn lực để hoàn thành; kế hoạch phải linh hoạt và thay đổi đúng hướng

Kế hoạch hóa quản lý xây dựng trường THPT ĐCQG là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lý vào công tác kế hoạch, trong đó chỉ rõ bước đi, biện pháp thực hiện và đảm bảo nguồn nhân lực để đạt tới các mục tiêu của nhà trường.

Cụ thể mỗi trường phải lập đề án xây dựng trường đạt chuẩn QG của trường mình. Trong đề án phải phân tích những thuận lợi, khó khăn, những tiêu chí đã đạt được, những tiêu chí chưa đạt, tìm hiểu nguyên nhân vì sao chưa đạt, cần những sự hỗ trợ nào từ ngành, từ các cấp chính quyền, những tiêu chí nào mà nội lực nhà trường cần phải giải quyết và phấn đấu để đạt. Cần phân tích từng tiêu chí trong các tiêu chuẩn, từ đó xây dựng lộ trình thời gian phấn đấu theo từng bước.

Kế hoạch thực hiện các tiêu chuẩn như sau:

Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam, Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam, Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam. Quản lý xây dựng trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia tại thành phố Hội An tỉnh Quảng Nam

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN (Thai Van Thanh)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *