Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai tỉnh Kon Tum

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai tỉnh Kon Tum

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai tỉnh Kon Tum

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là ngành trực tiếp sản xuất ra lương thực, thực phẩm cho xã hội và cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngành kinh tế khác, tạo ra việc làm cho người dân lao động nông thôn; góp phần rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội, ổn định an ninh lương thực cho mỗi quốc gia cũng như ở các địa phương.

Trong những năm qua, mặc dù Chính phủ đã có rất nhiều chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp và phát triển nông thôn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của các địa phương. Yêu cầu sớm đổi mới chính sách, đổi mới tổ chức, đầu tư công để mở ra hướng phát triển cho nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết số 26 – NQ/TW, ngày 05 tháng 8 năm 2008 (Hội nghị Trung ương lần thứ 7, Khóa X) ngày càng trở nên bức thiết.

IaH’Drai là một huyện thuộc tỉnh Kon Tum (tách ra từ huyện Sa Thầy), huyện mới được thành lập theo Nghị quyết 890/NQ – UBTVQH13, ngày 11 tháng 3 năm 2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ngày đầu mới thành lập, toàn huyện có 7.628 nhân khẩu, với tổng diện tích đất tự nhiên là 98.021,81 ha; trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 90.594,66 ha (chiếm khoảng 92,42%); diện tích đất đất sản xuất nông nghiệp 28.142,33 ha (diện tích đất trồng cây lâu năm là 25.960,53 ha, chủ yếu là diện tích đất trồng cây cao su của các doanh nghiệp đóng chân trên địa bàn huyện), còn lại một số diện tích đất sử dụng vào sản xuất cây ngắn ngày như: lúa, ngô, mì……với mục tiêu chính là phục vụ lương thực hàng ngày cho người dân ở đây.

Sau hơn 5 năm thành lập huyện, sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ đạo. Tuy nhiên, tốc độ phát triển nông nghiệp ở đây còn chậm, chưa đồng bộ và toàn diện. Những thành tựu đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp của huyện chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Ngành nông nghiệp của huyện phát triển chưa bền vững, tốc độ tăng trưởng không đồng đều, sức cạnh tranh thấp, chưa tận dụng tốt nguồn lực để phát triển sản xuất; công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp. Các ngành nghề, dịnh vụ ngành nông nghiệp phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động trong nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội còn yếu kém, thiếu đồng bộ, môi trường ngày càng bị ảnh hưởng do sản xuất; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở đây còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao.

Thực trạng nêu trên có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ đạo là từ công tác quản lý nhà nước. Việc hoạch định và thực thi chính sách có liên quan đến phát triển nông nghiệp của huyện thời gian qua còn chậm, nội dung chính sách còn chưa thông thoáng, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với nền sản xuất hàng hóa và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, công tác điều hành thực thi chính sách chưa chú ý nắm bắt thực tiễn, không kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, công tác thanh tra, kiểm soát chưa thật sự mạnh để có thể uốn nắn sai lệch trong thực hiện chủ trương, chính sách, chậm tổng kết kinh nghiệm và những mô hình mới, những nhân tố mới của quần chúng.

Để phát huy những thành tựu và hạn chế những tồn tại trên, việc liên tục đổi mới quản lý nhà nước là rất quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm phát triển nông nghiệp tại địa phương. Đây được coi là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2020 – 2025 của huyện IaH’Drai. Với những lý do trên, việc chọn đề tài “Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai, tỉnh Kon Tum ” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ là hợp lý bởi tính cần thiết và cấp bách của nội dung nghiên cứu.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai, tỉnh Kon Tum trong những năm tới.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước về nông nghiệp.

– Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai, tỉnh Kon Tum thời gian qua.

– Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai, tỉnh Kon Tum trong thời gian đến.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước về nông nghiệp vận dụng vào điều kiện cụ thể tại huyện IaH’Drai, tỉnh Kon Tum.

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai tỉnh Kon Tum
Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai tỉnh Kon Tum

2.2. Phạm vi nghiên cứu

– Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước về nông nghiệp của các chủ thể quản lý là các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện, các hoạt động của ngành nông nghiệp thuộc đối tượng quản lý gồm các nhóm ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ nông nghiệp

– Không gian nghiên cứu: Trên địa bàn huyện IaH’Drai, tỉnh Kon Tum.

– Thời gian nghiên cứu: Phần thực trạng được phân tích, đánh giá dự trên các dữ liệu thứ cấp trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2019 và dữ liệu sơ cấp được tiến hành điều tra, thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 06/2020 đến tháng tháng 09/2020, giải pháp đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

  1. Phương pháp nghiên cứu
  • Phương pháp thu thập dữ liệu

+ Dữ liệu thứ cấp:

Thông qua các thông tin từ phòng Thống kê, phòng NN & PTNT huyện, các báo cáo về nông nghiệp của UBND huyện và các phòng chuyên môn của huyện giai đoạn 2015 – 2019; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của huyện IaH’Drai giai đoạn 2020 – 2025. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các kết quả đã công bố tại các luận văn, bài báo, tạp chí, giáo trình của các tác giả khác nhau để phục vụ cho nghiên cứu.

+ Dữ liệu sơ cấp:

Thu thập số liệu thông qua điều tra, khảo sát bằng câu hỏi đến các đối tượng liên quan đến quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai: các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp thuộc 03 xã IaDom, Ia Tơi và IaDal là những cá nhân, các chủ trang trại và thổ chức tham gia sản xuất kinh doanh về lĩnh vực nông nghiệp. Quy mô mẫu là 80 hộ. Dữ liệu sơ cấp cũng được thu thập thông qua phỏng vấn 20 cán bộ các ban nghành chức năng huyện và địa phương thực hiện công tác QLNN về nông nghiệp. Nội dung khảo sát, điều tra được thiết kế dựa trên các nội dung quản lý nhà nước về nông nghiệp tại địa phương cấp huyện và các nhân tố tác động.

– Phương pháp phân tích, đánh giá

+ Phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa: là phương pháp thu thập thông tin thông qua các báo cáo, tài liệu nhằm mục đích đưa ra những khái niệm, là cơ sở lý luận của đề tài về công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp.

+ Phương pháp so sánh: so sánh theo thời gian, không gian. Thực hiện so sánh tuyệt đối về tốc độ tăng trưởng kinh tế – xã hội tại huyện thời gian qua, so sánh tương đối như về tốc độ tăng, giảm số lượng dự án; số liệu tương đối của số dự án được duyệt theo thực tế so với kế hoạch đề ra.

+ Phương pháp định tính: Nghiên cứu định tính về chủ trương, chính sách của Nhà nước, văn bản quy phạm pháp luật, quy trình thủ tục hành chính được công bố, nghiên cứu định tính bằng kỹ thuật thảo luận nhóm, trao đổi, phỏng vấn chuyên gia, một số tổ chức, cá nhân để điều chỉnh bổ sung bảng câu hỏi khảo sát phục vụ cho quá trình nghiên cứu định lượng.

+ Phương pháp thống kê mô tả: Qua việc thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi đối với các đối tượng liên quan, tác giả thống kê các dữ liệu thu được, tính toán các chỉ số thống kê để có thông tin đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai, tỉnh Kon Tum.

5. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; luận văn được trình bày theo 03 chương, với tên gọi như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về nông nghiệp.

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai.

Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai.

6. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về nông nghiệp

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG NÔNG NGHIỆP

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NÔNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP

1.1.1. Khái niệm nông nghiệp

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi [14,tr.740]. Trong tác phẩm Kinh tế Nông nghiệp – lý thuyết và thực tiễn, tác giả Đinh Phi Hổ quan niệm: “Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm có: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản”. [9,tr.5]

Các hoạt động nông nghiệp bao gồm những ngành sau:

– Trồng trọt: là ngành sử dụng đất đai với cây trồng làm đối tượng chính để sản xuất ra lương thực, thực phẩm, tư liệu cho công nghiệp và thỏa mãn các nhu cầu về vui chơi giải trí, tạo cảnh quan (hoa viên, cây kiến, sân banh, sân golf..)

– Chăn nuôi: là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp (theo nghĩa hẹp), với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi. Đây là ngành cung cấp thực phẩm nhiều chất đạm như thịt, sữa, trứng; cung cấp da, len, lông; sản phẩm phụ của chăn nuôi dùng làm phân bón; đại gia súc dùng làm sức kéo…

– Lâm nghiệp: là các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng; khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng; trồng cây, tái tạo rừng, duy trì tác dụng phòng hộ của rừng.

– Thủy sản: bao gồm đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trong đó đánh bắt là hoạt động lâu đời của con người nhằm cung cấp thực phẩm cho mình thông qua các hình thức đánh bắt cá và các thủy sinh vật khác.

      1. Đặc điểm sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp và phụ thuộc điều kiện tự nhiên, nên mang tính khu vực rõ rệt. Đặc điểm này cho thấy, ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng so với các ngành khác, cụ thể:

Thứ nhất, đó là tính vùng: sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, phức tạp và phụ thuộc điều kiện tự nhiện nên mang tính khu vực cao. Ở mỗi quốc gia, mỗi vùng có điều kiện khí hậu, thời tiết, lịch sữ hình thành các loại đất, quá trình khai phá, sữ dụng khác nhau thì hoạt động nông nghiệp sẽ khác nhau.

Thứ hai, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được: Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất của ruộng đất vẫn chưa giới hạn. Chính vì thế, trong quá trình sử dụng phải biết quý trọng đất, sử dụng đất tiết kiệm, cải tạo, bồi dưỡng để làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, cần xem xét thật kỹ càng khi chuyển từ đất nông nghiệp sang các loại đất khác.

Thứ ba, đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi: Các loại này phát triển theo quy luật sinh học (sinh trưởng, phát triển và diệt vong), nhạy cảm với các yếu tố ngoại cảnh. Với tư cách là tư liệu sản xuất thì chúng là tư liệu sản đặc biệt, bởi nó được sản xuất trong nông nghiệp bằng cách sử dụng sản phẩm thu được của chu kỳ trước. Do đó, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, lai tạo ra những giống mới phù hợp với điều kiện từng vùng để cho năng suất cao.

Thứ tư, sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao: đây là đặc thù điển hình nhất bởi quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Tính thời vụ không thể xóa bỏ được mà chỉ có thể hạn chế nó. Do đó, người nông dân phải khai thác tốt quy luật này để giảm chi phí sản xuất, cũng như phải có giải pháp tổ chức sản xuất hợp lý để hạn chế những khó khăn, khai thác hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp.

1.1.3 Quản lý nhà nước về nông nghiệp

“Giáo trình Kinh tế nông nghiệp”, tác giả Vũ Đình Thắng cho rằng: “Quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện và tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất-kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của đơn vị kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; điều tiết các lợi ích giữa các vùng, các ngành, sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát đối với tất cả các hoạt động trong nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn làm ổn định và lành mạnh hóa mọi quan hệ kinh tế và xã hội…” [19,tr.289]

Từ những quan niệm, các đặc diểm của sản xuất nông nghiệp đã nêu trên, luận văn tổng hợp đưa ra khái niệm: Quản lý nhà nước về nông nghiệp là một bộ phận quản lý kinh tế quốc dân, thể hiện sự tác động chi phối, có định hướng bằng quyền lực và thông qua bộ máy nhà nước; thực hiện bằng các biện pháp, công cụ quản lý để ngành nông nghiệp đạt được mục tiêu kinh tế, hiệu quả xã hội, sự vận hành phù hợp với các quy luật khách quan.

1.3.4 Đặc điểm quản lý nhà nước về nông nghiệp

– Quản lý nhà nước về nông nghiệp có tính phức tạp nên khó khăn hơn so với các ngành khác. Hoạt động sản xuất nông nghiệp có phạm vi rộng, đối tượng đa dạng và luôn thay đổi nhất là đối với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Trình độ phát triển sản xuất, trình độ quản lý không đồng đều và điều kiện về cơ sở vật chất thấp làm gia tăng mức độ phức tạp công tác QLNN về nông nghiệp.

Nền nông nghiệp Việt Nam, nhìn chung xuất phát điểm thấp so với các nước trên thế giới. Địa bàn nhỏ, manh mún, lạc hậu, phân tán, chưa đồng bộ. Chủ thể chính trong sản xuất nông nghiệp là nông dân thiếu vốn, kiến thức, trình độ, nhận thức không đồng đều, đây là vấn đề phức tạp cho công tác QLNN về nông nghiệp. Sản xuất chủ yếu trên địa bàn nông thôn, khu vực có hạ tầng kém và phát triển chậm, mức sống dân cư thấp đây là khó khăn rất lớn trong việc phân bổ nguồn lực, nguồn vốn cũng như sự đầu tư kỹ thuật mới cho nông nghiệp. Để xây dựng, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, đúng theo cơ chế thị trường là một thách thức lớn đối với công tác QLNN về nông nghiệp.

Đất đai là tư liệu chính trong sản xuất của ngành nông nghiệp, là tư liệu không thể thay thế được, do đó vấn đề đặt ra trong công tác QLNN về nông nghiệp là phải bảo tồn tài nguyên đất và đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào nông nghiệp để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai.

– Có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa phương: đối tượng sản xuất nông nghiệp chủ yếu là cư dân nông thôn, công tác sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp phải đảm bảo các khâu về môi trường, hạ tầng kỹ thuật, tài chính theo quy định pháp luật, nên phải có sự phối hợp của các ngành, địa phương liên quan để đảm bảo sự ổn định và vận hành của các hoạt động sản xuất kinh doanh.

1.3.5 Chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, quản lý nhà nước có chức năng quan trọng góp phần vào điều chỉnh, hướng dẫn quá trình vận động nội tại của nông nghiệp phù hợp với điều kiện khách quan và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội chung của nền kinh tế. Quản lý nhà nước về nông nghiệp được thể hiện qua các chức năng sau:

Thứ nhất, Nhà nước tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển. Nhà nước tạo lập môi trường chính trị – xã hội ổn định; thiết lập môi trường pháp lý, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, một sân chơi chung, cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế. Nhà nước vận dụng các quy luật kinh tế khách quan và sử dụng những chính sách, cơ chế nhằm mở rộng thị trường, khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp nông thôn.

Thứ hai, Nhà nước định hướng phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội trong nước, phù hợp với xu thế, điều kiện kinh tế khu vực và thế giới bằng những chủ trương, chính sách, pháp luật. Nhà nước định hướng phát triển nông nghiệp góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hoạch định chính sách, chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cho từng thời kỳ; thực hiện xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống và văn minh xã hội.

Thứ ba, Nhà nước tổ chức và điều tiết sự phát triển của nông nghiệp: Tổ chức là một chức năng quan trọng của quản lý nhà nước về nông nghiệp, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập như hiện nay. Nhà nước xây dựng, đổi mới hệ thống tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý nhà nước về nông nghiệp, cải tiến công cụ quản lý, thủ tục hành chính trong lĩnh vực nông nghiệp, đảm bảo tổ chức tinh gọn, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả.

Nhà nước cung cấp hàng hóa và dịch vụ cộng đồng, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo môi trường chính trị ổn định, đảm bảo công bằng và phúc lợi xã hội. Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết chi phối thị trường bằng cách sử dụng cả biện pháp kinh tế và biện pháp hành chính. Đồng thời, Nhà nước sử dụng hàng loạt các cộng cụ quản lý kinh tế vĩ mô, bao gồm: hệ thống chính sách, các đòn bẩy kinh tế, quỹ dự trữ hàng hóa, cán cân thương mại, tỉ giá hối đoái, tín dụng, tài chính, thuế quan, hạn ngạch, tiêu chuẩn hóa… nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.

Thứ tư, Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động và xử lý các vi phạm của các chủ thể tham gia trong ngành nông nghiệp nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương, uốn nắn những hành vi trái pháp luật; ngăn ngừa những hành động tiêu cực như; sản xuất và kinh doanh hàng giả (nông sản, thực phẩm, giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả, hàng kém chất lượng, đầu cơ, buôn lậu…) nhằm bảo vệ quyền bình đẳng trước pháp luật, sự cạnh tranh lành mạnh cũng như quyền lợi của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra để phát hiện những kẻ hở và nhược điểm của cơ chế chính sách kinh tế nói chung để kịp thời sửa đổi; đồng thời, phổ biến những kinh nghiệm, phát hiện và nhận rộng những nhân tố mới, tích cực sản xuất nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN

Quản lý nhà nước về nông nghiệp của cấp huyện là nhằm triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước từ trung ương và của tỉnh trong lĩnh vực nông nghiệp sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, điều kiện tự nhiên địa phương của từng huyện; cũng như thực hiện đầy đủ, toàn diện và đúng đắn nhất những gì đã đề ra; góp phần đảm bảo sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý bộ máy hành chính nhà nước. Quản lý nhà nước đối với nông nghiệp của chính quyền cấp huyện tác động trực tiếp đến với người sản xuất, bao gồm những nội dung cơ bản sau:

1.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện

  1. Khái niệm quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp

Quy hoạch phát triển nông nghiệp là cụ thể hóa chiến lược phát triển nông nghiệp, là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp gắn với phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định, để chủ động sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thời kỳ xác định.

Kế hoạch phát triển nông nghiệp là một bộ phận của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, phải nằm trong kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã của cả nước và của địa phương, là định hướng phát triển nông nghiệp trong từng thời kỳ (bao gồm kế hoạch hàng năm và kế hoạch 5 năm); chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, phát triển nông nghiệp nông thôn, phòng chóng thiên tai, vệ sinh an toàn thực phẩm…để UBND huyện trình HĐND cùng cấp thông qua; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ CCHC thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được giao.

b. Nội dung

– Đánh giá, phân tích hiện trạng và quá trình phát triển ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn huyện như: cơ cấu cây trồng, vật nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp…vai trò đóng góp của mỗi bộ phận vào kinh tế toàn ngành.

– Phân tích, đánh giá các sản phẩm chủ yếu, các vùng sản xuất sản phẩm chính của địa phương.

– Phân tích đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp gồm: quy mô, cơ cấu diện tích sản xuất nông nghiệp.

– Đánh giá thực trạng áp dụng khoa học – kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, thực trạng cung cấp dịch vụ, chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp; hệ thống cung cấp dịch vụ khuyến nông trên địa bàn huyện và các chính sách hỗ trợ khuyến nông cho người nghèo.

– Thực trạng phân bố hệ thống và quy mô loại hình chế biến các sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn.

– Phân tích, đánh giá thực trạng tiêu thụ và khả năng tiếp cận thị trường nông sản hàng hóa của huyện.

c. Quy trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp

Bước 1: Xây dựng đề cương – dự toán kinh phí lập quy hoạch, trình Thường trực Huyện ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân phê duyệt.

Bước 2: Triển khai xây dựng quy hoạch gồm;

+ Tổng hợp các kết quả nghiên cứu.

+ Phân tích, đánh giá và dự báo.

+ Những thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai xây dựng quy hoạch.

+ Xây dựng và lựa chọn phương án quy hoạch phải phù hợp với khả năng, nguồn lực và các yếu tố cơ bản của địa phương.

Bước 3: Thẩm định và phê duyệt quy hoạch

+ UBND huyện tổ chức thẩm định, phê duyệt quy hoạch sản xuất sau khi có ý kiến thống nhất của Thường trực Huyện ủy, Thường trực Hội đồng Nhân dân huyện về mục tiêu, định hướng, giải pháp tổ chức thực hiện và gửi về các cơ quan liên quan để tổng hợp.

Bước 4: Sau khi được thống nhất, các quy hoạch, kế hoạch được ban hành và sao in gửi đến các đơn vị liên quan, đồng thời lưu trữ tại Văn phòng HĐND -UBND huyện.

d. Tiêu chí đánh giá

– Mức độ cụ thể hóa của quy hoạch, kế hoạch và mức độ triển thực tế khai thực hiện của các chỉ tiêu so với quy hoạch, kế hoạch.

– Mức độ đánh giá của cộng đồng về chất lượng công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp. Việc đánh giá được thực hiện bằng hình thức bảng câu hỏi lựa chọn mức độ hài lòng.

1.2.2. Xây dựng, ban hành và phổ biến các cơ chế, chính sách, quy định trong quản lý hoạt động nông nghiệp của chính quyền cấp huyện

a. Nguyên tắc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

Việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cơ chế, chính sách, quy định trong quản lý hoạt động nông nghiệp phải đảm bảo các nguyên tắc quy định tại Luật số 80/2015/QH13, ngày 22/6/2015 của Quốc hội về Luật ban hành văn bản quy phạm pháp, cụ thể:

– Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

– Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

– Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

– Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

– Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ƣớc quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

– Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Đối với các văn bản, quy định do Ban Thường vụ Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành, ngoài những nguyên tắc kể trên, các văn bản, quy định phải tuân thủ và bám sát theo các nguyên tắc sau:

– Đảm bảo phù hợp với các quy định của Chính phủ về cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp tại địa phương.

– Đảm bảo tuân thủ theo các văn bản hướng dẫn của Bộ NN & PTNT, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Chính phủ, Bộ Kế hoạch…hướng dẫn về cơ chế, chính sách, quy định trong quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp tại địa bàn cấp huyện.

– Các văn bản, quy định được ban hành phải thống nhất, chặt chẽ, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo tinh gọn, dễ hiểu, không gây khó khăn cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, cũng như doanh nghiệp liên quan.

– Các quy định được xây dựng theo hướng ngày càng đơn giản hóa các thủ tục hành chính, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội huyện IaH’Drai, tỉnh Kon Tum đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

– Các văn bản, quy định phải được ban hành kịp thời để đảm bảo việc sản xuất, canh tác của người dân diễn ra nhanh chóng, đúng mùa vụ, kịp thời hiệu quả. Ngay khi các chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định của các Bộ ngành có sự thay đổi, Ủy ban nhân dân huyện cần chỉ đạo cơ quan liên quan nhanh chóng sửa đổi, bổ sung các quy định tại địa phương sao cho phù hợp với tình hình thực tế.

b. Quy trình xây dựng, ban hành và phổ biến các cơ chế, chính sách, quy định trong quản lý hoạt động nông nghiệp của chính quyền cấp huyện

– Bước 1: Tiến hành rà soát các thủ tục hành chính mới về lĩnh vực nông nghiệp được cấp có thẩm quyền ban hành, trình Thường trực Huyện ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân phê duyệt.

– Bước 2: Triển khai xây dựng các thủ tục hành chính gồm:

+ Tổng hợp các kết quả nghiên cứu.

+ Phân tích, đánh giá và dự báo.

+ Những thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai xây dựng, ban hành thủ

tục hành chính.

+ Xây dựng, ban hành thủ tục hành chính phù hợp với khả năng và nguồn lực và các yếu tố cơ bản của địa phương.

– Bước 3: Thẩm định và phê duyệt thủ tục hành chính:

+ Ủy ban Nhân dân huyện tổ chức thẩm định, phê duyệt các thủ tục hành chính sau khi có ý kiến thống nhất của Thường trực Huyện ủy, Thường trực Hội đồng Nhân dân huyện về cơ chế, chính sách, quy định trong quản lý hoạt động nông nghiệp của chính quyền cấp huyện và gửi về các cơ quan liên quan để tổng hợp.

– Bước 4: Sau khi được thống nhất, các thủ tục hành chính được ban hành và sao in gửi đến các đơn vị liên quan, đồng thời được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng và lưu trữ tại Văn phòng HĐND – UBND huyện.

c. Tiêu chí đánh giá

– Mức độ kịp thời và đồng bộ của việc xây dựng, ban hành và phổ biến các cơ chế, chính sách, quy định trong quản lý hoạt động nông nghiệp; tỷ lệ người dân được tiếp cận và hiểu rõ đối với cơ chế, chính sách, quy định trong quản lý hoạt động nông nghiệp.

– Mức độ đánh giá của cộng đồng về chất lượng công tác xây dựng và thực hiện các chính sách, quy định đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp.

1.2.3. Triển khai thực hiện các quy định của Nhà nước trong hoạt động nông nghiệp

a. Khái niệm

Công tác triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, chính sách, quy định là quá trình truyền tải các quy định của Nhà nước trên giấy tờ của chính quyền, thành những hành động nhất định vào đời sống thực tế theo một trình tự thủ tục chặt chẽ và thống nhất nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

b. Nội dung triển khai

+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Nhà nước quy định, uỷ quyền, phân cấp và các quy định chung của Trung ương, của tỉnh. Triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành được phê duyệt.

+ Thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật về các lĩnh vực, phạm vi quản lý được giao hoặc được uỷ quyền, theo dõi, thi hành pháp luật. Phổ biến, triển khai thực hiện các quy trình TTHC trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

c. Tổ chức triển khai thực hiện

+ Quy hoạch, kế hoạch, quy định của pháp luật được công bố công khai trên các phương tiện đại chúng như văn bản in ấn, báo, đài, truyền hình, hội nghị, hội thảo… và được tuyên truyền, giáo dục rộng rãi đến người dân và các tổ chức về ý thức chấp hành pháp luật.

+ Tập huấn, hướng dẫn và đôn đốc các cấp triển khai thực hiện các nhiệm vụ đã được phân cấp theo thẩm quyền. Giám sát các địa phương trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ.

+ Giám sát quá trình thực hiện của địa phương, lấy ý kiến phản hồi từ các cơ sở, từ người dân trong quá trình triển khai thực hiện để tiến hành điều chỉnh, bổ sung.

+ Tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm triển khai thực hiện trong thời gian tới.

d.Tiêu chí đánh giá

+ Kết quả thực hiện so với chỉ tiêu đề ra.

+ Mức độ hài lòng của người dân, cán bộ quản lý.

1.2.4. Kiểm tra, kiểm soát và xử lý các vi phạm các chủ thể tham gia trong ngành nông nghiệp

Kiểm tra, kiểm soát và xử lý các vi phạm của các chủ thể trong ngành nông nghiệp đối với cấp huyện gồm có các hoạt động: Kiểm soát giết mổ và vệ sinh thú y; kiểm tra an toàn thực phẩm và vật tư nông nghiêp.

a. Khái niệm

Căn cứ theo các văn bản pháp luật hiện hành, các khái niệm cơ bản được hiểu như sau:

+ Kiểm soát giết mổ (gọt tắt là KSGM) là việc kiểm tra trước và sau khi giết mổ động vật để phát hiện, xử lý, ngăn chặn các yếu tố gây bệnh, gây hại cho động vật, sức khỏe con người và môi trường;

+ Kiểm tra vệ sinh thú y (gọi tắt là VSTY) là việc kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu nhằm bảo vệ sức khỏe động vật, sức khỏe con người, môi trường và hệ sinh thái.

+ Sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật là việc làm sạch, phân loại, đông lạnh, làm khô, đóng gói hoặc áp dụng phương pháp chế biến khác để sử dụng ngay hoặc làm nguyên liệu chế biến thực phẩm, thức ăn chăn nuôi hoặc dùng cho mục đích khác.

+ An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người.

+ Vật tư nông nghiệp: bao gồm giống cây trồng, giống vật nuôi, phân bón hữu cơ và phân bón khác, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóa chất, chế phẩm sinh học, chất xử lý, cải tạo môi trường trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản.

b Nội dung kiểm tra

Kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm lĩnh vực nông nghiệp đối với cấp huyện là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài để phát triển nông nghiệp bền vững.

+ Kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về nông nghiệp như: kiểm soát giết mổ, vệ sinh thú y, sơ chế chế biến động vật, an toàn thực phẩm, vật tư nông nghiệp…; giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng chống tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp luật.

+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đặc biệt là khu vực vùng sâu vùng xa, hải đảo.

+ Chủ động và tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, đẩy lùi nạn hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng vi phạm an toàn thực phẩm…

+ Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng liên quan, thường xuyên chia sẻ thông tin để thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh kiểm tra, kiểm soát để xử lý vi phạm.

c. Quy trình kiểm tra

Bước 1: Xây dựng kế hoạch về nội dung và kinh phí hàng năm.

Bước 2: Rà soát, thống kê, lập danh sách các cơ sở do UBND huyện cấp giấy phép đăng ký kinh doanh.

Bước 3: Lập và ban hành quyết định thành lập đoàn kiểm tra, kế hoạch kiểm tra tại các cơ sở.

Bước 4: Tổ chức họp đoàn kiểm tra và thông báo kế hoạch kiểm tra.

Bước 5: Triển khai kiểm tra tại các cơ sở, lập biên bản, họp kết thúc và thông báo kết quả kiểm tra.

Bước 6: Tổng hợp kết quả kiểm tra báo cáo cho UBND cấp huyện.

Bước 7: Công khai các cơ sở không vi phạm, vi phạm trên cổng thông tin cấp huyện, đài truyền thanh-truyền hình cấp huyện.

d. Tiêu chí đánh giá

+ Kết quả thực hiện kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực nông nghiệp.

+ Mức độ hài lòng của người dân, cán bộ quản lý.

1.2.5. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về nông nghiệp của chính quyền cấp huyện

a. Khái niệm

UBND cấp huyện được giao nhiệm vụ và quyền hạn, đảm bảo cơ cấu tổ chức cho các phòng ban chuyên môn, UBND xã, thị trấn thực hiện các nội dung về quản lý nhà nước về nông nghiệp. Bố trí nhân lực có trách nhiệm, tâm huyết góp phần xây dựng và phát triển nền nông nghiệp của huyện đạt mục tiêu phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

b. Nội dung tổ chức thực hiện

Chủ tịch UBND huyện phụ trách chung; Phó chủ tịch UBND huyện phụ trách khối, ngành. Các cơ quan huyện thuộc ngành nông nghiệp chịu sự chỉ đạo, quản lý của UBND huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan cấp trên theo ngành dọc là Sở NN&PTNT.

Phòng chuyên môn như Phòng NN&PTN, (Phòng Kinh tế đối với thị xã, thành phố) là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện; tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng QLNN ở địa phương về nông nghiệp và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND huyện và theo quy định của pháp luật, bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành, lĩnh vực công tác ở địa phương.

Các đơn vị sự nghiệp như Trung tâm Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cùng với các tổ chức khác là Trạm Bảo vệ -Thực vật, Trạm Thú y được giao thực hiện các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư nhằm khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn. Bên cạnh đó có sự hỗ trợ, tham mưu, đề xuất của các phòng ban có liên quan như: Phòng Kinh tế – Hạ tầng, Phòng Tài chính – Kế hoạch, Phòng Tài nguyên – Môi trường, Chi cục Thống kê.

UBND cấp xã: Phân công 01 đồng chí Phó Chủ tịch và 01 cán bộ phụ trách công tác QLNN về nông nghiệp.

c. Tiêu chí đánh giá

– Tổ chức thực hiện thông suốt, phối hợp nhịp nhàng theo chức năng đã được giao theo quy định.

– Mức độ hài lòng của người dân, cán bộ quản lý.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN

Nhà nước quản lý, điều hành phát triển ngành nông nghiệp bằng các biện pháp hành chính, các phương pháp, công cụ quản lý kinh tế theo quy luật của thị trường. Do vậy, ngoài những yếu tố tác động của cơ chế, chính sách, các hoạt động quản lý, điều hành của Nhà nước; ngành nông nghiệp còn chịu nhiều tác động từ một số yếu tố khác, như phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế – xã hội, cơ sở hạ tầng của mỗi địa phương…có thể nhận thấy các nhân tố chủ yếu tác động đến nông nghiệp nói chung, đến quản lý nhà nước về nông nghiệp nói riêng hiện nay đối với mỗi địa phương là:

1.3.1. Điều kiện phát triển nông nghiệp của địa phương

a. Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên là nhân tố tác động mạnh mẽ đối với tất cả các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Điều kiện tự nhiên ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có sự khác biệt, có nơi khó khăn và có nơi thuận lợi…Vùng có điều kiện tự nhiên với các nguồn tài nguyên phong phú như: đất đai, khí hậu, thời tiết, ánh sáng…sẽ cung cấp những tư liệu sản xuất cơ bản để con người tiến hành sản xuất nông nghiệp, tạo ra lương thực, thực phẩm dồi dào. Do vậy, để có được một nền nông nghiệp phát triển, con người phải biết dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa vào lợi thế của từng vùng miền, để xây dựng những chiến lược phát triển nông nghiệp cho phù hợp với từng địa phương. Mặt khác, điều kiện tự nhiên cũng là một trong những nhân tố đe dọa lớn đến phát triển sản xuất nông nghiệp do tác động của thiên tai như: động đất, sóng thần, lũ lụt, hạn hán, mưa đá, sương muối… mối đe dọa của thiên tai đang gây ra thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp; có một phần nguyên nhân do chính tác động của con người gây ra như: nạn chặt phá rừng, làm thủy điện, phát thải do công nghiệp sinh ra, khai thác tài nguyên bừa bãi.. Do vậy con người cần phải tính toán và cân đối trong sự lựa chọn của mình để đem lại hiệu quả lâu dài cho phát triển nông nghiệp, cũng chính là bảo vệ lợi ích lâu dài của mình.

b. Điều kiện văn hóa – xã hội

Điều kiện văn hóa – xã hội có tác động lớn đến quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở mỗi quốc gia, địa phương và vùng lãnh thổ. Ở mỗi quốc gia đều có nền văn hóa, phong tục tập quán khác nhau thì có những phương thức, trình độ tổ chức sản xuất nông nghiệp khác nhau; điều kiện xã hội cũng ảnh hưởng đến phát triển một nền nông nghiệp ở mỗi quốc gia cũng như từng địa phương. Ở các nước đang phát triển việc hình thành một nền nông nghiệp phát triển sẽ gặp nhiều khó khăn, trở ngại do yếu kém về khoa học, công nghệ, thiếu vốn, thiếu những người nông dân lao động có trình độ và sự hậu thuẫn của nhà nước để hỗ trợ cho nông dân trước những rủi ro trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

c. Điều kinh tế, cơ sở hạ tầng

– Điều kiện kinh tế có tác động mạnh mẽ đến ngành nông nghiệp. Sự phát triển của công nghiệp, nếu thiếu cẩn trọng sẻ làm hủy hoại môi trường, gây thiệt hại rất lớn cho nông nghiệp. Việc chạy theo lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường khiến cho người nông dân dùng đủ mọi biện pháp để tăng cường sản lượng nhanh chóng, làm cho tài nguyên bị khai thác kiệt quệ, lãng phí, chất lượng sản phẩm không được đảm bảo, dư lượng chất hóa học trong nông sản cao. Sự phát triển của nhiều loại dịch vụ và đô thị hóa làm quỹ đất nông nghiệp dần thu hẹp…, chúng ta phải có chiến lược phát triển kinh tế cho phù hợp, có sự cân đối giữa công nghiệp, nông nghiệp với dịch vụ và phát huy thế mạnh của từng vùng.

– Điều kiện về cơ sở hạ tầng có tác động rất lớn đến phát triển nông nghiệp, nông thôn gồm: giao thông đường bộ, đường thủy; hệ thống tưới tiêu – thủy lợi, cấp thoát nước, điện, thông tin liên lạc…, là nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp; có vai trò thúc đẩy, nâng cao khả năng cạnh tranh và lợi thế so sánh của sản phẩm nông nghiệp được sản xuất và tiêu thụ.

Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp phải gắn liền với con người, nên phát triển nông nghiệp đến đâu sẽ có các công trình điện, đường giao thông, trường học, trạm xá đến đó; góp phần hình thành và mở rộng các khu dân cư, thị trấn, thị tứ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân phát triển nông nghiệp và dịch vụ, xóa đói, giảm nghèo của địa phương.

d. Nhận thức của các chủ thế tham gia trực tiếp trong ngành nông nghiệp

Người nông dân là chủ thể không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp, bởi nông dân là yếu tố cơ bản cấu thành lực lượng sản xuất nông nghiệp, Việt nam có lực lượng lao động trong nông nghiệp chiếm đa số trong tổng số lực lượng lao động của đất nước. Hệ thống chính trị cần có những tác động để phát huy sức mạnh, cũng như giúp người nông dân hạn chế được một số nhược điểm để làm tròn nhiệm vụ, vai trò của mình. Chúng ta cần làm tốt công tác giáo dục – đào tạo để nâng cao nhận thức cho người nông dân, giúp họ vượt qua những tác phong tiểu nông và tập quán củ lạc hậu, để vươn lên trở thành người làm chủ khoa học – kỹ thuật.

1.3.2. Các yếu tố thuộc về môi trường tổ chức quản lý nhà nước trong nông nghiệp

Trong quản lý nhà nước về nông nghiệp, yếu tố nhận thức và hành động của các chủ thể quản lý nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Nếu có nhận thức đúng đắn, sâu sắc và thống nhất về các nội dung của quản lý phát triển nông nghiệp, các chủ thể quản lý sẽ đưa ra các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế, đáp ứng yêu cầu khách quan giữa hai yếu tố ổn định và phát triển. Ngược lại, nếu có những chính sách không phù hợp sẽ làm kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp.

Sự quan tâm của lãnh đạo các cấp trong lĩnh vực quản lý nông nghiệp: được thể chế hóa thông qua những chính sách, cơ chế để tập trung nguồn lực, tài chính vào đầu tư cho cơ sở vật chất, kỹ thuật hạ tầng, phương tiện cũng như con người, có kế hoạch kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện các chương trình, kế hoạch đề ra trong hoạt động nông nghiệp… từ đó giúp công tác quản lý nhà nước trong nông nghiệp diễn ra dễ dàng. Và ngược lại, nếu các cấp chính quyền địa phương không quan tâm đến việc đầu tư cho quản lý nhà nước về nông nghiệp sẽ làm cho việc quản lý gặp nhiều khó khăn.

Việc ban hành các cơ chế, chính sách; thông tư, kế hoạch, chương trình phối hợp, lồng ghép, điều phối giữa các cơ quan, ban ngành liên quan trong quản lý nhà nước về nông nghiệp được đảm bảo và kịp thời (như bảo vệ thực vật, tài nguyên môi trường, thủy lợi, thú y…) sẽ giúp công tác quản lý nhà nước trong nông nghiệp phát huy tốt vai trò quản lý, mang lại hiệu quả cao và ngược lại.

Sự năng động, sáng tạo, nhiệt tình của cán bộ nhân viên trong ngành quản lý nhà nước về nông nghiệp trong việc nghiên cứu cải tiến phương pháp quản lý, thủ tục quản lý, trách nhiệm với người dân…sẽ giúp công tác quản lý diễn ra đễ dàng, hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu cán bộ nhân viên có tư duy bảo thủ, thái độ sách nhiễu, gây khó khăn cho người dân sẽ làm cho công tác quản chậm đổi mới và không đem lại hiệu quả.

Phát huy vai trò phối hợp giữa các tổ chức kinh tế – chính trị – xã hội trong việc tuyên truyền, vận động, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện cũng là một nhân tố quyết định thành công của công tác quản lý. Ngược lại sự phối hợp này nếu không được quan tâm thì sẽ làm giảm hiệu quả công tác quản lý nhà nước.

1.4. KINH NGHIỆM CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG TRONG QLNN VỀ NÔNG NGHIỆP VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1.4.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về nông nghiệp tại một số địa phương

a. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp ở huyện IaGrai, tỉnh Gia lai

Huyện IaGrai là huyện miền núi của tỉnh Gia Lai, có ranh giới hành chính giáp với huyện IaH’Drai về phía Nam. Năm 2018, tổng diện tích gieo trồng toàn huyện đạt hơn 48.977 ha, sản lượng lương thực 21.348 tấn (nguồn niên giám Thống kê huyện Ia Grai năm 2018). Thực hiện kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp huyện theo hướng nâng cao giá trị sản xuất và phát triển bền vững gắn với ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, huyện đã chỉ đạo, vận động người dân đổi mới phương thức sản xuất, sử dụng các loại giống mới, sản xuất theo định hướng, khuyến cáo của cơ quan chuyên môn và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Đặc biệt, xác định cà phê là cây trồng chủ lực, huyện tiếp tục thực hiện đề án tái canh cây cà phê trên địa bàn giai đoạn 2015-2020. Trong năm, người dân và các doanh nghiệp đã xuống giống được 678 ha, đạt 127% kế hoạch tỉnh giao. Để giúp người dân tái canh, huyện đã cấp 210.000 cây giống cà phê TRS1. Bên cạnh đó, cơ quan chuyên môn của huyện thường xuyên triển khai công tác phòng-chống dịch bệnh lở mồm long móng, heo tai xanh, cúm gia cầm và bệnh dại trên động vật. Tiêm phòng 13.825 liều vắc xin lở mồm long móng, 11.750 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu, bò, 10.000 liều vắc xin kép heo (tụ huyết trùng, phó thương hàn, dịch tả)… Nhờ đó, tình hình chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và thủy sản phát triển ổn định, không xảy ra dịch bệnh.

 Song song với việc phát triển ngành nông nghiệp, các hoạt dộng dịch vụ trong nông nghiệp cũng được chú trọng đầu tư phát triển nhất là cung ứng giống, phân bón, máy phát; hoạt động nhận, thuê khoán chăm sóc và bảo vệ rừng ngày càng phát triển. Chương trình xây dựng nông thôn mới cũng được đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện. Đặc biệt, huyện đã ban hành quy định bộ tiêu chí làng nông thôn mới trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2018 – 2020. Theo đó, đến cuối năm 2018, toàn huyện có 3 làng đạt chuẩn làng nông thôn mới trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gồm: làng Jút 2 (xã Ia Dêr), làng Me (xã Ia Hrung), làng Dút 1 (xã Ia Sao). Đến nay, toàn huyện đạt 154 tiêu chí (tăng 33 tiêu chí so với cuối năm 2017), bình quân mỗi xã đạt 12,8 tiêu chí. Cụ thể, xã Ia Sao đạt 17 tiêu chí (đã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2016); 3 xã Ia Dêr, Ia Hrung, Ia Yok đạt 19 tiêu chí; Ia Bă đạt 14 tiêu chí; Ia Tô 11 tiêu chí; còn lại 6 xã (Ia Pếch, Ia Chía, Ia O, Ia Krai, Ia Khai, Ia Grăng) đạt 8-10 tiêu chí (nguồn niên giám Thống kê huyện Ia Grai năm 2018). Để có định hướng phát triển nông nghiệp, huyện IaGrai đã có nhiều nỗ lực, nhận thức và vận dụng có hiệu quả nguồn lực tại địa phương, phát huy nội lực để phát triển nông nghiệp, trong đó khâu quản lý nhà nước về nông nghiệp có nhiều nét nỗi bật:

– Huyện đã chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để xây dựng quy hoạch phát triển nông nghiệp; việc quy hoạch phát triển nông nghiệp có sự hài hòa, đảm bảo mối liên kết giữa các vùng và có tính bền vững cho sự phát triển.

– Đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển hạ tầng nông thôn có sự gắn kết giữa các vùng và các ngành nghề sản xuất, nhằm tạo điều kiện thông thương trong phát triển sản xuất nông nghiệp của địa phương.

– Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, bằng cách xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn cao để thực thi một nền hành chính dân chủ, vững về chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong nông nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong vấn đề quản lý nhà nước về nông nghiệp của huyện IaGrai vẫn còn những hạn chế như: quy hoạch còn thiếu sự đồng bộ, mất cân đối giữa đầu tư phát triển nông nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng; sự phát triển của công nghiệp cũng gây áp lực cho nông nghiệp, nhất là về đất đai nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp dần, nguồn lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm xuống, môi trường bị ô nhiễm.

b. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

Nam Đông là huyện trung du, miền núi ở phía Tây Nam tỉnh Thừa Thiên Huế, có tổng diện tích đất tự nhiên 64.778 (năm 2018), chủ yếu là đất lâm nghiệp 54.568 ha (chiếm 84,24% diện tích đất tự nhiên), trong đó diện tích rừng trồng sản xuất 16.755 ha (chiếm 30,71% diện tích đất lâm nghiệp). Dân số năm 2018 là 27.480 người. Toàn huyện có 9 xã và 01 thị trấn. Về cơ cấu dân tộc trên địa bàn huyện chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 70%, mật độ dân số 43người/km2 (theo niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2018). Nhìn chung, huyện Nam Đông và có những nét tương đồng với huyện IaH’Drai trong phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng. Do vậy, một số chính sách quản lý nhà nước trong nông nghiệp của huyện Nam Đông là kinh nghiệm quý báu cho sự phát triển của nông nghiệp huyện IaH’Drai.

Giai đoạn 2016 – 2018, tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp huyện Nam Đông đạt 7,26%/năm. Trong đó, ngành trồng rừng và chế biến gỗ tăng trưởng cao với hơn 10%/, ngành lâm nghiệp tăng trưởng chậm, đạt 2,62%/năm. Về giá trị tăng ngành Nông nghiệp của huyện Nam Đông, giai đoạn 2016 – 2018 là 5,49%/năm, trong đó, ngành trồng trọt đạt 5,32%/năm, ngành lâm nghiệp tăng trưởng 1,6%/năm. Để có bước phát triển nông nghiệp, huyện Nam Đông đã có nhiều nỗ lực về nhận thức và vận dụng có hiệu quả đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, phát huy nội lực để phát triển nông nghiệp, trong đó công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp có nhiều nét nổi bật, nhằm định hướng phát triển nông, lâm, thủy sản, huyện Nam Đông đã bước đầu thành công trong chính sách sử dụng các nguồn lực, nhất là sử dụng đất đạt hiệu quả và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất hợp lý. Lâm nghiệp được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Chính quyền huyện đã có các chính sách hỗ trợ về vốn nhằm đầu tư phát triển, khuyến khích phát triển đối với hoạt động dịch vụ trong lâm nghiệp; hoạt động giao khoán và nhận, thuê chăm sóc và bảo vệ rừng.

Chính quyền huyện đã chú trọng công tác xây dựng quy hoạch phát triển nông nghiệp, định hướng tầm nhìn chiến lược được thể hiện rõ nhằm phát triển nông nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể; dự báo về nhu cầu vốn đầu tư và nguồn lao động.

Huyện đã có những chính sách đầu tư, để phát triển cơ sở vật chất hạ tầng nông thôn; Vận động các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, xây dựng hạ tầng nông thôn, lựa chọn các nhà đầu tư có tiềm lực.

Hoàn thiện hệ thống văn bản, thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, nhanh chóng, nâng cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nông dân; thực hiện hầu hết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp tại các xã, thị trấn theo hướng đơn giản hóa các TCHC.

Thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp bằng việc ban hành nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư (cơ chế về đất và thuê đất), lập các đoàn công tác đi xúc tiến đầu tư tại nhiều tỉnh, địa phương trong nước.

1.4.2. Bài học kinh nghiệm cho việc quản lý nhà nước về nông nghiệp tại huyện IaH’Drai, tỉnh Kon Tum

Nhìn chung, mỗi huyện có điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội khác nhau, nên định hướng phát triển nông nghiệp của mỗi huyện cũng khác nhau. Song từ bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về nông nghiệp của 2 huyện trên, có thể rút ra bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước đối với nông nghiệp ở huyện IaH’Dai, tỉnh Kon Tum như sau:

  1. Một là, cần nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch phát triển nông nghiệp (quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp gắn với quy hoạch thủy lợi và bảo vệ tài nguyên rừng, tài nguyên nước, đất). Phát huy thế mạnh cây trồng, vật nuôi mà huyện mình có truyền thống sản xuất tốt.
  2. Hai là, tạo môi trường thuận lợi thu hút vốn đầu tư phát triển nông nghiệp; đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính liên quan đến các hoạt động đầu tư theo hướng đơn giản, minh bạch ‘một cửa, một dấu”.
  3. Ba là, phát triển nguồn nhân lực đủ về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp, gắn với đào tạo, chuyển giao khoa học kỹ thuật.

– Bốn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ quy định hiện hành của Nhà nước.

Năm là, tăng cường phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Đẩy mạnh phân cấp cho cơ sở, lồng ghép các chương trình, dự án trong quá trình xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện.

– Sáu là, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa cần phải xây dựng dự án, kế hoạch, gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ; Nghiên cứu, xây dựng chuỗi giá trị sản xuất sản phẩm đem lại hiệu quả sản xuất cao hơn cho người nông dân, phát triển nông nghiệp theo vùng quy hoạch phù hợp cây trồng, vật nuôi nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra sản phẩm.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1, đã khái quát những vấn đề lý luận về QLNN về nông nghiệp, khái niệm QLNN về nông nghiệp, đặc điểm, chức năng và nội dung QLNN về nông nghiệp đối với cấp huyện và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QLNN về nông nghiệp. Nội dung quản lý nhà nước về nông nghiệp cấp huyện đã bao quát được các công việc quản lý mà chính quyền cấp huyện triển khai, nhằm tác động vào ngành nông nghiệp địa phương. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về nông nghiệp của huyện IaGrai, tỉnh Gia Lai; huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế là những nơi có điều kiện tương đồng với huyện IaH’Drai và có sự thành công trong công tác QLNN về nông nghiệp được phân tích và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho huyện IaH’Drai, tỉnh Kon Tum trong việc QLNN về nông nghiệp. Nội dung lý luận này là cơ sở tốt phục vụ việc phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về nông nghiệp tại huyện IaH’Drai tại chương 2 và đề xuất giải pháp ở chương 3.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN IAH’DRAI

2.1. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN QLNN VỀ NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN IAH’DRAI

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai tỉnh Kon Tum
Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai tỉnh Kon Tum

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện IaH’Drai

– Vị trí địa lý:

Huyện IaH’Drai mới được thành lập từ tháng 3/2015 với 03 đơn vị hành chính cấp xã, là huyện đặt thù khu vực biên giới của tỉnh; huyện giáp với Vương quốc Campuchia có đường biên giới giáp ranh dài 76,4 km. Vị trí địa lý của huyện nằm ở cuối hướng Tây Nam của tỉnh Kon Tum, cách trung tâm hành chính thành phố Kon Tum khoảng 115 km, có đường Quốc lô ̣14C từ huyện Ngoc̣ Hồi đi qua huyện Sa Thầy, huyện IaH’Drai (tỉnh Kon Tum) và đi qua huyện IaGrai (tỉnh Gia Lai).

Ranh giới hành chính của huyện:

  • Phía Bắc giáp: Huyện Sa Thầy và huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum
  • Phía Nam giáp: Huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai
  • Phía Đông giáp: Huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai

+ Phía Tây giáp: giáp hai huyện Tà Veng và Đun Mia của Vương quốc

Campuchia

– Địa hình: Huyện Ia H’Drai nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và Đông sang Tây, dốc ở phía Bắc và độ dốc thấp 2% -5% ở phía Nam, phần lớn có độ dốc từ 15 – 250. Địa hình núi cao ở phía Đông – Bắc có độ cao trung bình từ 800 – 1.700 mét so với mực nước biển. Địa hình đồi lượn sóng: Có độ cao trung bình từ 180 – 300 mét so với mực nước biển, với độ dốc phổ biến từ 8-250.

– Khí hậu: Khí hậu có nét chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa, lại mang tính chất của khí hậu cao nguyên, được chia làm hai mùa (mùa mưa và mùa khô), đặc điểm nổi bật là mùa khô kéo dài 6 tháng (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau). Nhiệt độ trung bình năm 250C – 300C; lượng mưa trung bình trong năm 1.737 mm; độ ẩm bình quân 79,5%; số giờ nắng bình quân trong năm là 1.981 giờ; hướng gió chính là Đông Bắc và Tây Nam, tốc độ gió bình quân 2,6 m/s.

Bảng 2.1. Lượng mưa theo tháng ở các trạm quan trắc mưa ở các huyện của tỉnh Kon Tum

ĐVT: mm

Tháng
Địa123456789101112Cả
điểm trạmnăm
quan trắc
– ĐăkGlei1.85.567.7137.8212.0186.3239.2273.7289.2156884.61662.2
– Đăk Tô2.18.146.692.4229.4310.9309.8428.2281.416660.712.71947.7
– Ia H’Drai1.02.624.8108208.2308.9314.9343.9299.315946.52.21818.9
-TP Kon Tum19.92892.2223.1258.1284.0344.6279.017960.19.51768.5
– Ngọc Hồi1.13.927.4100.3230.6300.9250.3352.8280.615947.16.11760.3
-Kon Plong01.331.190.8246.1170.5277.1301.7257.018013619.6 1712.0
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Kon Tum)

450
400
350
300
250
200
150
100
50
0
123456789101112

ĐăkGlei

Đăk Tô

Ia H’Drai

TP Kon Tum

Ngọc Hồi

Hình 2.2. Lượng mưa theo tháng ở các trạm quan trắc mưa

ở các huyện của tỉnh Kon Tum

Hình 2.2, cho thấy lượng mưa của huyện IaH’Drai tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, so với các huyện khác lượng mưa tương đối cao (chỉ thấp hơn huyện KonPlong); với lượng mưa tương đối dài là 6 tháng

và ổn định thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp.

– Tài nguyên đất, nước và khoáng sản

+ Tài nguyên đất: Trên địa bàn huyện chủ yếu là đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fs), đất phù sa sông suối. Nhìn chung, đất có khả năng sản xuất nông nghiệp chủ yếu là các loại đất xám phù sa ngòi suối, đất đỏ vàng trên đá macma axit được bồi lắng và phù sa có tầng loang lỗ; ở một số vùng đất có tầng canh tác tốt phù hợp với phát triển sản xuất nông nghiệp.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP/ LÊ VĂN HOÀNG

Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai tỉnh Kon Tum  Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai tỉnh Kon Tum Quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn huyện IaH’Drai tỉnh Kon Tum

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *