Quản lý dự án đầu tư xây dựng của huyện Phước Sơn

Quản lý dự án đầu tư xây dựng của huyện Phước Sơn

Quản lý dự án đầu tư xây dựng của huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Phước Sơn là huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, là một trong những huyện nghèo trong cả nước, cơ sở hạ tầng của huyện còn nhiều hạn chế, các công trình điện sinh hoạt, đường giao thông, trường học, trạm y tế, thủy lợi được đầu tư xây dựng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân trong huyện. Trong những năm qua, huyện đã tận dụng mọi nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như: Chương trình 135, Chương trình 30a của Chính phủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn, vốn Trái phiếu Chính phủ, vốn Ngân sách tỉnh, vốn ngân sách huyện, vốn ODA, vốn hỗ trợ của các doanh nghiệp. Nhiệm vụ đặt ra là phải quản lý chặt chẽ và có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư xây dựng, tránh thất thoát, lãng phí, hạn chế rủi ro. Các công trình được đầu tư phải thực sự đem lại lợi ích cao nhất cho người dân, phục vụ tốt nhất cho việc phát trỉnh kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho người dân trong huyện

Xuất phát từ thực tế nêu trên, tôi đã chọn đề tài Quản lý dự án đầu tư xây dựng của huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam làm luận văn thạc sĩ. Qua việc nghiên cứu đề tài tìm ra các giải pháp quản lý các dự án đầu tư xây dựng đúng theo quy định của pháp luật, phù hợp với tình hình thực tế của huyện để nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh thất thoát, lãng phí, tiêu cực góp phần vào việc hoàn thiện CSHT của huyện Phước Sơn.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa quy trình quản lý dự án và đánh giá thực trạng quản lý dự án của huyện Phước Sơn, tìm hiểu những nguyên nhân tồn tại, hạn chế, đề ra những giải pháp khắc phục, đề xuất, kiến nghị, đề hoàn thiện công tác QLDA của huyện Phước Sơn.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về QLDA đầu tư xây dựng.

Dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về QLDA đầu tư xây dựng kết hợp thực tiễn, phân tích, đánh giá thực trạng về công tác QLDA đầu tư xây dựng của Ban quản lý dự án huyện Phước Sơn từ năm 2013 đến năm 2017, đồng thời đưa ra các kiến nghị, đề xuất, giải pháp xây dựng một hệ thống QLDA đầu tư xây dựng phù hợp hợp với tình hình thực tế của huyện.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Huyện Phước Sơn và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng của huyện.

Thời gian: Đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng từ năm 2013 – 2017.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận

– Phân tích và tổng hợp: Phân tích là nghiên cứu các tài liệu khác nhau để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng. Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng.

– Phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Phân loại là sắp xếp các tài liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị, từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển. Hệ thống hóa là sắp xếp tri thức thành một hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm sự hiểu biết về đối tượng đầy đủ hơn.

– Mô hình hóa các đối tượng bằng việc xây dựng gần giống với đối tượng, tái hiện lại đối tượng theo các cơ cấu, chức năng của đối tượng.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

– Thu thập dữ liệu thứ cấp bên trong của UBND huyện Phước Sơn; Phòng Tài chính – Kế hoạch; Phòng Kinh tế & Hạ Tầng; Ban quản lý dự án; Phòng thống kê trong lĩnh vực đầu tư xây dựng từ năm 2013 – 2017 và các nguồn tài liệu khác.

– Thu thập dữ liệu sơ cấp bên ngoài.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiến

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng, cung cấp thêm những luận cứ khoa học nhằm đánh giá khách quan, chính xác và thực tiễn quản lý dự án đầu tư xây dựng trong tình hình hiện nay.

6.2. Ý nghĩa và thực tiến

Qua nghiên cứu thực tiễn về QLDA đầu tư xây dựng tại huyện Phước Sơn luận văn đưa ra một số giản pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém, đảm bảo tính công khai minh bạch và nâng cao hiệu quả QLDA đầu tư xây dưng.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận… luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng.

Chương 2: Thực trạng công tác QLDA đầu tư xây dựng của huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Chương 3: Định hướng, giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế công tác QLDA đầu tư xây dựng của huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đến năm 2020.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA

CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

1.1. Cơ sở lý luận về dự án đầu tư xây dựng

1.1.1. Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng

Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ trong một khoảng thời gian xác định với nguồn lực đã cho trước trong bối cảnh không chắc chắn và có những rủi ro. Để thực hiện dự án đầu tư xây dựng cần phải có những yếu tố kết hợp với nhau như: nhân lực, vật lực, thiết bị máy móc, tiền bạc và thời gian. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng. [13]

– Xét về mặt hình thức: Dự án đầu tư xây dựng là một tập hồ sơ, tài liệu có liên quan trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch phải thực hiện để đạt được những mục tiêu trong tương lai.

– Xét về góc độ quản lý: Dự án đầu tư xây dựng là công cụ để quản lý vốn, nhân lực, vật lực, thiết bị máy móc một cách có hiệu quả nhất trong một khoảng thời gian nhất định.

– Xét về góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư xây dựng là một bản kế hoạch từ tổng thể đến chi tiết của việc đầu tư sản xuất, kinh doanh phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội làm cơ sở cho việc quyết định đầu tư, tài trợ. Dự án đầu tư xây dựng là hoạt động kinh tế riêng biệt, nhỏ nhất trong toàn bộ kế hoạch hóa của nền kinh tế.

– Xét về nội dung: Dự án đầu tư xây dựng là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau, nó đặt ra những nhiệm vụ, hành động để tạo ra các kết quả cụ thể. Những nhiệm vụ và các hoạt động được thực hiện trong một thời gian biểu mà trách nhiệm các bộ phận cụ thể phải thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch thực hiện dự án.

Như vậy dù xét ở bất kỳ góc độ nào dự án đầu tư xây dựng đều bao gồm 4 vấn đề chính đó là: mục tiêu của dự án; các kết quả; các hoạt động và các nguồn lực. Trong 4 thành phần đó thì các kết quả được coi là mốc đánh dấu tiến độ của dự án. Trong quá trình thực hiện phải thường xuyên theo dõi đánh giá các kết quả đạt được, nó là một trong những nhân tố quan trọng nhất để góp phần hoàn thành một dự án.

1.1.2. Một số đặc điểm cơ bản của dự án đầu tư xây dựng

– Dự án phải có mục đích, mục tiêu rõ ràng: Mỗi dự án dầu tư xây dựng phải có mục đích, mục tiêu rõ ràng, các mục đích, mục tiêu phải đi từ tổng thể đến chi tiết. Trong mỗi nhiệm vụ cụ thể có một kết quả riêng biệt, khi tập hợp các kết quả cụ thể sẽ hình thành kết quả chung của dự án.

– Dự án bị hạn chế bởi nguồn lực: Dự án đầu tư xây dựng luôn được xác định bằng ngồn vốn cho trước và phải hoàn thành trong một thời gian xác định. Mọi nguồn lực đưa vào dự án đều được hạn chế tối đa với mục đích chi phí thấp nhất nhưng mang lại hiệu quả cao nhất.

– Mỗi dự án đầu tư xây dựng khi hoàn thành phải trải qua một thời gian nhất định, thời gian hoàn thành dự án phụ thuộc vào quy mô, tính chất của dự án và nhiều yếu tố khác. Quá trình thi công một công trình xây dựng phải chịu sự tác động của thời tiết, khi hậu như: mưa, nắng, gió bão và địa hình, đia chất thủy văn. Vì vậy điều kiện sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định luôn biến động và thường bị gián đoạn. Do những đặc điểm này trong quá trình tổ chức thi công xây dựng phải có kế hoạch tổ chức phân công hợp lý, tận dụng triệt để những máy móc thiết bị, vật tư, lao động, hạn chế tối đa những thay đổi, có biện pháp tổ chức lao động một cách khoa học.

– Dự án đầu tư xây dựng đều có những quá trình sản xuất, xây dựng rất phức tạp. Trong quá trình xây dựng có nhiều đơn vị cùng thi công trên một mặt bằng chật hẹp, có yêu cầu thi công nghiêm ngặt, quy trình kỹ thuật chặt chẽ, mỗi công trình khi hoàn thành đều gắn liền với đất. Dự án đầu tư xây dựng thường chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị dự án, gia đoạn thực hiện dự án, giai đoạn đưa dự án vào khai thác sử dụng. Giai đoạn chuẩn bị dự án và giai đoạn thực hiện dự án là hai giai đoạn tất yếu của quá trình đầu tư, thời gian kéo dài mà không tạo ra sản phẩm.

– Dự án đầu tư xây dựng là một lĩnh vực có tính rủi ro lớn. Một trong những rủi ro thường gặp là do thời gian thi công dài hơn kế hoạch đề ra vì vậy gây thất thoát, lãng phí, thường làm tăng tổng mức đầu tư, những thất thoát này là những tổn thất mà nhà đầu tư không lường trước được khi lập dự án. Các yếu tố khác như bão lụt, động đất, cháy nổ, chiến tranh có thể tàn phá công trình đầu tư. Sự thay đổi về cơ chế chính sách của nhà nước, thuế, lãi suất ngân hàng. Giá vật tư, vật liệu, nhiên liệu, thiết bị máy móc tăng cao cũng có thể gây thiệt hại cho nhà đầu tư.

– Dự án đầu tư xây dựng thường liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp quản lý, vì vậy khi thực hiện phải có sự đồng bộ, phải quy định rõ trách nhiệm của các bên và có sự thống nhất giữa các bên tham gia vào dự án. Nếu một trong các bên không có sự thống nhất sẽ ảnh hưởng đến tiến độ của dự án. Khi xây dựng dự án không làm ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh và ảnh hưởng đến văn hóa xã hội cảnh quan môi trường.

Từ một số đặc điểm cơ bản của dự án đầu tư xây dựng nêu trên sẽ là những cơ sở khoa học giúp cho việc đề xuất những biện pháp quản lý dự án thích hợp để đem lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội cao nhất khi đầu tư thực hiện dự án.

1.1.3. Phân loại dự án đầu tư xây dựng theo quy mô

Theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ, DA đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất công trình và được chia thành các loại gồm: DA quan trọng quốc gia; dự án nhóm A; DA nhóm B; DA nhóm C căn cứ vào tiêu chí quy định của pháp luật Việt Nam về đầu tư công. [8]

– Dự án đặc biệt cấp quốc gia là những DA có tổng vốn đầu tư từ ba mươi nghìn tỷ đồng trở lên, trong đó vốn nhà nước từ mười một nghìn tỷ đồng trở lên. Những dự án thuộc các lĩnh vực như: nhà máy điện hạt nhân, dự án có công trình yêu cầu chuyên mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu thực nghiệm khoa học từ 50 hécta (ha) trở lên, rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 (ha) trở lên, rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng lấn biển, bảo vệ môi trường từ 500 (ha) trở lên. Dự án, công trình sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500 hécta (ha) trở lên. Dự án, công trình phải di dân tái định cư từ hai mươi nghìn người trở lên ở miền núi, từ năm mươi nghìn người trở lên ở các vùng khác. Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh. Những dự án đặc biệt cấp quốc gia phải xin ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội. [15]

– Dự án nhóm A:

+ Các dự án thuộc phạm vi an ninh, quốc phòng, bảo mật quốc gia, các dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ, các dự án này có ý nghĩa chính trị – xã hội đặc biệt quan trọng và thường là không quy định tổng mức đầu tư.

+ Các dự án về đường bộ, đường sắt, sân bay, cảng biển, dầu khí, hóa chất, khai thác chế biến khoáng sản có tổng mức đầu tư từ 2.300 tỷ đồng trở lên.

+ Các dự án thủy lợi, cấp thoát nước, công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, hóa dược, công trình cơ khí, bưu chính, viễn thông có tổng mức đầu tư từ 1.500 tỷ đồng trở lên.

+ Các dự án sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới có tổng mức đầu tư từ 1.000 tỷ đồng trở lên.

+ Các dự án y tế, văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học, tin học, phát thanh, truyền hình, du lịch, thể dục thể thao dân dụng từ 800 tỷ đồng trở lên.

– Dự án nhóm B:

+ Các dự án về đường bộ, đường sắt, sân bay, cảng biển, dầu khí, hóa chất, khai thác chế biến khoáng sản có tổng mức đầu tư từ 120 – 2.300 tỷ đồng.

+ Các dự án thủy lợi, cấp thoát nước, công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, có tổng mức đầu tư từ 80 – 1.500 tỷ đồng.

+ Các dự án sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, hạ tầng kỹ thuật có tổng mức đầu tư từ 60 – 1.000 tỷ đồng.

+ Các dự án y tế, văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học, tin học, du lịch, thể dục thể thao, dân dụng từ 45 – 800 tỷ đồng.

– Dự án nhóm C:

+ Các dự án về đường bộ, đường sắt, sân bay, cảng biển, dầu khí, hóa chất, khai thác chế biến khoáng sản có tổng mức đầu tư dưới 120 tỷ đồng

+ Các dự án thủy lợi, cấp thoát nước, công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, hóa dược, công trình cơ khí, bưu chính, viễn thông có tổng mức đầu tư dưới 80 tỷ đồng.

+ Các dự án sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, hạ tầng kỹ thuật có tổng mức đầu tư dưới 60 tỷ đồng.

+ Các dự án y tế, văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học, tin học, du lịch, thể dục thể thao xây dựng dân dụng dưới 45 tỷ đồng.

1.1.4. Phân loại dự án đầu tư xây dựng theo nguồn vốn

– Dự án, công trình sử dụng vốn nhà nước là các DA, công trình do nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn nhà nước ngoài ngân sách gồm: vốn công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, vốn từ các nguồn thu để lại đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn tín dụng do chính phủ bảo lãnh bằng tài sản của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước. [14]

– Dự án, công trình có vốn đầu tư nước ngoài do các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện và được cấp giấy đăng ký đầu tư theo quy định của pháp luật. Các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như: thành lập công ty 100% vốn từ nhân, thành lập công ty liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước hoặc chính phủ trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư gián tiếp thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, đầu tư theo hình thức hợp đồng (PPP) giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư. [16]

– Các dự án, công trình đầu tư bằng nguồn vốn của tư nhân, các tổ chức ngoài quốc doanh và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

1.1.5. Phân loại dự án đầu tư xây dựng theo chủ đầu tư

Chủ đầu tư là người hoặc tổ chức được giao quản lý vốn, quản lý, điều hành dự án theo quy định của pháp luật. Chủ đầu tư là người chịu trách nhiệm trước người quyết định đầu tư và trước pháp luật về chất lượng, tiến độ, vốn đầu tư. Chủ đầu tư được quyền đình chỉ thi công và yêu cầu nhà thầu khắc phục khi có dấu hiệu vi phạm về chất lượng, an toàn, vệ sinh môi trường. [11]

– Đối với những dự án do chính phủ quyết định đầu tư, chủ đầu tư là các cơ quan, tổ chức, đơn vị được chính phủ giao. Chủ đầu tư phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng công trình.

– Đối với những dự án sử dụng vốn nhà nước, do Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị và tổ chức chính trị – xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định đầu tư, chủ đầu tư là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành hoặc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực. Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách của cấp xã, chủ đầu tư là Ủy ban nhân dân cấp xã. Riêng đối với dự án thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chủ đầu tư do người quyết định đầu tư quyết định phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. [8]

– Đối với dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách do tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước quyết định đầu tư thì chủ đầu tư là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực do các doanh nghiệp này quyết định thành lập hoặc là cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình. [8]

– Chủ đầu tư là tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, các tập thể người trong xã hội. Chủ đầu tư là các cá nhân.

1.1.6. Một số nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đầu tư xây dựng

Hoạt động đầu tư xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Để thực hiện tốt hoạt động đầu tư xây dựng, chủ đầu tư cần phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau: [8]

– Đối với các công trình khi đầu tư xây dựng phải tuân thủ đúng quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Không phá vỡ không gian, cảnh quan môi trường và làm ảnh hưởng đến các công trình lân cận, tạo ra môi trường sống thích hợp cho người dân, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia với lợi ích của cộng đồng, phù hợp với văn hóa, phong tục, tập quán, đáp ứng được các mục tiên phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh. [13]

– Một đặc điểm của hoạt động đầu tư xây dựng phải sử dụng đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên như: đất, đá, cát, nước, thép, gỗ, xăng dầu… Vì vậy việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên mà vẫn đem lại sự bền vững cho công trình là nhiệm vụ đặt lên hàng đầu của chủ đầu tư. Thông qua việc sử dụng khoa học, hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên không những đem đến lợi ích kinh tế cho chủ đầu tư mà còn góp phần vào việc bảo vệ môi trường.

– Các công trình xây dựng phần lớn phục vụ cho con người, không những ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày mà còn ảnh hưởng đến an toàn tính mạng của con người, vì vậy khi xây dựng cần phải tuân thủ tuyệt đối những tiêu chuẩn, quy chuẩn trong ngành xây dựng mà pháp luật quy định để hạn chế thấp nhất những rủi ro trong quá trình khai thác, vận hành và sử dụng.

– Việc đảm bảo chất lượng công trình, tiến độ và an toàn trong hoạt động đầu tư xây dựng là mục tiêu, nhiệm vụ mà chủ đầu tư cần phải thực hiện trong suốt quá trình thực hiện đầu tư xây dựng. Đề thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ này cần phải có sự phối hợp tốt gữa chủ đầu tư với đơn vị tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu xây dựng và các cơ quan chức năng có liên quan đến việc đánh giá, kiểm định chất lượng công trình. Các hạng mục công trình, công trình sau khi hoàn thành phải được nghiệm thu chất lượng theo đúng quy định của Luật Xây dựng. Trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng cần phải có những giải pháp huy động vốn, nhân lực, vật lực, thiết bị máy móc để thi công công trình theo đúng tiến độ đã đề ra. Bên cạnh việc đáp ứng về tiến độ cũng cần có những biện pháp đảm bảo về an toàn lao động, phòng tránh cháy nổ, vệ sinh môi trường.

– Các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào hoạt động xây dựng phải đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật.

– Đối với các dự án đầu tư xây dựng, nhất là các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước đều phải có tính công khai, minh bạch, thể hiện rõ các thông tin liên quan đến dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng dễ dàng trong việc quản lý, giám sát. Qua đó hạn chế được các tiêu cực thất thoát, lãng phí góp phần nâng cao chất lượng, giảm chi phí đầu tư xây dựng.

1.2. Quản lý dự án đầu tư xây dựng

1.2.1. Khái niệm

Quản lý dự án đầu tư xây dựng là một hoạt động mang tính chuyên nghiệp, sử dụng các kỹ thuật chuyên môn, kỹ năng, công cụ quản lý đề lập kế hoạch, điều phối nguồn lực thực hiện dự án, giám sát quá trình thực hiện để dự án hoàn thành đúng thời gian, với mức chi phí đã được duyệt đảm bảo chất lượng và đạt được các mục tiêu cụ thể của dự án đã đề ra. [8]

Quản lý dự án gồm các giai đoạn chủ yếu sau:

– Giai đoạn chuẩn bị dự án: Là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định mục tiêu từ tổng thể đến chi tiết những công việc cần phải hoàn thành, các nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động theo trình tự lôgic mà có thể biểu diễn được dưới dạng sơ đồ hệ thống.

– Điều phối thực hiện dự án: Là quá trình phân phối nguồn lực gồm tiền vốn, lao động, nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, đặc biệt là việc điều phối, quản lý thời gian một cách khoa học để thực hiện và hoàn thành các công việc trong dự án và tiến tới hoàn thành dự án.

– Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng: Giai đoạn này gồm các công việc như nghiệm thu, bàn giao công trình, thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình, vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình, bảo hành công trình, quyết toán vốn đầu tư.

Hình 1.1. Sơ đồ quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng

Lập dự án tiền khả thi

Lập dự án khả thi

Lập hồ sơ thiết kế, dự toán

Lựa chọn nhà thầu thi công

Thi công công trình

Nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng

Đối với DA quan trọng cấp quốc gia, DA nhóm A, B, và DA nhóm C có tổng mức đầu tư từ 15 tỷ đồng trở lên hoặc lập Lập BC KTKT đối với dự án nhỏ hơn 15 tỷ đồng

G

G

G

Giai đoạn kết

thúc đầu tư

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư Giai đoạn thực hiện đầu tư

Trình tự thực hiện

1.2.2. Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng

Căn cứ quy mô, tính chất, nguồn vốn sử dụng và điều kiện thực hiện dự án, người quyết định đầu tư quyết định áp dụng một trong các hình thức tổ chức quản lý dự án sau:

– Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, khu vực áp dụng trong trường hợp: Dự án sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước. Dự án theo chuyên ngành sử dụng vốn Nhà nước ngoài Ngân sách của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước.

– Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án dụng trong trường hợp: Dự án sử dụng vốn Nhà nước quy mô Nhóm A có công trình cấp đặc biệt; có áp dụng công nghệ cao được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ xác nhận bằng văn bản.

+ Dự án về Quốc phòng, An ninh có yêu cầu bí mật Nhà nước.

– Thuê Tư vấn quản lý dự án áp dụng trong trường hợp: Dự án sử dụng nguồn vốn Nhà nước ngoài Ngân sách, vốn khác. Dự án có tính chất đặc thù, đơn lẻ.

– Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án áp dụng trong trường hợp: Dự án cải tạo, sửa chữa quy mô nhỏ. Dự án có sự tham gia của cộng đồng. [8]

1.2.3. Các chủ thể tham gia trong công tác QLDA đầu tư xây dựng

– Chủ đầu tư là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức được giao thay mặt chủ sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án. [8]

Chủ đầu tư do người quyết định đầu tư quyết định căn cứ vào điều kiện cụ thể, người quyết định đầu tư giao cho các ban quản lý dự án chuyên ngành, khu vực làm chủ đầu tư. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người quyết định đầu tư.

– Người có thẩm quyền là người quyết định phê duyệt dự án hoặc người quyết định mua sắm theo quy định của pháp luật. Trường hợp lựa chọn nhà đầu tư, người có thẩm quyền là người đứng đầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Thủ tướng chính phủ quyết định phê duyệt đầu tư các dự án nhóm A, dự án quan trọng cấp quốc gia. Người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ quyết định phê duyệt đầu tư các dự án nhóm B, C. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định phê duyệt đầu tư các dự án nhóm B, C do mình quản lý. [8]

– Nhà thầu hoạt động đầu tư xây dựng (gọi là nhà thầu): là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư xây dựng. [8]

– Cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư là cơ quan, tổ chức có chuyên môn phù hợp với tính chất, nội dung của dự án và được người quyết định đầu tư giao nhiệm vụ thẩm định. [8]

1.2.4. Các nguyên tắc cơ bản của quản lý dự án đầu tư xây dựng

Trong quản lý dự án đầu tư xây dựng để tuân thủ đúng quy định của pháp luật, đồng thời quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các bên tham gia vào dự án cần phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau:

– Quy định rõ trách nhiệm quyền hạn của của cơ quan quản lý nhà nước, của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến thực hiện các hoạt động đầu tư xây dựng của dự án, qua đó nâng cao vai trò trách nhiệm của tổ chức, cá nhân , đảm bảo tính công khai, minh bạch góp phần thực hiện dự án hiệu quả hơn, tốt hơn. [8]

– Đối với một dự án đầu tư xây dựng thường có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực, vì vậy việc quả lý phải thực hiện một cách liên tục và toàn diện, đi từ tổng thể đến chi tiết. Người quản lý phải vận dụng những kỹ năng, công cụ và kỹ thuật để quản lý chặt chẽ trong quá trình thực hiện các mục tiêu của kế hoạch đề ra. Trong đó việc quả lý về chất lượng, tiến độ và chi phí là nhiệm vụ đặt lên hàng đầu, đó là các nhân tố quyết định cho việc hoàn thành dự án theo kế hoạch. [8]

– Ngoài việc quản lý về chất lượng, tiến độ và chi phí, trong quá trình thực hiện dự án cần phải có những biện pháp quản lý về tác động của dự án đến cảnh quan môi trường, quốc phòng, an ninh, an toàn lao động, phòng chống cháy nổ và những ảnh hưởng của việc thi công công trình đến cuộc sống của người dân. [8]

1.2.5. Các giai đoan thực hiện dự án đầu tư xây dựng

Theo Điều 6, Nghị định số 59 ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ quy định về trình tự đầu tư xây dựng, trình tự QLDA đầu tư xây dựng được chia thành 3 giai đoạn. Giai đoạn chuẩn bị dự án; giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng. Để thực hiện đúng các quy định về QLDA, đòi hỏi chủ đầu tư phải nắm rõ Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và các bộ luật khác liên quan đến đầu tư xây dựng. Qua đó lập kết hoạch thực hiện một cách đầy đủ các công việc của nhiệm vụ quản lý dự án đầu tư xây dựng. [8]

– Giai đoạn chuẩn bị dự án: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi thuộc dự án nhóm A, lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án. Việc tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt dự án tiền khả thi, dự án khả thi, báo cáo kinh tế kỹ thuật – xây dựng công trình thực hiện theo một trình tư sau:

+ Bước 1: Nêu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư: Chủ đầu tư phải căn cứ vào tình hình thực tế của khu vực dự định đầu tư dự án để tiến hành các bước điều tra, khảo sát về tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội; quốc phòng – an ninh; hệ thống cơ sở hạ tầng; dân số; địa hình; khí hậu thời tiết và đặc biệt nhà nhu cầu thực sự cần thiết cần phải đầu tư xây dựng. Thông qua các số liệu điều tra để lựa chọn quy mô dự án một cách phù hợp, hiệu quả và tiết kiệm nhất.

+ Bước 2: Tìm kiếm, phát hiện khu đất để lập phương án đầu tư: Chủ đầu tư cần phải điều tra, khảo sát, tính toán các phương án thuận lợi nhất cho việc đầu tư xây dựng như: Vị trí khu đất xây dựng phải thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng và vận hành sau khi dự án hoàn thành.

+ Bước 3: Đề xuất dự án đầu tư bao gồm các nội dung: Sự cần thiết phải đầu tư, mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độ đầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án. [16]

+ Bước 4: Thỏa thuận thuê địa điểm, thuê đất, và xin giao đất.

+ Bước 5: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt dự án chủ trương đầu tư chủ đầu tư phải tiến hành lập, thẩm định và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư trước khi lập dự án.

+ Bước 6: Lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng: Chủ đầu tư phải tổ chức lập dự án trình các cơ quan chức năng thẩm định và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án. Lập dự án đầu tư xây dựng gồm có các hình thức sau:

* Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi: Đối với những dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A. Nội dung của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi gồm: Sự cần thiết đầu tư và các điều kiện để thực hiện đầu tư xây dựng. Dự kiến mục tiêu, quy mô, địa điểm và hình thức đầu tư xây dựng. Nhu cầu sử dụng đất và tài nguyên. Phương án thiết kế sơ bộ về xây dựng, thuyết minh, công nghệ, kỹ thuật và thiết bị phù hợp. Dự kiến thời gian thực hiện dự án. Sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động vốn; khả năng hoàn vốn, trả nợ vốn vay (nếu có); xác định sơ bộ hiệu quả kinh tế – xã hội và đánh giá tác động của dự án.

* Báo cáo nghiên cứu khả thi: Các dự án không phải là dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B,C, có tổng mức đầu tư từ 15 tỷ đồng trở lên phải lập báo cáo nghiên cứu khả thi. Nội dung của báo cáo nghiên cứu khả thi gồm hai phần: thiết kế cơ sở và các nội dung của dự án như: Sự cần thiết và chủ trương đầu tư, mục tiêu đầu tư xây dựng, địa điểm xây dựng và diện tích sử dụng đất, quy mô công suất và hình thức đầu tư xây dựng.  Khả năng bảo đảm các yếu tố để thực hiện dự án như sử dụng tài nguyên, lựa chọn công nghệ thiết bị, sử dụng lao động, hạ tầng kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, yêu cầu trong khai thác sử dụng, thời gian thực hiện, phương án giải phóng mặt bằng xây dựng, tái định cư (nếu có), giải pháp tổ chức quản lý thực hiện dự án, vận hành, sử dụng công trình và bảo vệ môi trường. Đánh giá tác động của dự án liên quan đến việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tái định cư; bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái, an toàn trong xây dựng, phòng, chống cháy, nổ và các nội dung cần thiết khác. Tổng mức đầu tư và huy động vốn, phân tích tài chính, rủi ro, chi phí khai thác sử dụng công trình, đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án; kiến nghị cơ chế phối hợp, chính sách ưu đãi, hỗ trợ thực hiện dự án. Đối với các dự án đầu tư xây dựng chưa có trong quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng thì chủ đầu tư phải báo cáo Bộ quản lý ngành, Bộ Xây dựng hoặc địa phương theo phân cấp để xem xét, chấp thuận bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch ngành trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.

* Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng đầu tư – xây dựng: Những dự án chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật đầu tư – xây dựng gồm: Công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo; công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất). Nội dung của Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng đầu tư – xây dựng gồm: thiết kế bản vẽ thi công, thiết kế công nghệ (nếu có), dự toán xây dựng. Các nội dung khác của Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm thuyết minh về sự cần thiết đầu tư, mục tiêu xây dựng, địa điểm xây dựng, diện tích sử dụng đất, quy mô, công suất, cấp công trình, giải pháp thi công xây dựng, an toàn xây dựng, phương án giải phóng mặt bằng xây dựng và bảo vệ môi trường, bố trí kinh phí thực hiện, thời gian xây dựng, hiệu quả đầu tư xây dựng công trình.

+ Bước 7: Lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch chi tiết, quy hoạch tổng mặt bằng:

+ Bước 8: Lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường.

+ Bước 9: Thông báo thu hồ đất, Lập phương án đền bù, GPMB trình cơ quan chức năngb thẩm định, phê duyệt.

Hình 1.2. Sơ đồ quy trình thực hiện giai đoạn chuẩn bị đầu tư.

Giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư

Thẩm định và phê duyệt

dự án

Lập dự án đầu tư xây dựng

Nêu cơ hội đầu tư, sự

cần thiết phải đầu tư,

quy mô đầu tư

Lập dự án đầu tư xây dựng

Nêu cơ hội đầu tư, sự

cần thiết phải đầu tư,

quy mô đầu tư

Trình cơ quan chức năng, người quyết định đầu tư thẩm định, phê duyệt

Lập thủ tục xin giao đất, thuê đất và thỏa thuận về sử dụng cơ sở hạ tầng

Trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án đền bù (nếu có)

Lập dự án tiền khả thi đối với DA nhóm A và quan trọng quốc gia

Tìm kiếm vị trí xây dựng DA, xin giới thiệu địa điểm

Tổ chức lấy ý kiến về DA

Thỏa thuận địa điểm, xin giao đất, thuê đất

Lập BC KTKT đối với DA nhóm C có mức đầu tư nhỏ hơn 15 tỷ đồng

Lập dự án khả thi đối với DA nhóm A, B, C

– Giai đoạn thực hiện đầu tư: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác.

– Bước 1: Chủ đầu tư thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất, ký hợp đồng thuê đất hoặc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như: đóng tiền sử dụng đất, phí trước bạ, tiền thuê đất, nhận bàn giao đất trên bản đồ và thực địa.

– Bước 2: Chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có), thỏa thuận san lấp kênh rạch, sông ngòi (nếu dự án có san lấp kênh rạch, sông ngòi).

+ Bước 4: Khảo sát xây dựng có thể chia làm 2 giai đoạn: khảo sát sơ bộ phục vụ lập dự án và khảo sát chi tiết phục vụ thiết kế công trình. Công tác khảo sát thực hiện theo trình tư sau: Lập và phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng; Lựa chọn nhà thầu khảo sát xây dựng; Lập và phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng; Thực hiện khảo sát xây dựng; Giám sát công tác khảo sát xây dựng; Nghiệm thu kết quả khảo sát xây dựng; Lưu trữ kết quả khảo sát xây dựng.

+ Bước 5: Lập hồ sơ thiết kế xây dựng, dự toán công trình gồm các bước: thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và các bước thiết kế khác nếu có.

* Thiết kế một bước: Đối với những công trình chỉ lập báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng thì được gộp hai bước thiết kế thành một bước và được gọi là thiết kế bản vẽ thi công.

* Thiết kế hai bước gồm: bước thiết kế cơ sở và bước thiết kế bản vẽ thi công đối với những công trình phải lập dự án.

* Thiết kế ba bước gồm: bước thiết kế cơ sở, bước thiết kế kỹ thuật và bước thiết kế bản vẽ thi công chỉ thực hiện dành cho dự án có quy mô lớn, phức tạp.

+ Bước 6: Trình tự thực hiện thiết kế xây dựng công trình gồm các bước: Lập, phê duyệt nhiệm vụ thiết kế thiết kế xây dựng công trình; Thi tuyển, tuyển chọn thiết kế kiến trúc công trình xây dựng (nếu có); Lựa chọn nhà thầu thiết kế thiết kế xây dựng công trình; Thực hiện thiết kế xây dựng công trình; Trình cơ quan chức năng và cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt hồ sơ thiết kế, dự toán. Tổ chức nghiệm thu thu thiết kế, dự toán xây dựng công trình.

+ Bước 7: Tổ chức đấu thầu xây dựng công trình: Việc tổ chức đấu thầu xây dựng công trình được thực hiện theo Luật Đấu thầu và Nghị định số 63 ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ và theo các thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành liên quan. Để tổ chức đấu thầu chủ đầu tư phải thực hiện những công việc sau: Lập kế hoạch đấu thầu, trình cơ quan chức năng và cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt kế hoạch đấu thầu. Lập, phê duyệt hồ sơ mời thầu; Đăng thông báo mời thầu lên trang web thông tin đấu thầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và trên các phương tiện thông tin đại chúng; Mở thầu và đánh giá hồ sơ dự; Thông báo kết quả đấu thầu và mời nhà thầu trúng thầu đến thương thảo hợp đồng và phê duyệt kết quả đấu thầu, ký hợp đồng.

+ Bước 8: Chủ đầu tư phải thực hiện thông báo khởi công xây dựng công trình trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông báo băng băn bản đến các cơ quan chức năng có liên quan và chính quyền địa phương tại nơi xây dựng công trình.

+ Bước 9: Thực hiện thi công xây dựng công trình: Sau khi đã lựa chọn được nhà thầu xây lắp, nhà thầu tư vấn giám sát, nhà thầu quản lý dự án (nếu có), nhà thầu thí nghiệm, kiểm định, bảo hiểm công trình, chủ đầu tư tổ chức thực hiện thi công công trình.

* Thực hiện quản lý chất lượng, khối lượng, tiến độ, chi phí xây dựng, hợp đồng xây dựng, an toàn lao động trên công trường xây dựng, môi trường xây dựng.

* Thực hiện, quản lý hệ thống thông tin công trình gồm: quản lý các tài liệu bao quát thông tin về nội dung dự án; quản lý tài liệu hợp tác với các bên liên quan; quản lý liệu về hoạt động dự án, quản lý hệ thống các báo cáo.

* Thí nghiệm chuyên ngành xây dựng gồm các thí nghiệm về vật liệu xây dựng, cấu kiện xây dựng

* Nghiệm thu công việc, giai đoạn và công trình hoàn thành: Khi thực hiện xong các công việc xây dựng, giai đoạn và hạng mục công trình chủ đầu tư phải tổ chức nghiệm thu, đánh giá về chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật, khối lượng để đảm bảo những công việc đã thực hiện đúng như hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt.

* Tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành cho nhà thầu.

+ Bước 10: Kiểm tra chất lượng công trình xây dựng và kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành DA của cơ quan quản lý nhà nước trước khi nghiệm thu hoàn thành để đưa công trình vào sử dụng.

Hình 1.3. Sơ đồ quy trình thực hiện giai đoạn thực hiện đầu tư.

Giai đoạn thực hiện đầu tư

Thực hiện việc thuê đất, giao đất

Khảo sát, thiết kế lập dự toán

và tổ chức đấu thầu

Thi công xây dựng công trình

Quyết định giao đất, cho thuê đất

Chuẩn bị mặt bằng thực hiện DA

Khảo sát, lập hồ sơ thiết kế, dự toán

Tổ chức đấu thầu

Khởi công, tổ chức thi công công trình

Khảo sát sơ bộ

Khảo sát chi tiết

Lập hố sơ thiết kế

thiết kế 1 bước

thiết kế 2 bước

thiết kế 3 bước

Lập KHĐT

Phê duyệt KHĐT

Phê duyệt HSMT

Tổ chức đấu thầu thầu

Thông báo kết quả đấu thầu, ký hợp đồng

Chất lượng, tiến độ

Chi phí, hợp đồng

Môi trường, an toàn

Thanh toán

Kiểm tra chất lượng

– Giai đoạn kết thúc đầu tư: Chủ đầu tư tiến hành vận hành, chạy thử đơn động, liên động và tổ chức nghiêm thu hoàn thành bàn giao đưa công trình vào khai thác, sử dụng; Kiểm toán, thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình; Bảo hiểm, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng theo quy định của Luật Xây dựng; Đăng kiểm chất lượng quốc tế (nếu có).

Hình 1.4. Sơ đồ quy trình thực hiện giai đoạn kết thúc đầu tư.

Giai đoạn kết thúc đầu tư

Vận hành, chạy thử và nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng

Thanh, quyết toán vốn đầu tư công trình

Kiểm thoán, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư

Giám sát, đánh giá kết thúc dự án

Bảo hiểm, bảo hành, bảo trì công trình

Đăng kiểm chất lượng quốc tế (nếu có

1.2.6. Các nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng

Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng phải đảm bảo được chất lượng

kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình, hoàn thành đúng tiến độ đã đề ra, giá thành xây dựng công trình không được vượt dự toán đã phê duyệt, đảm bảo về an toàn lao động, vệ sinh môi trường và hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thi công công trình.

Quản lý công trình xây dựng phải tuân thủ theo một số nguyên tắc cơ bản sau:

– Công trình xây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định của Luật Xây dựng, nghị định, thông tư của Chính phủ, Bộ, ngành và pháp luật có liên quan từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lân cận. Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan.

– Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định.

– Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý về chất lượng, tiến độ, chi phí, an toàn lao động, vệ sinh môi trường phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án.

– Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, công trình; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật.

– Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng phải chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực hiện.

1.2.6.1. Quản lý công tác khảo sát xây dựng

Trong giai đoạn này chủ đầu tư cần tập trung quản lý việc lập dự án tiền khả thi, dự án khả thi, báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình. Các số liệu phục vụ cho việc lập dự án phải được thu thập một cách khoa học, chính xác có nguôn gốc tin cậy. Công tác khảo sát phải thực hiện đúng quy trình, quy phạm. Phân tích, đánh giá lựa chọn các phương án phải mang tính khoa học đưa ra được các giải pháp tối ưu.

Đối với nhà thầu khảo sát hoặc tổ chức được giao nhiệm vụ khảo sát có trách nhiệm bố trí đủ người có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp để thực hiện khảo sát, cử người có đủ điều kiện năng lực để làm chủ nhiệm khảo sát và tổ chức thực hiện biện pháp kiểm soát chất lượng quy định tại phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng.

Đối với chủ đầu tư phải kiểm tra năng lực thực tế của nhà thầu khảo sát xây dựng bao gồm nhân lực, thiết bị khảo sát tại hiện trường, phòng thí nghiệm (nếu có) được sử dụng so với phương án khảo sát xây dựng được duyệt. Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện khảo sát xây dựng bao gồm: Vị trí khảo sát, khối lượng khảo sát, quy trình thực hiện khảo sát, lưu giữ số liệu khảo sát và mẫu thí nghiệm; kiểm tra thí nghiệm trong phòng và thí nghiệm hiện trường; kiểm tra công tác đảm bảo an toàn lao động, an toàn môi trường trong quá trình thực hiện khảo sát. Chủ đầu tư được quyền đình chỉ công việc khảo sát khi phát hiện nhà thầu không thực hiện đúng phương án khảo sát đã được phê duyệt hoặc các quy định của hợp đồng xây dựng.

1.2.6.2. Quản lý công tác thiết kế xây dựng

Lập hồ sơ thiết kế, dự toán công trình có một vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả của vốn đầu tư và hiệu quả của dự án. Mục tiêu quan trọng nhất của thiết kế, lập dự toán là đảm bảo an toàn, chất lượng cho công trình nhưng phải tiết kiệm, hợp lý và mang lại hiệu quả kinh tế, hạn chế tối đa thất thoát, lãng phí. Vì vậy việc quản lý công tác thiết kế là nhiệm vụ quan trọng mà chủ đầu tư phải đặc biệt quan tâm. [1]

– Trình tự quản lý thiết kế gồm các nội dung sau:

+ Lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình: Chủ đầu tư lập hoặc thuê tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình. Nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình phải phù hợp với báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư xây dựng công trình. Chủ đầu tư có thể thuê tổ chức tư vấn, chuyên gia góp ý hoặc thẩm tra nhiệm vụ thiết kế khi cần thiết.

+ Quản lý chất lượng công tác thiết kế xây dựng: Khi thực hiện công tác khảo sát, thiết kế, lập dự toán, chủ đầu tư phải yêu cầu nhà thầu tư vấn kê khai về năng lực, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn của những người tham gia vào công việc thiết kế. Chủ nhiệm đồ án, chủ trì khảo sát, thiết kế là người có đủ điều kiện năng lực, có chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật. Khi sử sụng kết quả khảo sát cho việc thiết kế phải đáp ứng được yêu cầu bước thiết kế và phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn được áp dụng cho công trình.

+ Thẩm định, thẩm tra thiết kế xây dựng: Khi thực hiện xong công tác khảo sát, thiết kế, chủ đầu tư phải trình các cơ quan chức năng thẩm định, thẩm tra hồ sơ khảo sát thiết kế. Trong quá trình thẩm định, thẩm tra nếu phát hiện những sai sót phải yêu cầu nhà thầu điều chỉnh trước khi trì cơ quan chức năng phê duyệt.

+ Phê duyệt thiết kế xây dựng công trình: Hồ sơ khảo sát thiết kế sau khi được thẩm định, chủ đầu tư trình cơ quan có thẩm quyền xem xét phê duyệt.

+ Nghiệm thu thiết kế xây dựng công trình: Sau khi hồ sơ khảo sát thiết kế được phê duyệt, chủ đầu tư tiến hành tổ chức nghiệm thu sản phẩm khảo sát, thiết kế và lưu trữ mẫu, hồ sơ.

­1.2.6.3. Quản lý công tác thi công xây dựng công trình

Quản lý thi công xây dựng công trình bao gồm quản lý chất lượng xây dựng, quản lý tiến độ xây dựng, quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình, quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng, quản lý môi trường xây dựng.

Quản lý chất lượng công trình xây dựng bao gồm các quy trình cần thiết để đảm bảo rằng dự án dự án đầu tư xây dựng sẽ thỏa mãn những yêu cầu theo hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt. Nó bao gồm toàn bộ các hoạt động của chức năng quản lý chung như xác định chính sách chất lượng, mục tiêu về chất lượng và trách nhiệm quản lý thực hiện các mục tiêu này bằng cách lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng với hệ thống chất lượng.

– Nội dung quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình gồm:

+ Lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với yêu cầu, tính chất, quy mô công trình xây dựng, trong đó quy định trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận thi công xây dựng công trình trong việc quản lý chất lượng công trình xây dựng.

+ Thực hiện các thí nghiệm kiểm tra vật liệu, cấu kiện, vật tư, thiết bị công trình, thiết bị công nghệ trước khi xây dựng và lắp đặt vào công trình xây dựng theo tiêu chuẩn và yêu cầu thiết kế.

+ Lập và kiểm tra thực hiện biện pháp thi công, tiến độ thi công. Lập và ghi nhật ký thi công xây dựng công trình theo quy định.

+ Kiểm tra an toàn lao động, vệ sinh môi trường bên trong và bên ngoài công trường.

+ Nghiệm thu nội bộ và lập bản vẽ hoàn công cho bộ phận công trình xây dựng, hạng mục công trình xây dựng và công trình xây dựng hoàn thành.

+ Báo cáo tiến độ, chất lượng, khối lượng, an toàn lao động và vệ sinh môi trường thi công xây dựng theo yêu cầu.

– Quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình: Công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây dựng. Tiến độ thi công xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được phê duyệt. đối với công trình xây dựng có quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì tiến độ xây dựng công trình phải được lập cho từng giai đoạn, tháng, quý, năm. Nhà thầu thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ lập tiến độ thi công xây dựng chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện nhưng phải bảo đảm phù hợp với tổng tiến độ của dự án. Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên có liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án. Trường hợp xét thấy tổng tiến độ của dự án bị kéo dài thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư để quyết định việc điều chỉnh tổng tiến độ của dự án.

– Quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình: Việc thi công xây dựng công trình phải được thực hiện theo khối lượng của thiết kế được duyệt. Khối lượng thi công xây dựng được tính toán, xác nhận giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát theo thời gian hoặc giai đoạn thi công và được đối chiếu với khối lượng thiết kế được duyệt để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán theo hợp đồng. Khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán xây dựng công trình được duyệt thì chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng phải xem xét để xử lý.

– Quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng:

Nhà thầu thi công xây dựng phải lập các biện pháp an toàn cho người và công trình trên công trường xây dựng. Trường hợp các biện pháp an toàn lao động liên quan đến nhiều bên thì phải được các bên thỏa thuận. Các biện pháp an toàn, nội quy về an toàn lao động phải được thể hiện công khai trên công trường xây dựng để mọi người biết và chấp hành. Ở những vị trí nguy hiểm trên công trường, phải bố trí người hướng dẫn, cảnh báo đề phòng tai nạn. Nhà thầu thi công xâ dựng, chủ đầu tư và các bên có liên quan phải thường xuyên kiểm tra giám sát công tác an toàn lao động trên công trường. Khi phát hiện có vi phạm về an toàn lao động thì phải đình chỉ thi công xây dựng. Người để xảy ra vi phạm về an toàn lao động thuộc phạm vi quản lý của mình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nhà thầu xây dựng có trách nhiệm đào tạo, hướng dẫn, phổ biến các quy định về an toàn lao động. Đối với một số công việc yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thì người lao động có phải giấy chứng nhận đào tạo an toàn lao động. Nghiêm cấm sử dụng người lao động chưa được đào tạo và chưa được hướng dẫn về an toàn lao động. Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm cấp đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động, an toàn lao động cho người lao động theo quy định khi sử dụng lao động trên công trường. Khi có sự cố về an toàn lao động, nhà thầu thi công xây dựng và các bên có liên quan có trách nhiệm tổ chức xử lý và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về an toàn lao động theo quy định của pháp luật đồng thời chịu trách nhiệm khắc phục và bồi thường những thiệt hại do nhà thầu không bảo đảm an toàn lao động gây ra. [2]

– Quản lý môi trường xây dựng:

Nhà thầu thi công xây dựng phải thực hiện các biện pháp đảm bảo về môi trường cho người lao động trên công trường và bảo vệ môi trường xung quanh, bao gồm có biện pháp chống bụi, chống ồn, xử lý phế thải và thu dọn hiện trường. Đối với những công trình xây dựng trong khu vực đô thị thì còn phải thực hiện các biện pháp bao che, thu dọn phế thải đưa đến nơi quy định.Trong quá trình vận chuyển vật liệu xây dựng, phế thải phải có biện pháp che chắn đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường. Nhà thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư phải có trách nhiệm kiểm tra giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường xây dựng, đồng thời chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường. Trường hợp nhà thầu thi công xây dựng không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường thì chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có quyền đình chỉ thi công xây dựng và yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng biện pháp bảo vệ môi trường. Người để xảy ra các hành vi làm tổn hại đến môi trường trong quá trình thi công xây dựng công trình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra. [3]

– Quản lý chi phí bao gồm các quy trình cần thiết để đảm bảo rằng dự án được hoàn thành với kinh phí đã được phê duyệt. Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình bao gồm: Tổng mức đầu tư; dự toán xây dựng công trình; định mức và giá xây dựng. Nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình: Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải bảo đảm mục tiêu, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình và phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. Tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình phải được dự tính theo đúng phương pháp, đủ các khoản mục chi phí theo quy định và phù hợp độ dài thời gian xây dựng công trình. Tổng mức đầu tư là chi phí tối đa mà chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình. Chủ đầu tư xây dựng công trình chịu trách nhiệm toàn diện về việc quản lý chi phí từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng.

– Quản lý nguồn nhân lực tham gia dự án là một bộ phận chủ yếu nhất có ý nghĩa quyết định đưa đến hiệu quả hoạt động quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Các quá trình cơ bản của quản lý nguồn nhân lực gồm:

+ Quá trình hoạch định (Lập kế hoạch) nhằm bảo đảm về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực;

+ Quá trình sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực là quá trình kết hợp sức lao động với tư liệu lao động và đối tượng lao động. Sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả vừa giúp tăng năng suất lao động, vừa tạo lợi thế ổn định trong tổ chức.

+ Ý nghĩa quản lý nguồn nhân lực tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình: Quản lý nguồn nhân lực tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là tìm mọi cách tạo thuận lợi cho mọi người tham gia hoàn thành tốt các mục tiêu chiến lược và các kế hoạch của dự án đầu tư xây dựng công trình, tăng cường cống hiến của mọi người theo hướng phù hợp với chiến lược của dự án, đạo đức, xã hội.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 9\QUAN LY KINH TE\PHAM THE VINH\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *