Quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giảm nghèo đã và đang trở thành một trong những vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài, là một trong những chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Trong chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020 được thông qua tại Đại hội lần thứ XII của Đảng ta đã khẳng định: “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn, khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên. Có các chính sách và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị” [25, tr.124-125]. Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, trong những năm vừa qua, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác xóa đói, giảm nghèo và được đánh giá là một trong những quốc gia thành công trong công tác xóa đói, giảm nghèo.
Trong thời gian qua cùng với cả nước và tỉnh Quảng Nam nói chung, huyện Duy Xuyên nói riêng đã tập trung cả hệ thống chính trị vào công tác giảm nghèo. Nhiều giải pháp đã được triển khai đồng bộ trong công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên trong thời gian qua đã mang lại những kết quả quan trọng, đời sống của đại bộ phận nhân dân trên địa bàn đã được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh đó tốc độ giảm nghèo tại Duy Xuyên chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của địa phương, đồng thời công tác giảm nghèo cũng chưa thật sự bền vững.
Mặt khác, thực tế trong giai đoạn hiện nay công tác giảm nghèo đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không chỉ đối với riêng huyện Duy Xuyên, mà còn của tỉnh Quảng Nam. Một trong những lý do chủ yếu dẫn tới việc giảm nghèo chậm và chưa thực sự bền vững là do công tác QLNN về giảm nghèo còn những hạn chế, bất cập nhất định. Từ thực tế nêu trên đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cần phải tiếp tục nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện và tăng cường QLNN đối với giảm nghèo nói chung và từ đó nâng cao chất lượng giảm nghèo tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam nói riêng và đó cũng là lý do bản thân tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý Kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu cơ bản của đề tài này là nghiên cứu cơ sở khoa học về QLNN về giảm nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; đánh giá thực trạng, làm rõ những ưu điểm để phát huy, phân tích những hạn chế, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN về giảm nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:
– Nghiên cứu cơ sở khoa học về QLNN về giảm nghèo.
– Đánh giá thực trạng QLNN về giảm nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
– Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường QLNN về giảm nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động QLNN về giảm nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về không gian: huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xóa đói, giảm nghèo trong thời kỳ đổi mới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong nghiên cứu tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp;
+ Phương pháp thống kê;
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Luận văn tổng hợp và làm rõ thêm các quan điểm lý luận về nghèo đói và chống nghèo đói hiện nay một cách có hệ thống, trên cơ sở đó làm rõ vai trò của QLNN trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nước ta.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để giảm nghèo một cách bền vững góp phần hoàn thiện về QLNN và hoạt động giảm nghèo ở huyện Duy Xuyên.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa phục vụ cho việc triển khai các hoạt động QLNN về giảm nghèo tại huyện Duy Xuyên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, nhiệm kỳ 2015-2020; chương trình giảm nghèo bền vững của UBND huyện Duy Xuyên giai đoạn 2018- 2020 và một số chương trình giảm nghèo bền vững của tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:
– Chương 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về giảm nghèo.
– Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
– Chương 3. Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
1.1.1. Về nghèo đói và nghèo đa chiều
1.1.1.1. Về nghèo đói
Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế – xã hội mang tính toàn cầu. Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà thậm chí còn tồn tại ngay cả ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo của từng quốc gia có khác nhau. Nhìn chung mỗi quốc gia đều sử dụng một quan niệm để xác định mức độ nghèo và đưa ra các chỉ số nghèo để xác định giới hạn nghèo. Khái niệm nghèo mang tính chất động, nó biến đổi tùy thuộc vào không gian, thời gian và xuất phát điểm của từng vùng, quốc gia, lãnh thổ. Do đó quan niệm nghèo của mỗi quốc gia hay khu vực, tùy từng thời điểm khác nhau hay góc độ nghiên cứu khác nhau mà quan niệm về nghèo cũng không giống nhau.
Từ trước đến nay có nhiều quốc gia, nhiều tổ chức trên thế giới đã đưa ra những quan niệm của mình về nghèo, các quan niệm này phản ánh mục tiêu nghiên cứu, cũng như phản ánh tình trạng nghèo của các nước trên thế giới. Có thể đưa ra một số quan niệm về nghèo sau đây:
Liên Hợp Quốc trong Tuyên bố vào tháng 6/2008 đã xác định: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [15, tr.18].
Cũng theo quan niệm của Liên Hợp Quốc, nghèo có hai dạng: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối:
“Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản tối thiểu để duy trì cuộc sống về ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục.
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng địa phương hay một quốc gia”.
Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế – xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức vào tháng 9 năm 1993 tại Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo đói: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục, tập quán của các địa phương”. [15, tr.18-19].
Các khái niệm chung về nghèo khổ của thế giới vận dụng vào Việt Nam một cách linh hoạt hơn. Chẳng hạn, đối với thế giới, nghèo tuyệt đối còn có nghĩa là người dân bị bần cùng hóa, bị tước bỏ cơ hội và khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu. Song ở Việt Nam, về bản chất nghèo tuyệt đối không mang ý nghĩa này. Khái niệm nghèo tuyệt đối ở Việt Nam được giải thích dễ hiểu bằng khái niệm đói, do khả năng thỏa mãn quá thấp của kinh tế. Tức là nghèo lương thực, thực phẩm. Còn nghèo tương đối cũng được hiểu theo nghĩa tích cực, khác với nghĩa, “ bất bình đẳng” trong phân phối và hưởng thụ. Ở Việt Nam, khái niệm nghèo đói được hiểu như sau: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ được thỏa mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn so với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống, những hộ đói thường thiếu ăn, đứt bữa từ 01 đến 02 tháng/năm, thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ.
1.1.1.2. Về nghèo đa chiều
Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế – xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012: 5).
Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid, 2010: 11). Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập.
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013. Đo lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta. Hiện nay Bộ LĐ-TB&XH đang đề xuất xây dựng bộ tiêu chí nghèo đa chiều, đồng thời rà soát cơ chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều ở Việt Nam.
1.1.2. Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
1.1.2.1. Giảm nghèo
Giảm nghèo được hiểu là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện của việc giảm nghèo ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Nói một cách khác, giảm nghèo là quá trình nâng cao đời sống của những người thuộc diện đói nghèo giúp một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn, vượt ngưỡng nghèo. Vì chuẩn nghèo thay đổi theo mức độ phát triển kinh tế- xã hội nên giảm nghèo thường là một quá trình lâu dài.
Ở góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn trong quá trình phát triển và giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói.
Ở góc độ vùng nghèo: Giảm nghèo là quá trình thúc đầy phát triển kinh tế, chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội của vùng miền đó cho phù hợp với điều kiện sang trình độ sản xuất mới cao hơn nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư.
Giảm nghèo là một trong những trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.
1.1.2.2. Giảm nghèo bền vững
Bền vững là không lay chuyển được, là vững chắc và là duy trì bền lâu. Như vậy chúng ta có thể hiểu bền vững là một tiêu chuẩn hay một yêu cầu về sự “chắc chắn” đối với kết quả giảm nghèo.
Thuật ngữ “Giảm nghèo bền vững” đã được một số nghiên cứu đề cập từ những năm 2000. Nhưng đến năm 2008 cụm từ này mới được sử dụng chính thức trong văn bản của Nhà nước ta tại Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Tiếp theo đó, một loạt các quy định khác của Nhà nước về giảm nghèo bền vững đã được ban hành như Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 và nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012, Hội nghị BCH trung ương khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020,…
Tuy nhiên, cho đến nay trong các quy định này và cả trong các nghiên cứu khoa học vẫn chưa có một khái niệm hay một định nghĩa chính thức về giảm nghèo bền vững. Mặc dù vậy, trong các báo cáo về giảm nghèo thì tình trạng những người dân vừa thoát khỏi nghèo lại rơi vào tình trạng tái nghèo luôn được xem là vấn đề cần phải quan tâm đối với hoạt động giảm nghèo bền vững. Như vậy nên hiểu bền vững là một tiêu chuẩn hay một yêu cầu về sự chắc chắn đối với kết quả giảm nghèo. Mục đích rất rõ ràng của giảm nghèo bền vững chính là đảm bảo duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài và bền vững.
Nếu hiểu bền vững với nghĩa là duy trì không lay chuyển là vững chắc thì giảm nghèo bền vững được hiểu là tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên chuẩn nghèo đó ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro.
Giảm nghèo bền vững là thực hiện và duy trì các biện pháp giảm nghèo, trong đó tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu và phương tiện để sản xuất, dịch vụ, bảo đảm an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình, nâng cao thu nhập để tự vượt qua nghèo đói; tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế, nước sạch; giảm thiểu rủi ro do thiên tai, bão lụt và tác động tiêu cực của quá trình cải cách kinh tế, bảo đảm thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo.
1.1.3. Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo
Chuẩn mực nghèo đói là thước đo có thể lượng hóa để xác định người nghèo và đánh giá mức độ nghèo khổ. Thực tế chuẩn mực này cũng có thể thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế – xã hội. Cách tiếp cận tình trạng nghèo khổ đáng lưu ý nhất và rất điển hình là đo lường nhu cầu thiết yếu, cơ bản về dinh dưỡng thông qua khối lượng hàng hóa lương thực, thực phẩm được sử dụng.
Ngoài nhu cầu về dinh dưỡng (ăn) cần xác định trên cơ sở thỏa mãn (hoặc được hưởng thụ) những nhu cầu cơ bản, tối thiểu khác như tình trạng nhà ở thích hợp, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, giáo dục, y tế, xanh sạch và vệ sinh môi trường; cách tiếp cận nghèo khổ tương đối, thường dựa trên cơ sở phân tích những nhu cầu và thỏa mãn biến đổi tùy theo điều kiện hoàn cảnh nhất định, sự chênh lệnh về mức sống giàu và nghèo, giữa các nhóm xã hội khác nhau, giữa các vùng có trình độ không đồng đều.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính và mức sống thực tế của người dân từng vùng miền. Từ năm 1993 cho đến nay, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho các giai đoạn cụ thể khác nhau: giai đoạn 1993 – 1995; giai đoạn 1996 – 2000; giai đoạn 2001 – 2005; giai đoạn 2006 – 2010; giai đoạn 2011 – 2015 và giai đoạn 2016 – 2020.
– Giai đoạn 1993 – 1995: hộ nghèo đói trong cả nước được chia thành hai loại: hộ đói và hộ nghèo, trên hai vùng nông thôn và thành thị. Chuẩn hộ đói nghèo được tính dựa vào thu nhập bình quân theo lương thực quy đổi. Cụ thể như sau:
Hộ đói là hộ có thu nhập bình quân của một người trong một tháng quy ra lương thực tương đương dưới 13 kg/người/tháng đối với khu vực thành thị và dưới 8 kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn.
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân của một người trong một tháng quy ra lương thực tương đương dưới 20 kg/người/tháng đối với khu vực thành thị và dưới 15 kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn.
– Giai đoạn 1996 – 2000: hộ nghèo đói trong cả nước được chia thành hai loại hộ đói và hộ nghèo trên ba vùng nông thôn miền núi và hải đảo, nông thôn đồng bằng trung du và thành thị.
Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong một tháng quy ra gạo 13kg/người/tháng, tương đương 45.000 đồng/người/tháng, tính cho mọi vùng miền.
Hộ nghèo là hộ có bình quân đầu người trên một tháng quy ra gạo hoặc tiền Việt Nam đồng có giá trị tương đương theo 3 khu vực, cụ thể như sau:
Khu vực nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng tương đương 50.000 đồng/người /tháng;
Khu vực nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng tương đương 70.000 đồng/người/tháng;
Khu vực thành thị: dưới 25 kg/người/tháng tương đương 90.000 đồng/người/tháng.
– Giai đoạn 2001 – 2005: trong giai đoạn này không còn tiêu chí xác định hộ đói, chuẩn nghèo không được tính dựa vào thu nhập bình quân theo lương thực quy đổi mà dựa vào thu nhập tính theo tiền Việt Nam đồng, chuẩn hộ nghèo được xác định theo 3 khu vực. Chuẩn nghèo trong giai đoạn này được áp dụng theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-BLĐTBXH ngày 01 tháng 11 năm 2000 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Cụ thể:
Khu vục nông thôn và hải đảo: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 80.000 đồng/người/tháng (tương đương 960.000 đồng/người/năm) trờ xuống là hộ nghèo;
Khu vực nông thôn đồng bằng: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (tương đương 1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo;
Khu vực thành thị: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (tương đương 1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
– Giai đoạn 2006 – 2010: Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005 đưa ra chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 như sau:
Khu vực nông thôn: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 200.000 đồng/người/tháng (tương đương 2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Khu vực thành thị: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người tư 260.000 đồng/người/tháng (tương đương 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
– Giai đoạn 2011 – 2015: Thủ tưởng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 đưa ra chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015. Cụ thể như sau:
Khu vực nông thôn: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân tù 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống; Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.
Khu vực thành thị: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống; Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.
– Giai đoạn 2016 – 2020: Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.
Với tiêu chí về thu nhập, quyết định quy định chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 900.000 đồng/người/tháng. Quy định chuẩn cận nghèo ở khu vực nông thôn là 1.000.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 1.300.000 đồng/người/tháng.
Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, quyết định nêu rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin.
Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
Quyết định cũng quy định rõ chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Cụ thể, hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.
Hộ có mức sống trung bình ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng.
Theo Quyết định được Thủ tướng Chính phủ ký duyệt, mức chuẩn nghèo trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân và là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội cũng như hoạch định các chính sách kinh tế – xã hội khác trong giai đoạn 2016 – 2020.
Bảng 1.1. Chuẩn nghèo ở Việt Nam qua các giai đoạn
| Giai đoạn 1992 – 1995 | |
| Hộ đói nông thôn | Thu nhập bình quân đầu người dưới 8 kg gạo/tháng |
| Hộ đói thành thị | Thu nhập bình quân đầu người dưới 13 kg gạo/ tháng |
| Hộ nghèo nông thôn | Thu nhập bình quân đầu người dưới 13 kg gạo/ tháng |
| Hộ nghèo thành thị | Thu nhập bình quân đầu người dưới 20 kg gạo/ tháng |
| Giai đoạn 1996 – 2000 | |
| Hộ đói | Thu nhập bình quân đầu người dưới 13 kg gạo/ tháng (tương đương dưới 45.000đ) tính chung cả cho nông thôn và thành thị |
| Hộ nghèo nông thôn miền núi, hải đảo | Thu nhập bình quân đầu người dưới 15 kg gạo/ tháng (tương đương dưới 55.000đ) |
| Hộ nghèo nông thôn đồng bằng | Thu nhập bình quân đầu người dưới 20 kg/ tháng (tương đương dưới 70.000đ) |
| Hộ nghèo thành thị | Thu nhập bình quân đầu người dưới 25 kg/ tháng (tương đương dưới 90.000đ) |
| Giai đoạn 2001 – 2005 (hộ nghèo) | |
| Nông thôn miền núi, hải đảo | Thu nhập bình quân đầu người dưới 80.000đ/ tháng hay 960.000đ/người/năm |
| Nông thôn đồng bằng | Thu nhập bình quân đầu người dưới 100.000đ/ tháng hay 1.200.000đ/người/năm |
| Thành thị | Thu nhập bình quân đầu người dưới 150.000đ/ tháng hay 1.800.000đ/người/năm |
| Giai đoạn 2006 – 2010 (hộ nghèo) | |
| Nông thôn | Thu nhập bình quân đầu người dưới 200.000 đ/tháng hay 2.400.000đ/người/năm |
| Thành thị | Thu nhập bình quân đầu người dưới 260.000 đ/tháng hay 3.120.000 đ/người/năm |
| Giai đoạn 2011 – 2015 (hộ nghèo) | |
| Nông thôn | Thu nhập bình quân đầu người dưới 400.000 đ/tháng hay 4.800.000 đ/người/năm |
| Thành thị | Thu nhập bình quân đầu người dưới 500.000 đ/tháng hay 6.000.000 đ/người/năm |
| Giai đoạn 2016 – 2020 (hộ nghèo) | |
| – Nông thôn: | Thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 700.000 đồng trở xuống; hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 701.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản từ 30 điểm trở lên. |
| – Thành thị: | Thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 900.000 đồng trở xuống; hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 901.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản từ 30 điểm trở lên. |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Như vậy, có thể nhận thấy chuẩn nghèo không phải bất biến mà có sự thay đổi tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế- xã hội và nhận thức của quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể. Khi mức độ phát triển kinh tế- xã hội cao hơn, đời sống của người dân được cải thiện thì những đòi hỏi tối thiểu của họ sẽ tăng dần lên và qua đó làm thay đổi chuẩn nghèo. Khi chuẩn nghèo thay đổi sẽ dẫn tới số lượng nhóm đối tượng của chính sách xóa đói, giảm nghèo cũng thay đổi theo và việc thực hiện chiến lược xóa đói, giảm nghèo sẽ lại được triển khai tiếp tục.
1.2. Quản lý nhà nước về giảm nghèo
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo
QLNN là một dạng của quản lý xã hội nhưng là dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước, bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội. Trong hoạt động quản lý xã hội, có rất nhiều chủ thể tham gia: Đảng phái chính trị, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, các hội nghề nghiệp…. trong đó Nhà nước giữ vai trò quan trọng. QLNN được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước.
QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì trật tự và đảm bảo sự phát triển của xã hội theo một định hướng thống nhất.
Như vậy, QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước và CBCC có thẩm quyền, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đối tượng của QLNN là hệ thống các hành vi, hoạt động của con người, các tổ chức con người trong cuộc sống xã hội, bao trùm lên mọi lĩnh vực trong xã hội. Có thể chia đối tượng của QLNN theo các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…
QLNN do các cơ quan nhà nước và CBCC thực hiện tác động lên xã hội tập trung vào các hoạt động chủ yếu sau:
– Ban hành các quy định để làm căn cứ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong những lĩnh vực cụ thể nhất định;
– Tổ chức xây dựng bộ máy và nhân sự để thực hiện các quy định đó;
– Kiểm soát việc thực hiện các quy định;
– Hỗ trợ các đối tượng trong trường hợp cần thiết.
Hành chính nhà nước được hiểu là một bộ phận của QLNN. Trong hoạt động của nhà nước, hoạt động hành chính nhà nước gắn liền với việc thực hiện một bộ phận quan trọng của quyền lực nhà nước là quyền hành pháp. Đó là hoạt động thực thi quyền hành pháp hay “hành pháp trong hành động”. Hành chính nhà nước do hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương tiến hành. Mỗi cơ quan hành chính nhà nước đảm nhiệm các chức năng, nhiệm vụ quản lý theo quy định pháp luật.
Như vậy, QLNN về giảm nghèo có thể hiểu là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển của xã hội thông qua chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy nhằm làm giảm tỷ lệ hộ nghèo, từng bước cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, ổn định và phát triển đất nước, hạn chế tối đa nguy cơ tái nghèo.
Chủ thể quản lý là các cơ quan QLNN, cụ thể là Chính phủ thống nhất, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì xây dựng, QLNN về xóa đói, giảm nghèo quốc gia và phối hợp với các bộ, ngành có liên quan thực hiện các chương trình xóa đói, giảm nghèo; UBND các cấp và các cơ quan, đoàn thể trong hệ thống chính trị ở địa phương tổ chức và tham gia hoạt động thực hiện các dự án xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn địa phương mình.
Khách thể QLNN về giảm nghèo là vấn đề đói nghèo. Mục tiêu của QLNN giảm nghèo là giúp giảm số lượng người nghèo và tránh tình trạng tái nghèo sau khi thoát nghèo.
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về giảm nghèo
Hoạt động QLNN về giảm nghèo do các cơ quan QLNN tiến hành gồm nhiều nội dung khác nhau, trong đó chủ yến tập trung vào:
1.2.2.1. Ban hành các quy định, chương trình, kế hoạch nhằm xác định khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động giảm nghèo
Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật là một nội dung quan trọng trong QLNN đối với bất kỳ ngành, lĩnh vực nào, trong đó có QLNN về giảm nghèo.
Thông qua việc ban hành các quy định, Nhà nước xác lập hành lang pháp lý để điều chỉnh các quan hệ, hành vi trong từng hoạt động giảm nghèo bền vững và hình thành căn cứ, cơ sở cho việc thực hiện có hiệu quả, đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Hệ thống quy định về hoạt động giảm nghèo tạo cơ chế quản lý phù hợp để cơ quan thường trực chương trình và các cơ quan quản lý các hợp phần của chương trình ở các cấp có đủ thẩm quyền, đủ năng lực và điều kiện để quản lý chương trình, khắc phục tình trạng trách nhiệm không đi đôi với thẩm quyền.
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, chính sách, chương trình, dự án, kế hoạch, mục tiêu về giảm nghèo là khâu không thể thiếu trong hoạt động QLNN đối với hoạt động giảm nghèo. Công tác giảm nghèo nhanh và bền vững phải được quan tâm ngay từ khi xây dựng chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội dài hạn, trung hạn và hàng năm, coi đó là một nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước đối với công tác xóa đói giảm nghèo. Trên cơ sở khung chương trình, kế hoạch quốc gia, các cấp chính quyền cụ thể hóa thực hiện tại địa phương.
Chủ trương, định hướng về giảm nghèo đã được Đảng và Nhà nước ban hành trong thời gian qua như Nghị quyết 30a/2008/NĐ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững đến năm 2020…. đã xác lập khung pháp lý cần thiết trong lĩnh vực giảm nghèo bền vững trên phạm vi quốc gia. Trên cơ sở đó các cơ chế, chính sách tài chính cụ thể phục vụ công tác xóa đói giảm nghèo được ban hành theo từng lĩnh vực cụ thể như:
– Chính sách tài chính hỗ trợ về y tế, chăm sóc sức khỏe.
– Chính sách tài chính hỗ trợ giáo dục- đào tạo.
– Chính sách tài chính hỗ trợ sản xuất, nhà ở, đất ở.
– Chính sách tài chính hỗ trợ học nghề và giải quyết việc làm.
– Chính sách tín dụng ưu đãi hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Các chủ trương, chính sách này cần được cụ thể hóa trong quá trình triển khai giảm nghèo ở các địa phương cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mình.
1.2.2.2. Xây dựng tổ chức bộ máy và nhân sự để thực hiện giảm nghèo
Việc sắp xếp, tổ chức bộ máy để đảm bảo cho hoạt động QLNN thống nhất, hoạt động hiệu quả từ trung ương tới địa phương. Tổ chức và nhân sự trong bộ máy để thực hiện công tác giảm nghèo được bố trí xây dựng theo quy định và điều kiện thực tế của từng địa phương, đồng thời phải xây dựng một đội ngũ cán bộ công chức có đầy đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện tốt QLNN về giảm nghèo.
Vai trò của Nhà nước nói chung là phải xây dựng được một nền hành chính nhà nước trong sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, có trách nhiệm ở tất cả các cấp, có khả năng xây dựng các chính sách và cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của người dân, khuyến khích cơ hội, giúp đỡ cho người nghèo phát huy được tiềm năng của mình. Để đạt được mục đích này phải tạo nên một hệ thống hành chính với cơ chế, tổ chức bộ máy gọn nhẹ, đội ngũ CBCC về cơ bản có phẩm chất, năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước để đạt được mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững.
Đồng thời, trong 8 nguyên tắc chính cần thực hiện trong quá trình phát triển bền vững mà chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam đã nêu lên, thì nguyên tắc đầu tiên được nêu ra là con người, nguồn lực con người có vai trò quyết định, đây là chìa khoá của mọi chìa khoá. Con người là trung tâm của phát triển bền vững, đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển.
Nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động QLNN nói chung và hoạt động QLNN về giảm nghèo nói riêng, được xem là khâu then chốt của công cuộc giảm nghèo. Nguồn nhân lực phục vụ hoạt động QLNN về giảm nghèo chính là đội ngũ CBCC thực hiện hoạt động giảm nghèo ở cấp huyện và cấp xã.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 9\QUAN LY KINH TE\PHAM DUOC


