QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay điều phân biệt giữa quốc gia này với quốc gia khác không chỉ còn là đường biên giới, mà đó là nền văn hóa mang đậm tính dân tộc với những sắc ấn riêng biệt. Để bắt nhịp vào quá trình phát triển chung của toàn cầu, để hòa nhập mà không bị hòa tan vào cộng đồng chung đó đòi hỏi những nét văn hóa đặc sắc tiêu biểu của dân tộc Việt Nam phải luôn được giữ gìn và không ngừng phát triển để tạo dấu ấn, bản sắc riêng trong thời đại mới.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã tiếp cận và đề cập theo nghĩa rộng và bao quát. Đồng thời chỉ ra các lĩnh vực cụ thể của văn hóa trong đời sống và trong cấu trúc xã hội. Từ đó xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng ngàn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của các nền văn minh thế giới. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa đang diễn ra ngày sâu rộng, góp phần củng cố thêm bản sắc văn hóa dân tộc, mang lại những thành tựu nhất định, phục vụ tích cực và có hiệu quả cho quá trình phát triển của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực cũng xuất hiện những hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa như: sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa truyền thống; các hoạt động văn hóa có lúc, có nơi còn chạy theo xu hướng “thương mại hóa”, thiếu định hướng tư tưởng và thẩm mỹ, tính giáo dục suy giảm… Một trong những nguyên nhân của thực trạng nói trên là do công tác quản lý nhà nước về văn hóa ở các cấp, trong đó có cấp quận, một cấp trung gian giữa phường và thành phố còn nhiều yếu kém. Sự yếu kém này sẽ có sự tác động hai chiều lên và xuống làm cho việc quản lý nhà nước về văn hóa vốn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn.
Cẩm Lệ là một quận có vị trí địa lý chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Đà Nẵng. Trong những năm qua công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Cẩm Lệ đạt được nhiều kết quả quan trọng, khởi sắc. Tuy nhiên trên địa bàn quận Cẩm Lệ công tác quản lý nhà nước vẫn còn nhiều bất cập như việc xây dựng các văn bản pháp luật, các chính sách trên lĩnh vực văn hóa còn chậm, thiếu đồng bộ, công tác giữ gìn và phát huy giá trị của các thiết chế văn hóa, di tích lịch sử văn hóa chưa đáp ứng được yêu cầu, nếp sống thị dân trên địa bàn quận vẫn chưa được sâu, rộng, việc đầu tư các nguồn lực cho cơ sở vật chất và nhân lực chưa được quan tâm đúng mức.
Vì vậy nghiên cứu, tìm ra những giải pháp phù hợp để nâng cao vai trò quản lý nhà nước trên địa bàn quận Cẩm Lệ giúp cho Đảng bộ, chính quyền các cấp ở quận Cẩm Lệ quản lý tốt các hoạt động văn hóa, góp phần chung vào công cuộc phát triển quận Cẩm Lệ giàu đẹp, văn minh.
Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn
Xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước về văn hóa ở Việt Nam.
– Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
– Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Các quan điểm về văn hóa, quản lý nhà nước về văn hóa ở Việt Nam.
– Các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa ở Việt Nam.
– Thực tiễn quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
– Kinh nghiệm quản lý nhà nước về văn hóa tại tại một số địa phương.
– Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng và quản lý nhà nước về văn hóa ở một số lĩnh vực như: quản lý hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động, quản lý hoạt động thư viện, quản lý các thiết chế văn hóa, quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, quản lý các dịch vụ văn hóa, di sản văn hóa.
– Phạm vi không gian:Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Luận văn có nghiên cứu so sánh với một số địa phương khác có những nét tương đồng với quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
– Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Cẩm Lệ trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài là những luận điểm trong học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và hạ tầng kinh tế; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối đổi mới lĩnh vực văn hóa, các Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam và các Nghị quyết Hội nghị Trung ương cũng như các văn bản pháp luật đối với công tác quản lý nhà nước về văn hóa. Đồng thời, tác giả có tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan đến lĩnh vực này.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu luận văn đã làm bổ sung và làm phong phú thêm lý luận về sự lãnh đạo và quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa; thực tiễn kinh nghiệm quản lý văn hóa ở quận Cẩm Lệ một quận thuộc thành phố lớn trong khu vực miền Trung – Tây nguyên.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác lãnh đạo thực tiễn của quận và cấp cơ sở đối với lĩnh vực văn hóa; đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong các trường chính trị thành phố, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp quận, huyện.
Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý nhà nước về văn hóa.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa
Quản lý nhà nước về văn hóa là “sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa”.
Quản lý nhà nước về văn hóa có thể hiểu theo nghĩa rộng, bao quát các hoạt động quản lý của cả bộ máy nhà nước, bao gồm hoạt động lập pháp của Quốc hội, hoạt động hành pháp của Chính phủ và các tổ chức hành chính địa phương và hoạt động tư pháp của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân. Thông thường, quản lý nhà nước về văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động quản lý của các cơ quan hành pháp, của các tổ chức hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương trong lĩnh vực văn hóa.
Thứ nhất, khái niệm văn hóa rộng, đa dạng nên QLNN về văn hóa không chỉ là quản lý nhà nước (theo chiều từ trên xuống), mà còn là sự quản lý của từng người, từng gia đình, tập thể, làng xóm, theo chuẩn mực chung.
Thứ hai, QLNN về văn hóa cũng không thể đơn tuyến. Bởi vì văn hóa có cơ sở là KT-XH, luôn luôn gắn liền với KT-XH, mà kinh tế xã hội ta có nhiều thành phần thì văn hóa tất yếu cũng có nhiều thành phần.
Thứ ba, QLNN về văn hóa khác với QLNN về hoạt động kinh tế kỹ thuật khi giá trị các hoạt động văn hóa không chỉ căn cứ ở số lượng thành phẩm, mà chủ yếu ở tính sáng tạo, ở cái mới bồi đắp cho tâm hồn con người, giúp cho con người (trong những hoàn cảnh cụ thể, xác định) lớn lên, vươn lên trước những đòi hỏi mới của xã hội.
Thứ tư, QLNN về văn hóa không theo lối tư duy cứng nhắc, dập khuôn, mà dựa trên những hoàn cảnh cụ thể, những trường hợp cụ thể để xem xét.
Thứ năm, QLNN về văn hóa là quản lý cái phần tĩnh, cái bề nổi còn quản lý phát triển văn hóa là quản lý cái phần động, phần chìm, cái phần nảy sinh, tương tác trong sự vận động của đời sống văn hóa.
Thứ nhất, trên phương diện vĩ mô, QLNN về văn hóa sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa của Đảng cầm quyền. Thứ hai, trên phương diện vi mô, QLNN về văn hóa giúp tạo ra sự ổn định và đồng thuận trong xã hội thông qua hoạt động quản lý văn hóa trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa.
Thứ ba, QLNN về văn hóa hình thành nên các chuẩn giá trị xã hội, lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
Thứ tư, QLNN về văn hóa cũng làm cho văn hóa trở thành một tác nhân kích thích sự phát triển kinh tế – xã hội của nhiều địa phương.
1.2. Nguyên tắc, nội dung, hình thức và phương pháp quản lý nhà nước về văn hóa
Thứ nhất, nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ.
Thứ hai, nguyên tắc nhà nước quản lý là thực hiện quyền lực chính trị của nhà nước trên lĩnh vực văn hóa thể hiện qua Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật để quản lý, xây dựng bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương..
Thứ ba, nguyên tắc nhân dân làm chủ thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các đoàn thể chính trị xã hội…
Thứ tư, nguyên tắc phân định quản lý hành chính và quản lý sự nghiệp văn hóa.
1.2.2.1. Xây dựng, ban hành các chính sách và văn bản pháp luật về văn hoá
1.2.2.2. Xây dựng bộ máy quản lý và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về văn hoá
1.2.2.3. Thanh tra, kiểm tra hoạt động trong lĩnh vực văn hoá
1.2.2.4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hóa
Hình thức quản lý nhà nước về văn hóa là sự biểu hiện ra bên ngoài của hoạt động quản lý, cùng loại về nội dung, tính chất và phương thức tác động của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa.
Phương pháp QLNN về văn hóa là cách thức thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý lĩnh vực văn hóa.Khác với các tổ chức chính trị, chính trị xã hội khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình các chủ thể QLNN về văn hóa đại diện nhà nước, mang quyền lực nhà nước. Nên khác với phương pháp quản lý của các tổ chức xã hội chủ yếu là thuyết phục, phương pháp QLNN về văn hóa không chỉ là thuyết phục đối tượng quản lý mà còn được thực hiện bằng các mệnh lệnh hành chính, bằng sự cưỡng bức thực hiện thông qua các biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa
Thứ nhất, chính sách văn hóa giúp xây dựng và định hướng hoạt động QLNN về văn hóa.
Thứ hai, chính sách văn hóa tạo ra những cơ chế đặc thù giúp phát triển văn hóa một cách lộ trình và hợp lý.
Thứ ba, chính sách văn hóa thông qua pháp luật tác động một cách cụ thể đến QLNN về văn hóa.
Thứ tư, chính sách văn hóa điều tiết sự phát triển cân đối, hài hòa của văn hóa đối với kinh tế và các lĩnh vực khác.
Thứ nhất, pháp luật thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong lĩnh vực văn hóa và làm cho chủ trương, đường lối trở thành ý chí và mục tiêu của toàn xã hội.
Thứ hai, pháp luật tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức và cá nhân tuân thủ thực hiện các quy định mang tính chất bắt buộc trong lĩnh vực văn hóa.
Thứ ba, pháp luật là công cụ hữu hiệu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của một quốc gia.
Thứ tư, pháp luật có vai trò giáo dục ý thức con người trong hoạt động văn hóa.
Thứ nhất, bộ máy quản lý quyết định “tính hiệu quả” của hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa.
Thứ hai, bộ máy quản lý tác động mạnh đến cách thức, phương pháp quản lý.
Thứ ba, bộ máy quản lý tạo động lực để phát triển nền văn hóa của một quốc gia.
Thứ nhất, nguồn tài chính chi phối tích cực đến kết quả QLNN, nguồn kinh phí đầy đủ sẽ giúp cho các cơ quan chức năng có thêm những giải pháp hiệu qủa để áp dụng trong hoạt động quản lý.
Thứ hai, cơ sở vật chất và phương tiện là cơ sở nền tảng cho hoạt động QLNN, cơ sở vật chất, phương tiện ở đây bao gồm rất nhiều thứ, đó là trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động văn hóa nghệ thuật, trang thiết bị phục vụ các loại hình văn hóa.
- Yếu tố xã hội
Một là, các đặc điểm bản chất của xã hội gồm đặc điểm về lãnh thổ, sản xuất, dân cư, di cư và bản sắc dân tộc làm cho QLNN về văn hóa của mỗi địa phương, vùng miền có những đặc thù riêng.
Hai là, trình độ dân trí xã hội là cơ sở để nâng tầm và phát triển văn hóa quốc gia.
Ba là, trạng thái văn hóa trong một giai đoạn xã hội nhất định ảnh hưởng đến cách thức QLNN về văn hóa.
Tiểu kết Chương 1
Những vấn đề lý luận và pháp luật của QLNN về văn hóa là phần rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài này. Chương này đã thể hiện rõ những lý thuyết cơ bản về các khái niệm, đặc điểm, vai trò của QLNN về văn hóa nhằm xác định rõ ràng những phạm trù nội tại mà luận văn đề cập. Bên cạnh đó, nghiên cứu và tổng hợp những vấn đề lý luận mang tính pháp lý như nguyên tắc, nội dung, hình thức, phương pháp QLNN về văn hóa để nắm được phạm vi và phương thức thực hiện của vấn đề. Cuối cùng là tìm hiểu, đánh giá và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về văn hóa qua các yếu tố chính sách, pháp luật, bộ máy, nhân lực, kinh tế, xã hội… nhằm thấy được bức tranh chung về công tác này, đồng thời tạo tiền đề, định hướng cho việc thực hiện công tác quản lý trên thực tiễn.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TẠI QUẬN C

VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
ẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Các yếu tố đặc thù của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa
Quận Cẩm Lệ được thành lập vào ngày 05/8/2005 theo Nghị định số 102/2005/NĐ-CP của Chính phủ gồm có 6 phường: Hòa An, Hòa Phát, Hòa Thọ Tây, Hòa Thọ Đông, Khuê Trung và Hòa Xuân. Tổng diện tích tự nhiên toàn quận là 3.525,3 ha. Dân số toàn quận là 108.704 người.Cẩm Lệ là quận nằm ở vị trí trung tâm của thành phố Đà Nẵng, tiếp giáp với 5 quận, huyện khác của Thành phố là: Hải Châu, Thanh Khê, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn và Hòa Vang nên có nhiều thuận lợi trong giao lưu, tiếp cận và đầu tư phát triển trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội.
- Đặc điểm kinh tế – xã hội
Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp.Giá trị sản xuất tăng bình quân 12%, tổng giá trị sản xuất năm 2015 ước đạt 13.300 tỷ đồng, tăng 1,9 lần so với năm 2011. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, trong đó CN-XD chiếm 56,6%, TMDV đạt 42,8% và nông nghiệp 0,6%. Tổng thu ngân sách 5 năm ước đạt 816 tỷ đồng, tăng bình quân 19,3%; Thu nhập bình quân đầu người đạt 42,2 triệu đồng.Tuy nhiên, quy mô kinh tế của quận nhỏ, tốc độ tăng trưởng thiếu bền vững, cơ cấu kinh tế dịch chuyển chậm, hệ thống hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao…
Là vùng ghi dâu ấn đậm nét về những thời kỳ lịch sử và những nhân vật lịch sử như nền văn hóa Champa, các nhân vật lịch sử đã được lưu danh sử sách như: Ông Ích Khiêm, Ông Ích Đường, Thái Thị Bôi…
- Chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển văn hóa trên địa bàn quận
– Quận ban hành Chương trình hành động số 38-CTr/QU về thực hiện Nghị quyết 33- NQ/TW ngày 9/6/2014 của Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.
– Ban hành Kế hoạch số 06-KH/QU ngày 02/01/2015 thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 43-CT/TU ngày 25/12/2014 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện “Năm văn hóa, văn minh đô thị 2015”.
– Xây dựng và ban hành Đề án “phát triển văn hóa quận Cẩm Lệ đến năm 2010 và giai đoạn 2010-2015”.
Thứ nhất, mang đậm nét lịch sử – văn hóa. Ngoài 03 di tích trên địa bàn quận đã được xếp hạng quốc gia (Nghỉa trủng Hòa Vang ở phường Khuê Trung; Mộ và miếu Ông Ích Đường ở phường Hòa Thọ Tây), ngành văn hóa và thông tin quận đã phối hợp với Bảo tàng Đà Nẵng, Trung tâm quản lý di sản văn hóa và các phường tiến hành công tác kiểm kê, lập hồ sơ và xếp hạng công nhận cho 07 di tích cấp thành phố và đang tiếp tục nghiên cứu, lập hồ sơ cho nhiều di tích khác. Trong những năm qua, tranh thủ sự giúp đỡ của thành phố từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia, quận Cẩm Lệ đã đầu tư, trùng tu, sửa chữa chống xuống cấp các di tích lịch sử, văn hóa. Bên cạnh đó, quận còn quan tâm đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, lịch sử như: Đài tưởng niệm liệt sĩ Hòa Vang, khu di tích văn hóa – lịch sử Hòa Thọ, các bia tưởng niệm…[15, tr. 16-17]
Thứ hai, có dấu ấn văn hóa, lịch sử Champa và đã được các nhà khảo cổ phát hiện và nghiên cứu thông qua các di tích còn sót lại. Các lễ hội đình làng, lễ tế truyền thống tại nhà thờ các các tộc họ trên địa bàn quận được tổ chức thường xuyên góp phần vào việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, địa phương và giáo dục truyền thống lịch sử, cách mạng trong nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ. Đặc biệt là Lễ tế nghĩa sĩ Đà Nẵng và Hội làng Khuê Trung được tổ chức hằng năm vào ngày 16 tháng 3 âm lịch với quy mô lớn, tổ chức nhiều hoạt động thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia, nhất là học sinh các trường tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn. Các hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian như hát hò khoan đối đáp, hát dân ca, hò, vè.. tiếp tục được duy trì.
Thứ ba, các hoạt động về văn hóa, nghệ thuật, đời sống văn ở khu dân cư, văn hóa đọc, quản lý các thiết chế văn hóa cơ bản ổn định, theo nề nếp. Phong trào văn hóa, văn nghệ từ quận đến phường của các cơ quan, đơn vị, trường học phát triển rộng khắp, chất lượng tổ chức các chương trình được nâng cao cả về nội dung lần hình thức. Nhiều chương trình tham gia liên hoan, hội diễn cấp thành phố đạt giải cao, được công chúng khen ngợi. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và thực hiện “Năm văn hóa, văn minh đô thị’ được triển khai rộng khắp ở các địa bàn, các cấp, các ngành, đã tạo động lực phát triển mạnh mẽ trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nếp sống văn hóa, văn minh trên địa bàn quận.
Thứ tư, các loại hình dịch vụ có liên quan đến văn hóa như các điểm dịch vụ internet, quán karaoke, khách sạn, tụ điểm cafe…phát triển khá nhanh nhưng không đa dạng, phức tạp, chính vì vậy hoạt động của các loại hình này được các ngành chức năng của quận quản lý hiệu quả.
Thực tiễn quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Từ khi thành lập quận năm 2005 cho đến nay, UBND quận và các ngành liên quan đến công tác quản lý nhà nước về văn hóa đã ban hành rất nhiều bản để phục vụ quản lý điều hành, chủ yếu dưới các hình thức văn bản kế hoạch, công văn, hướng dẫn, thông báo…Từ năm 2010- 2015, quận đã ban hành 117 kế hoạch, 73 công văn chỉ đạo, 90 thông báo, 07 đề án, 30 hướng dẫn, 06 chương trình hành động. Qua đây có thể thấy, UBND quận đã ban hành một khối lượng lớn các văn bản để cụ thể hóa những văn bản cấp trên, đồng thời chỉ đạo đáp ứng yêu cầu thực tế phát sinh trên địa bàn.
2.2.2.Xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận
Bộ máy QLNN về văn hóa được xây dựng từ quận đến phường gồm nhiều cơ quan, đơn vị có liên quan phối hợp thực hiện. Tuy nhiên cơ quan chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này là phòng Văn hóa – thông tin quận. Căn cứ Quyết định số 05/QĐ-UBND quận Cẩm Lệ về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của phòng Văn hóa Thông tin. Hiện nay, phòng văn hóa thông tin có từ 05 đến 06 biên chế, gồm: 01 trưởng phòng, 02 Phó trưởng phòng và các công chức khác.
2.2.3.Công tác tổ chức thực hiện hoạt động quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực văn hóa
- Quản lý hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động
- Quản lý hoạt động thư viện
- Quản lý thiết chế văn hóa
- Quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
2.2.3.5. Quản lý các dịch vụ văn hóa
2.2.3.6. Quản lý di sản văn hóa
2.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hóa
Từ năm 2010-2015, tổ kiểm tra xử lý liên ngành của quận đã tiến hành 1.034 lượt kiểm tra các địa điểm dịch vụ, cở sở kinh doanh trong lĩnh vực văn hóa trên địa bàn, qua thanh tra, kiểm tra đã lập biên bản xử lý hành chính 16 cơ sở kinh doanh dịch vụ internet, 09 quán karaoke, 10 quán café, dịch vụ ăn uống, 22 nhà nghỉ, khách sạn, 12 điểm băng đĩa, 15 cơ sở massage… Qua đây, quận đã chỉ đạo các ngành liên quan và các phường thực hiện.
2.3. Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
– Triển khai có hiệu quả hoạt động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng nếp sống văn hóa văn minh đô thị lồng ghép với chủ trương xây dựng thành phố “5 không, 3 có”, thực hiện tốt các tiêu chí xây dựng gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa và phường đạt chuẩn văn minh đô thị.
– Duy trì tốt các cậu lạc bộ văn học nghệ thuật; công tác đầu tư cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa di sản vật thể và phi vật thể của địa phương được các cấp, các ngành chú trọng.
– Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được triển khai thường xuyên, hạn chế được sai phạm trong kinh doanh dịch vụ văn hóa.
- Nguyên nhân của ưu điểm
– Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quản lý điều hành hiệu quả của nhà nước.
– Ngành Văn hóa và Thông tin từ quận đến cơ sở phát huy được sức mạnh nội tại và tranh thủ sự ủng hộ của các ngành liên quan.
– Bộ máy tổ chức và đào tạo cán bộ được quan tâm, phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo ở cơ sở làm cho công tác tổ chức và hoạt động văn hóa trên địa bàn quận ngày càng đạt hiệu quả tốt hơn.
- Hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân
- Hạn chế, vướng mắc
- Hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân
– Công tác giữ gìn, khai thác, sử dụng và phát huy giá trị của các thiết chế văn hóa, đặc biệt là các di tích lịch sử văn hóa chưa đáp ứng được yêu cầu.
– Việc thực hiện các quy định của cấp trên về công tác quản lý văn hóa còn một số hạn chế, nhất là trong thực hiện Chỉ thị 43-CT/TU của Thành ủy về thực hiện “văn hóa, văn minh đô thị”.
– Nếp sống thị dân trên địa bàn quận vẫn chưa triển khai thực hiện được sâu, rộng.
– Công tác tuyên truyền thiếu sự đa dạng, sáng tạo; việc đầu tư các nguồn lực chưa nhiều; một bộ phận đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở còn hạn chế về năng lực.
– Công tác quản lý, thanh kiểm tra, xử lý các sai phạm về kinh doanh dịch vụ văn hóa như: Karaoke, internet, các cơ sở lưu trú… chưa thường xuyên, quyết liệt.
– Phân bổ ngân sách hàng năm cho lĩnh vực văn hóa còn thấp, pha đợt.
- Nguyên nhân của hạn chế , vướng mắc
– Nhận thức về vai trò trách nhiệm của một số cấp ủy, chính quyền địa phương còn hạn chế.
– Các chính sách, quy định quản lý nhà nước về văn hóa nhất là ở địa phương cơ sở thiếu đồng bộ.
– Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong quản lý nhà nước về văn hóa thiếu đồng bộ, chặt chẽ.
– Năng lực điều hành, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của ngành Văn hóa và Thông tin từ quận đến cơ sở còn nhiều yếu kém.
– Ngoài ra, còn do những khó khăn chung như quận Cẩm Lệ vẫn là quận mới thành lập, đời sống nhân dân còn khó khăn, tình hình an ninh trật tự còn phức tạp, sự đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng và dân tộc…

VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Một số kinh nghiệm từ thực tiễn quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Thứ nhất, trước hết các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận các đoàn thể phải nắm vững, quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp cụ thể.
Hai là, trong lãnh đạo chỉ đạo điều hành của cấp ủy, chính quyền phải bấm sát vào chương trình, kế hoạch đã đề ral thường xuyên kiểm tra, giám sát; sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm để chỉ đạo. Làm tốt công tác khen thưởng, động viên tập thể, cá nhân điển hình, tiên tiến.
Ba là, quan tâm đẩy mạnh các phong trào thi đua, các cuộc vận động tại động lực quan trọng để triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, đồng thời tạo ra sự đồng thuận hưởng ứng tích cực từ nhân dân thông qua việc mở rộng dân chủ, thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Các phong trào thiết thực, đem lại lợi ích cho quần chúng nhân dân.
Bốn là, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên mà trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải thật sự nêu gương đi đầu trong việc xây dựng và thực hiện đời sống văn hóa (nhất là trong việc cưới, việc tang, giáo dục con cái không để con cháu hư hỏng vi phạm pháp luật). Coi trọng việc tuyên truyên nêu gương người tốt, việc tốt; thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu.
Tiểu kết Chương 2
Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng với những thuận lợi và tiềm năng về địa kinh tế, địa chính trị, tâm lý, truyền thống cũng như hệ thống các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước ngày càng đáp ứng tốt những yêu cầu phát triển, sự vận dụng linh động sáng tạo của địa phương làm cho công tác quản lý văn hóa đạt được những kết quả khá toàn diện. Tuy nhiên, quản lý nhà nước về văn hóa ở quận cũng có những hạn chế bất cập. Đó là, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chưa được kịp thời sửa đổi, bổ sung phù hợp với quản lý nhà nước về văn hóa; các chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ cũng như cơ sở vật chất chưa được quan tâm giải quyết nhất là ở cơ sở; nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể ở từng cấp chưa tốt nên thiếu sự quan tâm đào tạo cũng như bố trí cán bộ theo hướng chuyên môn hóa; ngành Văn hóa và Thông tin chưa có những tư duy sáng tạo các mô hình, loại hình hoạt động có hiệu quả để nâng chất lượng các phong trào cũng như khai thác và phát huy tác dụng các thiết chế văn hóa hiện có; công tác kiểm tra giáo dục, xử lý vi phạm thiếu thường xuyên, thiếu kịp thời. Mặt khác còn “bỏ ngỏ” nhiều hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa…
Để phát huy những mặt tích cực, khắc phục những tồn tại, bất cập nhất thiết ngành Văn hóa và Thông tin ở quận Cẩm Lệ phải có những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa ở địa phương.
CHƯƠNG 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TẠI QUẬN CẨM LỆ
Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ
3.1.2.Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa cần đảm bảo tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa
- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa phải đi đôi với đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động quản lý văn hóa.
- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa phải đi đôi với quá trình cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa phải gắn với quá trình nâng cao trình độ dân trí, trình độ tiếp nhận và cảm thụ văn hóa của các bộ phận xã hội
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ
- Nhóm giải pháp chung
- Hoàn thiện chính sách và thể chế
- Xây dựng cơ chế quản lý nhà nước về văn hóa đồng bộ, thống nhất từ trung ương đến địa phương
- Tăng cường năng lực của bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa
- Nhóm giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại quận Cẩm Lệ
- Nhóm giải pháp chung
Thứ nhất, đẩy mạnh việc triển khai Nghị định số11/2006/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về việc ban hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng và Nghị định sổ: 56/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2006 của Chính phù về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa thông tin cùng các văn bản của Bộ, ngành Trung ương, của thành phố và quận Cẩm Lệ.
Thứ hai, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền
Thứ ba, đổi mới công tác bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hóa
Thứ tư, tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Đề án “Xây dựng nếp sống văn hóa văn minh đô thị”
Thứ năm, tăng cường công tác xây dựng gia đình và các thiết chế văn hóa
Thứ sáu, đẩy mạnh công tác quản lý thư viện.
Thứ bảy, tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa văn nghệ
Thứ tám, tiếp tục xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa
Tiểu kết Chương 3
Chương này đã thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả và những giải pháp thực tế để nâng cao hiệu quả QLNN về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Về phần quan điểm, điều cốt lõi vẫn là ý thức, nhận thức của người dân về vai trò của văn hóa để rồi từ đó dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng mới phát huy được sức mạnh của hệ thống chính trị, khối đại đoàn kết toàn dân; bên cạnh đó cần có những quyết sách, chủ trương kịp thời về đẩy mạnh xã hóa trong lĩnh vực văn hóa, tăng cường cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của BMNN, chăm lo cho công tác giáo dục nhằm nâng cao trình độ dân trí, trình độ tiếp nhận và thụ hưởng văn hóa từ nhân dân. Về phần những giải pháp, thì đối với bất kỳ địa phương nào không riêng gì quận Cẩm Lệ cần có những giải pháp chung, đồng bộ và hợp lý từ trung ương xuống địa phương trên các phương diện: chính sách, thể chế, cơ chế và nhân lực. Trên cơ sở đó, quận Cẩm Lệ với thực trạng đặc thù riêng ưu tiên áp dụng giải pháp về đổi mới công tác tuyên truyền, bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử – văn hóa, các thiết chế văn hóa, các loại hình nghệ thuật, đẩy mạnh xây dựng các phong trào, đề án về xây dựng đời sống văn hóa trong nhân dân và quan trọng hơn cả là đầu tư cho đội ngũ cán bộ công chức làm công tác này.
Những quan điểm, giải pháp nêu trên có thể không mới, tuy nhiên điều mà lĩnh vực văn hóa ở quận Cẩm Lệ đang cần ở công tác QLNN chính là những chính sách phù hợp với tốc độ đô thị hóa nhanh và hiệu quả trong triển khai thực hiện đến các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Nếu cải thiện được những vấn đề mấu chốt đó, thiết nghĩ quận Cẩm Lệ sẽ xây dựng được một nền văn hóa đặc trưng, giàu bản sắc và phát triển hài hòa.
Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xuất phát từ lý luận chung quản lý nhà nước về văn hóa với các hoạt động quản lý trên địa bàn cấp quận là một trong những vấn đề đang được quan tâm nhất hiện nay không chỉ ở quận Cẩm Lệ mà còn cấp thiết đối với tất cả các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trên toàn quốc.
Việc nhận biết, nắm bắt thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn, tiềm năng và bất cập của các yếu tố bên ngoài cũng như các yếu tố bên trong như địa chính tri, địa kinh tế, dân trí, truyền thống… tác động đến văn hóa và quản lý nhà nước về văn hóa đã giúp cho việc nghiên cứu về quản lý văn hóa ờ phạm vi rộng hơn và có cách nhìn một cách khách quan hơn về những kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại cũng như nguyên nhân của chúng. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, kết quả thành tích là chủ yếu, hạn chế bất cập là thứ yếu có thể khắc phục được. Chính kết quả quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn của một quận, suy rộng ra là trên phạm vi toàn quốc đã minh chứng cho việc tác động tích cực đến sự phát triển kinh tể – xã hội của mỗi địa phương của văn hóa, khi nó thực sự là “động lực” cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Trong thời gian tới, đối với một quận như Cẩm Lệ, cần tranh thủ mọi thời cơ, khai thác tốt các tiềm năng và lợi thế, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của quận Cẩm Lệ, mở rộng quy hoạch đô thị, chuyển địch nhanh cơ cấu kinh tế một cách hợp lý và vững chắc, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực đi đôi với ổn định trật tự xã hội nhằm đẩy mạnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, triển khai đồng bộ các giải pháp để sự nghiệp văn hóa phát triển theo hướng tích cực và hiệu quà; tác động tích cực hơn nữa để văn hóa trở thành yếu tố “nội sinh” trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong quận ngày càng phong phú và lành mạnh, góp phần để Cẩm Lệ ngày phát triển toàn diện hơn, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HANH CHINH\NGO TRUONG LONG\SAU BAO VE


