Công tác quản lý chi ngân sách cho Chương trình mục tiêu quốc gia

Công tác quản lý chi ngân sách cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Công tác quản lý chi ngân sách cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính chủ yếu của Nhà nước, là điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước do Hiến pháp quy định. Đồng thời NSNN là công cụ quan trọng của Nhà nước để điều chỉnh vĩ mô đối với toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia. Trong quá trình từng bước dịch chuyển nền kinh tế Việt Nam sang nền Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, hội nhập với kinh tế bên ngoài thì đòi hỏi Nhà nước ta phải sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ, chính sách tài chính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thu, chi NSNN để điều tiết nền kinh tế có hiệu quả.

Là đất nước đi lên từ nông nghiệp, đời sống nhân dân rất nhiều khó khăn, trong điều hành quản lý ngân sách quốc gia Nhà nước ta đã ban hành nhiều Chương trình mục tiêu quốc gia nhằm đảm bảo, hỗ trợ đời sống nhân dân, hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng nông thôn để từng bước ổn định và đổi mới đất nước.

Nhà nước ta xác định nông nghiệp, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Với đa số người dân Việt Nam vẫn sinh sống bằng nghề nông nghiệp, thì chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn là cơ sở để người dân yên tâm sinh sống, phát triển kinh tế xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng. Bên cạnh đó, từ khi chính thức gia nhập WTO năm 2007, Việt Nam tham gia vào các diễn đàn hợp tác kinh tế lớn của khu vực và thế giới, sức ép của hội nhập và phát triển đã đặt ra yêu cầu với nền kinh tế nước ta ngày một lớn, trong đó lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực phải đối mặt với nhiều thách thức nhất. Để giải quyết vấn đề này, tại Hội nghị lần thứ 7 khóa X Ban chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 đã xác định rõ mục tiêu: “Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân;” Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 như một chương trình khung toàn diện nhất để cộng đồng chung sức xây dựng nông thôn mới.

Những năm gần đây, kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Nam đã có tiến bộ vượt bậc. Từ năm 2017 trở đi, Quảng Nam từ tỉnh trực thuộc Trung ương nhận trợ cấp cân đối đã chuyển sang tự đảm bảo cân đối ngân sách và điều tiết một phần về ngân sách Trung ương. Tuy nhiên, để đảm bảo cân đối ngân sách đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh nhà thì bên cạnh việc tiếp tục nuôi dưỡng, phát huy các nguồn thu tốt của tỉnh và có biện pháp xây dựng nguồn thu mới, tỉnh Quảng Nam còn phải quản lý công tác chi ngân sách hiệu quả, tiết kiệm trong tình hình chi NSNN hiện nay tăng cao từ áp lực thực hiện chế độ chính sách của Trung ương, địa phương ban hành về an sinh xã hội trên địa bàn, xây dựng cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng tại địa phương, đối ứng ngân sách cho các Chương trình mục tiêu quốc gia của Chính phủ….là một thách thức không nhỏ đối với tỉnh Quảng Nam.

Thực hiện chủ trương của Chính phủ trong việc phấn đấu hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đến năm 2020, là cán bộ đang công tác trong ngành tài chính tại tỉnh Quảng Nam, bản thân nhận thấy vấn đề quản lý chi ngân sách cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là vấn đề cấp thiết đã và đang được Lãnh đạo địa phương quan tâm, tích cực triển khai rộng khắp. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Công tác quản lý chi ngân sách cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của tỉnh Quảng Nam”.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Tìm kiếm quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Hệ thống hóa các cơ sở lý luận liên quan đến đề tài: ngân sách nhà nước, phân cấp quản lý ngân sách, công tác quản lý chi ngân sách, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, công tác chi cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

– Phân tích thực trạng công tác quản lý chi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

– Đề xuất các giải pháp khắc phục, tăng cường công tác quản lý chi chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề cơ bản về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đặc điểm, yêu cầu của công tác quản lý chi ngân sách cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2011 đến năm 2017.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Công tác quản lý chi ngân sách cho chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới.

Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

Về thời gian: Thực trạng nghiên cứu từ năm 2011-2017. Quan điểm, định hướng và giải pháp có ý nghĩa đến hết chương trình.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận

Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu quản lý kinh tế tập trung vào phân tích trên cơ sở số liệu thu thập. Phương pháp nghiên cứu này sẽ làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác quản lý chi ngân sách cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp phỏng vấn: được sử dụng để phỏng vấn, lấy ý kiến lãnh đạo Sở, ngành, địa phương, chuyên viên theo dõi, tham mưu trực tiếp trong lĩnh vực quản lý nguồn vốn Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Ban điều phối chương trình các cấp và một số cán bộ cấp xã để làm rõ thêm thực trạng, các vấn đề vướng mắc trong thực hiện Chương trình và đề xuất các giải pháp cần thiết. Do thời gian có phần hạn chế, người thực hiện số lượng phỏng vấn là 60 người. Bảng điều tra được thiết kế tổng cộng 9 câu hỏi, trong đó có 7 câu hỏi đóng và 2 câu hỏi mở, tập trung hỏi về hiệu quả triển khai thực hiện Chương trình và sự hài lòng về kết quả đạt được của Chương trình qua các năm. Thang câu hỏi đóng được thiết kế từ 4 đến 5 mức, tùy theo nội dung cần thu thập dữ liệu để phân tích, đánh giá.

Công tác khảo sát được thực hiện thông qua việc tác giả trao đổi, phỏng vấn trực tiếp với người được khảo sát để giải thích cụ thể về bảng câu hỏi và cam kết với người được khảo sát là kết quả điều tra chỉ được dùng để phục vụ nghiên cứu khoa học, không ảnh hưởng đến công việc đang thực hiện, không công bố công khai danh tính, nội dung điều tra của từng người. Đối tượng được phỏng vấn đều là những người có liên quan đến việc quản lý các nguồn vốn thực hiện Chương trình nên mẫu được lựa chọn là phù hợp, kết quả trả lời sát với thực tiễn thực hiện Chương trình của tỉnh, có tính tin cậy cao. Nội dung kết quả phỏng vấn sẽ được phân tích, đánh giá trong Chương 2 của Luận văn nghiên cứu.

– Phương pháp định tính: thông qua thống kê, thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp, phỏng vấn, tác giả tiến hành rà soát, thống kê theo các tiêu chí đánh giá. Phương pháp thống kê được sử dụng xuyên suốt trong Chương 2 để hệ thống hóa các dữ liệu, giúp cho phân tích, làm rõ thực trạng công tác chi các nguồn vốn cho Chương trình được hiệu quả, chính xác hơn.

– Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý dữ liệu: sau khi thu thập được các số liệu cần thiết thì sẽ sử dụng phương pháp so sánh để phân tích các nội dung liên quan đến công tác chi các nguồn vốn cho Chương trình trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, đồng thời sử dụng phần mềm Excel để nhập dữ liệu và phân tích, đánh giá. Trong phân tích có sử dụng hệ thống bảng biểu để so sánh, minh họa rút ra những kết luận cần thiết trong việc phân tích, đánh giá.

– Phương pháp quy nạp và diễn dịch: trên cơ sở phân tích những nội dung cơ bản của các thông tin đã thu thập được, luận văn sử dụng phương pháp quy nạp, diễn dịch để đưa ra những đánh giá về thực trạng thực hiện Chương trình nông thôn mới các năm qua của tỉnh Quảng Nam và đề xuất giải pháp liên quan.

– Số liệu sử dụng trong luận văn chủ yếu là các số liệu thứ cấp, trích dẫn từ các nguồn tài liệu công bố chính thức như số liệu thống kê, báo cáo của UBND tỉnh, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Kho bạc Nhà nước tỉnh và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, ngoài ra có sử dụng dữ liệu phân tích từ nguồn thu thập qua phỏng vấn của tác giả.

Các số liệu về thực hiện các chỉ tiêu kinh tế – xã hội, số liệu thu – chi NSNN cho chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trong phạm vi từ năm 2011 đến năm 2017 là các số liệu thống kê, dự toán và quyết toán ngân sách đã được cấp thẩm quyền phê chuẩn và công bố.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1. Ý nghĩa lý luận

– Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chi NSNN cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới.

– Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng, các nguồn lực chi cho Chương trình theo bộ tiêu chí hoàn thành Chương trình.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

– Phân tích, đánh giá thực trạng chi ngân sách cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới của tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua.

– Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các nguồn lực cho Chương trình để đạt lộ trình xây dựng Nông thôn mới của tỉnh Quảng Nam đề ra.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 03 Chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về công tác quản lý chi ngân sách cho Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới.

Chương 2: Thực trạng quản lý chi ngân sách cho chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn từ 2011-2017.

Chương 3: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chi ngân sách chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

CHI NGÂN SÁCH CHO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1. Tổng quan về ngân sách Nhà nước

1.1.1. Khái niệm

Tại Điều 4, Luật số: 83/2015/QH13 Ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25 tháng 06 năm 2015, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. [11]

1.1.2. Bản chất của ngân sách Nhà nước

NSNN là hệ thống (tổng thể) các quan hệ kinh tế, gắn liền với quá trình phân phối các nguồn lực tài chính của xã hội để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ kinh tế – xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định, thường là một năm. [11]

Quản lý NSNN chính là quá trình tác động vào các mối quan hệ trên để đạt được mục tiêu nhất định. Nhà nước quản lý, điều hành NSNN đúng thì sẽ kích thích kinh tế phát triển, tạo ra công bằng xã hội. Ngược lại, Nhà nước quản lý, điều hành NSNN không đúng sẽ kìm hãm sản xuất, tạo ra bất công xã hội, khoét sâu mâu thuẩn xã hội, kìm hãm sự phát triển. Như vậy quản lý NSNN tốt không đơn thuần là tạo ra qui mô lớn, mà quan trọng nhất là phục vụ thiết thực, có hiệu quả các nhu cầu của nhân dân.

1.1.3. Chức năng của ngân sách Nhà nước

NSNN là công cụ thực hiện việc huy động và phân bổ nguồn lực tài chính trong xã hội; đằng sau hoạt động thu chi ngân sách bằng tiền là sự thể hiện quá trình phân bổ các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh.

1.1.4. Vai trò của ngân sách Nhà nước

Thứ nhất, NSNN có vai trò khai thác, huy động các nguồn tài chính đảm bảo nhu cầu chi của Nhà nước theo mục tiêu của từng giai đoạn;

Thứ hai, NSNN có vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô theo mục tiêu của từng giai đoạn cho tăng trưởng kinh tế và bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, gồm:

– Phân bổ các nguồn tài chính quốc gia;

– Kích thích sự tăng trưởng của nền kinh tế;

– Điều tiết thị trường, giá cả và chống lạm phát;

– Bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái.

1.1.5. Hệ thống ngân sách Nhà nước

Hệ thống ngân sách ở nước ta bao gồm 4 cấp: Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương; Ngân sách địa phương bao gồm: ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã.

Hệ thống ngân sách ở nước ta có thể được khái quát hóa bằng sơ đồ sau:

NGÂN SÁCH

ĐỊA PHƯƠNG

NGÂN SÁCH

TRUNG ƯƠNG

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

NGÂN SÁCH CẤP TỈNH

VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG

NGÂN SÁCH

CẤP XÃ

NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN

Ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm:

+ Ngân sách Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh)

+ Ngân sách Quận, Huyện, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện)

+ Ngân sách Xã, Phường, Thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã)

Theo tinh thần của Luật NSNN 2015 mới, NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân.

1.2. Quản lý chi ngân sách nhà nước

1.2.1. Khái niệm

Quản lý chi NSNN là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật. Chi NSNN mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý. Rõ ràng, quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách.

Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước. Thực chất quản lý chi NSNN là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng NSNN đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KTXH.

Vấn đề quan trọng trong quản lý chi NSNN là việc tổ chức quản lý giám sát các khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao, muốn vậy cần phải quan tâm các mặt sau:

– Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát.

– Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các khoản chi tiêu ngân sách nhà nước.

– Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát trước, trong và sau khi chi.

– Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phương và các tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển KT-XH của các cấp theo luật ngân sách để bố trí các khoản chi cho thích hợp.

  • Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách thuộc vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi.

1.2.2. Vai trò quản lý chi ngân sách nhà nước

Quản lý chi NSNN có vai trò rất to lớn, thể hiện:

Thứ nhất, thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, đảm bảo tiết kiệm,có hiệu quả. Thông qua quản lý các khoản cấp phát của chi NSNN sẽ có tác động khác nhau đến đời sống KT-XH, giữ vững ổn định, đặc biệt là giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội như: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm,các hoạt động mang tính cộng đồng. Quản lý chi tiêu của NSNN có hiệu quả sẽ tác động vào kích cầu khi nền kinh tế bị giảm sút hoặc cắt giảm chi tiêu chính phủ để bình ổn giá cả thúc đẩy sản xuất phát triển, hình thành quỹ dự phòng trong NSNN để ứng phó với những biến động của thị trường.

Thứ hai, thông qua quản lý các dự án đầu tư phát triển nhằm phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả. Quản lý chi ngân sách góp phần điều tiết thu nhập dân cư thực hiện công bằng xã hội. Trong tình hình phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng chính sách chi NSNN và quản lý chi NSNN sẽ giảm bớt khoảng cách phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, các khu vực, các tầng lớp dân cư, góp phần khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường. Vai trò của quản lý chi ngân sách trong việc phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tầm vĩ mô được thể hiện rất rõ. Đồng thời vai trò của nó còn thể hiện ở chổ thông qua đầu tư và quản lý vốn đầu tư sẽ tạo ra điều kiện rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị,giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa. Có thể nói quản lý chi ngân sách có hiệu quả là yếu tố góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.

Thứ ba, quản lý chi NSNN có vai trò điều tiết giá cả, chống suy thoái và chống lạm phát. Khi nền kinh tế lạm phát và suy thoái nhà nước phải sử dụng công cụ chi ngân sách để khắc phục tình trạng này.Sự mất cân đối giữa cung cầu sẽ tác động đến giá cả giá cả tăng hoăc giảm. Để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng, nhà nước sử dụng công cụ chi ngân sách để điều tiết, can thiệp vào thị trường dưới hình thức cắt giảm chi tiêu, cắt giảm đầu tư hoặc tăng đầu tư, tăng chi tiêu cho bộ máy QLNN, cũng như trợ vốn, trợ giá và sử dụng quỹ dự trữ của nhà nước. Trong quá trình điều tiết thị trường việc quản lý chi ngân sách có vai trò rất lớn đến việc chống lạm phát và suy thoái, kích cầu nền kinh tế. Khi nền kinh tế lạm phát nhà nước cắt giảm chi tiêu, thắt chặt chính sách tiền tệ để hạn chế tổng cung tổng cầu, hạn chế đầu tư của xã hội làm cho giá cả dần dần ổn định, chống lạm phát. Khi nền kinh suy thoái, sức mua giảm sút nhà nước tăng chi đầu tư để tăng cung, tăng cầu, tạo việc làm, kích cầu chống suy thoái nền kinh tế.

Thứ tư, để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế, Nhà nước sử dụng công cụ chi ngân sách. Thông qua quản lý các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, Nhà nước sẽ điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng cụ thể, tạo ra sự kích thích tăng trưởng nền kinh tế thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn, đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở để nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

1.2.3. Nội dung cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nước

Chi NSNN bao gồm chi cho đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả các khoản nợ do Nhà nước vay, chi bổ sung vào quỹ dự trữ tài chính của Nhà nước. Trong đó, đầu tư phát triển và chi thường xuyên là 02 nội dung chi quan trọng và chủ yếu của chi NSNN.

1.2.3.1. Quản lý chi đầu tư phát triển

a. Khái niệm

Chi đầu tư phát triển của NSNN là khoản chi mà giá trị của nó được bảo tồn và phát triển, trực tiếp làm tăng sản phẩm trong nước (GDP), bao gồm: chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định, đầu tư vốn sản xuất kinh doanh vào các doanh nghiệp và chi dự trữ hàng hoá vật tư thiết yếu.

b. Nội dung

Quản lý cấp phát, thanh toán vốn đầu tư thuộc NSNN gồm các nội dung sau:

– Lập, thông báo kế hoạch vốn đầu tư XDCB hàng năm.

– Thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư XDCB hàng năm.

– Quyết toán vốn đầu tư XDCB: Tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN đều phải thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình ngay sau khi công trình hoàn thành bàn giao đưa vào khai thác, sử dụng. Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí thực hiện đúng với thiết kế, dự toán được duyệt, đảm bảo đúng định mức, đơn giá, chế độ tài chính kế toán, hợp đồng kinh tế kỹ thuật được ký kết và các quy định của nhà nước có liên quan. Báo cáo quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác tổng chi phí đầu tư đã thực hiện; phân định rõ nguồn vốn đầu tư; chi phí đầu tư được phép không tính vào giá trị tài sản hình thành qua đầu tư dự án; giá trị tài sản hình thành qua đầu tư dự án, tài sản cố định, tài sản lưu động; Đồng thời phải bảo đảm đúng nội dung, thời gian lập, thẩm tra và phê duyệt theo quy định.

1.2.3.2. Nội dung quản lý chi thường xuyên

a. Khái niệm

Chi thường xuyên là một bộ phận của chi NSNN, là các khoản chi để duy trì hoạt động thường xuyên của các cơ quan Nhà nước và thực hiện các chính sách của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và đối ngoại. Chi thường xuyên bao gồm: chi cho các sự nghiệp kinh tế, giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá, xã hội, quản lý hành chính, an ninh, quốc phòng …. Chi thường xuyên của NSNN không trực tiếp tạo ra sản phẩm vật chất, song đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn của NSNN và có vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay.

b. Nội dung

Quản lý chi thường xuyên bao gồm các nội dung sau:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống định mức chi ngân sách. Đây là công cụ rất quan trọng để cơ quan tài chính các cấp có căn cứ để lập phương án phân bổ ngân sách, kiểm tra quá trình chấp hành ngân sách và thẩm tra xét duyệt quyết toán của các đơn vị sử dụng ngân sách. Bên cạnh đó định mức chi cũng là cơ sở pháp lý để các đơn vị sử dụng ngân sách triển khai thực hiện dự toán ngân sách được giao theo đúng chế độ quy định.

Thứ hai, lập dự toán chi thường xuyên.

Khi lập dự toán chi thường xuyên phải dựa trên các căn cứ sau:

– Các chỉ tiêu phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng …liên quan đến chi thường xuyên.

– Chính sách của Nhà nước về hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, các hoạt động sự nghiệp, an ninh quốc phòng và các hoạt động khác trong từng giai đoạn nhất định.

– Các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định; định mức phân bổ dự toán ngân sách do Thủ tướng chính phủ, HĐND Tỉnh,Thành phố trực thuộc trung ương ban hành theo phân cấp.

– Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán NSNN; thông tư hướng dẫn lập dự toán ngân sách của Bộ Tài chính và văn bản hướng dẫn của cơ quan chủ quản các cấp.

– Số kiểm tra về dự toán ngân sách được cơ quan có thẩm quyền thông báo, tình hình thực hiện dự toán năm báo cáo và các năm liên kề.

Thứ ba, chấp hành dự toán chi thường xuyên. Đây là nội dung rất quan trọng trong chi ngân sách, là khâu thứ hai trong chu trình quản lý ngân sách. Mục tiêu chính của việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên là đảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng kinh phí được phân bổ một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Muốn vậy trong quá trình tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên cần chú trọng các yêu cầu sau: phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, có trọng tâm,trọng điểm trên cở sở dự toán chi đã xác định; đảm bảo cấp phát vốn kịp thời, đúng nguyên tắc; tuân thủ đúng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong sử dụng vốn NSNN.

Trong khâu này cần tăng cường công tác kiểm tra giám sát của cơ quan tài chính các cấp, công tác kiểm soát chi của kho bạc nhà nước và hơn hết là nâng cao ý thức chấp hành dự toán, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguồn kinh phí được cấp của các đơn vị sử dụng ngân sách.

Thứ tư, quyết toán chi thường xuyên. Đây là khâu kết thúc của chu trình quản lý các khoản chi thường xuyên của ngân sách. Quyết toán chi thường xuyên cũng được lập từ cơ sở và tổng hợp từ dưới lên theo hệ thống các cấp dự toán và các cấp ngân sách.

Qua công tác quyết toán chi thường xuyên ngân sách sẽ giúp các cơ quan quản lý phân tích đánh giá quá trình chấp hành ngân sách, chấp hành các định mức nhà nước đã quy định của các đơn vị thụ hưởng ngân sách cũng như của các cấp ngân sách, nâng cao trách nhiệm của các đơn vị trong quá trình sử dụng ngân sách; làm cơ sở cho việc xây dựng cũng như điều chỉnh các định mức phân bổ ngân sách, xây dựng dự toán ngân sách cho năm sau.

1.3. Quản lý chi ngân sách cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Căn cứ Điều 4 Luật Đầu tư công được Quốc hội thông qua số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014, thì Chương trình mục tiêu quốc gia là chương trình đầu tư công nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của từng giai đoạn cụ thể trong phạm vi cả nước. [10]

Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 thì Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế – xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng do Chính phủ Việt Nam xây dựng và triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc, căn cứ tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. [16]

Thời gian thực hiện: từ năm 2010 đến năm 2020.

Phạm vi: thực hiện trên địa bàn nông thôn của toàn quốc.

Mục tiêu chung: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới; Đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới).

1.3.1. Nội dung của chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới [18]

Gồm 11 nội dung:

a. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

b. Phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội

c. Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập

d. Giảm nghèo và an sinh xã hội

e. Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn

f. Phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn

g. Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn

h. Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn

i. Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

k. Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị – xã hội trên địa bàn.

l. Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn.

1.3.2. Tiêu chí của chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

Bao gồm 19 tiêu chí theo Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ (đã thay thế Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ). [16],[19]

a/ Xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới là xã đạt 5 (năm) nhóm tiêu chí bao gồm 19 tiêu chí theo Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

a1. Nhóm quy hoạch: gồm 01 tiêu chí (quy hoạch và thực hiện quy hoạch);

a2. Nhóm hạ tầng kinh tế – xã hội: bao gồm 08 tiêu chí (giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, thông tin và truyền thông và nhà ở dân cư);

a3. Nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất: bao gồm 04 tiêu chí (thu nhập, hộ nghèo, lao động có việc làm, tổ chức sản xuất);

a4. Nhóm văn hóa – xã hội – môi trường: bao gồm 04 tiêu chí (giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, môi trường và an toàn thực phẩm);

a5. Nhóm hệ thống chính trị: bao gồm 02 tiêu chí (hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật, quốc phòng và an ninh).

b/ Huyện đạt tiêu chuẩn nông thôn mới là huyện có 100% số xã trong huyện đạt tiêu chuẩn nông thôn mới (Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 5/4/2016).

* Thị xã/Thành phố trực thuộc tỉnh đạt tiêu chuẩn nông thôn mới là thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh có 100% số xã trên địa bàn đạt tiêu chuẩn nông thôn mới (Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 5 tháng 4 năm 2016).

c/ Tỉnh đạt tiêu chuẩn nông thôn mới là tỉnh có 80% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới (Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016).

1.4. Quy định định mức của tỉnh Quảng Nam về phân bổ vốn ngân sách cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Căn cứ Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 08 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020; HĐND tỉnh Quảng Nam đã ban hành Nghị quyết 96/2013/NQ-HĐND ngày 12/12/2013 quy định tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước các cấp cho nội dung trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; Đến nay, văn bản đã được thay thế bởi Nghị quyết 37/2016/NQ-HĐND ngày 08/12/2016 quy định tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách nhà nước các cấp cho các nội dung trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2016-2020.

Để thực hiện quản lý chi ngân sách cho Chương trình được triển khai trên toàn tỉnh được đồng bộ và theo đúng định hướng của Trung ương, Tỉnh ủy Quảng Nam, HĐND tỉnh và UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành các văn bản, cơ chế, chính sách liên quan để chỉ đạo, điều hành Chương trình nông thôn mới (Phụ lục 2).

1.4.1. Tỷ lệ hỗ trợ ngân sách cho Chương trình

Theo Nghị quyết của HĐND tỉnh số 96/2013/NQ-HĐND ngày 12/12/2013, Nghị quyết số 37/2016/NQ-HĐND ngày 08/12/2016 quy định: tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách nhà nước các cấp cho các nội dung trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Phụ lục 3); trong đó, các xã triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh được chia ra các khu vực sau:

a) Khu vực I: Gồm các xã thuộc các huyện, thị xã, thành phố: Tam Kỳ, Hội An, Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Thăng Bình, Quế Sơn, Phú Ninh, Núi Thành (trừ các xã miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và xã hải đảo thuộc các địa phương nêu trên).

b) Khu vực II: Gồm các xã thuộc các huyện miền núi thấp: Hiệp Đức, Tiên Phước, Nông Sơn và các xã miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển thuộc các huyện, thị xã, thành phố còn lại đã nêu ở khu vực I.

c) Khu vực III: Gồm các xã thuộc các huyện miền núi cao: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Nam Trà My, Bắc Trà My và các xã hải đảo.

1.4.2. Về quản lý sử dụng ngân sách Nhà nước cho Chương trình

Từ khi triển khai thực hiện Chương trình, các nguồn vốn NSNN được bố trí theo kế hoạch, lộ trình hoàn thành các tiêu chí theo tỷ lệ hỗ trợ đã quy định. Việc quản lý, sử dụng các nguồn vốn NSNN (vốn đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp) tuân theo quy định chung của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính, mà chưa có văn bản nào cụ thể hướng dẫn việc quản lý, sử dụng nguồn vốn NSNN cho Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới.

Sau khi tổng kết 5 năm triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới trên toàn quốc với rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc quản lý, sử dụng các nguồn vốn NSNN cho Chương trình, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 349/2016/TT-BTC ngày 30/12/2016 quy định về thanh toán, quyết toán nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia (bao gồm Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững) giai đoạn 2016-2020; Thông tư 43/2017/TT-BTC ngày 12/5/2017 về quy định quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.

Từ khi Bộ Tài chính quy định rõ việc quản lý, sử dụng các nguồn vốn NSNN thực hiện Chương trình đã tạo điều kiện cho các tỉnh, thành phố trên cả nước nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng có cơ sở tập trung huy động nguồn lực NSNN bố trí mạnh mẽ cho Chương trình đảm bảo các nguồn vốn được quản lý, sử dụng có hiệu quả theo kế hoạch, lộ trình đã đề ra.

1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi ngân sách Nhà nước cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

1.5.1. Trình độ dân trí và sự cố kết của cộng đồng địa phương

Từ khi đất nước được giải phóng đến nay, nước ta đã trải qua nhiều thời kỳ đổi mới chính sách kinh tế bên cạnh những biến đổi xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, mọi giá trị đang thay đổi, trong đó cái mới đang và tiếp tục hình thành, cái cũ tích cực tiếp tục được duy trì phát triển, cái cũ tiêu cực vẫn bám dai dẳng chưa xóa bỏ được trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội. Với sự xuất hiện của các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại đã thâm nhập vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của hoạt động dân trí người dân, sự cố kết của cộng đồng dân cư.

 Trình độ dân trí của người dân càng cao thì sẽ mang lại hiệu quả trong tăng trưởng kinh tế, mang lại: (1) Một lực lượng lao động có năng suất hơn với sự gia tăng kỹ năng và tri thức; (2) Cung cấp nhiều việc làm trong ngành nghề đa dạng và phong phú; (3) Xây dựng một đội ngũ lãnh đạo chất lượng cao; (4) Học vấn càng cao thì hiệu quả quản lý càng cao. Con người trong bộ phận nguồn nhân lực phải có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp thích hợp với từng vị trí, chức năng, nhiệm vụ trong quá trình phân công lao động của xã hội. Nếu nguồn nhân lực phát triển theo sự gia tăng dân số một cách không kiểm soát sẽ dẫn đến tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, dốt nát, bệnh tật,… và hàng loạt tệ nạn xã hội kéo theo.

Giá trị liên kết cộng đồng ngày càng được củng cố và phát huy thì sự phát triển KT-XH của địa phương cũng ngày càng thuận lợi bởi sự đồng nhất của người dân. Vì vậy, để triển khai bất cứ chính sách nào thì đều cần sự đồng thuận và tích cực thực hiện của chính quyền và nhân dân cả nước. Vì lý do đó, Nhà nước ta luôn chủ trương chăm lo tổ chức, xây dựng các sinh hoạt cộng đồng làng, xã, thôn, bản nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giá trị cộng đồng từng bước được nâng cao, thể hiện ở những thành tựu quan trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội, phát huy dân chủ và sự sáng tạo của nhân dân; kế thừa và phát huy được những truyền thống và giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc; vai trò, uy tín của tổ chức Đảng, chính quyền được củng cố và nâng cao.

Như vậy, để đẩy mạnh công cuộc xây dựng nông thôn mới trên cả nước đạt hiệu quả, thì cần quan tâm đến yếu tố trình độ dân trí (bao gồm trình độ văn hóa và trình độ tay nghề) và sự cố kết của cộng đồng địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương cần bố trí chi ngân sách cho các nội dung này hợp lý, có kế hoạch và phải đủ lực để các yếu tố này phát huy, ảnh hưởng tích cực đến mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại địa phương.

1.5.2. Thực trạng phát triển KT-XH quốc gia và địa phương (tỉnh, huyện, xã)

Sau khi trải qua cuộc chiến tranh vệ quốc vô cùng khốc liệt và giành thắng lợi, Việt Nam là một nước nghèo, nhưng qua hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế đang đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị – xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Là một nước nông nghiệp, Việt Nam đã nhận định sự phát triển của nông thôn có ảnh hưởng quyết định đối với sự thành công của sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế xã hội đất nước. Đất nước ta đã chú trọng phát triển ngành nông nghiệp trong các năm qua, nhờ đó giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đưa Việt Nam từ nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới liên tục từ năm 1989 đến nay. Tuy vậy, với nhu cầu hội nhập ngày nay, Việt Nam đang đổi mới phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải có những hoạch định phát triển KT-XH của đất nước nói chung và của từng địa phương nói riêng phù hợp để cả nước cùng phát triển ổn định và bền vững.

Đảng và Nhà nước ta đã nhận định Nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là vấn đề có vị trí và tầm quan trọng chiến lược trong sự phát triển của nước ta vì vậy thực trạng phát triển KT-XH của quốc gia nói chung và địa phương (tỉnh, huyện, xã) nói riêng ở bất cứ giai đoạn nào cũng ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng nông thôn mới theo các mức độ khác nhau. Chỉ khi có nền KT-XH phát triển thì mới có đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng, nguồn lực bố trí cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới đầy đủ, việc tổ chức sản xuất là yếu tố nền tảng để người nông dân nâng cao thu nhập, đời sống vật chất cho người dân,…

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 9\QUAN LY KINH TE\DUONG THI HONG ANH\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *