Quản lý rủi ro hoạt động tại chi nhánh thương mại – Trường hợp Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh ngân hàng nói riêng luôn tìm ẩn những rủi ro, có nguy cơ gây mất ổn định hệ thống và làm giảm hiệu quả kinh doanh. Có thể nói rằng lợi nhuận thu được của ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro. Lợi nhuận ngân hàng càng cao thường kèm theo các rủi ro tiềm ẩn và nguy cơ xảy ra rủi ro ở mức độ cao.
Tùy theo từng cách tiếp cận mà rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được phân thành nhiều loại khác nhau, song theo cách phân loại chung nhất (Theo Ủy ban Basel vào năm 1987 đưa ra các nguyên tắc chung để quản lý hoạt động của các ngân hàng), rủi ro ngân hàng được phân chia thành 3 loại cơ bản gồm: Rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động. Có ý kiến cho rằng, trong thời gian dài vừa qua, nhiều NHTM trong nước mới chủ yếu quan tâm đến rủi ro tín dụng, sau đó là rủi ro thị trường trong khi chưa mấy quan tâm đến RRHĐ. Nếu rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường chỉ liên quan đến một hoặc một số bộ phận của ngân hàng thì rủi ro hoạt động có liên quan đến toàn bộ các bộ phận. Các công cụ tài chính mới giúp ngân hàng phòng ngừa rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng hiệu quả hơn thì RRHĐ lại tăng lên. Trong những năm gần đây, RRHĐ luôn luôn là đề tài nóng trong các cuộc hội đàm của các nhà quản trị rủi ro trên toàn thế giới. Roger W.Ferguson, phó chủ tịch FED đã nhấn mạnh rằng “Trong hệ thống ngân hàng đang được hiện đại hóa, RRHĐ đã trở thành một trong những rủi ro chính của ngân hàng”. Như vậy, việc để xảy ra các RRHĐ không chỉ gây tổn thất cho ngân hàng về vật chất và nguồn nhân lực mà còn có thể khiến cho uy tín của ngân hàng bị ảnh hưởng. Chính vì thế mà vai trò của quản lý RRHĐ ngày càng có ý nghĩa quan trọng và cần thiết.
RRHĐ là loại rủi ro liên quan tới nhiều yếu tố như: con người; hệ thống; quy trình, thủ tục nội bộ và cả các sự kiện bên ngoài. Đây là những yếu tố rất đa dạng và thường xuyên biến đổi, do đó RRHĐ luôn xuất hiện trong hầu hết các hoạt động của ngân hàng.
Quản lý RRHĐ trong những năm gần đây đã trở thành một trong những hoạt động quan trọng đối với các NHTM. Bởi vì, mức độ hiện đại hóa đòi hỏi các NHTM phải dựa vào công nghệ tự động ngày càng phức tạp, phát triển đa dạng hơn các sản phẩm, xu hướng toàn cầu hóa, cạnh tranh, mở rộng quy mô, tham gia vào hoạt động mua lại, sáp nhập, hợp nhất… Quản lý RRHĐ là quá trình tổ chức tín dụng tiến hành các hoạt động nhằm giảm thiểu các nguy cơ và thiệt hại từ RRHĐ, bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức, xây dựng hệ thống các chính sách.
Mặt khác, BIDV là một trong mười ngân hàng đầu tiên được NHNN lựa chọn triển khai Basel II. Ý thức được tầm quan trọng, lợi ích, và xu hướng tất yếu của việc áp dụng Basel II, BIDV đã chủ động tiến hành các bước chuẩn bị để sẵn sàng cho việc triển khai Basel II. Trong đó, yếu tố cốt lõi là hệ thống kiểm soát nội bộ và cơ chế quản lý RRHĐ hiệu quả. Mọi rủi ro khác của NHTM có thể phát sinh từ nguồn gốc sâu xa là RRHĐ. Bởi vậy, tăng cường quản lý RRHÐ là yêu cầu cần thiết và cấp bách nhằm đảm bảo hiệu quả quá trình quản trị, duy trì sự phát triển ổn định, bền vững của BIDV nói riêng và của các NHTM Việt Nam nói chung.
Bản thân tôi hiện đang là một cán bộ ngân hàng và công việc chính là phụ trách bộ phận tác nghiệp của BIDV Quảng Nam, tôi luôn mong muốn được tìm hiểu kỹ hơn về những quy trình, nghiệp vụ, các công cụ đã được áp dụng để nhận diện – đo lường – giám sát – kiểm soát RRHĐ đang áp dụng tại ngân hàng. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và tìm ra các giải pháp phù hợp, khả thi nhằm tăng cường, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý RRHĐ trong hoạt động kinh doanh tại BIDV Quảng Nam là rất cần thiết. Do vậy, tôi đã chọn đề tài “Quản lý rủi ro hoạt động tại chi nhánh thương mại – Trường hợp Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu Luận văn của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
– Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và phân tích thực trạng quản lý RRHĐ tại BIDV Quảng Nam trong giai đoạn 2015-2017, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý RRHĐ tại BIDV Quảng Nam.
– Câu hỏi nghiên cứu:
- Hoạt động RRHĐ của các NHTM có những bất cập gì?
- Để hoàn thiện công tác quản lý RRHĐ, BIDV Quảng Nam nên sử dụng các giải pháp nào?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến quản lý rủi ro hoạt động của NHTM và thực trạng công tác quản lý RRHĐ của BIDV Quảng Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Về không gian: Luận văn nghiên cứu về quản lý RRHĐ của NHTM để góp phần hoàn thiện công tác quản lý RRHĐ tại BIDV Quảng Nam.
– Về nội dung: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý RRHĐ của NHTM và phân tích thực trạng công tác quản lý rủi ro hoạt động RRHĐ của BIDV Quảng Nam. Từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý RRHĐ tại BIDV Quảng Nam.
– Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2015-2017.
4. Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp thu thập thông tin: Tác giả đã thu thập từ các nguồn sau:
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: doanh số cho vay, doanh số huy động, tỷ lệ nợ xấu, lợi nhuận của BIDV Quảng Nam từ năm 2015-2017.
+ Báo cáo tổng hợp dấu hiệu RRHĐ, các dữ liệu sai lỗi, giao dịch nghi ngờ, sự cố RRHĐ của BIDV Quảng Nam từ năm 2015-2017.
– Phương pháp phân tích dữ liệu: Trong chương 2, dựa trên dữ liệu thu thập được, tác giả sử dụng phương pháp thống kê số liệu theo từng loại rủi ro từ năm 2015-2017. Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích, đánh giá việc tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn… tại BIDV Quảng Nam từ năm 2015-2017.
– Phương pháp tổng hợp: Trong chương 1, tác giả dựa trên các tài liệu, các nghiên cứu để thực hiện cơ sở lý luận về quản lý RRHĐ của NHTM. Trên cơ sở đó, tác giả tổng hợp những phân tích đánh giá thực trạng quản lý RRHĐ tại chương 2 và đưa ra giải pháp đối với BIDV Quảng Nam và có những kiến nghị với Chính phủ, với NHNN nhằm hoàn thiện công tác quản lý RRHĐ tại chương 3.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý RRHĐ của NHTM.
Chương 2: Thực trạng RRHĐ và quản lý RRHĐ.
Chương 3: Giải pháp, khuyến nghị và kiến nghị hoàn thiện công tác quản lý RRHĐ.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM
1.1. Tổng quan về rủi ro hoạt động
1.1.1. Khái niệm rủi ro hoạt động
Theo Ủy ban Basel II: Rủi ro hoạt động là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bên ngoài. Rủi ro hoạt động bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín.
Theo định nghĩa của BIDV: Rủi ro hoạt động là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót; do con người; do hệ thống công nghệ thông tin hoặc do các yếu tố bên ngoài. Rủi ro hoạt động không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược. [3]
1.1.2. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro hoạt động
Có bốn nguyên nhân dẫn đến RRHĐ, đó là: Con người; Quy trình nội bộ; Hệ thống công nghệ thông tin; Các sự kiện bên ngoài.
1.1.2.1. Rủi ro do con người (cán bộ ngân hàng)
– Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến RRHĐ chính là sự không tuân thủ các quy định, quy trình nghiệp vụ nội bộ ngân hàng và các văn bản pháp luật có liên quan hoặc vận dụng sai khi thực hiện.
– Cán bộ thực hiện các nghiệp vụ không đúng thẩm quyền được giao hoặc vượt thẩm quyền cho phép.
– Cán bộ không tuân thủ các quy định, quy trình nghiệp vụ Ngân hàng.
– Cán bộ không chấp hành nội quy lao động, hợp đồng lao động và cam kết bảo mật thông tin trong quá trình làm việc…
– Nhân viên có hành vi lừa đảo hoặc hành vi phạm tội, cấu kết với các đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho Ngân hàng, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thông đồng với đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho ngân hàng. Cụ thể như: cán bộ ngân hàng thông đồng với khách hàng để lập hồ sơ khống để vay vốn…
– Phong cách giao tiếp, ứng xử với khách hàng thiếu văn minh, gây ấn tượng không tốt cho khách hàng làm ảnh hưởng đến hình ảnh, thương hiệu của Ngân hàng.
– Cán bộ thiếu ý thức trong việc phối hợp làm việc giữa các bộ phận, phòng ban khác, tắc trách, chủ quan không phát hiện kịp thời các dấu hiệu có rủi ro cao.
– Cán bộ làm việc không tập trung, cẩu thả hoặc thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ dẫn tới hạch toán sai, nhầm lẫn khách hàng, tiền tệ …
1.1.2.2. Rủi ro do quy định, quy trình nghiệp vụ
– Các quy định, quy trình nghiệp vụ là kim chỉ nam cho hoạt động của Ngân hàng. Vì vậy nếu các quy định, quy trình nghiệp vụ ban hành chưa hoàn chỉnh, kịp thời, bất cập, mâu thuẫn với các quy định của Nhà nước, thiếu nội dung quy định về các chốt kiểm soát cần thiết… sẽ tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng hoặc chính cán bộ ngân hàng lợi dụng gây thiệt hại cho Ngân hàng.
– Các quy định, quy trình nghiệp vụ chống chéo, không thống nhất với nhau, có nội dung chưa phù hợp, chưa rõ ràng, phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh của ngân hàng dẫn đến mâu thuẩn, bất hợp lý trong quá trình áp dụng, gây khó khăn cho cán bộ trong quá trình tác nghiệp.
– Thiếu các quy trình, quy định cho các sản phẩm, dịch vụ mới hoặc các sản phẩm, dịch vụ được triển khai thực hiện trước khi có quy định, quy trình dẫn đến rủi ro cho cán bộ cũng như cho ngân hàng.
1.1.2.3. Rủi ro từ hệ thống công nghệ thông tin
– Hệ thống phần cứng của công nghệ lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu, ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống, đặc biệt là đối với hoạt động Ngân hàng đòi hỏi có trình độ công nghệ cao. Khi hệ thống bảo mật của các chương trình không đáp ứng được yêu cầu cũng có thể dẫn dến khả năng mất an toàn cho hoạt động của Ngân hàng như không được bảo mật, an toàn thông tin của khách hàng nên bị kẻ gian để đánh cắp thông tin, dữ liệu, thậm chí có thể xâm nhập vào chương trình để thay đổi hệ thống dữ liệu, tạo ra các giao dịch ảo có thể rút tiền của khách hàng.
– Lỗi hệ thống công nghệ thông tin (gồm lỗi phần cứng, lỗi phần mềm, lỗi thiết bị mạng và các thiết bị liên quan, lỗi đường truyền) dẫn tới làm gián đoạn hoạt động của hệ thống, làm ngừng trệ các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, gây ra những tổn thất cho không chỉ Ngân hàng mà còn cho cả khách hàng. Ngoài ra, nó còn làm cho các giao dịch bị sai lệch, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.
– Sự tấn công của hacker hoặc virus làm sai lệch dữ liệu, làm mất dữ liệu, ăn cắp dữ liệu…
1.1.2.4. Rủi ro do sự kiện bên ngoài
– Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp hoặc phạm tội của các đối tượng bên ngoài ngân hàng như: trộm cắp, cướp giả mạo giấy tờ, tung tin đồn thất thiệt, khủng bố, chiến tranh…
– Rủi ro do các sự kiện bên ngoài hoặc do tự nhiên (động đất, lũ lụt, bão….) gây gián đoạn hoạt động và gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
– Rủi ro do thể chế, chính sách như các văn bản, quy định của Chính phủ, các ban ngành có liên quan có sự thay đổi hoặc có những quy định mới ban hành làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và có khả năng không đạt được chỉ tiêu đề ra.
– Trong xu thế phát triển của thời đại hiện nay, RRHĐ tiếp tục tăng do: Môi trường kinh doanh phức tạp hơn, hành vi trái pháp luật tăng lên; Hội nhập quốc tế ngày một tăng; Áp lực công việc, đòi hỏi kết quả cao hơn, đòi hỏi lòng trung thành của nhân viên và sự quan tâm của các nhà lãnh đạo nhiều hơn; Sự phụ thuộc vào công nghệ nhiều hơn; Tốc độ và khối lượng giao dịch tăng hơn;
1.1.3. Mối quan hệ giữa rủi ro hoạt động với rủi ro tín dụng
Rủi ro rất đa dạng, có thể phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau, đồng thời các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, rủi ro này có thể là nguyên nhân dẫn đến rủi ro khác. Rủi ro tín dụng và RRHĐ là 02 loại rủi ro cơ bản nhất mà một TCTD thường gặp phải. Do đó, cần phải nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động.
1.1.3.1. Định nghĩa rủi ro tín dụng:
Theo quan niệm của Ủy ban Basel thì “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”.
Tại Điều 3, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN nêu rõ: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” [8].
Như vậy, rủi ro tín dụng là những khoản tổn thất phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn.
1.1.3.2. So sánh và mối quan hệ giữa RRHĐ, rủi ro tín dụng
Nếu rủi ro tín dụng chỉ liên quan đến một hoặc một số bộ phận của ngân hàng thì RRHĐ có liên quan đến toàn bộ các bộ phận. Ví dụ: Nếu sự cố đường truyền xảy ra chẳng hạn, hoặc lỗi hệ thống máy tính bị hacker thì toàn bộ hoạt động ngân hàng sẽ bị ngưng trệ. Hoặc nếu quy trình nghiệp vụ huy động vốn không phù hợp với quy định hiện hành của các cơ quan quản lý thì cũng dễ xảy ra nguy cơ ngân hàng bị phạt, các giao dịch bị hủy bỏ.
Trong các loại rủi ro thì RRHĐ là rủi ro ảnh hưởng nhiều nhất và bao trùm lên tất cả các loại rủi ro khác. RRHĐ hiện hữu trong từng hoạt động hàng ngày tại các Ngân hàng. Ví dụ một cán bộ tín dụng không chấp hành đúng các quy trình nghiệp vụ sẽ gây ra nợ xấu, thất thoát tài sản, tức là gây ra rủi ro tín dụng và khi mức độ thiệt hại lớn, ảnh hưởng đến thanh khoản của Ngân hàng thì dẫn đến rủi ro thanh khoản. Do đó quản lý tốt RRHĐ sẽ làm giảm thiểu nguy cơ xảy ra các rủi ro khác.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, nếu để xảy ra rủi ro này lại kéo theo các loại rủi ro khác. Theo thống kê của một chuyên gia cao cấp ngân hàng: “hơn 80% rủi ro tín dụng thực chất là rủi ro hoạt động”. Vì vậy, rủi ro hoạt động và rủi ro tín dụng có mối quan hệ mật thiết với nhau, rủi ro này là nguyên nhân của rủi ro kia. Rủi ro trong hoạt động bởi nguyên nhân con người, sự không đầy đủ hay vận hành không tốt các quy trình, hệ thống, các sự kiện khách quan bên ngoài lại gây ro rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng do khách hàng cố tình chây ì không chịu trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng thì lại gây ra RRHĐ do sự kiện bên ngoài (do hành vi lừa đảo).
1.2. Quản lý nhà nước về RRHĐ của NHTM
1.2.1. Quản lý nhà nước về NHTM trong nền kinh tế mở
Có thể nói hệ thống ngân hàng là bộ phận then chốt không thể tách rời của hệ thống tài chính quốc gia, có quan hệ sống còn với các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế nên rất cần có sự quản lý của nhà nước để giúp hệ thống này vận hành một cách an toàn và hiệu quả. Do đó, Nhà nước có vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành tài chính – ngân hàng, đồng thời ngăn chặn hữu hiệu những cơn sốt trong ngành để không dẫn đến đổ vỡ và khủng hoảng.
Trước hết, Nhà nước có vai trò không thể thiếu trong việc chế tài và giám sát để đảm bảo ngành ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn. Sự can thiệp của Nhà nước sẽ giúp làm giảm các khiếm khuyết của thị trường như hành vi chống cạnh tranh, gian lận, thông tin không chính xác. Những khiếm khuyết trên cần phải được khắc phục bằng các quy chế về thị trường, bằng các quy chế về giám sát phòng ngừa buộc các ngân hàng phải minh bạch thông tin về tình hình hoạt động để khách hàng có cơ sở cho quyết định đầu tư.
Như vậy, quản lý nhà nước đối với các ngân hàng trong nền kinh tế mở giống như vai trò “bà đỡ” thúc đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế; tạo môi trường pháp lý phù hợp; xác định mục tiêu về ổn định tiền tệ và điều chỉnh mối quan hệ giữa ngân hàng với các cá nhân, tổ chức và giữa nhà nước với các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế. Cũng có thể xây dựng hệ thống ngân hàng nòng cốt bằng nguồn ngân sách để dẫn dắt các ngân hàng thuộc khu vực tư nhân.
1.2.2. Vai trò quản lý nhà nước về rủi ro hoạt động của NHTM
Nhà nước có vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành tài chính – ngân hàng, đồng thời ngăn chặn hữu hiệu những cơn sốt trong ngành để không dẫn đến đổ vỡ và khủng hoảng.
Trước hết, Nhà nước có vai trò không thể thiếu trong việc chế tài và giám sát để đảm bảo ngành ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn. Sự can thiệp của Nhà nước sẽ giúp làm giảm các khiếm khuyết của thị trường như hành vi chống cạnh tranh, gian lận, thông tin không chính xác.
Những khiếm khuyết trên cần phải được khắc phục bằng các quy chế về thị trường, bằng các quy chế về giám sát phòng ngừa buộc các ngân hàng phải minh bạch thông tin về tình hình hoạt động để khách hàng có cơ sở cho quyết định đầu tư.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần sớm phân loại chất lượng của các ngân hàng, mở cửa hơn nữa cho sự tham gia của ngân hàng nước ngoài, đặc biệt khi trong hệ thống đang có một số lượng không nhỏ ngân hàng yếu kém, phải tái cơ cấu.
Sự tham gia của ngân hàng ngoại sẽ mang đến vốn mới, công nghệ và sản phẩm mới, khuyến khích sự cạnh tranh của ngân hàng nội. NHNN cần có chế tài mạnh mẽ buộc các ngân hàng thực hiện đúng lộ trình và đảm bảo tuân thủ chỉ tiêu về an toàn vốn tối thiểu nhằm giảm thiểu bất ổn hệ thống. Cần lưu ý rằng, thế giới hiện nay đã tiến đến tiêu chuẩn an toàn vốn Basel III trong khi ngành ngân hàng Việt Nam vẫn loay hoay với lộ trình đáp ứng tiêu chuẩn của Basel II đến tận năm 2020 mà cũng chưa chắc đã đạt được mục tiêu.
Vai trò quan trọng nữa của Nhà nước đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng là sự can thiệp và xử lý các ngân hàng có vấn đề. Kinh nghiệm rút ra từ các cuộc khủng hoảng tài chính cho thấy, một trong những nguyên nhân là không cho phá sản một số ngân hàng bởi cho rằng những ngân hàng đó quá lớn.
1.3. Quản lý rủi ro hoạt động của ngân hàng thương mại
1.3.1. Khái niệm quản lý rủi ro hoạt động
– Theo ủy ban Basel II: Quản lý rủi ro hoạt động là quá trình tổ chức tín dụng tiến hành các hoạt động tác động đến rủi ro hoạt động, bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức, xây dựng hệ thống các chính sách, phương pháp quản lý rủi ro hoạt động để thực hiện quá trình quản lý rủi ro đó là xác định, đo lường, đánh giá, quản lý, giám sát và kiểm tra kiểm soát rủi ro hoạt động nhằm bảo đảm hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro xảy ra.
– Theo BIDV: Quản lý rủi ro hoạt động là quá trình xác định phạm vi, thiết lập bộ máy, cơ cấu tổ chức, các chính sách, trách nhiệm quản lý, sử dụng các nguồn lực, công cụ quản lý để nhận diện, đánh giá, đo lường, đưa ra các giải pháp nhằm phòng ngừa/giảm thiểu và giám sát/báo cáo các rủi ro hoạt động đã được xác định.
1.3.2. Sự cần thiết phải thực hiện quản lý rủi ro hoạt động
Trong xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay, hoạt động kinh doanh Ngân hàng càng có nhiều biến động và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Hội nhập quốc tế có nghĩa là chấp nhận đối đầu với rủi ro và để tồn tại thì các Ngân hàng phải quản lý được rủi ro. Ngoài rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường, các Ngân hàng cần đặc biệt quan tâm đến một loại rủi ro tiềm ẩn và khó lường nhất đó là rủi ro hoạt động. Để nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như uy tín, thương hiệu, các NHTM tại Việt Nam cần phải chú trọng đến quản lý RRHĐ. Môi trường cạnh tranh càng gay gắt thì mức độ RRHĐ đang có xu thế ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, khó lường. Khi RRHĐ xảy ra thì hậu quả và uy tín mà Ngân hàng phải gánh chịu là rất lớn.
Quản lý RRHĐ tại các tổ chức tín dụng cần được thiết lập với mục tiêu: Hạn chế, giảm thiểu các chi phí, tổn thất có thể xảy ra từ các hoạt động tác nghiệp, tối đa hóa lợi nhuận với mức độ chấp nhận rủi ro xác định; Giảm chi phí vốn dành cho rủi ro hoạt động, tăng thêm nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh; Bảo vệ uy tín của tổ chức tín dụng, đạt mục tiêu hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả; Phân bổ vốn hiệu quả nhằm khai thác những lợi ích/rủi ro khác nhau trong quá trình kinh doanh; Định giá sản phẩm mới tốt hơn.
1.3.3. Quy trình quản lý rủi ro hoạt động
Quy trình quản lý RRHĐ gồm 4 bước: nhận diện rủi ro – đo lường rủi ro – giám sát rủi ro – kiểm soát rủi ro.
* Bước 1: Nhận diện RRHĐ
Nhận diện RRHĐ bao gồm: Các bộ phận trong ngân hàng phải thực hiện nhận diện RRHĐ trong chiến lược, mục tiêu và hoạt động của đơn vị mình; Thu thập dữ liệu RRHĐ; Ghi nhận của kiểm tra, kiểm soát nội bộ; Dữ liệu tổn thất bên ngoài có liên quan đến RRHĐ cần được rà soát để rút ra bài học kinh nghiệm và đảm bảo nhận diện quản lý rủi ro tương tự; Quy trình rà soát sản phẩm mới; Nhận diện RRHĐ và tương tác với các rủi ro khác trong tất cả các sản phẩm, hoạt động kinh doanh, quy trình nghiệp vụ, hệ thống công nghệ thông tin và hệ thống quản lý khác, nguy cơ gây ra RRHĐ và xác định nguyên nhân gây ra RRHĐ.
* Bước 2: Đo lường RRHĐ
Đo lường RRHĐ là xác định mức độ rủi ro của các loại rủi ro, sử dụng công cụ đo lường để lượng hóa tổn thất RRHĐ đối với các nhóm sự kiện, từ đó xác định mục tiêu, chiến lược để quản lý RRHĐ và phân bố nguồn lực một cách hiệu quả. Có hai phương pháp đo lường thường được sử dụng đó là phương pháp định tính và phương pháp định lượng.
– Phương pháp định tính: Là phương pháp phân tích đánh giá, nhận xét về mức độ, tính nghiêm trọng của các dấu hiệu rủi ro đã được xác định và giải thích khả năng ảnh hưởng đến nhiệm vụ công việc được giao, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Phương pháp định tính được sử dụng để đo lường các rủi ro liên quan đến cán bộ, rủi ro liên quan đến văn bản, quy định và cơ chế chính sách lao động, hạn chế bất của quy trình giao dịch, kiểm soát giao dịch và quản lý giao dịch.
– Phương pháp định lượng: Là phương pháp đánh giá bằng số liệu cụ thể về mức độ rủi ro, tổn thất cụ thể của từng loại dấu hiệu rủi ro đã được xác định. Các ngân hàng có thể dựa vào các chỉ số rủi ro chính (KRIs), xếp hạng mức độ rủi ro, ma trận RRHĐ để đo lường. Phương pháp này chủ yếu được sử dụng để đo lường RRHĐ liên quan đến các lĩnh vực như sự cố hệ thống thông tin, các gian lận nội bộ hoặc bên ngoài và thiệt hại về mặt vật chất.
* Bước 3: Giám sát RRHĐ
Giám sát RRHĐ là việc giám sát liên tục quá trình xử lý và quản trị rủi ro đảm bảo tổn thất ở mức thấp nhất. Việc giám sát rủi ro nhằm cải tiến khả năng phát hiện sớm các rủi ro chưa được phát hiện, chưa được kiểm soát hoặc bị đang bị coi nhẹ; đánh giá tốt hơn khả năng chấp nhận rủi ro đã được phát hiện; xây dựng các biện pháp kiểm soát, thay thế có hiệu quả hơn đối với các rủi ro không thể chấp nhận được; triển khai sớm hơn và tốt hơn các hành động nhằm giảm nhẹ rủi ro và các biện pháp để tránh tổn thất.
Bảng Giám sát RRHĐ theo KPMG International (tại Phụ lục 1 kèm theo).
* Bước 4: Kiểm soát RRHĐ
Trên cơ sở kết quả của quá trình nhận diện, đo lường và giám sát, NHTM tiến hành xây dựng phương án kiểm soát RRHĐ.
Để phối hợp giữa việc thực hiện những mục tiêu của ngân hàng và việc kiểm tra mức độ rủi ro của ngân hàng cần phải xây dựng một hội đồng kiểm tra và quy chế về chính sách kiểm tra rủi ro. Việc thực hiện giám sát các chương trình kiểm tra rủi ro cho thấy: để nâng cao tính hiệu quả của các chương trình kiểm tra rủi ro đòi hỏi việc xây dựng những tiêu chuẩn đối với các chương trình này, trong đó bao gồm việc lựa chọn và phân tích thông tin. Hệ thống chỉ số điều tiết những hậu quả tiêu cực của các loại rủi ro ngân hàng riêng biệt bao gồm: Mức độ điều tiết thiệt hại cho ngân hàng; Tính hiệu quả của việc điều tiết (tương quan giữa chi phí bỏ ra và giá trị thiệt hại có khả năng xảy ra); Đánh giá tổng hợp các loại rủi ro và đưa ra các biện pháp điều tiết chúng; Thực hiện việc mua bảo hiểm; Thực hiện các biện pháp khác để kiểm soát RRHĐ, như: Ban hành, sửa đổi, bổ sung chính sách, quy định, quy trình nghiệp vụ cho phù hợp; Sửa chữa, khắc phục những sai sót; Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ quy trình, quy định; Các hành động phòng tránh rủi ro hoặc dừng những hoạt động có thể gây ra rủi ro; Đề ra kế hoạch đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ.
1.3.4. Tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý RRHĐ
1.3.4.1. Tần suất xảy ra RRHĐ
Tần suất xảy ra rủi ro là khả năng hay số lần xuất hiện rủi ro. Tần suất xảy ra RRHĐ sẽ phản ánh mức độ rủi ro tiềm ẩn của Ngân hàng. Tần suất xảy ra cao chứng tỏ Ngân hàng chưa kiểm soát, giảm thiểu được các rủi ro đã được nhận diện và từng xảy ra trước dó. Do đó, đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá kết quả quản lý RRHĐ của Ngân hàng. Ngoài ra, một nghiệp vụ, một tiêu chí cụ thể mà để xảy ra RRHĐ liên tục thì chứng tỏ công tác quản lý RRHĐ của ngân hàng đó chưa được quan tâm đúng mức.
1.3.4.2. Mức độ rủi ro hoạt động
Mức độ rủi ro hoạt động là mức độ ảnh hưởng của RRHĐ theo từng loại nghiệp vụ đến hoạt động của NHTM. Nếu NHTM xuất hiện nhiều loại rủi ro có nguy cơ gây tổn thất lớn cho Ngân hàng thì cũng đồng nghĩa với việc công tác quản lý rủi ro của Ngân hàng đó chưa tốt. Mức độ RRHĐ đối với nghiệp vụ nào càng cao và gây ra tổn thất lớn, ảnh hưởng đến uy tín ngân hàng thì cần phải quan tâm kiểm soát, ngăn chặn.
1.3.4.3. Giá trị tổn thất
Dựa vào mức độ tổn thất từ những RRHĐ xảy ra có thể đánh giá hiệu quả hoạt động QLRRHĐ của Ngân hàng.
Giá trị tổn thất được tính như sau:
Giá trị tổn thất thực tế = Giá trị tổn thất danh nghĩa+ chi phí gia tăng – các giá trị giảm trừ.
Các giá trị giảm trừ = bảo hiểm+ cán bộ tự bù đắp+ khách hàng hoàn trả+giảm trừ khác.
1.3.4.4. Trích lập dự phòng rủi ro
Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với tổ chức tín dụng. Theo Ủy ban Basel, có ba phương pháp để tính toán yêu cầu về vốn cho RRHĐ, theo thứ tự gia tăng dần về mức độ phức tạp và sự nhảy cảm với rủi ro: (i) Phương pháp chỉ số cơ bản (BIA – The Basic Indicator Approach); (ii) Phương pháp chuẩn hóa (TSA – The Standardized Approach); và (iii) Phương pháp đo lường tiên tiến (AMA – Advanced Measurement Approaches).
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý RRHĐ
1.3.5.1. Nhân tố chủ quan
– Cơ cấu tổ chức bộ máy: Bộ máy tổ chức cần được xây dựng phù hợp với chiến lược, định hướng phát triển và quy mô hoạt động của Ngân hàng trong từng thời kỳ đồng thời phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận có liên quan trong quá trình tác nghiệp sẽ giúp Ngân hàng dễ quản lý được RRHĐ. Nếu tổ chức bộ máy khoa học, chặt chẽ và thực hiện đúng chức năng thì sẽ giúp cho việc quản lý RRHĐ được tốt hơn và dễ dàng hơn.
– Quy định, quy trình nội bộ: Ngân hàng phải thiết lập một chính sách hay khung quản lý RRHĐ bằng văn bản. Do đó việc kịp thời hướng dẫn các văn bản chế độ có liên quan để áp dụng thống nhất trong toàn Ngân hàng, đảm bảo cán bộ có liên quan phải nắm vững, hiểu và thực hiện đúng theo các quy định, quy trình nghiệp vụ. Bên cạnh đó cần thường xuyên cải tiến, chỉnh sửa, bổ sung các văn bản để đáp ứng yêu cầu cung cấp sản phẩm dịch vụ tốt nhất cho khách hàng trên cơ sở an toàn, hiệu quả, có tính cạnh tranh và phòng tránh được rủi ro.
– Về nhân sự: Chất lượng nhân sự càng cao thì việc giải quyết kịp thời, có hiệu quả với các tình huống khác nhau của hoạt động kinh doanh càng đạt kết quả tốt. Việc tuyển chọn nhân sự giỏi về chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp cho ngân hàng có thể ngăn ngừa và giảm thiểu được những rủi ro do vi phạm, sai phạm trong tất cả các khâu của quá trình kinh doanh. Đặc biệt, nhân sự của ngân hàng có đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp cho việc quản lý RRHĐ được thuận lợi và đạt hiệu quả cao.
– Về hệ thống công nghệ thông tin: Sự gia tăng của các dịch vụ ngân hàng điện tử kéo theo đó là một loạt các tội phạm mới xuất hiện trong lĩnh vực ngân hàng. Ngân hàng hiện nay đang tích cực áp dụng các công nghệ tiên tiến vào hoạt động kinh doanh để thỏa mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng. Song hiện đại hóa càng cao thì hoạt động ngân hàng ngày càng phụ thuộc nhiều vào công nghệ thông tin, và như vậy rủi ro đối với công nghệ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngân hàng.
– Môi trường kinh tế: Môi trường kinh doanh lành mạnh thì công tác quản lý RRHĐ thuận tiện và dễ dàng hơn; ngược lại môi trường kinh doanh có nhiều biến động, bất ổn, bất lợi thì công tác quản lý RRHĐ cần phải được kiểm soát chặt chẽ và phải đầu tư nhiều nguồn lực, tài chính, thời gian cho công tác quản lý RRHĐ.
– Môi trường chính trị-xã hội: Môi trường chính trị ổn định, không có nhiều biến động sẽ giúp việc thúc đẩy các ngân hàng phát triển ổn định, bền vững, ít gặp rủi ro. Nền chính trị ổn định sẽ làm giảm các nguy cơ về khủng bố, hạn chế bớt tội phạm chính trị xâm nhập vào cơ sở dữ liệu ngân hàng từ đó giúp cho hoạt động kinh doanh ngân hàng ít rủi ro hơn. Trình độ dân trí cao thì việc hiểu biết về dịch vụ của ngân hàng cao và sử dụng thành tạo nó, hạn chế các RRHĐ.
– Môi trường pháp lý: Một hệ thống pháp lý chặt chẽ, đồng bộ sẽ giúp ngăn chặn các hành vi gian lận gây ra các tổn thất cho Ngân hàng cũng như là cơ sở pháp lý để Ngân hàng có thể truy cứu trách nhiệm bồi thường vật chất, các quy định về xử phạt hành chính. Nếu hệ thống các văn bản, quy định pháp luật phù hợp, đồng bộ, cụ thể, rõ ràng thì sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng phát huy được hiệu quả, giảm thiểu các tổn thất và các rủi ro có thể gặp phải.
Tiểu kết Chương 1
Quản lý RRHĐ được rất nhiều ngân hàng lớn trên thế giới quan tâm, nhưng đối với các ngân hàng Việt Nam là một khái niệm còn khá mới mẻ và chỉ được chú trọng trong vài năm trở lại đây. Trong chương 1, tác giả đã trình bày khái quát cơ sở lý luận về RRHĐ và quản lý RRHĐ tại NHTM. Ngoài ra, tác giả còn trình bày quản lý nhà nước về RRHĐ của NHTM và quy trình quản lý RRHĐ của các NHTM. Những nội dung được nghiên cứu ở chương 1 là cơ sở cho phần trình bày các chương tiếp theo để tìm hiểu về thực trạng và các khuyến nghị nâng cao hiệu quả quản lý RRHĐ tại BIDV Quảng Nam.
THỰC TRẠNG RỦI RO HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO HOẠT ĐỘNG QUA CÁC NĂM 2015-2017
2.1. Tổng quan về ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của BIDV Quảng Nam
2.1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của BIDV
BIDV được thành lập ngày 26/04/1957 theo Nghị định số 177/TTg của Thủ tướng Chính phủ, là một trong những ngân hàng có lịch sử phát triển lâu đời nhất tại Việt Nam. Trải qua hơn 60 năm phát triển, BIDV đã mang ba tên gọi và nhiệm vụ khác nhau để phù hợp yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước: Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (từ ngày 26-4-1957); Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam (từ ngày 24-6-1981); Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (từ ngày 14-11-1990). Từ 27/04/2012, BIDV chính thức chuyển đổi thành ngân hàng thương mại cổ phần. Tháng 01-2014, cổ phiếu BIDV niêm yết thành công trên sàn chứng khoán đánh dấu mốc chính thức thành ngân hàng đại chúng.
2.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của BIDV Quảng Nam
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam (gọi tắt là BIDV Quảng Nam) là một chi nhánh thuộc hệ thống Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 264/QĐ-TCCB ngày 20/12/1996 trên cơ sở từ chi nhánh cấp II trực thuộc BIDV tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ.
Ngày 01/05/2012, sau khi BIDV thực hiện thành công việc cổ phân hóa thì chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Quảng Nam. Từ khi cổ phần hóa thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo hướng tự chủ, ít phụ thuộc vào thành phần kinh tế nhà nước, đẩy mạnh phát triển bán lẻ, dịch vụ đa dạng.
Từ quy mô chỉ là một chi nhánh hạng ba khi mới chuyển đổi mô hình thì đến nay đã là chi nhánh hạng một với 03 phòng giao dịch trãi đều trên địa bàn tỉnh, đó là PGD Hương An phía bắc, PGD Chu Lai nằm ở phía nam và PGD Phan Chu Trinh nằm ở vị trí trung tâm tỉnh.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 9\QUAN LY KINH TE\DO VAN QUANG


