Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là ngành kinh tế trọng điểm được quan tâm hàng đầu ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Đối những nước đang phát triển, nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sản phẩm thu nhập quốc dân thì ngành nông nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng. Nông nghiệp giúp đảm bảo an ninh lương thực, tạo tiền đề cho sự phát triển. Thực tiễn lịch sử các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã đảm bảo được an ninh lương thực. Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định về chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn. Nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị. Mặc khác, Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp. Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản.

Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là quốc gia đang phát triển với sản xuất nông nghiệp chủ yếu, diện tích Lào khoảng 26 nghìn km2, trong đó nông thôn chiếm phần lớn. Do đó, Đảng nhân dân cách mạng Lào đã đặt vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là một nhiệm vụ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định quá trình phát triển. Một khi chưa tạo ra được chuyển biến của khu vực kinh tế này thì không thể có được sự phát triển bền vững. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước đã chủ trương phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng chuyên canh, cơ cấu cây trồng hợp lý, đa dạng hóa các sản phẩm hàng hóa về số lượng và tốt về chất lượng. Tuy nhiên, nông nghiệp của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào vẫn trong tình trạng tự cung, tự cấp, sản xuất nhỏ lẻ, cuộc sống còn lạc hậu, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng, tình trạng phát triển nông thôn thiếu quy hoạch, môi trường ô nhiễm, hệ thống cơ sở hạ tầng lạc hâu, yếu kém,…

Sekong là tỉnh biên giới, miền núi, nằm ở Đông Nam nước CHDCND Lào. Đây là một tỉnh có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển nông nghiệp. Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp chiếm hơn 90% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng, khu dược liệu, khu công nghệ cao. Bên cạnh đó, còn có những vùng rộng lớn phù hợp với việc phát triển đàn gia súc, gia cầm, góp phần khai thác thế mạnh của tỉnh. Mặc dù, có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp nhưng trong những năm vừa qua, tỉnh Sekong vẫn chưa khai thác triệt để các thế mạnh này, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp còn chậm, nền nông nghiệp phát triển với quy mô nhỏ lẻ, manh mún, vẫn còn để tình trạng hoang hóa, phát triển nông nghiệp thiếu chiến lược, … Xuất phát từ những hạn chế, bất cập vừa nêu trên, để tăng cường hơn nữa việc quản lý nhà nước đối với vấn đề phát triển nông nghiệp của tỉnh, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu, xác lập các tiền đề khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về nông nghiệp tại tỉnh Sekong.

2.2 Mục tiêu cụ thể

  • Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp.
  • Làm rõ thực trạng công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp tại tỉnh Sekong thời gian qua.
  • Xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về nông nghiệp tại tỉnh Sekong thời gian đến.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp vận dụng vào điều kiện cụ thể của một địa phương. Ngành nông nghiệp được đề cập trong luận văn bao gồm các nhóm ngành: trồng trọt và chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong.

+ Về không gian: Địa bàn tỉnh Sekong, nước CHDCND Lào.

+ Về thời gian: Số liệu thu thập, xử lý, phân tích trong giai đoạn 2017 -2019 và 6 tháng đầu năm 2020, những giải pháp đựợc đề xuất đến năm 2025.

4. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp khảo sát, thu thập dữ liệu:

+ Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thông qua các thông tin từ Cục Thống kê tỉnh, các báo cáo nông nghiệp của ủy ban nhân dân tỉnh, sở Nông nghiệp tỉnh Sekong. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các kết quả đã được công bố như sách, báo, tài liệu, các website liên quan đến quản lý nhà nước ngành nông nghiệp.

+ Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:

Khảo sát, phỏng vấn các cá nhân về công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn qua các phiếu phỏng vấn chuẩn bị sẵn. Đối tượng khảo sát: chọn 150 cá nhân trên địa bàn để phỏng vấn, thăm dò ý kiến của họ về tình hình thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn.

  • Phương pháp xử lý, phân tích số liệu: Số lượng được phân tích, so sánh theo tần số, phần trăm, giá trị trung bình để nhận xét.

+ Phương pháp so sánh: so sánh sự phát triển nông nghiệp qua các năm.

+ Phương pháp thống kê mô tả: Mô tả và trình bày thực trạng quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong trên cơ sở những số liệu về nguồn lực, về trình độ phát triển, về các điều kiện phát triển…, từ đó phân tích và tổng hợp số liệu làm rõ những ưu điểm và hạn chế của vấn đề để có thể đưa ra giải pháp quản lý hữu hiệu nhất.

5. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

6. Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được trình bày trong ba chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp.
  • Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp tại tỉnh Sekong, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thời gian qua.
  • Chương 3: Tăng cường công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp tại tỉnh Sekong, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP

1.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về nông nghiệp

a. Nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.

“Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm có: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản” [6, tr.5].

Theo đó, kinh tế nông nghiệp bao gồm:

  • Trồng trọt là ngành sử dụng đất đai với cây trồng làm đối tượng chính để sản xuất ra lương thực, thực phẩm, tư liệu cho công nghiệp và thỏa mãn các nhu cầu về vui chơi giải trí, tạo cảnh quan (công viên, bể bơi, sân bóng, sân golf…).
  • Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp (theo nghĩa hẹp), với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi. Đây là ngành cung cấp thực phẩm nhiều chất đạm như thịt, sữa, trứng; cung cấp da, len, lông; sản phẩm phụ của chăn nuôi dùng làm phân bón; đại gia súc dùng làm sức kéo.
  • Lâm nghiệp là các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng; khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng; trồng cây, tái tạo rừng, duy trì tác dụng phòng hộ của rừng.
  • Ngư nghiệp bao gồm đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trong đó đánh bắt là hoạt động lâu đời của con người nhằm cung cấp thực phẩm cho mình thông qua các hình thức đánh bắt cá và các thủy sinh vật khác [14, tr.24-25].

b. Đặc điểm ngành nông nghiệp tại nước CHDCND Lào.

Nông nghiệp tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay với xuất phát điểm bắt đầu từ một nước nông nghiệp, đời sống của đa số dân cư còn khó khăn vì vậy mà nông nghiệp phải được coi là mặt trận hàng đầu, trong đó đẩy nhanh phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá. Nó không chỉ cung cấp đầy đủ vững chắc hàng hoá nông sản cho tiêu dùng, cho sản xuất mà nó còn tạo điều kiện thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo ra sự biến đổi sâu sắc toàn diện kinh tế – xã hội, trước hết là ở nông thôn.

Để kinh tế nông nghiệp thể hiện và đảm trách được vai trò quan trọng đó, tỉnh cần xây dựng được một nền nông nghiệp toàn diện, chuyên môn hoá cao theo ngành, vùng, tổ chức được hợp lý sản xuất, xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại, gắn với thị trường, từ đó chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất ngày càng hiện đại.

Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là nước đi sau nhiều quốc gia đã và đang phát triển vì vậy mà trong quá trình tìm kiếm các phương án nhằm đẩy nhanh ngành kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, rất cần phải nghiên cứu, thẩm định những bài học kinh nghiệm của các nước, trên cơ sở phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong các giai đoạn và bối cảnh phát triển khác nhau điều này sẽ cho phép tận dụng thêm được các cơ hội và rút ngắn khoảng cách trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của mình.

– Nông nghiệp Lào đang còn là một nền nông nghiệp đang phát triển.

Cho đến nay, nhiều nước đã có nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao, mọi hoạt động trong sản xuất nông nghiệp đã được cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa và tự động hóa. Nhờ đó, năng suất ruộng đất, năng suất lao động của họ đạt rất cao, tạo ra sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Trong khi đó nông nghiệp Lào đang ở trình độ rất thấp. Cơ sở vật chất,

kỹ thuật của nông nghiệp đang phát triển lao động xã hội đại bộ phận tập trung trong nông nghiệp. sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, tỷ suất nông sản hàng hóa còn thấp. Thu nhập của nông dân thấp, đời sống mọi mặt của họ còn hết sức khó khăn, sức mua thấp. Thị trường nhỏ lẻ, phân tán, manh mún, mang tính chất mùa vụ.

– Nền nông nghiệp Lào là nền nông nghiệp nhiệt đới:

Đặc điểm này mang lại cho nông nghiệp Lào một số thuận lợi khá cơ bản: nguồn nước phong phú, nguồn ánh sáng dư thừa, nhờ đó có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp quanh năm. Chủng loại cây trồng và vật nuôi phong phú, đa dạng nhờ đó rất có điều kiện sản xuất những nông sản có giá trị kinh tế cao.

Tuy nhiên đặc điểm này cũng đem lại cho nông nghiệp Lào những khó khăn không nhỏ, đó là thường xuyên bị sâu bệnh phá hoại. Ngoài ra, bình quân đất nông nghiệp trên một đầu người của Lào tương đối lớn nhưng lại phân tán manh mún cũng là một khó khăn đáng kể. Vì vậy, trong quá trình phát triển nền nông nghiệp Lào theo hướng sản hiện đại, thì cần tìm cách phát huy cao độ những mặt thuận lợi và hạn chế đến mức tối đa những mặt khó khăn của nó, bảo đảm cho nông nghiệp có sự phát triển nhanh và vững chắc.

c. Quản lý nhà nước về nông nghiệp

* Quản lý

Quản lý là sự tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý và khách thể của quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thóng để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.

* Quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước

Quản lý nhà nước là tác động thường xuyên, có chủ đích của cơ quan nhà nước đối với một số hoạt động nào đó hoặc một số đối tượng nào đó nhằm tạo điều kiện cho các hoạt động, đối tượng có lợi cho xã hội, quốc gia, dân tộc, ngăn cấm, hạn chế các hoạt động, đối tượng tác hại cho xã hội, quốc gia, dân tộc.

Quản lý nhà nước khác với quản lý của các tổ chức phi nhà nước ở các đặc điểm:

Thứ nhất, QLNN mang tính quyền lực cưỡng bức. Hầu hết các hành động quản lý của cơ quan nhà nước đều được luật hóa.

Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường nhà nước có quyền thu thuế không theo nguyên tắc trao đổi hàng hóa, do đó có nguồn tài chính để tài trợ cho một số đơn vị, tổ chức, cá nhân nào đó.

Thứ ba, QLNN được thực hiện bằng bộ máy đồ sộ với ba chức năng chính là lập pháp, hành pháp và tư pháp, được phân cấp thành chính quyền trung ương và chính quyền địa phương. Thông thường chính quyền địa phương quản lý theo lãnh thổ, chính quyền trung ương quản lý các lĩnh vực liên địa phương và các lĩnh vực cần quản lý thống nhất ở tầm quốc gia.

* Quản lý nhà nước về nông nghiệp

Quản lý nhà nước về nông nghiệp có vai trò to lớn không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, bắt nguồn từ yêu cầu khách quan, nội tại của sự phát triển nền nông nghiệp, nông thôn. Đến lượt nó việc quản lý, điều chỉnh và hướng dẫn nông nghiệp đi theo hướng nào, tốc độ phát triển ra sao lại tùy thuộc hướng phát triển chung nền kinh tế đất nước.

Quản lý nhà nước đối với nông nghiệp là hoạt động sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra… của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương đối với lĩnh vực nông nghiệp trên cơ sở nhận thức vai trò, vị ví và đặcc điểm kinh tế – kỹ thuật, chuyên môn của ngành nông nghiệp để khai thác và sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nước nhằm đạt được mục tiêu xác định với hiệu quả cao nhất.

Trong bất cứ điều kiện nào thì vai trò to lớn quản lý nhà nước về nông nghiệp cũng chỉ được thể hiện khi nó thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước sau đây:

Thứ nhất, quản lý nhà nước về nông nghiệp đóng vai trò định hướng chiến lược cho sự phát triển nông thôn, phù hợp cho từng giai đoạn phát triển kinh tế đất nước. Quản lý nhà nước về nông nghiệp có vai trò nhiều mặt về kinh tế, xã hội của đất nước. Việc đảm bảo sự phát triển hài hòa cân đối giữa các lĩnh vực trong cơ cấu kinh tế quốc dân đòi hỏi phải xác định chiến lược phát triển của ngành phù hợp với chiến lược phát triển toàn bộ nền kinh tế. Trên cơ sở xác định chiến lược phát triển, nhà nước cụ thể hóa thành các chương trình, các kế hoạch định hướng phát triển trung hạn và ngắn hạn để hướng dẫn sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn. Các chiến lược và kế hoạch phát triển nói trên được xây dựng cụ thể cho toàn bộ nền nông, lâm nghiệp ở từng cấp trong bộ máy quản lý nhà nước.

Thứ hai, quản lý nhà nước về nông nghiệp đóng vai trò điều chỉnh các mối quan hệ trong nội bộ nền nông nghiệp và giữa nông nghiệp với nông thôn và các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa dựa trên trình độ xã hội hóa sản xuất hàng hóa ngày càng cao, các mối quan hệ kinh tế trong nội bộ nền nông nghiệp cũng như giữa nông nghiệp với phần còn lại của nền kinh tế, thậm chí với nền kinh tế trong khu vực và quốc tế ngày càng phát triển rộng rãi và đa dạng. Sự hình thành và phát triển các mối quan hệ kinh tế đó có thể là phù hợp với mục tiêu của sự phát triển, cũng có thể không phù hợp và thậm chí xa lạ với bản chất kinh tế tốt đẹp của đất nước. Trong điều kiện như vậy nhà nước phải thực hiện chức năng điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế để phát triển phù hợp bằng các biện pháp khuyến khích, hạn chế hoạc cấm đoán. Các mối quan hệ kinh tế mà nhà nước cần điều chỉnh có hai loại. Có loại liên quan đến quyền sở hữu và sử dụng các tài nguyên, nguồn lực như: Đất đai, nguồn lực vốn góp cổ phần,… Nhà nước cần điều chỉnh bằng luật sao cho sự phát triển đa dạng hóa sở hữu ở mức độ phù hợp. Có loại quan hệ gắn liền với hoạt động sản xuất – chế biến – tiêu thụ,… dưới những hình thức đa dạng khác nhau, nhà nước cần điều chỉnh bằng cách giúp đỡ, tạo môi trường thuận lợi để các quan hệ này phát triển một cách tối ưu hiệu quả. Có loại quan hệ liên quan đến lĩnh vực phân phối, nhà nước cần hướng dẫn để các quan hệ này được thực hiện một cách công bằng, đúng pháp luật.

Thứ ba, quản lý nhà nước về nông nghiệp có vai trò hỗ trợ giúp đỡ kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, hợp tác xã dịch vụ và các loại hình tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp, ở nông thôn phát triển. Trong điều kiện hiện nay, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào xuất phát từ sản xuất nhỏ tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất lớn, quản lý nhà nước cần chuẩn bị, hỗ trợ giúp đỡ các hộ, trang trại hoặc các loại hình doanh nghiệp khác về một số mặt chủ yếu sau:

Hỗ trợ để tạo dựng ý chí làm giàu chính đáng bằng các hoạt động nông nghiệp và kinh tế nông thôn, vấn đề cấp bách hiện nay là tháo gỡ những vướng mắc làm cho người sản xuất chưa thực sự yên tâm; cân nhắc và gạt bỏ hết những vướng mắc mới có thể nảy sinh khi ban hành văn bản chính sách mới, sử dụng khéo léo các quy phạm đạo đức như tôn vinh những điển hình tiên tiến trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế nông nghiệp.

  • Giúp đỡ hỗ trợ cho việc chuẩn bị những tri thức cần thiết cả về kỹ thuật và kinh tế để đảm bảo cho việc cạnh tranh thành công trong cơ chế thị trường của các doanh nghiệp nông thôn.
  • Giúp đỡ về các phương tiện vật chất hoặc điều kiện để tạo ra phương diện vật chất để tạo dựng sự nghiệp kinh doanh, nhất là vấn đề về vốn trong kinh doanh.
  • Giúp đỡ tạo dựng môi trường thuận lợi và lành mạnh cho kinh tế hộ, trang trại và các doanh nhân khác ở nông thôn phát triển. Việc quản lý nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển bằng cách xác lập và vận hành có hiệu quả một hệ thống thị trường đồng bộ ở nông thôn, bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra.

Ở đây, vấn đề quan trọng nhất là lựa chọn và áp dụng được những hình thức hợp tác sản xuất thực sự có hiệu quả đối với từng hoạt động kinh tế cụ thể ở nông thôn được người dân chấp nhận. Việc quản lý nhà nước tạo ra môi trường lành mạnh cho sự phát triển bằng cách nhà nước trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến thiên tai, bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự trị an và ngăn chặn tội phạm ở nông thôn.

Tóm lại, quản lý nhà nước về nông nghiệp thực hiện chức năng điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế nhằm lành mạnh hóa toàn bộ các mối quan hệ kinh tế, xã hội trên địa bàn nông thôn. Chỉ có trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ kinh tế lành mạnh được duy trì ổn định, phát triển đúng pháp luật sẽ là điều kiện thúc đẩy sự phát triển ổn định của xã hội trên địa bàn nông thôn.

1.1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với nông nghiệp

Thứ nhất, xuất phát trừ vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Quản lý nhà nước về nông nghiệp có vai trò to lớn không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, bắt nguồn từ yêu cầu khách quan, nội tại của sự phát triển nền nông nghiệp, nông thôn. Đến lượt nó việc quản lý, điều chỉnh và hướng dẫn nông nghiệp đi theo hướng nào, tốc độ phát triển ra sao lại tùy thuộc hướng phát triển chung nền kinh tế đất nước.

Thứ hai, nông nghiệp, nông dân và nông thông luôn là những vấn đề kinh tế – xã hội rất nhạy cảm mà bất kỳ nước nào cũng phải quan tâm đặc biệt và thường xuyên.

Thứ ba, vấn đề thiếu đất sản xuất, lao động nông nghiệp dôi thừa, nông dân nghèo đói, rủi ro trong nông nghiệp thường xuyên xảy ra, vấn đề bảo hộ nông nghiệp trong quá trình hội nhập,.. chỉ có nhà nước mới có đủ sức mạnh để giải quyết.

Thứ tư, để không ngừng cải thiện đời sống của hàng chục triệu cư dân nông nghiệp ở nông thôn và thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, thông qua chức năng điều tiết thu nhập. Đây là vấn đề mang tính chính trị – xã hội.

Thứ năm, nông nghiệp sử dụng tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt quan trọng thuộc sở hữu nhà nước như tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng, tài nguyên nước… nên nhà nước phải biến nó thành công cụ quan trọng giúp nhà nước điều tiết theo định hướng nhất định trong từng giai đoạn.

Thứ sáu, một trong những đặc điểm của sản xuất kinh doanh nông nghiệp là mức độ rủi ro rất lớn. Vì vậy, các chủ thể kinh doanh nông nghiệp là mưucs độ rủi ro rất lớn. Vì vậy, các chủ thể kinh doanh nông nghiệp nhất là nông dân sản xuất nhỏ cần được bảo hiểm trong sản xuất trên thị trường.

1.1.3 Chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp

Trong quá trình phát triển nông nghiệp, quản lý nhà nước có vai trò quan trọng, góp phần vào điều chỉnh, hướng dẫn quá trình vận động nội tại của nông nghiệp phù hợp với các điều kiện khách quan và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội chung của nền kinh tế. Vai trò quản lý nhà nước về nông nghiệp được thể hiện với các chức năng cơ bản sau:

Thứ nhất, Nhà nước tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển. Nhà nước tạo lập môi trường chính trị – xã hội ổn định; thiết lập môi trường pháp lý, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, một sân chơi chung, cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế. Nhà nước vận dụng các quy luật kinh tế khách quan và sử dụng những chính sách, cơ chế nhằm mở rộng thị trường, khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Thứ hai, Nhà nước định hướng phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội trong nước, phù hợp với xu thế, điều kiện kinh tế khu vực và thế giới bằng những chủ trương, chính sách, pháp luật. Nhà nước định hướng phát triển nông nghiệp góp phần vào thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; hoạch định chính sách, chỉ tiêu kế hoạch vĩ mô cho từng thời kỳ; thực hiện xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống và văn minh xã hội.

Thứ ba, Nhà nước tổ chức và điều tiết sự phát triển của nông nghiệp. Tổ chức là một chức năng quan trọng của quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập như hiện nay. Nhà nước xây dựng, đổi mới hệ thống tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý nhà nước về nông nghiệp, cải tiến công cụ quản lý, thủ tục hành chính trong lĩnh vực nông nghiệp, đảm bảo tổ chức tinh gọn, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả.

Nhà nước cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo môi trường chính trị ổn định, đảm bảo công bằng và phúc lợi xã hội. Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết chi phối thị trường bằng cách sử dụng cả biện pháp kinh tế và biện pháp hành chính. Đồng thời, Nhà nước sử dụng hàng loạt các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô bao gồm hệ thống chính sách, các đòn bẩy kinh tế, quỹ dự trữ hàng hoá, cán cân thương mại, tỷ giá hối đoái, tín dụng, tài chính, thuế quan, hạn ngạch, tiêu chuẩn hoá… nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra.

Thứ tư, Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra các hoạt động liên quan đến nông nghiệp nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương, uốn nắn những hành vi trái pháp luật; ngăn ngừa những hành động tiêu cực như: sản xuất và kinh doanh hàng giả (nông sản, thực phẩm, giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả, kém chất lượng), đầu cơ, buôn lậu… nhằm bảo vệ quyền bình đẳng trước pháp luật, sự cạnh tranh lành mạnh cũng như quyền lợi của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra để phát hiện những kẽ hở và nhược điểm của cơ chế chính sách quản lý đã ban hành trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng, cơ chế chính sách kinh tế nói chung để kịp thời sửa đổi, đồng thời, phổ biến những kinh nghiệm, phát hiện và nhân rộng những nhân tố mới, tích cực của sản xuất nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

1.1.4 Mục tiêu quản lý nhà nước đối nông nghiệp

Quản lý nhà nước đối với nông nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu

– Nâng cao vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển nền kinh tế, gắn liền với quá trình chuyển dịch các yếu tố sản xuất ra ngoài khu vực nông nghiệp với sự chuyển dịch cơ cẩu kinh tế.

– Tăng năng suất và sản lượng nông nghiệp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đối với nông sản.

– Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, từng bước đa dạng hóa sản xuất và xuất khẩu nông sản.

– Tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống nông dân.

– Nhà nước thống nhất quản lý việc xây dựng chương trình, kế hoạch, đề tài nghiên cứu phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp.

– Nhà nước ban hành và thực hiện hết thống chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp (chính sách đất đai, tài chính, thị trường, bảo hộ nông nghiệp, khoa học công nghệ và chính sách đào tạo nguồn nhân lực,…) trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sửa đổi, bổ sung những sách hiện hành cho phù với những cam kết trong các hiệp định song phương và đa phương mà chính quyền đã ký kết.

– Tổ chức bộ máy, tuyển dụng, đào tạo, bố trí và sử dụng đội ngũ công chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với nông nghiệp; xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược đào tạo lực lượng lao động nông nghiệp đáp ứng yêu cầu của hội nhập.

– Nhà nước thống nhất quản lý về xây dựng và phát triển kinh tế hộ nông dân, kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, các đơn vị, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.

– Chính quyền các cấp ký kết các văn bản pháp lý về nông nghiệp với bên hữu quan nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát triển nông nghiệp trong quá trình hội nhập.

1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP

Tùy vào các cấp quản lý khác nhau nội dung quản lý nhà nước về nông nghiệp cũng khác nhau. Phạm vi luận văn chỉ tìm hiểu nội dung quản lý nhà nước về nông nghiệp ở cấp tỉnh.

Nhiệm vụ đầu tư của các cơ quan cấp tỉnh trong quản lý nông nghiệp là triển khai, thực hiện chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã họi, điều kiện tự nhiên của mỗi địa phương, đảm bảo được sự thống nhất trong phương hướng, chính sách lãnh đạo chung của Nhà nước. Ngoài ra, cơ quan cấp tỉnh còn xây dựng, ban hành quy hoạch, kế hoạch, chương trình khuyến khích phát triển nông nghiệp; Tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ, phát triển nông nghiệp; Kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực nông nghiệp; Tổ chức bộ máy quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp tại tỉnh.

1.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp

Xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước.

Quy hoạch phát triển nông nghiệp là cụ thể hóa chiến lược phát triển nông nghiệp, là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động sản xuất, kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp gắn với phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để chủ động sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho từng thời kỳ xác định. [3, tr.45]

Kế hoạch phát triển nông nghiệp là một bộ phận của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, phải nằm trong kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của cả nước và của địa phương, là định hướng phát triển nông nghiệp trong từng thời kỳ (hằng năm và 05 năm). [3.tr46].

Nhà nước xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cụ thể nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực để phát triển nông nghiệp. Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng quyết định sự phát triển nông nghiệp. Dựa vào điều kiện tự nhiên của từng địa phương mà các cơ quan nhà nước vạch ra các quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung. Thúc đẩy việc khai thác lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật, sinh thái của các vùng với quy mô lớn, hình thành các vùng nông nghiệp chuyên môn hóa cao để đáp ứng nhu cầu nông sản trong nước và xuất khẩu.

Ở phạm vi cấp tỉnh, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, cũng như chiến lược phát triển ngành nông nghiệp của Chính phủ, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Chiến lược phải thực sự quan tâm đến những vấn đề loại bỏ những yếu tố tiêu cực, như: đầu tư lãng phí, kém hiệu quả; cây trồng, vật nuôi không phù hợp với nhu cầu thị trường hoặc điều kiện của tỉnh. Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp của trung ương, chính quyền các địa phương ưu tiên tập trung vào xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sản xuất và thu hút các nhà đầu tư, cũng là giúp họ có định hướng phù hợp với chiến lược phát triển nông nghiệp của tỉnh, hạn chế được rủi ro trong kinh doanh.

Tiêu chí đánh giá:

– Số lượngVăn bản Quy hoạch về nông nghiệp tại tỉnh Sekong theo từng giai đoạn.

– Số lượng Bảng Kế hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Sekong trong giai đoạn 2017 – 2020.

– Chất lượng công tác xây dựng và thực hiện Quy hoạch và kế hoạch về nông nghiệp.

– Báo cáo kết quả thực hiện nội dung so với quy hoạch và kết hoạch phát triển nông nghiệp tại tỉnh Sekong trong giai đoạn 2017 – 2020.

1.2.2. Xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai chính sách tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp.

Chính sách nông nghiệp là tổng thể các giải pháp và công cụ do nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội xây dựng và tổ chức thực hiện để giải quyết những vấn đề chính sách nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp. [3, tr.56].

Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp đã được xây dựng, các địa phương ban hành hệ thống chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp trên địa bàn mình. Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu, ban hành, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật chung của Trung ương cũng như địa phương cho phù hợp với điều kiện của địa phương, sẽ khai thác được tiềm năng và lợi thế so sánh về phát triển nông nghiệp.

Thông thường các chính sách phát triển nông nghiêp được đề cập đến những nội dung cơ bản như sau:

– Các chính sách về khuyến khích đầu tư, ưu đãi trong thuê đất;

– Chính sách phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế nông nghiêp;

– Chính sách huy động vốn trong phát triển nông nghiệp;

– Chính sách thị trường và giá cả nông sản;

– Chính sách bảo trợ sản xuất nông nghiệp.

Ngoài ra còn có chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệpt hàng hóa; chính sách trợ cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng thiết yếu, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân,… Những chính sách này tạo động lực cho nông nghiệp phát triển toàn diện, bảo đảm sự phát triển nông nghiệp hài hoà và phù hợp với phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương.

Tiêu chí đánh giá:

– Số lượng và nội dung các văn bản đã ban hành về hướng dẫn thực hiện quy hoạch và kế hoạch phát triển nông nghiệp tại địa phương.

– Mức độ thuận lợi, ưu đãi của các chính sách trong quá trình thực hiện phát triển nông nghiệp.

1.2.3 Thực hiện công tác hỗ trợ nông nghiệp

Dựa trên tình hình thực tế của nông nghiệp, nông thôn nước ta cũng như địa phương nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu một số chính sách sau:

– Xúc tiến thương mại nông nghiệp. Thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đối với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, nhà sản xuất, kinh doanh nông lâm sản, thủy sản, sản phẩm làng nghề, phục vụ công tác quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp; lâm nghiệp; thủy sản; thủy lợi và phát triển nông thôn; an toàn nông sản, lâm sản, thủy sản trong quá trình sản xuất đến khi đưa ra thị trường. Xúc tiến thương mại nông nghiệp cung cấp dịch vụ phục vụ hoạt động hội chợ triển lãm, xúc tiến thương mại nông nghiệp; dịch vụ tư vấn và chuyển giao kỹ năng xúc tiến thương mại liên quan đến ngành nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tập huấn, bồi dưỡng cán bộ xúc tiến thương mại nông nghiệp. Dịch vụ giới thiệu khách hàng và đối tác đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn.

+ Công tác khuyến nông có vai trò là cầu nối giữa Nhà nước, cơ quan nghiên cứu khoa học với hộ nông dân và thị trường, là hệ thống tư vấn, phổ biến kiến thức, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, cung cấp thông tin, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh cho nông dân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoạt động khuyến nông đã góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình, xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống cho nông dân, ngư dân ở các vùng ven sông, đồng bằng, trung du, miền núi. Hoạt động khuyến nông gồm các hoạt động:

– Hoạt động thông tin tuyên truyền khuyến nông;

– Công tác đào tạo, huấn luyện nâng cao năng lực, trình độ cho cán bộ khuyến nông các cấp và nông dân;

– Các chương trình khuyến nông trồng trọt;

– Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về cải tạo giống, áp dụng các giống vật nuôi đạt năng suất, chất lượng cao;

– Ứng dụng các tiến bộ về giống và kỹ thuật lâm sinh để trồng rừng thâm canh, phát triển các loài cây rừng có năng suất cao, chất lượng phù hợp;

– Các chương trình khuyến nông về cơ giới hoá, bảo quản và chế biến nông lâm sản;

– Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và hoạt động khuyến nông đô thị;

– Hoạt động hợp tác quốc tế về khuyến nông…

Tiêu chí đánh giá:

– Số lượng chương trình xúc tiến thương mại nông nghiệp;

– Số lượng chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn; lượt người tham gia; nội dung đào tạo;…

– Kết quả quá trình ứng dụng khoa học, kỹ thuật, cơ giới hóa trong nông nghiệp.

1.2.4 Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực nông nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, sự phát triển của các thành phân kinh tế, sự cạnh tranh khốc liệt của các chủ thể kinh tế, sự không công bằng, phát triển không ổn định,.. Đòi hỏi chức năng kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước. Lĩnh vực nông nghiệp cần phải đượcc đầu tư phát triển đồng bộ như các ngành khác từ chính sách, con người, hạ tầng cơ sở, sản xuất nông nghiệp,… đúng với mục tiêu đặt ra.

Hoạt động kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực nông nghiệp là nội dung rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực của các chính sách phát triển nông nghiệp, phát hiện những sai phạm có thể giúp các cơ quan quản lý nhà nước kịp thời điều chỉnh nhằm ngăn ngừa hiện tượng tiêu cực, giúp thực hiện mục tiêu trong phát triển nông nghiệp tại tỉnh.

Kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm lĩnh vực nông nghiệp gồm có các hoạt động:

– Thanh tra việc thực hiện chỉ thị của Chính phủ về công tác quy hoạch, giám sát các hoạt động kinh tế nông nghiệp.

  • Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành về vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm.
  • Thanh tra việc chấp hành pháp luật về kiểm soát giết mổ, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật và kiểm tra vệ sinh thú y.

Tiêu chí đánh giá:

– Số lượng, nội dung các cuộc thanh tra, kiểm tra;

– Số lượng sai phạm, cách thức xử lý, kết quả xử phạt.

1.2.5 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về nông nghiệp cấp tỉnh

Việc quản lý nhà nước về nông nghiệp được thực hiện thống nhất từ trung ương tới địa phương thông quan công tác tổ chức bộ máy quản lý. Hơn nữa, sự thống nhất trong quản lý cũng đảm bảo được nông nghiệp được phát triển đúng theo pháp luật và quy hoạch. Bộ máy quản lý nhà nước về nông nghiệp cấp tỉnh bao gồm Ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân là đơn vị quản lý trực tiếp. Sở Nông nghiệp là đơn vị quản lý trực tiếp, Sở Tài Nguyên môi trường, Sở Xây dựng, Ủy ban nhân nhân cấp cấp huyện, chi cục nông nghiệp và phát triển nông thôn… là những cơ quan liên quan đên công tác quản lý nước về nông nghiệp. Mỗi cơ quan ban ngành đều có sự phân quyền cụ thể trong quản lý về nông nghiệp trong phạm vi của tỉnh.

Tiêu chí đánh giá:

– Sự thuận tiện, nhanh chóng, đơn giãn trong thủ tục hành chính;

– Năng lực giải quyết công việc của cán bộ quản lý nhà nước về nông nghiệp (trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ).

– Sự phân quyền trong bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về nông nghiệp.

1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên là nhân tố tác động mạnh mẽ đối với tất cả các hoạt động của sản xuất nông nghiệp. Môi trường tự nhiên với các nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, như đất, nước, khí hậu, thời tiết, ánh sáng… cung cấp những tư liệu sản xuất cơ bản để con người tiến hành sản xuất nông nghiệp, tạo ra lương thực, thực phẩm. Điều kiện tự nhiên ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có những sự khác biệt, có nơi khó khăn và có nơi thuận lợi, song nếu chúng ta biết khai thác hợp lý vẫn có thể khai thác từ tự nhiên để tạo ra những nông phẩm có giá trị kinh tế. Do vậy, để có được một nền nông nghiệp phát triển, con người phải biết dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa vào lợi thế của từng vùng, miền để xây dựng những chiến lược phát triển nông nghiệp cho phù hợp.

Tuy nhiên, tự nhiên cũng là một trong những tác nhân đe dọa lớn cho phát triển nông nghiệp như những thiên tai: động đất, lũ lụt, hạn hán, mưa đá, sương muối… Những đe dọa thiên tai đang gây ra cho nông nghiệp, có một phần nguyên nhân do chính những hoạt động của con người gây ra, như: phá rừng, làm thủy điện, phát thải công nghiệp, khai thác tài nguyên đất không khoa học… Do vậy, con người phải tính toán và cân đối trong sự lựa chọn của mình để đem lại hiệu quả về lâu dài cho nông nghiệp phát triển, cũng chính là bảo vệ lợi ích lâu dài của mình.

1.3.2 Điều kiện kinh tế – văn hóa xã hội

Điều kiện kinh tế – xã hội cũng có tác động rất lớn tới một nền nông nghiệp nhất định. Đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển, các điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp hiện đại sẽ dễ dàng hơn. Còn đối với các nước đang phát triển, việc hình thành một nền nông nghiệp phát triển sẽ gặp nhiều khó khăn, trở ngại do yếu kém về khoa học, công nghệ, thiếu vốn, thiếu những người nông dân có trình độ và sự hậu thuẫn của Nhà nước để hỗ trợ cho nông dân trước những rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ nông phẩm.

Bên cạnh đó, quá trình phát triển kinh tế – xã hội cũng có những tác động tiêu cực tới nền nông nghiệp. Sự phát triển của công nghiệp thiếu cẩn trọng đang huỷ hoại môi trường nặng nề, gây thiệt hại rất lớn cho nông nghiệp. Việc chạy theo lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường khiến cho người nông dân dùng đủ mọi biện pháp để tăng sản lượng nhanh chóng, làm cho tài nguyên bị khai thác kiệt quệ, lãng phí, chất lượng sản phẩm không được đảm bảo, dư lượng chất hoá học trong nông sản cao. Sự phát triển của nhiều loại hình dịch vụ và đô thị hóa nhanh chóng làm quỹ đất nông nghiệp dần thu hẹp… Nhận thức được những tác động của các nhân tố kinh tế – xã hội đối với phát triển nông nghiệp, chúng ta phải có chiến lược phát triển kinh tế – xã hội cho phù hợp, có sự cân đối giữa công nghiệp, nông nghiệp với dịch vụ và phát huy thế mạnh của từng vùng. Thuận lợi hay khó khăn của điều kiện kinh tế – xã hội đối với phát triển nông nghiệp là những nhân tố có thể thay đổi và điều này phụ thuộc rất lớn vào hành động của chúng ta.

1.3.3 Nhận thức của các chủ thể tham gia sản xuất nông nghiệp, chủ thể quản lý nhà nước về nông nghiệp

Trong quá trình phát triển nông nghiệp có các chủ thể chính tham gia là: Cơ quan quản lý nhà nước, người nông dân, nhà khoa học nông nghiệp, nhà công nghiệp chế biến nông sản, nhà phân phối và tiêu thụ nông sản và các nhà dịch vụ khác (ngân hàng, thuế, thông tin…). Mỗi chủ thể đều phải có nhận thức đúng đắn và có ý thức hưởng ứng, ủng hộ công tác quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp.

Trong quản lý, phát triển nông nghiệp, yếu tố nhận thức và hành động của các chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, kinh doanh nông sản. Nếu có nhận thức đúng đắn, sâu sắc và thống nhất về các nội dung của quản lý, phát triển nông nghiệp, các nhà lãnh đạo, quản lý sẽ đưa ra các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế, đáp ứng các yêu cầu khách quan giữa hai yếu tố ổn định và phát triển. Ngược lại, nếu có những chính sách không phù hợp sẽ làm kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp. Trong phát triển nông nghiệp, khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng nhất để gia tăng giá trị hàng hóa nông sản, đem lại hiệu quả tối đa cho sản xuất nông nghiệp. Do vậy, việc đầu tư và ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào nông nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Bởi, với những tìm tòi khoa học trong lai tạo cây, con giống cho năng suất, chất lượng tốt, giá thành cao, chống chịu được sâu bệnh và điều kiện thời tiết khắc nghiệt; nghiên cứu chế tạo các loại máy móc làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất… sẽ làm tăng thu nhập cho người nông dân, đồng thời, góp phần xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại. Để xây dựng được nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, hiện đại và có khả năng cạnh tranh cao, yếu tố doanh nghiệp cũng hết sức quan trọng trong vai trò gắn kết sản xuất với chế biến – thị trường và tạo sự gắn kết một cách đồng bộ, thống nhất giữa các yếu tố đầu vào của sản xuất (vốn, giống, vật tư, đất đai, lao động) và đầu ra của sản phẩm (mua bán nguyên liệu, dự trữ, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm sau chế biến).

Người nông dân là một trong các chủ thể không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp, bởi nông dân là một yếu tố cơ bản cấu thành lực lượng sản xuất trong nông nghiệp. Người nông dân không chỉ có số lượng đông đảo và những đức tính tốt trong lao động sản xuất, mà còn là một giai cấp quan trọng trong quá trình tiến hành cách mạng dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay. Hệ thống chính trị cần có những tác động để phát huy sức mạnh, cũng như giúp người nông dân hạn chế được một số nhược điểm để có thể làm tròn nhiệm vụ, vai trò của mình. Cần làm tốt công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao nhận thức cho người nông dân, giúp họ vượt qua những tác phong tiểu nông và tập quán cũ lên vị trí của người làm chủ khoa học, kỹ thuật, cũng như làm chủ các nguồn lực mà xã hội dành cho họ.

Các nhà khoa học nông nghiệp, nhà chế biến nông sản, nhà phân phối và tiêu thụ nông sản và các nhà hoạt động khác có liên quan đều phải thực hiện đúng pháp luật về phát triển nông nghiệp.

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ TỈNH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC, GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO TỈNH SEKONG

1.4.1 Quản lý nhà nước về nông nghiệp ở tỉnh Phong Sa Ly, Lào.

Tỉnh Phong Sa Ly là một tỉnh miền núi, nằm ở phía Bắc của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và giáp với tỉnh Điện Biên, tỉnh Lai Châu (Việt Nam); phía Tây Bắc là tỉnh U Đôm Xay giáp với Trung Quốc; phía Nam giáp tỉnh Luông Pha Băng.

Phong Sa Ly là tỉnh có vị trí quan trọng, có thể nói là có tầm quan trong bậc nhất về an ninh và quốc phòng, với chiều dài biên giới dài 650 km, giáp với Việt Nam 320 km và giáp với Trung Quốc 330 km. Tỉnh Phong Sa Ly nằm ở giữa ba biên giới nước Lào – Việt Nam – Trung Quốc, là tỉnh có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng và đối ngoại.

Tỉnh Phong Sa Ly có diện tích 16.270 km2, diện tích của tỉnh rộng, dân số chỉ có 162.652 người (thống kê dân số năm 2005), mật độ dân số 9,9 người/km2. Nhìn chung địa hình của tỉnh hiểm trở, địa bàn chia cắt phức tạp, nhiều núi cao, vực sâu, hạ tầng cơ sở kém phát triển, dân cư thưa thớt, phân bố không đều giữa các vùng,… điều này gây trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế – xã hội trong tỉnh. Mặc dù vậy, địa hình miền núi cũng có những tiềm năng, thế mạnh nhất định về đất, rừng, tài nguyên, khoáng sản. Song, những tiềm năng này vẫn còn ở dạng tiềm năng, chưa được khai thác, sử dụng và quản lý có hiệu quả.

Là tỉnh vùng cao, chính quyền tỉnh Phong Sa Ly rất chú trọng đến sản xuất nông nghiệp. Trong công tác quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp, chính quyền tỉnh đã có những kinh nghiệm nhất định:

– Luôn chú trọng công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp, xây dựng quy hoạch phát triển nông nghiệp, định hướng tầm nhìn chiến lược được thể hiện rõ nhằm phát triển nông nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể; dự báo về nhu cầu vốn, sự đầu tư và lao động…

  • Quan tâm đầu tư phát triển cơ sở vật chất hạ tầng nông thôn, tỉnh đã vận động các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, xây dựng hạ tầng nông thôn; lựa chọn nhà đầu tư có tiềm lực, quyết tâm cao rót vốn đầu tư; xem việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng nông thôn với chất lượng tốt là một nhân tố quan trọng quyết định tính hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư vào phát triển nông nghiệp…
  • Các cơ quan quản lý nhà nước luôn tích cực đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, nhanh chóng, nâng cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nông dân sản xuất, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành và nâng cao chất lượng nông sản; các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp tại các xã, thôn, bản đã thực hiện hầu hết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, theo hướng đơn giản hóa các thủ tục. Đây là bước cải cách hành chính mạnh mẽ và đã phát huy tác dụng trong phát triển kinh tế – xã hội.
  • Thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp, mời gọi đầu tư phát triển nông nghiệp, bên cạnh ban hành nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, tỉnh đã chú trọng lập các đoàn công tác đi xúc tiến đầu tư tại nhiều tỉnh, địa phương trong và ngoài nước nhằm quảng bá, kêu gọi các tập đoàn kinh tế có tiềm năng đầu tư vào nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Chính quyền tỉnh quan tâm và kịp thời giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong sản xuất và mời gọi đầu tư. Ngoài đầu tư và mời gọi đầu tư cho phát triển nông nghiệp, tỉnh không ngừng nâng cao chất lượng nhiều ngành hỗ trợ khác.

Mặc dù công tác quản lý nhà nước có nhiều thành công, tuy nhiên nông nghiệp tỉnh Phong Sa Ly còn yếu ở sự phối hợp chỉ đạo chuyên môn và khâu tuyên truyền, giáo dục, đào tạo cho người nông dân, như: việc như triển khai, mở rộng các mô hình còn bị hạn chế do chưa làm tốt việc đánh giá, tổng kết các mô hình sản xuất, kinh doanh tiên tiến; việc đi sâu đổi mới phương pháp đào tạo cho phù hợp kinh tế thị trường còn chậm. Điều này do năng lực cán bộ khuyến nông không đồng đều, một số khuyến nông viên cơ sở hoạt động còn kém hiệu quả; kinh phí cho hoạt động khuyến nông còn nhiều bất cập; hoạt động khuyến nông tại vùng cao, vùng sâu chưa thực sự sôi nổi, lực lượng cán bộ khuyến nông biết tiếng dân tộc còn ít

1.4.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về nông nghiệp ở tỉnh Xiêng Khoảng, Lào.

Tỉnh Xiêng Khoảng có diện tích 10,000 km2, độ cao bình quân là 1200m. Xiêng Khoảng tiếp giáp với tỉnh Nghệ An của Việt Nam về phí Đông, với tỉnh Viêng Chăn của Lào về phía Tây Nam. Xiêng Khoảng có những đỉnh núi cao nhất Lào, như Phu bia (2.820 m), Phu xao (2.690 m), Phu xamxum (2.620 m), Phu sane (2.218 m), Phu leb (1.761 m). Các sông Nậm Ngừm của Lào, sông Lam của Việt Nam bắt nguồn từ miền Bắc Xiêng Khoảng.

Về đất đai, tỉnh Xiêng Khoảng, chia thành 7 loại, bao gồm: Đất xây dựng là 2.407,52 ha; Đất nông nghiệp là 604.298,72 ha; Đất lâm nghiệp là 361.251,76 ha; Đất giao thông là 1.057,2 ha; Đất văn hoá là 5.195,68 ha; Đất an ninh quốc phòng là 11.064 ha; Đất khu vực sông nước 15.085,12 ha.

Kinh tế chủ yếu của Xiêng Khoảng là trồng lúa và nuôi bò. Thu nhập cả tỉnh đạt 2,201,16 tỷ kíp/1năm, bình quân GDP đạt 1.328 đô la Mỹ/1 người/1 năm. Sản xuất thóc đạt 517,029,46 tấn/năm; sản xuất ngô đạt 454,097,93 tấn/năm; chăn nuôi trâu bò đạt 188,024 con, tăng lên 13%/năm.

Đạt được kết quả đó là do nhiều nguyên nhân, trong khâu quản lý có nhiều nét nổi bật:

  • Tỉnh đã chú trọng, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển nông nghiệp địa phương, trong quy hoạch phát triển nông nghiệp đã xác định phát triển nông nghiệp phải đi cùng với đổi mới, bảo đảm sự hài hoà, liên kết giữa các vùng kinh tế trong tỉnh; xác định rõ cơ cấu đầu tư ngành nghề, bảo đảm được tính bền vững cho sự phát triển.
  • Đầu tư phát triển cơ sở vật chất hạ tầng nông thôn, để khắc phục hạn chế về nguồn vốn đầu tư của Nhà nước đối với cơ sở vật chất hạ tầng nông thôn, tỉnh không chỉ dùng tiền ngân sách, vay ngân hàng để đầu tư cho cơ sở vật chất hạ tầng mà còn vận động mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư và xây dựng.

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước bằng cách xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất, có năng lực, bảo đảm thực hiện một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững về nghiệp vụ, giỏi về chuyên môn, đồng thời coi đây cũng là nguồn lực quan trọng để phát triển nông nghiệp, nông thôn. Các lãnh đạo đầu ngành của tỉnh còn chủ động xuống cơ sở để tìm hiểu, động viên, giải quyết vướng mắc tại chỗ, coi vướng mắc, khó khăn của nông dân là khó khăn và trách nhiệm của tỉnh trong việc tạo điều kiện phát triển nông nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong vấn đề quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp của tỉnh Xiêng Khoảng vẫn còn những hạn chế, như: quy hoạch thiếu tầm nhìn xa về môi trường sinh thái, mất cân đối giữa đầu tư phát triển nông nghiệp với xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng; sự phát triển của công nghiệp cũng gây áp lực cho nông nghiệp, nông thôn về đất đai, nhân lực, môi trường, nhưng chưa có cơ chế để tháo gỡ.

1.4.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam

Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của miền Trung, Việt Nam. Diện tích tự nhiên khoảng 5.152,67km2, có 1 thành phố trực thuộc, 6 huyện đồng bằng ven biển, 6 huyện miền núi và 1 huyện đảo (Lý Sơn). Dân cư khoảng 1,236 triệu người. Nông nghiệp là ngành có giá trị lớn nhất trong cơ cấu kinh tế tại tỉnh. Giai đoạn 2015 – 2020, giá trị nông nghiệp ước đạt 8.640,73 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân hàng năm là 15,5%.

Quảng Ngãi là một tỉnh có thành tích vượt trội trong phát triển nông nghiệp, cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực: nông nghiệp giảm, lâm nghiệp và thủy sản tăng. Tỷ trong chăn nuôi trong nông nghiệp giảm. Năm 2015, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 59,5%, thủy sản chiếm 35,07%, lầm nghiệp chiếm 5,42%. Năm 2020 tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 50,62%, thủy sản tăng từ 35,07% lên 40,97%, lâm nghiệp tăng lên 8,41%. Sản lượng lương thực năm 2020 đạt 492.299 tấn, 71.000 ngàn con trâu, 278.883 con bò, 371.057 con heo, 5 triệu con gia cầm. Nhìn chung, nền nông nghiệp đang dịch chuyển theo hướng kinh tế tập thể (trang trại, hợp tác xã nông nghiệp), có sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ với doanh nghiệp.

Để đạt được những thành tựa trên là sự nỗ lực rất lớn trong công tác quản lý của UBND và Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi. Nhìn chung, công tác QLNN về NN tại tỉnh Quảng Ngãi có những điểm nổi trội như sau:

– UBND, Sở NN và PTNT tỉnh Quảng Ngãi đã quyết liệt trong thực hiện các chính sách, chủ trương của Nhà nước trong phát triển nông nghiệp. Bản thân UBND tỉnh Quảng Ngãi cũng đang ban hành Quy hoạch, Đề án trong phát triển nông nghiệp như: Quyết định 116/2018/QĐ-UBND ngày 18/02/2019 của UBND tỉnh Quảng Ngãi Phê duyệt Đề án “Mỗi xã một sản phẩm” tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2018 – 2020, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết 07/2020/NQ-HĐND ngày 21/7/2020 của HĐND tỉnh Quảng Ngãi quy định chính sách khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi,..

– Thực hiện nhiều chương trình hỗ trợ trong phát triển nông nghiệp như: Thực hiện ổn định diện tích đất lúa, hỗ trợ nguồn vốn, kỹ thuật sản xuất trong nông nghiệp và chăn nuôi. Thực hiện phát triển kinh tế trang trại, kinh tế vườn.

– Quản lý nhà nước về vật tư nông nghiệp, bảo vệ môi trường trong sử dụng phân bón, hóa chất, xử lý chất thải nông nghiệp. Ngành rất chú trọng công tác quản lý vật tư nông nghiệp tập trung vào công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định về văn bản pháp luật có liên quan; công khai các quy trình thủ tục hành chính trong lĩnh vực phân bón và giống cây trồng, thuốc bảo vệ thực vật.

– Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra trong nông nghiệp. Bình quân hàng năm, tỉnh Quảng Ngãi thực hiện 22 cuộc thanh tra với số cá nhân, tổ chức được thanh tra 300 cơ sở. Các cuộc thanh tra đã góp phần chấn chỉnh các hoạt động kinh doanh ngày càng đi vào nề nếp, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người nông dân.

– Tỉnh Quảng Ngãi tập trung vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có 13 dự án thuộc lĩnh vực trồng trọt sản xuất nông sản an toàn, công nghệ cao được UBND tỉnh cấp chủ trương đầu tư.

– Tỉnh Quảng Ngãi ưu tiên xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp như khuyến khích, hỗ trợ phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác, kinh tế trang trại. Hiện nay, tỉnh có 190 HTX, 14 tổ hợp tác và 124 trang trại. Có trên 40 HTX tham gia liên kết với doanh nghiệp.

– Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ngãi còn chú trọng các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Chính những chính sách quản lý trên đã góp phần tích cực vào sự phát triển trong nông nghiệp tại Quảng Ngãi trong thời gian qua.

1.4.4 Giá trị tham khảo cho tỉnh Sekong

Mặc dù tùy vào điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của mỗi tỉnh khác nhau nên định hướng phát triển nông nghiệp cũng khác nhau, song, từ kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nông nghiệp ở hai tỉnh trên, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho Sekong tham khảo.

Một là, cần nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch phát triển nông nghiệp, trong đó phải dự báo sát thực tế về thị trường, nhu cầu vốn và nguồn lao động phục vụ phát triển nông nghiệp nói chung, phát triển ngành nông nghiệp có lợi thế và tiềm năng nói riêng.

Hai là, tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp mà trước hết là đầu tư phát triển cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp; có chính sách để giảm giá xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng nông thôn. Đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính liên quan đến các hoạt động đầu tư theo hướng đơn giản, minh bạch, Nhà nước phải đồng hành cùng doanh nghiệp để giải quyết vướng mắc, khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Triển khai tín dụng thông qua các tổ chức đoàn thể ở cơ sở, các tổ nhóm tiết kiệm vay vốn nhằm mang lại hiệu quả thiết thực đối với người dân nông thôn, người nghèo thiếu vốn sản xuất.

Ba là, phát triển nguồn nhân lực đủ về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp, gắn với đào tạo, chuyển giao khoa học kỹ thuật. Vì đây là khâu cơ bản để việc quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp đạt hiệu quả tối ưu; đồng thời, làm tốt khâu phát triển nguồn nhân lực sẽ góp phần cơ bản cho việc kiện toàn, củng cố bộ máy quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp.

Bốn là, làm tốt công tác tuyên truyền, thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ quy định hiện hành của Nhà nước; chủ động xây dựng chương trình công tác, phân công trách nhiệm cho từng đơn vị, cá nhân; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc quá trình thực hiện; đồng thời có sự điều chỉnh kịp thời từ các chính sách cấp quốc gia và cấp tỉnh.

Năm là, tăng cường sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành liên quan ở các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở và nhân dân trong quá trình xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Đẩy mạnh phân cấp cho cơ sở, lồng ghép các chương trình, dự án trong quá trình xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện.

Sáu là, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá cần xây dựng dự án, kế hoạch cụ thể, gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ, chú trọng đến các hoạt động giúp nâng cao tính cạnh tranh và giảm thiểu những rào cản về thị trường nhằm cải thiện việc tiếp cận thị trường, đem lại hiệu quả sản xuất cao hơn cho người nông dân.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nội dung Chương 1 tổng hợp các cơ sở lý luận liên quan đến công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp như khái niệm về nông nghiệp, đặc điểm nền nông nghiệp tại Lào, khái niệm quản lý nhà nước về nông nghiệp, sự cần thiết và mục tiêu của công tác QLNN về nông nghiệp. Nội dung công tác QLNN về nông nghiệp ở phạm vi cấp tỉnh được xác định gồm các nội dung: Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp ; Xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai chính sách tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp; Thực hiện công tác hỗ trợ nông nghiệp; Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực nông nghiệp; Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về nông nghiệp cấp tỉnh. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QLNN về nông nghiệp được xác định là điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội, kinh tế, các chính sách của nhà nước và nhận thức của các thành phần tham gia vào sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, luận văn còn trình bày một số kinh nghiệm trong QLNN về nông nghiệp ở các tỉnh thành trong và ngoài nước, từ đó rút ra một số bài học tham khảo giá trị cho công tác QLNN về nông nghiệp tại tỉnh Sê Kông.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH SÊ KONG – LÀO

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA – XÃ HỘI CỦA TỈNH SÊ KONG – LÀO

2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Sê Kong

a. Đặc điểm tự nhiên

– Vị trí địa lý

Sê Kong là tỉnh nằm ở miền phía Đông Nam của CHDCND Lào, có diện tích 7.750 km2, chiếm 3,27% của tổng diện tích cả nước. Phần lớn diện tích của SêKong nằm trên cao nguyên Baloven, nên tỉnh này được xem là tỉnh miền núi của Lào. Tỉnh Sekong có vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế với phía Bắc giáp với tỉnh Sa La Văn, phía Nam giáp với tỉnh Ắt Ta Pư , Phía Tây giáp với tỉnh Chăm Pa Săk và phía Đông giáp với 3 tỉnh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: tỉnh Thừa Thiên Huế, tỉnh Quảng Nam và tỉnh Kon Tum có ranh giới với nhau chiều dài là 280 km.

– Khí hậu và địa hình

Sê Kong thuộc miền Đông Nam của Lào nên khí hậu thuộc vùng nhiệt đới gió mùa. Thời tiết của Sê Kong được chia thành mùa mưa và mùa khô. Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 5. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 11, lượng nhiều từ tháng 7 đến tháng 9, chiếm 85% lượng mưa cả năm. Độ ẩm trung bình năm là 87% và có sự chênh lệch khá lớn giữa các tháng.

Địa hình đa dạng, chủ yếu là đồi núi, độ dốc cao. Địa hình tỉnh độ dốc Đông Bắc xuống Tây Nam và hướng Bắc xuống Nam, đặc điểm địa hình có thể chia 3 vùng:

Vùng bình nguyên, chiếm khoảng 30% diện tích với đặc điểm là đồi núi thấp, độ cao trung bình. Đây là vùng thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, rau, củ chất lượng cao và cây ăn quả. Đây cũng là vùng được phát triển các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm tại tỉnh.

Vùng cao nguyên: Là vùng đồi núi cao, dốc đứng chiếm 65% diện tích đất của tỉnh SêKong. Tại đây, tồn tại những cách rừng tự nhiên bạc ngàn, lâu đời. Vùng này cũng thích hợp cho phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc lớn, cây công nghiệp. Sêkông cũng là một tỉnh có thổ nhưỡng phù hợp với cây cà phê.

Đồng bằng: Chỉ chiếm một diện tích nhỏ khoảng 5%. Cây lúa, hoa quả được canh tác trên diện tích này.

Mặc dù, địa hình chủ yếu là đồi núi không thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, tỉnh Sê Kông có lợi thế là có sông Sekong chảy qua giữa tỉnh, chảy theo hướng Nam rồi đổ sang Campuchia và là một trong số ít sông của Lào có để đi lại bằng thuyền. Tàu thuyền qui mô vừa có thể di chuyển dọc theo các tuyến sông nằm bên rìa cao nguyên Bolaven. Có nhiều công trình thủy điện, các vùng nuôi trồng thủy sản được hình thành dọc theo tuyến sông này.

– Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên nổi trội nhất của SêKong là tài nguyên rừng. Các cánh rừng bạc ngàn với thảm thực vật phong phú là lợi thế của SêKong trong phát triển lâm nghiệp.Tuy nhiên, SêKong cũng đang đối mặt với những nguy cơ về giảm diện tích rừng tự nhiên so hoạt động khai thác bừa bãi trong thời gian gần đây.

Nhờ địa hình có sông ngoài, cao nguyên nên tài nguyên thiên nhiên tại tỉnh rất đa dạng. Sông Sêkong, Sê Nội, Xê Đôn, Xê Ka Man,… chảy dọc theo cao nguyên Bolaven đã tạo ra những thác nước đẹp, nổi tiếng là tài nguyên trong khai thác du lịch.

Hệ thống sông ngoài, hồ trữ nước là những tài nguyên quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp tại tỉnh Sêkong.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP/ KHONESAVANH VATHSANGA

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sekong nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *