Quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, rừng có vai trò, vị trí to lớn đối với việc phát triển kinh tế – xã hội bền vững, bảo đảm an ninh quốc phòng (ANQP). Giá trị của rừng không chỉ giới hạn trong giá trị các lâm sản mà bao hàm cả giá trị văn hóa, lịch sử, bảo đảm môi trường sống của con người, điều hòa khí hậu và nguồn nước, góp phần chống thiên tai, bão lũ và biến đổi khí hậu … Rừng có giá trị rất đặc biệt không chỉ đối với thế hệ hôm nay mà cả cho các thế hệ mai sau; rừng góp phần vào các hoạt động kinh tế nhờ vào khả năng cung cấp nguyên liệu liên tục, lâu dài với chất lượng nguyên liệu bảo đảm cho các ngành công nghiệp như: chế biến gỗ, mỹ phẩm, vật liệu xây dựng, giấy, sợi dệt, lấy tinh dầu,…
Thực tế cho thấy nếu tính cả giá trị kinh tế và giá trị môi trường thì đóng góp của ngành lâm nghiệp hiện nay khoảng 7,92% trong tổng số giá trị sản phẩm quốc nội (GDP); tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ của ngành lâm nghiệp đạt 7,1 tỷ USD năm 2015 tăng 11,02% so với năm 2014 (Văn phòng Tổng cục lâm nghiệp). Bên cạnh đó rừng tạo ra các sản phẩm dịch vụ, nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái gắn liền với các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt, du lịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng thu nhập cho người dân bản địa góp phần ổn định dân cư và xoá đói giảm nghèo…
Hiện nay, việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho mục tiêu phát triển KT-XH như xây dựng các công trình thuỷ điện, khai thác các loại quặng. Thông thường các mỏ quặng, các khu vực lòng hồ thuỷ điện nằm ở những khu rừng có trữ lượng gỗ lớn, khi tiến hành khai thác có thể từ vài chục, thậm chỉ đến vài trăm hécta (ha) rừng bị phá. Bên cạnh đó, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là nhân dân sống ven rừng, gần rừng ở các tỉnh miền núi, đời sống của họ chủ yếu dựa vào khai thác các sản phẩm từ rừng do vậy phần nào làm suy giảm từng ngày từng giờ nguồn tài nguyên rừng.
Việt Nam, từ khi đổi mới và hội nhập quốc tế đã có nhiều thay đổi về quản lý nhà nước (QLNN) về công tác bảo vệ rừng (BVR). Luật bảo vệ và phát triển rừng được ban hành lần đầu tiên năm 1991 đến năm 2004 được sửa đổi, bổ sung; vấn đề bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) đã được đưa vào mục tiêu kế hoạch phát triển KT-XH, Nghị quyết Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: BV&PTR, đẩy mạnh việc trồng rừng, khoanh nuôi, tái sinh rừng, phủ xanh và sử dụng đất trống, đồi núi trọc gắn với phân bố lao động lên trung du, miền núi, thực hiện định canh, định cư, ổn định đời sống của các dân tộc, mọi đất rừng đều có người làm chủ trực tiếp, kể cả rừng kinh tế, rừng phòng hộ và các khu bảo tồn là nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Nhờ vào những đổi mới trong quá trình QLNN trong những năm qua, hoạt động QLBVR đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng như: nhận thức của người dân về BVR được nâng lên, quan điểm đổi mới xã hội hoá về BVR được triển khai thực hiện bước đầu có hiệu quả; hệ thống pháp luật về quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) ngày càng được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn, chủ trương đổi mới quản lý hiện nay và thông lệ Quốc tế; Chính quyền các cấp đã quan tâm nhiều hơn đến công tác QLBVR, tình trạng xâm hại tài nguyên rừng (TNR) được ngăn chặn, đẩy lùi; thiệt hại về TNR do hành vi vi phạm gây ra giảm, số vụ vi phạm Luật BV&PTR trên phạm vi toàn quốc năm 2010 so với năm 2015 là 40.481vụ/26.304 vụ giảm 18.430 vụ; diện tích rừng toàn quốc năm 2015 so với năm 2010 là 14,06 triệu ha/13,38 triệu ha tăng 0,68 triệu ha; độ che phủ của rừng năm 2015 so với năm 2010 là 40,84/39,5% tăng 1,34% (Quyết định 1828/QĐ-BNN-TCLN, 2011 và Quyết định 3158/QĐ-BNN-TCLN, 2016).
Tuy nhiên, do vấn đề đói nghèo chưa được giải quyết triệt để, rừng đã được giao nhưng khâu quản lý bảo vệ chưa được chặt chẽ. Bên cạnh đó, lợi nhuận đem lại từ việc kinh doanh các mặt hàng gỗ và các sản phẩm khác từ rừng trái với các qui định của Nhà nước là rất lớn. Do vậy, tình trạng vi phạm các qui định của Nhà nước về BVR như phá rừng, khai thác gỗ trái phép trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng vẫn diễn ra làm cho chất lượng rừng ngày càng bị suy giảm. Việc rừng bị tàn phá đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng như: lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, đá, hạn hán, xâm nhậm mặn và các tác hại về môi trường sinh thái, ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Hàng năm, Nhà nước phải chi ra trăm tỷ đồng để khắc phục những hậu quả này gây bức xúc trong xã hội, tác động tiêu cực đến hoạt động QLNN về BVR.
Tổng hợp báo cáo từ các địa phương, trong năm 2015, thiên tai đã làm 154 người chết (94 người do lũ, mưa lũ sau bão, lũ quét và sạt lở đất; 60 người chết do lốc, sét; thiệt hại giảm 72 người so với trung bình 05 năm gần đây), 127 người bị thương, 1.242 nhà bị đổ, sập, trôi; 35.233 nhà bị ngập, hư hại, tốc mái; 445.110 ha diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại; hàng triệu mét khối đất đá giao thông, thủy lợi bị sạt lở, bồi lấp, 182km bờ sông, bờ biển bị sạt lở, 36 phương tiện khai thác thủy sản bị thiệt hại,…. Tổng thiệt hại khoảng 8.114 tỷ đồng, trong đó chủ yếu tập trung vào thiệt hại cây trồng nông nghiệp (lúa, hoa màu, cây lâu năm), sạt lở đường giao thông, thủy lợi, hệ thống cung cấp điện, viễn thông, hầm mỏ,…
Từ những phân tích trên cho thấy việc quản lý bảo vệ và khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng sẽ góp phần to lớn vào phát triển KT-XH, bảo vệ môi trường sống. Vì vậy, nghiên cứu, tìm hiểu hoạt động QLNN về BVR nói chung và từ thực tiễn của tỉnh Quảng Nam nói riêng có vai trò quan trọng trong việc đánh giá những mặt đã đạt được cũng như chỉ ra những nguyên nhân của sự tồn tại, yếu kém, đồng thời tiếp tục phát huy những thành tựu đạt được và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN về BVR nói chung và tại địa phương tỉnh Quảng Nam. Vậy đề tài “Quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận về QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng (BVR), đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động QLNN về bảo vệ rừng tại địa phương, từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả QLNN về BVR tại tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn là:
– Hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận về QLNN, đánh giá tổ chức và hoạt động QLNN về bảo vệ rừng.
– Đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân tồn tại của hoạt động QLNN về bảo vệ rừng.
– Đề xuất một số giải pháp chủ yếu mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN về bảo vệ rừng tại tỉnh Quảng Nam
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và hoạt động QLNN về BVR. Trên cơ sở phân tích, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân tồn tại xuất phát từ hoạt động QLNN về BVR và một số yếu tố khác làm ảnh hưởng đến hoạt động QLNN trong lĩnh vực này, làm cơ sở cho việc đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN về BVR.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ thực tế nạn phá rừng, khai thác rừng trái phép đang là vấn đề gây bức xúc trong nhiều năm nay trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, luận văn tập trung nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Quảng Nam, thời gian kể từ khi thực hiện Luật BV&PTR năm 2004 (sửa đổi) đến nay, trong đó tập trung vào giai đoạn từ năm 2010 – 2015. Đây là giai đoạn cả nước cùng đẩy mạnh các biện pháp bảo vệ và phát triển rừng tạo đà để hoàn thành kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về công tác quản lý và bảo vệ rừng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp tổng hợp số liệu
Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp lịch sử; phương pháp đàm thoại (trao đổi ý kiến với những chuyên gia đầu ngành, những người làm công tác thực tiễn lâu năm).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đóng góp một số vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động QLNN đối với công tác QLBVR. Tìm ra những nguyên nhân đạt được kết quả và những hạn chế trong công tác BVR. Đồng thời đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt công tác BVR trong điều kiện hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích, đánh giá về cơ sở lý luận, thực tiễn từ công tác BVR giúp các nhà lãnh đạo địa phương tỉnh Quảng Nam có thêm các giải pháp mới, trên cơ sở đó xây dựng những phương án, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương hiệu quả hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ RỪNG
1.1.1.1. Khái niệm quản lý, quản lý nhà nước
Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước (Trần Minh Hương, 2008).
QLNN là một dạng của quản lý xã hội, đây là một quá trình phức tạp, đa dạng; trong nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn, QLNN được hiểu theo hai cấp độ: QLNN theo nghĩa rộng là đề cập đến chức năng của cả bộ máy nhà nước (từ hoạt động lập hiến, lập pháp, hoạt động hành pháp đến hoạt động tư pháp); còn tiếp cận theo nghĩa hẹp chỉ là hoạt động chấp hành của cơ quan QLNN; hoạt động này chủ yếu giao cho hệ thống cơ quan hành chính thực hiện đó là các chủ thể quản lý (Hà Công Tuấn, 2002).
1.1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, hệ thống hoá, kế thừa lý luận cơ bản đã được công bố trong các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết về quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng, Tác giả đưa ra khái niệm QLNN về bảo vệ rừng là quá trình các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước đề ra các chủ trương, chính sách, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật và sử dụng nó để điều chỉnh các hoạt động quản lý nhằm đạt được những yêu cầu, mục đích của mình về bảo vệ rừng.
1.1.2.1. Rừng là đối tượng quản lý nhà nước đặc thù
- Rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo và có tính chất quyết định trong việc bảo vệ môi trường sinh thái toàn cầu;
– Rừng Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống của hàng triệu người dân sông trong rừng, gân rừn và ven rừng;
– Rừng được phân thành 03 loại theo chức năng và công dụng của các yếu tố để quản lý, gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Vì vậy QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng phải áp dụng những cơ chế, chính sách, các quy định pháp luật khác nhau phù hợp với mục đích chủ yếu đối với từng loại rừng.
1.1.2.2. Đặc trưng về chủ thể chịu sự quản lý
– Chủ thể chịu sự QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng là tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động bảo vệ rừng; các chủ thể rất đa dạng, thuộc nhiều thành phần kinh tế và mỗi loại hình chủ thể có địa vị pháp lý khác nhau.
– Mỗi loại chủ thể có những đặc trưng riêng biệt.
1.1.2.3. Khách thể quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
– Là trật tự quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, trật tự này được quy định trước hết và chủ yếu trong các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, như quy định về tổ chức bộ máy quản lý, quyền định đoạt của nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể chịu sự quản lý… nhằm đạt được múc đích quản lý bảo vệ rừng của nhà nước.

1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
1.1.3.1. Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý của nhà nước về bảo vệ rừng
– Rừng là đối tượng quản lý đặc thủ, đồng thời chủ thể chịu sự quản lý rất đa dạng, bao gồm: cád cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân; các tổ chức kinh tế; các ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ; các tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhà nước giao, cho thuê rừng,… Do vậy, Nhà nước phải tăng cường sự quản lý đối với lĩnh vực này.
1.1.3.2. Vai trò của quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
– Thứ nhất, yêu cầu đồng bộ, thống nhất trong quy hoạch bảo vệ rừng phải có sự tham gia quản lý của nhà nước.
– Thứ hai, yêu cầu bảo vệ, tái tạo và phát triển vốn rừng từ việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên rừng phải có sự tham gia quản lý của nhà nước.
– Thứ ba, quản lý nhà nước về bảo vệ rừng là nhằm thực hiện chức năng quản lý của nhà nước, sự thiết lập và thực thi những khuôn khổ thể chế cùng với những quy định có tính pháp quy để duy trì, bảo tồn và phát triển rừng.
- 1.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
- 1.2.1. Bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của nhà nước
- – Quyền quản lý tập trung thống nhất của nhà nước được thực hiện theo luật pháp; nhà nước phải nắm và sử dụng tốt các công cụ quản lý cũng như các phương pháp quản lý thích hợp nhằm đem lại hiệu quả quản lý trong lĩnh vực bảo vệ rừng.
- 1.2.2. Bảo đảm sự phát triển bền vững
- – Phải kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác, sử dụng rừng một cách hợp lý nhằm phát huy hiệu quả của tài nguyên rừng.
- 1.2.3. Bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các lợi ích
- – Việc bảo đảm hài hoà lợi ích giữa nhà nước với chủ rừng sẽ tạo động lực, điều kiện để các chủ rừng, các nhà đâu tư vào nghề rừng an tâm, tự tin và mạnh dạn đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng.
- 1.2.4. Đảm bảo tính kế thừa và tôn trọng lịch sử
- – Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng phải tuân thủ việc kế thừa các quy đinh của pháp luật của nhà nước trước đây, cũng như tính lịch sử trong quản lý nhà nước về bảo vệ rừng qua các thời kỳ.
- 1.3. Nội dung và hình thức, phương pháp quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
- 1.3.1. Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
- 1.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
1.3.1.1. Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ rừng
– Công tác ban hành văn bản pháp luật là một nội dung quan trọng không thể thiếu đối với hoạt động QLNN trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng. Dựa trên việc ban hành văn bản pháp luật, nhà nước buộc các đối tượng chủ rừng phải thực hiện các quy định về bảo vệ, khai thác, sử dụng rừng theo khuôn khổ nhất định.
1.3.1.2. Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương
– Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp lý của nhà nước về tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng rừng một cách đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả nhất.
1.3.1.3. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý các hành vi vi phạm pháp Luật về bảo vệ rừng
– Thanh tra, kiểm tra là hoạt động của nhà nước, ngoài việc phát hiện, xử lý những sai phạm còn có tác dụng chấn chỉnh những lệch lạc, ngăn ngừa những sai phạm có thể xảy ra.
1.3.1.4. Ban hành và tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ rừng
– Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc bảo vệ và phát triển rừng gắn liền, đồng bộ với các chính sách kinh tế – xã hội khác, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi.
1.3.1.5. Quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực quản lý bảo vệ rừng
- – Con người là nguồn lực cơ bản và quan trọng nhất quyết định trong mọi hoạt động quản lý của Nhà nước trong đó có lĩnh vực BVR.
- 1.3.2. Hình thức, phương pháp quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng
1.3.2.1. Các cơ quan Nhà nước tham gia bảo vệ rừng
1.3.2.2. Giao rừng cho cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân quản lý, bảo vệ
1.3.2.3. Cho thuê rừng cho tổ chức, cá nhân bảo vệ và phát triển rừng
1.4.3. Nền kinh tế thị trường
1.5. Tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
- 1.5.1. Tiêu chí đánh giá hoạt động ban hành và thực hiện các văn bản quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng
– Việc ban hành và thực hiện có hiệu quả các văn bản QLNN là yếu tố rất quan trọng để thực hiện hóa ý chí của nhà quản lý thành những hoạt động thực tiễn.
1.5.2. Tiêu chí đánh giá hoạt động ban hành và thực thi các chính sách bảo vệ rừng
Một chính sách hiệu quả là phải đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tiễn tại địa phương, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, nâng cao mức sống của người làm nghề rừng, thu hút được các nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực BV&PTR…
Hiệu quả hoạt động thanh tra kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm của các cơ quan QLNN trong lĩnh vực BVR được đánh giá thông qua tiêu chí số lượng các vụ việc được phát hiện xử lý và thông qua công tác thanh tra, kiểm tra đã góp phần làm chuyển biến về nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của đội cán bộ công chức, người dân trong công tác BVR tại địa phương.
- 1.5.4. Tiêu chí đánh giá hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng
Hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật của các cơ quan QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng được đánh giá thông qua tiêu chí số lượng các lớp tuyên truyền được mở, số lượng lượt người tham gia các lớp tuyên truyền và những chuyển biến về nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật người dân địa phương trong công tác BVR sau khi được tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
Bảng 2.1. Diện tích rừng và độ che phủ rừng giai đoạn 2011 – 2015
| Năm | 2011 | 2012 | 2013 | 2014 | 2015 |
| Tổng diện tích (ha) | 513.811 | 517.063 | 546.232 | 550.344 | 552.148 |
| Rừng tự nhiên (ha) | 394.496 | 394.185 | 410.686 | 410.258 | 409.840 |
| Rừng trồng (ha) | 119.365 | 122.878 | 135.546 | 140.086 | 142.308 |
| Độ che phủ (%) | 48,3 | 48,6 | 49,4 | 49,6 | 51,5 |
Nguồn: Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam, Báo cáo các năm 2011 – 2015
Bảng 2.2. Diện tích rừng theo chức năng tính từ năm 2011 đến 2015
| Loại rừng (ha) | Tổng cộng | Diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp | Diện tích ngoài quy hoạch cho lâm nghiệp | ||
| Rừng Đặc dụng | Rừng Phòng hộ | Rừng Sản xuất | |||
| Tổng diện tích có rừng | 552.148 | 108.933 | 255.585 | 168.051 | 19.579 |
| Rừng Tự nhiên | 409.840 | 108.573 | 235.435 | 63.665 | 2.167 |
| Rừng trồng | 142.308 | 360 | 20.150 | 104.386 | 17.412 |
Nguồn: Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam, Báo cáo các năm 2011 – 2015
Bảng 2.3. Số vụ vi phạm và hành vi vi phạm từ 2011 – 2015
| Năm | Hành vi vi phạm Luật BV&PTR | Tổng cộng | ||||
| Phá rừng trái phép | Khai thác rừng trái phép | Mua, bán, cất giữ lâm sản trái phép | Vận chuyển lâm sản trái phép | Vi phạm khác | ||
| 2011 | 86 | 189 | 580 | 479 | 77 | 1.411 |
| 2012 | 118 | 152 | 669 | 303 | 87 | 1.329 |
| 2013 | 87 | 115 | 548 | 264 | 92 | 1.106 |
| 2014 | 90 | 147 | 602 | 291 | 95 | 1.225 |
| 2015 | 114 | 106 | 689 | 228 | 86 | 1.223 |
| Tổng cộng | 495 | 709 | 3088 | 1565 | 437 | 6.294 |
Nguồn: Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam, Báo cáo các năm 2011 – 2015
Bảng 2.4. Số vụ cháy rừng xảy ra và thiệt hại do cháy rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011 – 2015.
| Năm | Số vụ cháy (vụ) | Diện tích rừng bị thiệt hại (ha) | Giá trị ước tính (triệu đồng) |
| 2011 | 13 | 42,5 | 584 |
| 2012 | 08 | 84,6 | 1.160 |
| 2013 | 07 | 21,19 | 486,7 |
| 2014 | 10 | 14,58 | 315 |
| 2015 | 08 | 56,48 | 1.722 |
| Tổng cộng | 46 | 219,35 | 4.267,7 |
Nguồn: Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam, Báo cáo các năm 2011 – 2015
2.2. Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
- 2.2.1. Bộ máy quản lý
UBND tỉnh
Sở NN&PTNT
Chi cục Lâm nghiệp
Chi cục Kiểm lâm
UBND huyện, TP, thị xã
Hạt Kiểm lâm
Phòng NN&PTNT
UBND xã, phường, thị trấn
Trạm Kiểm lâm
Kiểm lâm địa bàn
Ban lâm nghiệp
Đội Kiểm lâm cơ động và PCCC rừng
Các Tổ, Đội bảo vệ rừng thôn, bản
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
tỉnh Quảng Nam (Giai đoạn 2011 – 2-15)
2.2.1.1. Ở cấp tỉnh.
2.2.1.2. Ở cấp huyện.
2.2.1.3. Ở cấp xã
2.2.2.2. Công cụ quy hoạch, kế hoạch
- 2.2.3. Nội dung hoạt động quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
2.2.3.1. Hoạt động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ rừng
2.2.3.2. Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng
2.2.3.3. Hoạt động quy hoạch, kế hoạch quản lý bảo vệ rừng
2.2.3.4. Quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng
2.2.3.5. Quản lý tài chính trong lĩnh vực bảo vệ rừng
2.2.3.6. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng
2.2.3.7. Hoạt động phòng cháy, chữa cháy rừng
2.3.1.1. Công tác ban hành, triển khai các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng
2.3.1.2. Công tác quy hoạch rừng và thực thi chính sách về bảo vệ rừng
2.3.1.3. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ rừng
2.3.1.4. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng
2.3.2. Hạn chế của hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
2.3.2.1. Công tác ban hành, triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng
2.3.2.2. Công tác quy hoạch rừng và thực thi chính sách về bảo vệ rừng
2.3.2.3. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm về quản lý bảo vệ rừng
2.3.2.4. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng
2.3.3. Nguyên nhân hạn chế trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ rừng

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG
- 3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
- 3.1.1. Đáp ứng nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội
- 3.1.2. Đảm bảo duy trì chức năng phòng hộ, cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường sống
- 3.1.3. Đảm bảo đáp ứng nhu cầu xã hội hoá công tác bảo vệ rừng
- 3.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng
- 3.3. Các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
- 3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
3.3.1.1. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý bảo vệ rừng.
3.3.1.2. Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật.
3.3.1.3. Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự tham gia của các ngành, các tổ chức xã hội vào bảo vệ rừng.
– Đối với chủ rừng.
– Đối với Uỷ ban nhân dân các cấp.
– Đối với lực lượng Công an.
– Đối với lực lượng Quân đội.
– Đối với các tổ chức xã hội.
3.3.1.4. Củng cố tổ chức, nâng cao năng lực của lực lượng Kiểm lâm
3.3.1.5. Hỗ trợ nâng cao đời sống người dân
3.3.1.6. Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị bảo vệ rừng.
3.3.1.7. Ứng dụng khoa học công nghệ.
3.3.1.8. Tài chính
3.3.1.9. Tăng cường hợp tác quốc tế
3.3.2. Các bước thực hiện giải pháp bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
3.3.2.1. Nâng cao năng lực của Bộ máy quản lý
3.3.2.2. Thực hiện các chính sách về bảo vệ rừng
3.2.2.3. Triển khai thực hiện tốt quy hoạch rừng
3.2.3.4. Thực hiện tốt việc huy động các nguồn lực bảo vệ rừng
Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực BVR là một nội dung quan trọng trong chiến lược và kế hoạch phát triển bền vững của mỗi địa phương. Nếu không đặt đúng vị trí của BVR thì không thể đạt được mục tiêu phát triển và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. Thực tế cho thấy QLNN về BVR là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lý, góp phần giữ trạng thái cân bằng về môi trường và là cơ sở quan trọng bảo đảm cho phát triển kinh tế bền vững.
Trong những năm qua công tác QLBVR của tỉnh Quảng Nam chịu nhiều sức ép do quá trình phát triển KT-XH, việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang xây dựng các công trình thuỷ điện, đường giao thông, khu đô thị, công tác quy hoạch, kế hoạch BVR và khai thác sử dụng TNR chưa hợp lý. Không những vậy, sự thiếu đồng bộ dẫn đến khó quản lý, nghèo đói chưa được giải quyết triệt để, các hoạt động như phá rừng, khai thác rừng trái phép…cũng tạo ra những sức ép đáng kể lên TNR. Tuy nhiên, dưới sự quản lý chặt chẽ của các cấp, các ngành nên giai đoạn 2011 – 2015 diện tích rừng của tỉnh được giữ vững và có bước cải thiện đáng kể so với giai đoạn 2006 – 2010. Công tác QLBVR của tỉnh Quảng Nam được Trung ương đánh giá cao. Nhận thức chung về BVR của người dân từng bước được nâng cao, người dân đã tự nguyện và tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ rừng tại cộng đồng dân cư, dần từ bỏ thói quen khai thác, sử dụng tài nguyên rừng trái phép. Đặc biệt trong việc thực hiện Luật BV&PTR, việc triển khai các Nghị quyết, Quyết định, Chị thị, các chính sách về BVR của Đảng, Chính phủ đã được các cấp chính quyền tỉnh chú trọng. Hệ thống cơ quan QLNN về BVR của tỉnh hoạt động có hiệu quả. Về cơ chế QLBVR và tổ chức bộ máy quản lý đã có những thay đổi rõ rệt. Công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức QLBVR, công tác quy hoạch, kế hoạch BVR, công tác giao rừng, đất rừng và thực thi các chính sách BVR được chú trọng. Bên cạnh việc chỉ đạo sát sao thực hiện các văn bản pháp luật của nhà nước, tỉnh còn ban hành các văn bản dưới luật, đặc biệt là sự lồng ghép chương trình BVR với chiến lược phát triển KT-XH.
Tuy nhiên, công tác QLNN về BVR của tỉnh Quảng Nam vẫn còn một số hạn chế như công tác tổ chức bộ máy QLNN trong lĩnh vực BVR thiếu thống nhất, chưa hợp lý dẫn đến hiệu quả quản lý không cao; việc thu hút và huy động các nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực BVR chưa đạt hiệu quả cao; rừng, đất rừng đã được giao cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý nhưng chưa quy định rõ quyền, trách nhiệm và thiếu các chính sách đầu tư, hỗ trợ cho người dân phát triển sản xuất thông qua việc trồng rừng, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng, đất rừng chậm, thiếu thống nhất giữa các ban ngành gây khó khăn cho công tác quản lý; công tác thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng chậm gây ảnh hưởng tới việc huy động các chủ rừng và người dân tham gia vào công tác QLBVR; việc đầu tư công nghệ hiện đại phục vụ cho công tác quy hoạch rừng chưa được quan tâm đúng mức, sự phối hợp giữa các ngành trong điều tra, quy hoạch không chặt chẽ dẫn đến độ chính xác trong các số liệu điều tra, quy hoạch không cao gây khó khăn cho việc xây dựng kế hoạch QLBVR; nhiều văn bản hướng dẫn của Trung ương còn chồng chéo, các quy định, chính sách ở địa phương chưa ban hành kịp thời với yêu cầu thực tiễn, thiếu các cơ chế, chính sách khuyến khích, huy động các nguồn lực bên ngoài như nguồn vốn ODA và hỗ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế cho công tác BVR…
Từ những phân tích tình hình thực tế, làm rõ những nguyên nhân yếu kém, giảm hiệu lực, hiệu quả QLNN; dựa vào định hướng và chiến lược phát triển KT-XH, tác giả đã đưa ra một số giải pháp cho công tác QLBVR cụ thể là: đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về QLBVR; hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật; nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự tham gia của các ngành, các tổ chức xã hội vào BVR; củng cố tổ chức, nâng cao năng lực của Kiểm lâm; hỗ trợ nâng cao đời sống người dân; xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị BVR; ứng dụng khoa học công nghệ; tài chính và tăng cường hợp tác quốc tế đồng thời đề xuất các bước cần thực hiện giải pháp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đó là nâng cao năng lực của bộ máy quản lý; thực hiện các chính sách bảo vệ rừng; triển khai thực hiện tốt quy hoạch rừng và thực hiện tốt việc huy động các nguồn lực BVR.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HANH CHINH\LE THANH THUONG\SAU BAO VE


